Đồng Hành Việt - Đặt Trọn Niềm Tin!

Dịch trang

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Tài Liệu Tuyến Điểm Lâm Đồng - Đà Lạt (Phần 1)

Lời Nói Đầu

Tài liệu tuyến điểm Đà Lạt được hoàn thành vào ngày 01/08/2011 chỉ là tài liệu sử dụng để tham khảo, vẫn còn nhiều sai sót. Tài liệu có công sức đóng góp củac ACE Hướng Dẫn Viên trong CLB Đồng Hành Việt, các thành viên trong Câu Lạc Bộ và tổng hợp tư liệu từ nhiều tác giả khác nhau.

Đây là tài liệu sử dụng trong nội bộ của Câu Lạc Bộ Đào Tạo – Cung Cấp Hướng Dẫn Đồng Hành Việt và là một cẫm nang dành cho các bạn sinh viên du lịch.
Thay mặt Ban Chủ Nhiệm CLB, Đạt xin cám ơn công sức đóng góp của các ACE Hướng Dẫn Viên và các thành viên trong CLB đã giúp đỡ để Đạt hoàn thành tài liệu quý giá này.

                                                                      TP.Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 2011
                                                                                          Chủ Nhiệm CLB
                                                                                           Dzoãn Tiến Đạt


TÀI LIỆU THUYẾT MINH ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG

I.KHOẢNG  CÁCH – CUNG ĐƯỜNG
   ●SƠ ĐỒ CUNG DƯỜNG TP.HCM – ĐÀ LẠT
Từ TP. HCM đến Đà Lạt khoảng 320 km
Từ TP. HCM đến TP hoa Đà Lạt đi qua cung đường: bao gồm các tỉnh và các huyện, quốc lộ, các đèo sau
 Tỉnh Đồng Nai;
Thành Phố Biên Hoà  (xa lộ Hà Nội)
Huyện Thống Nhất ( Quốc Lộ 1A )
Ngã 3 Dầu Giây ( Quốc Lộ 20)
Huyện Định Quán
Huyện Tân Phú
 Tỉnh Lâm Đồng:
Huyện Đức Trọng
Huyện Di Linh
Thị Xã Bảo Lộc
Huyện Đạ Hoai
Qua các đèo : Đèo Phú Hiệp, Đèo Bảo Lộc, Đèo Chuối
 Thuyết Minh Trên Tuyến
Nội Dung:
Về cung đường, về khoảng cách những địa phương đi qua trên lộ trình
Những đặc điểm nổi bật hai bên đường .
Những chủ đề thuyết minh liên quan đến địa phương đó, vùng đó .
Thuyết minh về tôn giáo tín ngưỡng dân tộc liên quan đến tuyến đường mà ta đi qua.
Chuẩn bị tốt các nội dung phải theo một trình tự logic, văn bản .
Phương Pháp:
Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động du lịch .
Dùng bịên pháp tu từ.
Nên cho khách giải lao giải trí , vui chơi băng các trò chơi hoạt náo trên xe.
Thuyết Minh Tại Điểm :
Thuyết minh tại điểm thì hướng dẫn viên phải xác định được điểm tham quan đó thuộc loại hình nào.
Cần giới thiệu cho khách biết các nét chính liên quan đến điểm tham quan đó .
Xác định điểm tam quan đó ở đâu.
Những quy định khi khách đến tham quan .
Quy trình: Giới thiệu về điểm tham quan từ lịch sử, tổng quát đặc điểm chính , tuỳ theo từng đối tượng khách tham quan mà chúng ta sẽ có cách thuyết minh cụ thể .
Dùng một số biện pháp để thuyết minh như so sánh , phân tích, và gợi mở những khả năng tò mò của du khách.
Tại điểm tham quan có hướng dẫn địa phương vì vậy hướng dẫn viên suốt tuyến nên nhường quyền lại cho hướng dẫn viên địa phương. Tuy nhiên phải trao đổi thông tin với hướng dẫn địa phương trước khi giới thiệu cho khách, tránh trường hợp cập nhật thông tin sai giữa hướng dẫn viên địa phương và hướng dẫn viên suốt tuyến .
 Thuyết Minh Trên Tour
NỘI DUNG CÁC ĐIỂM THAM QUAN TOUR TP. HCM –TP.ĐÀ LẠT
VÀI NÉT VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
Thành phố Hồ Chí Minh(viết tắt TP.HCM) là thành phố lớn nhất đồng thời cũng là trung tâm kinh tếdu lịchvăn hóagiáo dục lớn nhất của Việt Nam, với dân số 8.5 triệu người. Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1976 trên cơ sở thủ đô Sài Gòn cũ của Việt Nam Cộng hòa gồm ba khu là Sài GònChợ Lớn và Gia Định.

Phân chia hành chính
Năm 1976, sau khi đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyện gồm: Quận 1, Quận 2, Quận 3Quận 4Quận 5Quận 6, Quận 7, Quận 8, Quận 9, Quận 10Quận 11Quận 12Quận Tân Bình, Quận Tân Phú, Quận Bình Tân, Quận Gò VấpQuận Bình ThạnhQuận Phú NhuậnQuận Thủ ĐứcHuyện Bình ChánhHuyện Nhà BèHuyện Củ ChiHuyện Hóc Môn và Huyện Cần Giờ.
Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, được mở rộng và chia thành 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành; cấp quận được chia thành nhiều phường, cấp huyện chia thành nhiều xã, và thị trấn.

·Lịch sử hình thành Sài Gòn
Năm 1698 Nguyễn Phước Chu - tức chúa Minh – sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (thường đọc Cảnh) vào Nam kinh lý và lập phủ Gia Định nhưng trước đó, có lẽ hàng thế kỷ, nhiều sử liệu cho thấy người Việt Nam đã tới buôn bán và khẩn hoang lập đất rải rác trong đồng bằng sông Mê Kông ở châu thổ miền Nam và sông Miền Nam bên Xiêm rồi.
Biên niên sử Khơ Me chép: Năm 1618, vua Chey Chettha II lên ngôi. Ngài liền cho xây cung điện nguy nga tại U Đông, rồi cử hành lễ cưới trọng thể với một công chúa Việt Nam rất xinh đẹp con chúa Nguyễn (người ta phỏng đoán đó là công nữ Ngọc Vạn con chúa Sãi, Nguyễn Phước Nguyên). Hoàng hậu Sam Đát Việt Nam cho đem nhiều người đồng hương tới Campuchia, có người được làm quan lớn trong triều,  có người làm các nghề thủ công và có người buôn bán hay vận chuyển hàng hoá.
Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Ka Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi Campuchia và Xiêm La. Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành thị tứ trên bến dưới quyền, công nghiệp và thương nghiệp sầm uất.
Giáo sĩ Ý tên Christoforo Boni sống tại thị trấn Nước Mặn gần Qui Nhơn từ năm 1621 đến năm 1622, viết hồi ký “Chúa Nguyễn phải chuyên lo việc tập trận và gởi quân sang  giúp vua Campuchia – cũng là chàng rễ lấy con gái hoang (fille batarde) của chúa! Chúa viện trợ cho vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm”. Borri cũng tả khá tỉ mỉ về sứ bộ của chúa Nguyễn đi Campuchia hồi 1620: “Sứ thần là người sinh trưởng tại Nước Mặn, một nhân vật quan trọng đứng sau chức tổng trấn. Trước khi lên đường ông đã đề nhiều ngày giờ bàn bạc và nhận lệnh của chúa. Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh U Đông thì dân chúng Khơ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh. Vì sứ thần này là người quen thuộc, đã lui tới nhiều lần, từng làm đại diện hường trú từ lâu chứ không phải sứ giả mới tới lần đầu. Borri còn cho biết toà sứ bộ khá quan trọng và đông đúc, nào là thê thiếp, người hầu kẻ hạ của sứ thần, nào binh sĩ giữ an ninh và phục dịch sứ bộ.
Một giáo sĩ khác người Pháp tên là Chevreuil tới thăm Colompé (tức Pnom Penh, Nam Vang) hồi 1665 đã thấy “hai làng An Nam nằm bên kia sông, cộng số người được độ 500 mà kẻ theo đạo Công giáo chỉ có 4 hay 5 chục người”. Ngoài Nam Vang, tại các nơi khác cũng có nhiều người Việt Nam sinh sống, ở thôn quê thì làm ruộng, gần phố thì buôn bán, làm thủ công hay chuyên chở ghe thuyền, kể hàng mấy ngàn người. Như ở Đất Đỏ, Bà Rịa, Bến cá, Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên, v.v…
Ngoài đồng bằng sông Mê Kông, người Việt Nam còn đến làm ăn và định cư rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam. Lịch sử cho biết: dân tộc Thái mới lập quốc từ thế kỷ VII sau công nguyên ở giữa bán đảo Đông Dương và chủ yếu trên  lưu vực sông Mê Nam. Nước này gọi là Xiêm hay Xiêm La (Siam), đến năm 1939 mới đổi tên là Thái Lan. Kinh đô Xiêm xưa ở Ayuthia, vây dựng từ năm 150 trên một khúc quanh của sông Mê Nam cách biển gần 100 km. Theo bản đồ Loubère vẽ năm 1687, thì kinh đô Ayuthia nằm trong một hòn đảo lớn, giữa hai nhánh sông Mê Nam. Đường xá, cầu cống, phố chợ, lâu đài…được ghi khá rõ ràng. Lại có thêm chú thích minh bạch như: A=Thành phố, B=cung điện, C=bến cảng, D=xưởng thuỷ hải quân, E=xưởng thủy ghe thuyền, F=phố thị, G=chủng viện…Chung quanh hòn đảo chính có những khu vực dành riêng cho dân Xiêm hay người nước ngoài cư trú: người Xiêm ở phía Bắc và Tây Bắc, người Hoa ở phía Đông, người Việt Nam, Mã Lai, Nhật Bản, Hoà Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam. Nơi người Việt ở cũng là một cù lao khá rộng, qua sông là tới phố thị kinh đô, việc đi lại giao dịch rất thuận lợi. Nhìn cách bố trí thôn trại chung quanh Ayuthia, ta có thể phỏng đoán ngừơi Việt ở đây khá rộng  và là một trong những mấy nhóm ngoại quốc tới lập nghiệp sớm nhất. Trên bản đồ có ghi rõ chữ Cochinchine nơi thôn trại Việt. Đương thời, địa danh này chỉ người Đàng Trong và cũng có thể chỉ chung người Việt Nam,vì trước đó – trong thời gian chưa phân ranh Trịnh Nguyễn, Tây phương dùng địa danh ấy, biến dạng bởi Giao Chỉ - Cauchi - Cauchinchina – Cauchinchine để gọi chung Việt Nam. Đa số nguời Việt ở đây là Đàng Trong, song cũng có người Đàng Ngoài, họ tới định cư và lập nghiệp có lẽ từ thế kỷ XVI  hay đầu thế kỷ XVII rồi, nghĩa là từ thời nhà Mạc khi trong nước rất là xáo trộn là loạn ly. Theo lý sự của Vachet thì cả nam nữ lẫn già trẻ. Ngoài Ayuthia, người Việt còn tới làm ăn định cư tại Chân Bôn(Chantaburi) và Bangkok là những thương điểm trung chuyển từ Hà Tiên tới kinh đô Xiêm.
Sử Viêt Nam và sử Khơ Me cùng nhất trí ghi sự kiện: Năm 1674, Nặc Ông Đài đánh đuổi vua Nặc Ông Nộn. Nộn chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa liền sai thống suất Nguyễn Dương Lâm đem binh lính đi tiến thảo, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn,  Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận.Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ông Thu làm Cao Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ông Nộn làm phó vương.
Sử ta còn ghi rõ: năm 1679, chúa Nguyễn Phước Tần Vương cho “nhóm người Hoa” muốn “phục Minh chống Thanh” là Dương Ngạn Địch tới Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên tới Biên Hoà và Sài Gòn để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Những nơi đó đã có người Việt tới sinh cơ lập nghiệp từ lâu. Như Trịnh Hoài Đức đã chép; các chúa Nguyễn “chưa rảnh mưu tính việc ở xa nên tạm để đất ấy cho cư dân bản địa ở, nối đời làm phiên thuộc ở miền Nam, cống hiến luôn luôn”. Nhưng năm 1658, “Nặc Ông Chân phạm biên cảnh”, Hiền Vương liền sai ”phó tướng Tôn Thất Yên đem ngàn binh 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt được vua nước ấy”. Sau được tha tội và đuợc phong làm Cao Miên quốc vương” giữ đạo biên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cương. Khi ấy địa bàn Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lưu dân của nước ta đến ở chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất”. Như vậy là từ trước 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc “biên cảnh”của Viẹt Nam.
Bốn mươi năm sau (tức 1698),  chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Kính vào “kinh lý” miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh – khi ấy “đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ nay. Trên cơ sở lưu dân Việt Nam tự phát tới “khẩn hoang lập đất”, Nguyễn Hữu Kính đã lập phủ Gia Định và 2 huyện Phước Long và Tân Bình (một phần nay là TPHCM). Đúng là dân làng đi trước, nhà nước đến sau. Và miền biên cảnh Nam Bộ sáp nhập vào cương vực Việt Nam một cách thật êm thắm và hoà hợp dân tộc vậy.

Củi và Bông gòn
Có thuyết nói rằng "Sài Gòn" bắt nguồn từ chữ "Sài" theo chữ Hán là củi và "Gòn" là chữ Nôm chỉ cây bông gòn.
"Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ, Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn. Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ở chùa Cây Mai và các vùng lân cận.... Theo ý tôi, hình như tên đó là của người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tìm ra được nguồn gốc đích thực của tên đó."
Tương tự có nhiều thuyết cho rằng "Sài Gòn" từ chữ "Prey Kor" (Rừng Gòn) hay "Kai Gon" (Cây Gòn) mà ra. Nói chung, các thuyết này đều dựa trên một đặc điểm chính: cây bông gòn.
Nhưng thuyết này phần lớn đã bị bác bỏ vì lý do đơn giản là không ai tìm được dấu tích của một thứ "rừng gòn" ở vùng Sài Gòn, hay sự đắc dụng của củi gòn ở miền Nam, kể cả Trương Vĩnh Ký. Ngay vào thời của Trương Vĩnh Ký (1885) tức khoảng hơn 100 năm sau mà đã không còn dấu tích rõ ràng của thứ rừng này, mặc dù lúc đó không có phát triển gì lắm. Ngay cả khi Louis Malleret khảo nghiệm lại, hình như cũng không có dấu vết gì của một rừng gòn ở Sài Gòn.
Thêm nữa là cây gòn thời đó dùng làm hàng rào chứ không làm củi. Và theo Lê Trung Hoa trong Địa Danh thì "sài" chỉ xuất hiện trong các từ ghép Hán-Việt, như "sài Tân" chứ chưa bao giờ được dùng như một từ đơn, nên không thể nói "củi" được, là "sài" được, hay là "củi gòn" là "Sài Gòn" được.
Vậy, thuyết Sài Gòn là "củi gòn" đã bị bác bỏ bởi thực tế địa lý và ngữ học
·Kinh tế
Góc đường Nguyễn Huệ - Lê Lợi được xem là trung tâm của thành phố
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế của cả nước, là địa phương đứng đầu về tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp nước ngoài và trong nước. Trong năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến thu hút một lượng vốn FDI 2,5 tỷ USD. Trong 10 tháng đầu năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh đã cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 14.100 doanh nghiệp trong nước với vốn đăng ký 106.600,7 tỷ đồng (xấp xỉ 6,7 tỷ USD). Đến thời điểm đầu tháng 11 năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh có 90.000 doanh nghiệp vốn đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký trên 384.000 tỷ đồng (xấp xỉ 24 tỷ USD). Đến đầu tháng 11 năm 2007, tổng số vốn nước ngoài đã được cấp phép tại thành phố này là 16,6 tỷ USD, chiếm 20% tổng lượng vốn FDI cả nước.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 18,3 tỷ, chiếm hơn 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Số lượng du khách quốc tế đến thành phố này năm 2007 là 3 triệu lượt người, chiếm 70% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2007. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 đạt gần 84.500 tỷ đồng, tăng 24,2% so với năm 2007. Năm 2007, tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 18.500 doanh nghiệp mới thành lập với tổng vốn đăng ký là 160.000 tỷ đồng. Đầu tư vào Thành phố Hồ Chí Minh đang có sự chuyển hướng từ các dự án sử dụng nhiều lao động sang các dự án có kỹ thuật công nghệ cao, các dự án bất động sản. Năm 2007, tổng thu ngân sách của Thành phố Hồ Chí Minh đạt 92.000 tỷ đồng, tăng 30,37% so với năm 2006, giá trị tăng tuyệt đối 20.600 tỷ đồng so năm 2006. Lượng hàng hóa vận chuyển qua hệ thống các các tại Thành phố Hồ Chí Minh 50,5 triệu tấn. Các ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu: điệnđiện tử (bao gồm điện tử kỹ thuật cao), cơ khíhoá chấtphần mềmdệt maygiày daluyện kimdầu khísản xuất ô tôđóng tàusản xuất vật liệu xây dựngsản xuất giấy, chế biến nông, lâm sản và nhiều ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, cho đến thời điểm 2007, công nghệ sản xuất nhìn chung của Thành phố Hồ Chí Minh hiện rất lạc hậu, Thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại, trong số đó, có 21/212 cơ sở sản xuất của ngành dệt may; 4/40 cơ sở sản xuất của ngành da giày; 6/68 cơ sở ngành hóa chất; 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Trong thời gian từ năm 1997-2007, ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt mức bình quân trên 13%. Đến thời điểm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh đã có trên 38.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng 35,9% so với năm 2000. Từ năm 1995 đến nay, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng nhiều biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp có có hàm luợng tri thức, hàm luợng khoa học công nghệ cao và có hiệu quả kinh tế. Ngành hóa chất tăng từ 12,9% lên 18,7%, điện tử-tin học từ 2,9% lên 3,2%... Đồng thời, tỷ trọng của các ngành công nghệ thấp, sử dụng nhiều lao động trong tổng sản lượng công nghiệp của thành phố được giảm xuống như ngành dệt may từ 14,3% xuống còn 13,1%, chế biến thực phẩm-đồ uống giảm từ 28,9% xuống còn 17%... Tuy nhiên, giá trị gia tăng của các cơ sở sản xuất công nghiệp tại thành phố trên đơn vị sản phẩm vẫn còn chưa cao. Phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh là các cơ sở dân doanh có qui mô nhỏ, vốn đầu tư vào sản xuất ít, thiết bị lạc hậu... nên việc đầu tư trang thiết bị mới, ứng dụng công nghệ mới ở các ngành công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, các cơ sở công nghiệp thuộc khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài có tốc độ đổi mới công nghệ sản xuất khá nhanh do được chuyển giao công nghệ từ các công ty mẹ từ các nước có nền công nghệ tiên tiến. Một ví dụ điển hình là lĩnh vực điện tử-công nghệ thông tin: trong tổng số 296 cơ sở điện tử-công nghệ thông tin của thành phố thì chỉ có 18 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài nhưng lại chiếm trên 80% giá trị sản xuất toàn ngành tại thành phố. Nhiều công ty nhựa lớn của Nhà nước khi chuyển thành các công ty cổ phần như các công ty: Bình Minh, Tân Phú... đã đầu tư hàng triệu USD để nhập công nghệ hoặc mua sắm các máy móc thiết bị mới để sản xuất các sản phẩm nhựa có chất luợng cao.
Trong những năm qua, nhiều ngành công nghiệp liên tục phát triển, trong đó có những ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng đến 50% sản xuất của ngành đó tại Việt Nam. Để đảm bảo phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã có nghị quyết tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp mũi nhọn là: điện-điện tử-công nghệ thông tin; cơ khí; hóa chất và chế biến tinh lương thực thực phẩm giai đoạn 2006-2010 với tổng kinh phí 3,5 tỷ USD. Các cơ sở này được nhanh chóng đầu tư về mọi mặt chuyển sang phát triển về chiều sâu, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao và giá cả có tính cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế, với mục tiêu đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Thành phố công nghiệp có công nghệ cao của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của Việt Nam vào năm 2015-2017 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ đề ra.
Thành phố cũng là nơi tiếp nhận lượng kiều hối lớn nhất nước, khoảng 60% lượng kiều hối gửi về nước hàng năm. GDP năm 2005 tăng 12,2% và GDP đầu người đạt 1,850 USD (hoặc 8,900 theo chỉ số PPP), gấp 3 lần mức bình quân cả nước và xếp hàng đầu cả nước, thành phố là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Sang năm 2006GDP tăng 12,2% so với năm 2005, bằng tốc độ tăng của năm 2005 và cao hơn tốc độ năm 2004. Năm 2007, tăng trưởng GDP đạt mức 12,6%, GDP bình quân đầu người đạt 2100 USD và dự tính đạt 3000 USD vào năm 2010. Tỷ lệ hộ nghèo có thu nhập dưới 6 triệu đồng mỗi người một năm còn 1,9%.
Thành phố Hồ Chí Minh có 3 khu chế xuất, 12 khu công nghiệp, 1 khu công nghệ cao và công viên phần mềm Quang Trung.
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào ngày 11 tháng 7 năm 1998. Cho đến cuối tháng 1 năm 2007, tại Trung tâm có 107 công ty niêm yết với tổng vốn hóa thị trường gần 245,000 tỷ đồng, chỉ số VN-Index tăng trưởng 144% khiến thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trở thành thị trường chứng khoán tăng trưởng nhanh nhất thế giới).
Thành phố có hệ thống nhiều trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, cửa hàng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm tiêu thụ lớn với mức tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ gấp 10-13 lần so với các tỉnh Tây Bắc, 6 lần các tỉnh Tây Nguyên, gấp 1,5 lần Hà Nội. Lĩnh vực kinh doanh địa ốc, đặc biệt là các tòa nhà cao tầng phục vụ cho kinh doanh thương mại, văn phòng đang được đầu tư ồ ạt. Hiện tại, tòa nhà cao tầng nhất tại thành phố là Trung tâm thương mại Sài Gòn cao 33 tầng trên đường Tôn Đức ThắngQuận 1 và cũng là tòa nhà cao nhất Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, kỷ lục này sẽ bị sớm phá vỡ khi tòa nhà The Times Square 42 tầng, được dự kiến hoàn thành trong năm 2007 và đặc biệt là khi The Financial Tower (Tháp Tài chính), 72 tầng, được hoàn thành.
·Giao thông vận tải
   · Đường bộ: Hệ thống đường bộ dày đặc nhưng do sự gia tăng dân số quá nhanh và qui hoạch chưa hợp lý nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Để giải quyết vấn nạn tắc nghẽn giao thông, Thành phố đã triển khai và hoàn tất nhiều dự án giao thông quan trọng như: đại lộ Đông Tâycầu Thủ Thiêmhầm Thủ Thiêmcầu Phú Mỹđường xuyên Áđường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Dây và Thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàuđường Trường Chinhđường cao tốc đi Trung Lươngđường cao tốc liên vùng phía Namđường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Một số dự án lớn đang giai đoạn chuẩn bị triển khai: Các đường vành đai 1, 2, 3; đường trên cao Thị Nghè - Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất;cầu Bình Triệu... và đặc biệt là dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam với tổng số vốn dự kiến lên tới trên 30 tỷ đô la. Khi dự án này hoàn thành sẽ kết nối thành phố với tất cả các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.
   · Đường thủy: Các hệ thống cảng Sài GònTân Cảng đáp ứng được yêu cầu tiếp nhận các tàu trọng tải lớn. Tuy nhiên, do nằm trong nội đô nên ảnh hưởng lớn đến giao thông đô thị và đang được di dời ra khỏi nội thành. Các cảng container mới, hiện đại đang được triển khai có: cụm cảng Hiệp Phướccảng Cát Lái...
   · Đường sắtGa Sài Gòn là đầu mối giao thông quan trọng và nhộn nhịp nhất nước, phục vụ các tuyến vận tải Bắc Nam. Do mật độ giao thông nội thị cao, việc xây dựng các tuyến tàu điện ngầm và đường sắt trên cao (monorail) đang được triển khai như các tuyến: Bến Thành - Biên Hoà, Bến Thành - Bến xe Miền Tây, Bến Thành - Tân Sơn Nhất - An Sương... đang được các đối tác nước ngoài như (NhậtPhápNgaĐức) đệ trình phương án đầu tư. (Xem thêm Tàu điện ngầm Thành phố Hồ Chí Minh)
   · Đường hàng không: Thành phố có Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất Việt Nam với diện tích 850 ha, công suất nhà ga từ 15-17 triệu khách/năm, năm 2007, có lượng khách quốc tế đến bằng đường hàng không chiếm 2/3 tổng số lượng khách đến các sân bay quốc tế tại Việt Nam, sân bay này phục vụ 11 triệu khách thông qua, chiếm 55% trong tổng số 20 triệu khách sử dụng sân bay tại Việt Nam. Nhà ga quốc tế mới T2 với năng lực 15-17 triệu khách/ năm vừa hoàn thành vào tháng 8 năm 2007 là nhà ga hàng không lớn nhất và hiện đại nhất Việt Nam hiện nay. Trong tương lai không xa, Sân bay quốc tế Long Thành với công suất 80-100 triệu khách năm sẽ được xây dựng 40 km về phía Đông Bắc thành phố.
Ngoài ra, thành phố còn đang đầu tư vào hệ thống xe buýt, với hỗ trợ hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ UBND Thành phố Hồ Chí Minh, xe buýt ở Thành phố Hồ Chí Minh họat động với mục tiêu giảm thiểu số lượng phương tiện giao thông cá nhân.
·Du lịch
Chợ Bến Thành là biểu tượng không chính thức của thành phố
Khẩu hiệu du lịch của thành phố là "TPHCM - điểm đến an toàn và thân thiện". Năm 2005, thành phố đón 2 triệu khách du lịch quốc tế. Khách du lịch đến thành phố được tham quan ở các di tích lịch sử khu vực trung tâm như: dinh Xã Tây (tòa nhà UBND thành phố), bến Nhà Rồngnhà thờ Đức Bà Sài Gònnhà hát lớn Thành phốbưu điện Thành phốdinh Độc Lậpchùa Vĩnh Nghiêmchùa Giác Lâmnhà thờ Huyện Sỹ và hàng chục viện bảo tàng, viện nghiên cứu lớn nhỏ, hay ra ngoại thành thăm khu dự trữ sinh quyển Cần Giờđịa đạo Củ Chi, mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ ở đường Đồng Khởichợ Bến Thành. Thành phố có "khu phố Tây" ở Khu phố Phạm Ngũ Lão, thưởng thức ẩm thực khẩn hoang Nam bộ ở khu du lịch Bình Quới. Nếu đến vào dịp Tết, du khách sẽ được ngắm nhìn đường hoa Nguyễn Huệ và tham dự vào lễ hội bánh tét thành phố.
Các khu vui chơi giải trí như: khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên;công viên nước Đại thế giới;công viên giải trí Đầm Sen;Công viên Kỳ Hòa;công viên Văn Thánh... Các điểm tham quan hấp dẫn như: khu dự trữ sinh quyển Cần Giờđịa đạo Củ ChiThảo Cầm Viên.
Thành phố vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề truyền thống có giá trị lớn về ý nghĩa văn hóa, tạo được nhiều việc làm cho lao động. Đó là làng hoa Gò Vấplàng bánh tráng Phú Hòa Đônglàng dệt Bảy Hiền...
·Quốc lộ 1A
Quốc lộ 1A(viết tắt QL1A) hay Đường 1 là đường giao thông xuyên suốt Việt Nam. Quốc lộ bắt đầu (km 0) tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan trên biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nó kết thúc tại điểm cuối (km 2301 + 340m) tại thị trấn Năm Căn huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau.
Quốc lộ có tên này để phân biệt với Quốc lộ 1B là đường rẽ từ Quốc lộ 1A tại thị trấn Đồng Đăng đi về thành phố Quốc lộ 1A đọan qua Đèo Hải Vân
Thái Nguyên, để phân biệt với QL1D mới được xây dựng năm 2001 là tuyến đường tránh đèo Cù Mông giáp ranh giữa 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên và đi vào nội thành thành phố Qui Nhơn. Chiều dài toàn tuyến QL1D là 35 km.
Quốc lộ dài 2.301,340 km
Mặt đường rộng 10-12 m;
Thảm bê tông nhựa;
Trên toàn tuyến có 874, cầu lớn nhỏ, tải trọng 25-30 tấn.
Quốc lộ 1A trong suốt lịch sử của nó đã thúc đẩy sự phát triển của các địa phương mà nó đi qua nhưng bản thân nó lại không được phát triển. Vì vậy QL1A đã không đáp ứng được nhu cầu lưu thông của thời hiện tại (2005). Nay QL1A đang được làm mới theo hướng nâng cấp các đoạn xa đô thị, làm đường tránh tại các đô thị, làm mới trên một số tuyến có nhiều đô thị liên tiếp.
Hiện nay, khi chưa có quyết định thay đổi tên đường, các đoạn mới làm được gọi tạm là Quốc lộ 1A mới.
·Lịch sử
Tiền thân của con đường xuyên Việt này mang tên đường Thiên Lý. Về sau cùng với sự cai trị của người Pháp con đường được mở rộng, nâng cấp.
♦ Quốc Lộ 20
Được xây dựng năm 1933 . Trước đây muốn lên Đà Lạt phải đi theo quốc lộ 1 đến Phan Rang rẽ phải , đi theo quốc lộ 27 qua đèo Sông Pha , đến đèo Dran lên Đà Lạt.

Tuyến Điểm Từ TP. Hồ Chí Minh đến Ngã Ba Dầu Giây
NGÃ TƯ HÀNG XANH.
Thưa qúy du khách! phía trước chúng ta là ngã tư Hàng Xanh. Sở dĩ có tên gọi là Hàng Xanh theo Sài Gòn xưa của Vương Hồng Sển: trước đây vùng này có trồng nhiều loại cây Sanh (là loại cây cổ, cùng loại với cây si) được đọc trại nên có tên gọi là Hành Xanh. Nút giao thông này được xây dựng 17/09/1994, hoàn thành vào 30/4/1995 (nhân kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Thành phố Sài Gòn) do công ty Huy Hoàng thi công với tổng kinh phí xây dựng 15,6 tỷ đồng, nếu tính luôn tiền đền bù giải tỏa kinh phí lên đến 63 tỷ đồng. Mục đích xây dựng nút giao thông Hàng Xanh nhằm giải quyết tình trạng kẹt xe thường xuyên trong thời gian trước. Nút giao thông Hàng Xanh là cửa ngõ quan trọng phía Bắc thành phố, hiện tại ở nút giao thông Hàng Xanh đến cầu Văn Thánh được mở rộng 2 bên có 4 làn xe chính và 2 làn xe phụ(tổng cộng 12 làn xe). Từ cầu Điện Biên Phủ đến chân cầu Sài Gòn sẽ được xây dựng mới với bề mặt cắt ngang là 100m và mở rộng đường Đinh Tiên Hoàng gấp đôi, với vốn đầu tư là 370 tỷ đồng.
Khu vực Văn Thánh có nhiều tên gọi: cầu Văn Thánhbến xe Văn Thánhkhu du lịch Văn Thánh. Tên Văn Thánh có từ 1824 (Minh Mạng 5) ở khu vực này có xây dựng ngôi Văn Miếu thờ đức Khổng Tử nên người dân gọi là Khu Văn Thánh, trong thời Pháp miếu này bị phá bỏ và hiện nay không còn nữa. Xe chúng ta đang đi qua cầu Văn Thánh, cầu được bắc qua rạch Văn Thánh đổ ra rạch Thị Nghè và sau đó đổ ra sông Sài Gòn.
Phía bên tay trái của qúy khách là bến xe Văn Thánh và chợ Văn Thánh.Bến xe Văn Thánh là một bến xe lớn có từ lâu đời ở khu vực này, từ đây có thể đi Biên Hòa, Vũng Tàu và một số tỉnh miền Trung. Khoảng cuối năm 1996 bến xe được dời sang bến xe miền Đông với lý do ở đây xây dựng đường lớn và đường cao tốc, nếu để bến xe ở khu vực này sẽ gây ách tắc giao thông. Chợ Văn Thánh được xây dựng khoảng 1993-1995 dự kiến đây là chợ đầu mối(giống như chợ An Lạc và bến xe miền Tây) cho các loại hàng hóa từ miền Trung  và khu Tân Cảng, nhưng chợ khánh thành và buôn bán không lâu thì bến xe Văn Thánh dời đi làm cho chợ mất khách và mất đi vị trí chiến lược như dự kiến. Hiện nay chợ rất ế ẩm và nhà nước đang có kế hoạch bán khu chợ cho doanh nghiệp Đài Loan sử dụng vào việc khác.
Khu du lịch Văn Thánhnằm trên một cù lao 7 ha nên còn gọi là cù lao 7 mẫu, hiện nay do Công Ty Du Lịch Sài Gòn quản lý.  Đây là khu du lịch nhỏ nhưng được nhiều người biết đến vì 1993-1994 ở đây tổ chức thi tuyển diễn viên điện ảnh. Vào mùng 5 tháng Giêng âm lịch hằng năm ở đây thường tổ chức lễ hội mừng chiến thắng Đống Đa (05/01/1789 Kỷ Dậu âm lịch).
Khu du lịch Tân Cảng (Quân Cảng)trước đây khu vực này là cảng quân sự quan trọng của Mỹ-Ngụy. Sau giải phóng đây là khu vực của Hải Quân Việt Nam. 1990 khu vực Tân Cảng được chia thành 2 khu: quân sự và kinh tế cho tàu xuất nhập hàng hóa và kho để các container. Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống chúng ta có thể thấy rất nhiều container xếp chồng lên nhau trong một khu vực rộng lớn.
CẦU SÀI GÒN.
Và bây giờ xe chúng ta đang đi qua cầu Sài Gòn đây là cửa ngõ quan trọng nối Tp Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Cầu được xây dựng 1959-1961 do công ty C.E.C (Capital Engineering Coporation) thiết kế và thi công. Nếu dựng cầu này lên thì qúy khách sẽ thấy cây cầu này cao bằng chiều cao của ngọn núi Bà Đen với chiều dài 987,413 m, rộng 24 m, 32 nhịp, Trước 5/2000 thì cầu Sài Gòn là cây cầu dài nhất Nam Bộ nhưng hiện nay nó đã nhường vị trí hàng đầu đó cho cầu Mỹ Thuận, là một công trình được xây dựng để chào thiên niên kỷ mới.
Thưa qúy du khách! Cầu Sài Gòn được bắc qua sông Sài Gòn, sông dài trên 230 km bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng (Lộc Ninh – Bình Phước). Một đoạn sông này là ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh và Bình Phước, một phần nước sông này chảy vào khu vực lòng hồ Dầu Tiếng – Tây Ninh. Sau đó chảy qua khu vực Bến Cát đến Thủ Dầu Một vào Tp Hồ Chí Minh và hợp với sông Đồng Nai đổ ra cửa Cần Giờ vịnh Gành Rái, đây là con sông có giá trị kinh tế lớn về giao thông, đặc biệt có nhiều hệ thống cảng quan trọng: cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái – Tân Cảng
QUẬN 2 :
Qua khỏi cầu Sài Gòn là địa phận của Quận 2 – Tp.HCM với diện tích 5020 ha gồm An Phú , An Khánh , Thủ Thiêm , Thạnh Mỹ Lợi , Bình Trưng . Trước 01/04/1997 khu vực này thuộc Quận Thủ ĐứcQuận 2 gồm khu công nghiệp Cát Lái và khu đô thị mới Thủ Thiêm sẽ là trung tâm mới của thành phố trong tương lai gần . Với quy hoạch của thành phố thì Quận 2 sẽ là trung tâm thương mại tài chánh của thành phố . Dân số hiện tại khoảng 86.027 người , dự kiến năm 2010 tăng 450.000-500.000 người .
Hiện  có một số công trình trọng điểm đã và đang khởi công xây dựng tại khu vực Quận 2 :
+ Khu nhà ở và du lịch An Khánh
+ Khu đô thị mới Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi
+ Khu liên hợp TDTT Rạch Chiếc
+ Khu công nghiệp Cát Lái .
+ Tháp truyền hình TPHCM cao 450m với vốn đầu tư 150 triệu USD
+ Hầm vượt sông Sài Gòn tại Thủ Thiêm
+ Đường song hành với quốc lộ 52 ( Kinh phí dự tính là 310 tỷ )
+ Đường cao tốc Bà Rịa – Vũng Tàu .
QUẬN THỦ ĐỨC :
Quận Thủ Đức có diện tích 47,26Km2, dân số 163.387 người gồm 12 phường. Thị trấn Thủ Đức , Linh Đông, Linh Xuân, Linh Trung, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, và một phần xã Tân Phú, Hiệp Phú , Phước Long. Gồm 8 khu quy hoạch trọng điểm :
+ KCN Bắc Thủ Đức ( KCX Linh Trung ) 400 ha .
+ KCN Hiệp Bình Phước: 70 ha .
+ KCN Tam Bình: 50 ha
+ KCN Bình Chiểu: 28 ha
+ Khu du lịch ven sông Sài Gòn: 200 ha .
+ Khu dân cư Hiệp Bình Chánh – Linh Đông : 50 – 70 ha
+ Khu dân cư mới: 16 ha
+ Trường Đại học Quốc Gia: 800 ha ( 200 ha ở Thủ Đức )
QUẬN 9 :
Quận 9 có diện tích 113,75km2, dân số 123.059 người , gồm các xã: Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, Long Phước, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình và một phần diện tích của các xã Tân Phú, Phước Long, Hiệp Phú, Bình Trưng.
XA LỘ BIÊN HÒA ( XA LỘ HÀ NỘI )
Con đường chúng ta đang đi vào những năm trước 1975 mang tên xa lộ Biên Hoà được xây dựng 1959-1961 do công ty CEC thiết kế và thi công đoạn đường này bắt đầu từ chân cầu Sài Gòn kéo dài đến ngã tư Tam Hiệp với chiều dài 31km , rộng 21m. Những năm này Mỹ và chính quyền Sai Gòn sử dụng con đường này như một đường băng quân sự dã chiến phòng khi sân bay Tân Sơn Nhất bị sự cố, đến 1971 Mỹ cho rằng xa lộ thuận lợi cho quân cách mạng đổ bộ tấn công Sài Gòn nên đã cho xây dựng con lươn giữa tim đường. Sau năm 1975 con đường này mang tên quốc lộ 52 nhưng chỉ còn lại 10km bắt đầu từ chân cầu Sài Gòn đến ngã ba Đại Hàn ( hay còn gọi là ngã ba trạm 2 ) đoạn còn lại là Quốc lộ 1. 1984 nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Hà Nội đã đổi tên thành xa lộ Hà Nội , bắt đầu từ chân cầu Sài Gòn đến ngã tư Thủ Đức , đoạn còn lại là quốc lộ 1. Ngày nay , hai bên xa lộ đã mọc nhiều khu vực dân cư sầm uất, khu vui chơi giải trí thể thao , làng đại học và đặc biệt là các khu công nghiệp hiện đại. Đây là con đường được duy tu , bảo dưỡng tốt nhất suốt chiều dài quốc lộ .

CẦU RẠCH CHIẾC
Xe chúng ta sắp đi qua cầu Rạch Chiếc, cây cầu này được xây dựng cùng thời với cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hoà ( 1959-1961 ). Đây là cây cầu nhỏ với chiều dài 148m, rộng 8,5m nhưng là nhân chứng cho một sự kiện lịch sử quan trọng góp phần là rạng rỡ cho chiến dịch HCM vào 27/04/1975 tại chân cầu này đã xảy ra liên tục năm trận đánh giữa quân giải phóng và quân lính Sài Gòn bảo vệ cầu ( vì đây là điểm yếu nhất trên xa lộ ). Cuối cùng quân giải phóng đã chiếm được cầu Rạch Chiếc dành lại đường giao thông quan trọng cho quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, bên cạnh chiến công đó thì 59 chiến sĩ Cách mạng của ta đã hy sinh tại đây. Hiện nay, Nhà Nước đang có kế hoạch xây dựng đài tưởng niệm 59 chiến sĩ đã hy sinh 27/04/1975 .

NHÀ MÁY XI MĂNG HÀ TIÊN.
Qua khỏi cầu Rạch Chiếc, phía tay phải của quý khách là quận 9, phía tay trái là quận Thủ Đức . Nhìn về phía tay trái quý khách thấy một nhà máy đó là nhà máy xi măng Hà Tiên thuộc địa phận quận Thủ Đức được xây dựng 1959-1963 với công suất ban đầu là 79.000 tấn / năm, hiện nay nhờ trang thiết bị hiện đại công suất đã lên đến 1,2 triệu tấn / năm . Sau 1975 nhà nước quản lý,  hiện nay nhà máy cung cấp một lượng lớn xi măng cho khu vực miền Nam và là một trong những cánh chim đầu đàn của ngành xi măng Việt Nam. Nguyên liệu chính lấy từ nhà máy xi măng Kiên Lương, sau đó chuyên chở bằng sà lan tới thành phố sản xuất ra xi măng thành phố cung cấp cho thị trường thành phố và Đông Nam Á .

NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN THỦ ĐỨC
Nhà máy nhiệt điện Thủ Đức được xây dựng vào năm 1964 với công suất hiện nay là 242MW  ( do nhận thêm 2 turbin khí từ Hải Phòng với công suất 77 MW ).

NGÃ TƯ THỦ ĐỨC
Chúng ta đang đến một ngã tư đó là Ngã tư Thủ Đức, nếu rẽ trái là đi vào chợ Thủ Đức, Sài Gòn WaterPark ….. còn rẽ tay phải là đi vào bệnh viện quân đội 7A, trường Công An Phước Sơn, Học việc chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện TPHCM, Đại học Giao thông vận tải .

NHÀ MÁY NƯỚC THỦ ĐỨC
Nhìn bên tay trái quý khách có thể nhìn hai cột cao đó là nhà máy nước Thủ Đức được xây dựng 1959 với công suất hiện nay là 670.000m3 / ngày. Nhà máy có 8 bể lọc lấy nước từ sông Đồng Nai tại khu vực Hoá An cung cấp nước cho toàn thành phố. Và hai cột này là hai cột thuỷ áp nhằm điều hoà áp lực trong các đường ống nước như vào ban đêm tất cả các ống nước được khoá thì áp lực thì áp lực trong các đường ống rất lớn. Hai cột này có nhiệm vụ làm giảm áp suất , tránh tình trạng bị vỡ ống nước . Hiện nay chúng ta đang vay vốn tại ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) khoảng 65 triệu USD để thay đổi toàn bộ các ống dẫn nước chính từ 1,8m lên 2,4m và mở rộng nhà máy nước đưa công suất cung cấp nước của nhà máy lên 1 triệu m3 /ngày .

CÔNG TY NƯỚC GIẢI KHÁT COCA-COLA
Kế bên nhà máy nước Thủ Đức là công ty nước giải khát Coca-Cola với khả năng sản xuất 3.500két / ngày và công suất tối đa 40 triệu lít / năm . Hiện nay công ty này là doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài , chiếm lĩnh thị trường nước ngọt ở TPHCM và cả nước . Nhà máy trước đây là công ty liên doanh giữa Công ty nước giải khát Chương Dương và Công ty Indochina chi nhánh PBC ( Pacific Beverages  Company ) đặt tại Singapore , chính thức ký hợp đồng vào tháng 07/1993 với tổng đầu tư là 4 triệu USD . Nhà máy PBC nằm trên một lô đất khoảng hai ha tại Thủ Đức và có ba dây chuyền sản xuất : 1 vô chai thuỷ tinh , 1 vô lon , 1 vô chai nhựa PET . Ngoài ra , công ty là một trong những đơn vị tài trợ cho nhiều loại hình hoạt động ở TPHCM và cả nước nhất là về TDTT .

NGÃ BA TRẠM HAI ( XA LỘ ĐẠI HÀN )
Trước mặt quý du khách là ngã ba trạm 2, con đường rẽ trái là xa lộ Đại Hàn ( hay còn gọi là xa lộ vành đai ) đây là con đường được xây dựng 1963 do chính quyền Sai Gòn làm để giảm bớt lưu lượng xe chở hàng từ các tỉnh miền Trung về miền Tây và ngược lại, không phải đi xuyên qua TPHCM . Con đường này với tổng chiều dài 40km từ ngã ba trạm 2 đến An Lạc – Bình Chánh , được Mỹ thiết kế và công binh Đại Hàn thi công nên mới gọi là xa lộ Đại Hàn. Sau 1968 Mỹ sợ hãi và lập tức cho xây dựng con đường này như một vành đai bảo vệ ngăn cách giữa Sài Gòn, Tân Sơn Nhất với cái nôi Cách mạng Củ Chi nên hiện nay trên bản đồ con đường mang tên là đường Trường Sơn . Trong tương lai , dự án xây dựng con đường xuyên Á Bangkok – PhnômPênh – Mộc Bài – Quốc lộ 22 – Xa lộ Đại Hàn – Quốc lộ 51 - Vũng Tàu sẽ được thực hiện 

Làng Đại Học:
Cây Kiểng:Xuất hiện ở Việt Nam khoảng TK 12,13 và cho đến nay vẫn giữ được vị trí riêng của nó. Ở Nam Bộ, nhiều địa phương trồng hoa – hoa kiểng nổi tiếng như Sa Đéc (Đồng Tháp), Cái Mơn (Bến Tre), Gò Vấp.
Ngày xưa khi các cụ đến tuổi “tóc đã thưa, răng đã mòn” thường tìm đến thiên nhiên để hưởng nhà với một góc sân nhỏ, các cụ chơi hòn nam bộ, trồng hoa hoặc chậu kiểng (các loại cây thuộc giống cổ thụ được hãm trong các chậu, tạo dựng lại cái hùng vĩ của thiên nhiên trong một khoảng không gian thu hẹp). Riêng lối chơi kiểng thế, các cụ thường ghép ý nghĩa các nhánh, các đoạn của cây với lễ giáo đạo đức cùa xã hội thời bấy giờ nhằm mục đích dạy dỗ con cháu tính kiên nhẫn, siêng năng, biết điều hay lẽ phải. Do đó cách chơi cây kiểng nhìn vào đó có thể đoán biết ít nhiều về gia thế của chủ nhân.
Một cây kiểng có giá trị phải hội đủ 4 yếu tố bằng một hình, hai thế, ba chi, bốn điệp tượng trưng cho Thiên đạo, người đạo, thần đạo và đạo làm con. Theo lời kể của các cụ, cây kiểng được uốn sửa thành 3 tầng, 4 đoạn thân và 5 chùm nhánh là để tượng trưng cho Nam nhi với Tam cương, Ngũ thường và với nữ nhi là tam Tòng – Tứ Đức. trong đó, các tầng, đoạn lại ngã theo 4 hướng gọi là Tứ trụ, theo luật âm dương điều hòa thể hiện cho vũ trụ nhân sinh.
Về chủng loại cây cũng mang ngụ ý sâu sắc: Cây Mai uốn theo hình chữ “Nữ”, cây Tùng uốn theo hình chữ “Thập”, cả 2 cây ghép lại gọi là:
“vô nữ bất thành mai
Vô nữ bất thành tùng” Ngoài ra còn có các thuyết ”người bay và người hạt, thế “phụ tử”…
Ngày nay thú chơi kiểng không còn dành cho  tuổi già. Có nhiều nghệ nhân ở tuổi thanh niên và trung niên. Mỗi độ xuân về, các gian hàng bán cấy khế kiểng mọc ra như nấm với đủ các loài hoa đua nhau khoe sắc. riêng các loại cây uốn thế không chỉ cứng nhắc theo nguyên tắc. nghệ thuật chơi kiểng ngày nay, dù để thưởng thức hay kinh doanh, đã trởi thành một nhu cầu văn hóa của người Việt Nam.

Khu Du Lịch Suối Tiên: Khu DL Suối Tiên cách trung tâm TP. Hồ Chí Minh 19km. tháng
6 năm 1993 đồ án quy hoạch được văn phòng kiến trúc sư trưởng thành phố phê duyệt và được UBND TP.HCM cho phép thực hiện KDL Suối Tiên rộng 18ha với kiến trúc Á Đông.
1/ Lịch Sử Hình Thành: Ngược dòng thời gian trở về với một địa danh huyền thoại, một vùng đất xưa kia hoang hóa có con suối thiên nhiên chảy qua nay đã vươn mình trở thành miền đất Tứ Linh
      Trong ký ức của những người đầu tiên đến khai khẩn đất lập lâm trại, vẫn còn lưu giữ hình ảnh một vùng đất hoang sơ giữa bộn bề đầm lầy, cây cỏ. Ông Đinh Văn Vui – Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng Giám Đốc Tập Đoàn Suối Tiên  nhớ lại: “Tôi còn nhớ mãi ngày ấy, vào năm 1987, khi tôi đến đây khai khẩn đất lập lâm trại, Suối Tiên vẫn còn là đồng ruộng, đầm lầy, rừng rậm và đã từng là căn cứ địa cách mạng thời kháng chiến chống Mỹ… Suối Tiên, cái tên nghe sao lạ quá! Tôi thử tìm hiểu  mới biết Suối Tiên bắt nguồn nối tiếp suối Lồ Ồ (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương ngày nay) chảy ngầm trong lòng đất hàng chục km qua xa lộ Hà Nội và trồi lên mặt đất này, để rồi tiếp tục xuôi dòng đổ ra sông Đồng Nai. Lúc đó, Suối Tiên còn cả một khu rừng đặc hữu, một khung cảnh thiên nhiên hiếm hoi còn sót lại. Tại đây còn có một miếu thờ bảy cô gái ở ven suối có cùng tuổi rồng, tình cờ đến đây tắm và qui tiên ở đoạn suối sâu. Dân trong vùng kể lại : “Bảy cô gái rất linh thiêng nên bà con thường xuyên nhang khói, phụng thờ". Phải chăng bảy cô gái đã quy tiên trở nên linh thiêng thành tiên độ cho đời nên suối này có tên gọi là Suối Tiên và được lưu truyền đến ngày nay? Từ khung cảnh thiên nhiên và truyền thuyết ấy, ý tưởng xây dựng nơi đây thành một khu du lịch tầm cỡ quốc gia nung nấu tôi suốt ngày đêm…"
    "Lâm trại Suối Tiên" đã trở thành tiền đề cho một khu du lịch tầm cỡ trong tương lai. Quá trình sản xuất của lâm trại là quá trình tích lũy vốn liếng cũng như điều tra, nghiên cứu thăm dò để xây dựng khu du lịch.
    Diện tích ban đầu của lâm trại chỉ có 2 ha đất hoang hóa, chỉ là một trại nuôi trăn nhỏ. Các năm tiếp theo, lâm trại tổ chức chăn nuôi theo lối công nghiệp xuất khẩu, đồng thời nuôi cả các loài thú quý hiếm và trồng các loại cây ăn trái. Từ năm 1989 đến năm 1991, sản xuất gỗ xẻ xuất khẩu và sau đó sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp. Sản phẩm của lâm trại Suối Tiên được khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm. Đặc biệt, lâm trại Suối Tiên còn được tổ chức CITES thế giới chấp thuận và bảo vệ quyền chăn nuôi cũng như xuất khẩu các loại động vật bò sát. Có lúc trại trăn ở đây lên đến10.000 con, trong đó có những con trăn vàng đặc biệt quí hiếm nên có người gọi lâm trại Suối Tiên là trại"Trăn Vàng Suối Tiên". Cái tên STF (Suối Tiên Farm) cho đến nay vẫn còn được lưu giữ trên logo của công ty như một kỷ niệm, một dấu ấn không thể quên về bước đầu khởi nghiệp xây dựng Suối Tiên.
    Năm 1992, cùng với sự phát triển kinh tế cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc xây dựng một khu du lịch tầm cỡ để phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần của người dân trở thành một nhu cầu thiết yếu. Từ đây, dự án xây dựng Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên đã trở thành hiện thực, các hạng mục công trình lần lượt được xây dựng.
    Tháng 02 năm 1993, sáng lập công ty TNHH Lâm Sản Mỹ Nghệ Suối Tiên. Ông Đinh Văn Vui được bầu làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám Đốc.
    Ngày 02 tháng 09 năm 1995, nhân kỷ niệm lễ Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam, Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên chính thức mở cửa đón du khách.
2/Chặng đường phát triển
Từng chặng đường xây dựng và phát triển DLVH Suối Tiên gắn liền với sự chuyển đổi cơ cấu quản lý kinh tế của cả nước trong thời kỳ đổi mới, dù phải đối diện với rất nhiều khó khăn cũng như sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, DLVH Suối Tiên vẫn giữ vững định hướng và quyết tâm phát triển thành trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực.
Quá trình hình thành và phát triển của DLVH Suối Tiên cho đến nay, bên cạnh sự đổi mới liên tục qua việc khánh thành hàng loạt những công trình, mô hình tham quan, vui chơi, giải trí, còn có những bước ngoặc đáng ghi nhớ:
·        Năm 1993: khởi công xây dựng.
·        Ngày 02 tháng 09 năm 1995: mở cửa đón khách tại cổng Tây Thiên Môn (cổng số1 ). Lâm trại Suối Tiên chính thức trở thành  DLVH Suối Tiên.
·        Năm 1997: mở cổng Đinh Tiên Môn (cổng số 2) và khánh thành quảng trường Đinh Bộ Lĩnh, khánh thành tượng đài Vua Hùng làm cột mốc đánh dấu cho định hướng phát triển du lịch văn hóa, du lịch về nguồn. Đến năm 2003, tượng đài Vua Hùng được nâng cấp thành Đền Thờ Vua Hùng. Từ đây, lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương được hình thành và định kỳ tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, trở thành lễ hội về nguồn tiêu biểu, đặc sắc của Suối Tiên.
·        Năm 1997: khánh thành Phụng Hoàng Cung và Tàu Lượn Siêu Tốc.
·        Năm 2000: khánh thành cổng Thiên Tiên Môn (cổng số 3), quảng trường Thiên Đăng Bảo Tháp và hàng loạt các công trình, mô hình vui chơi giải trí khác.
·        Năm 2002: khánh thành Biển Tiên Đồng một kỳ quan nhân tạo – một đại dương trong lòng thành phố. Công trình đặc biệt có một không hai này đã đưa Suối Tiên tiến đến tầm cỡ của công nghệ giải trí hiện đại, tiên tiến bậc nhất Đông Nam Á .
·        Năm 2004: Lễ Hội Trái Cây truyền thống Suối Tiên qua 7 năm tổ chức đã được nâng cấp và lấy tên gọi chính thức là “Lễ Hội Trái Cây Nam Bộ“, trở thành sự kiện Văn hóa – Du lịch tiêu biểu của TP. HCM. Sự kiện này giúp cho Suối Tiên được đông đảo du khách biết đến như một miền đất của những lễ hội văn hóa, lễ hội về nguồn độc đáo, đặc sắc, kết hợp hài hòa cả hai yếu tố truyền thống và hiện đại.
·        Năm 2006: Khánh thành công trình văn hóa tâm linh Long Hoa Thiên Bảo.
·        Năm 2007: Khánh thành Đại Cung Kim Lân Sơn Xuất Thế.
·        Năm 2008: khánh thànhBí Mật Càn Khôn Vũ Trụ CineMax 4D, Chuỗi Nhà Hàng Long Phụng.
·        Năm 2009: Khánh thành Đại Cung Phụng Hoàng Tiên, Đại Cung Lạc Cảnh Tiên Ngư, Tháp Du Hành Vũ Trụ.
·        Năm 2010: xây dựng biển Ngọc Nữ ngay bên cạnh Biển Tiên Đồng với hồ tạo sóng hiện đại.
- Đầu tư công nghệ giải trí mới hấp dẫn “Laser Zone” và Đấu trường Bò Tót.
- Ngày 19 tháng 11 Khánh thành thánh tượng Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn một công trình mỹ thuật đặc sắc lớn nhất Việt Nam, tọa lạc tại "Thiên Cảnh Bồng Lai Lưu Ly Thất Bảo" một quần thể kiến trúc hoành tráng đậm nét dân tộc.
Với sự ra đời của hàng loạt công trình mô hình giải trí, DLVH Suối Tiên đã hoàn thiện quy trình khép kín “Du lịch – Giải trí – Thư giãn -  Ẩm thực”, góp phần nâng Suối Tiên lên tầm phát triển mới, đa dạng và hiện đại. Trước cổng Khu Du Lịch Suối Tiên Quý Khách thấy có một con có ba chân khổng lồ. HDV xin phép sơ lược về truyền thuyết về con cóc ba chân này
Thần tài lộc cóc 3 chân
Theo truyền thuyết của người Hoa, thì Thiềm Thừ vốn là yêu tinh, được tiên ông Lưu Hải thu phục, theo Tiên ông Lưu Hải để tu hành nên không làm hại nhân gian như trước, mà ngược lại dùng phép thuật của mình đi khắp nhân gian để nhả tiền giúp đỡ mọi người, để thể hiện sự phục thiện, sự cải tà quy chính với tiên ông Lưu Hải. Vì vậy Thiềm Thừ được người Hoa trân trọng như một trong những con vật linh thiêng trong phong thủy về tài lộc và yên lành.
Nó thường ngậm đồng tiền cổ trong miệng, tượng trưng cho việc cóc mang tài lộc vào nhà. Người Hoa từ xưa tới nay đều tin rằng nếu họ nhà có ở dưới giếng, ao, hồ sau nhà bạn, thì gia đình bạn có thể tránh khỏi những nguy hiểm rình rập. Như vậy cóc biểu tượng cho điềm lành. Đã vậy đây lại là cóc tài lộc nên giữ trân trọng ở hàng thứ 2 sau vật phong thủy số 1 là Tỳ Hưu.
Do đó Thiềm Thừ là biểu tượng của tài lộc và yên lành, là vật phẩm may mắn trong công việc làm ăn, sự bình an cho gia đạo. Nên mọi người thường hay dùng để biến xấu thành tốt trong phong thủy nhà cửa, hoặc để tặng bà con, bạn bè thân hữu khi có dịp hỷ sự.
Nhưng khác với người Hoa người Việt thường chưng bày Thiềm Thừ trên bàn thờ Thổ Địa, Thần Tài ngậm đồng tiền cổ quay ra ngoài để kiếm tài lộc, tối quay đầu vào trong để đem tài lộc vô nhà. Thực ra những con vật thiêng liêng trong phong thủy, nguồn gốc là của người Hoa, là phong tục tập quán lâu đời của mọi người dân xứ sở này. Vì vậy ta cần phải theo những trải nghiệm của họ trong việc sử dụng những con vật thiêng liêng vào phong thủy nhà cửa, sao cho có hiệu quả thiết thực nhất và tránh sự phản tác dụng.
Trong đó việc an vị Thiềm Thừ ở vị trí nào trong nhà sao cho có hiệu quả, thì chúng ta đã biết như trên, tốt nhất là tại 2 góc của chính phía trên trong phòng khách, và đầu của Thiềm Thừ đang ngậm đồng tiền cổ quay vô nhà, như thế Thiềm Thừ đang nhảy vô nhà để mang của cải tài lộc vô nhà chủ.
Tương tự như vậy chúng ta đặt Thiềm Thừ ở của hàng, ở công ty, nhưng phải nhớ là đầu của Thiềm Thừ phải quay vô phía trong cửa hàng hoặc công ty. Cũng có thể đặt Thiềm Thừ nằm ở dưới gầm bàn, bên trong tủ, nhưng đầu phải qua vô trong. Tất nhiên, không ai làm ngược cách trên, là đặt đối diện với cửa chính, chẳng hạn như đặt Thiềm Thừ tại trang Thổ Địa – Thần Tài, đầu quay ra ngoài cửa chính với miệng đang ngậm đồng tiền cổ. Đây là biểu tượng cho sự hao tài, như vậy Thiềm Thừ thay vì tài lộc vô nhà cho gia chủ, thì ngược lại mang tài lộc của gia chủ ra hết ngoài.

Nhưng Thiềm Thừ thế nào mới được linh khí?
Nếu làm bằng bột đá được nghiềm nát và trộn với keo đặc biệt và cho vào khuôn đúc, để sản xuất hàng loạt theo công nghệ thay vì thủ công tuy hình rất đẹp và giá thành rẻ hơn rất nhiều so với sản xuất thủ công.
Nhưng linh khí của loại tượng bột đá này rất ít vì đá thiên nhiên đã bị nghiền nát, đã phá vỡ linh khí đã tích tụ hàng triệu năm, chỉ còn lại một ít linh khí mà thôi.
Có những hình tượng Thiềm Thừ bằng đồng, Thuộc loại hành Kim, trong Hạ Nguyên Vận 8 thuộc Bát bạch ( hành Thổ) này được “ tương sinh”. Vì Thổ sinh Kim. Nhưng linh khí không đầy đủ bằng đá thiên nhiên, vì đồng đã được nung chảy để đổ vào khuôn đúc.
Hơn nữa khi đến Hạ Nguyên Vận 9 thuộc Cửu Tử (hành hỏa): Từ năm 2024 đến năm 2043 (chu kỳ 20 năm). Mà hỏa thì khắc Kim, nên vật liệu bằng đồng (hành Kim) đến đầu Hạ Nguyên Vận 9, tức năm 2024 thì hình tượng bằng đồng (hành kim) người ta sẽ không sử dụng nữa. Thay vào đó người ta sẽ sử dụng hình tượng bằng đá thiên nhiên để có thời gian lâu dài, và ở Hạ nguyên Vận 9 thuộc Cửa Tử ( hành Hỏa) thì được “tương sinh” , vì Hỏa sinh Thổ. Và hơn nữa đá thiên nhiên thuộc hành Thổ, còn giữ trọn vẹn linh khí của Trời Đất qua hàng triệu năm, và được sử dụng vào cả Hạ nguyên Vận 8 và Vận 9 (2004 đến năm 2043) được “ Tương vượng và tương sinh” rất phù hợp, vì vậy việc sử dụng vật phẩm phong thủy đá thiên nhiên là cách lựa chọn tốt nhất.

Thiềm Thừ – Cóc Tài lộc
Chỉ đứng sau Tỳ hưu, Thiềm Thừ hay Cóc ba chân (Cóc tài lộc) được xem là linh vật phong thủy chiêu tài, tịch tà và hộ gia.
Cóc vàng mời gọi tiền tài
Thiềm Thừ ngậm tiền thường có thể nhìn thấy gần máy tính tiền, két sắt, nơi tiếp khách, bàn làm việc và văn phòng tại các nước phương Đông.
Riêng nếu có dịp du lịch sang Trung Quốc, bạn sẽ thấy trong gia đình Trung Quốc, nhà ai cũng chưng Tỳ Hưu để chiêu tài khí bốn phương, tạo may mắn cho gia chủ về tài lộc, công danh và sức khỏe. Tuy nhiên, khi được chủ nhà mời nước tại phòng khách, nếu để ý một chút ở phía cửa ra vào bạn sẽ thấy hai chú cóc ngậm đồng tiền cổ đang quay đầu vào nhà.
Nhìn kỹ hơn, bạn sẽ thấy trên đầu cóc có hình tròn, bên trong là hình tựa như hai con cá quay đầu lại với nhau (gần giống vòng tròn Bát Quái).
Trên lưng cóc có những nốt sần đặc biệt gọi là chòm sao Đại Hùng. Cóc ngồi trên giá tài lộc, mang một đồng xu trên miệng và hai bên sườn đeo hai xâu tiền cổ.
Người Trung Quốc gọi đây là Cóc tài lộc hay Cóc ba chân, tên là Thiềm Thừ. Đây là vật phẩm phong thủy đứng thứ 2, sau Tỳ Hưu, được cho là mang lại điềm lành và tài lộc. Lúc quay đầu cóc vàng ra nói: “đi ra ngoài kiếm tiền đi”, còn khi quay đầu vào, nói: “đem tiền về nhà nhé”!

Truyền thuyết cóc ba chân
Theo truyền thuyết cóc ba chân hay cóc vàng, có thể nhả ra vàng, là vật vượng tài.
Tương truyền ngày xưa có một tu sĩ tên là Lưu Hải đã dùng kế để thu phục cóc vàng yêu quái và thành tiên. Lưu Hải vốn là đệ tử của Lã Động Tân, thích chu du tứ hải, hàng yêu phục ma, bố thí tạo phúc nhân thế.
Lúc Lưu Hải hàng phục được con yêu tinh cóc, nó đã bị thương và cụt mất một chân, cho nên sau này cóc vàng chỉ có ba chân. Từ đó, cóc vàng thuần phục dưới trướng của Lưu Hải, chuyên nhả ra tiền vàng để giúp cho dân nghèo và được gọi là CHIÊU TÀI THIỀM (cóc vàng mời gọi tiền tài ).
Tạo hình của cóc vàng rất nhiều, thường là ngồi trên thỏi vàng, trên lưng của cóc vàng đeo xâu tiền vàng, thân thể béo tròn, toàn thân toát lên vẻ phú quý sung túc.
Điều này có ngụ ý: “Thổ bảo phát tài, tài nguyên quảng tiến” (nhả ra của quý làm cho chủ nhân phát tài, có cóc vàng trong nhà tiền bạc cứ lũ lượt theo vào), cho nên trong nhân gian có câu: ” đắc kim thiềm giả tất phú quý” (người có được cóc vàng chắc chắn sẽ giàu to).
Người xưa cũng lưu truyền câu “thiềm cung triết quế” dùng để ví von với người thi đỗ tiến sĩ, theo truyền thuyết trong Nguyệt Cung có con Cóc ba chân vì thế mà người ta gọi Nguyệt Cung là Thiềm Cung (nghĩa hán việt: thiềm là cóc ).
Thiềm Thừ xuất hiện vào đêm trăng tròn ở gần nhà ai, thì đó là sự báo tin gia chủ nhà ấy sẽ nhận được sự giàu có, phú quý. Vì vậy, Thiềm Thừ được người đời tôn xưng là con vật quý, biểu tượng cho vượng tài.
Trình tự “khai quang điểm nhãn” cho Thiềm Thừ:
1. Chọn một ngày đẹp, tắm rửa sạch cho Thiềm Thừ.
2. Lấy nửa thùng nước giếng, lấy tiếp nửa thùng nước mưa. 3. Đổ vào đồ chứa đã chuẩn bị từ trước, đồ chứa đó phải sạch sẽ.
4. Đặt Thiềm Thừ vào nước ngâm 3 ngày 3 đêm.
5. Sau khi lấy ra dùng khăn bông sạch lau khô Thiềm Thừ.
6. Lấy một chút nước chè vẩy vào mắt Thiềm Thừ – đây còn gọi là “khai quang điểm nhãn”.
7. Khai quang hoàn tất.
Thiềm Thừ khi “thỉnh” về cũng cần làm thủ tục “khai quang điểm nhãn” tương tự như Tỳ Hưu, tuy nhiên vẫn có chút khác biệt.
Thiềm Thừ thông nhân tính, vì thế khi khai quang tốt nhất chỉ nên có mình gia chủ. Thiềm Thừ sau khi được khai quang, nhìn thấy ai đầu tiên sẽ mãi mãi “phù hộ” cho người đó. Vì thế, có người dùng rất tốt nhưng đem tặng cho người khác thì lại không linh là vì lí do này.

Có ý kiến cho rằng nên chưng Thiềm Thừ trong phòng khách, buổi sáng nên quay đầu Thiềm Thừ ra phía cửa, buổi tối thì quay ngược đầu cóc vào nhà. Điều này hàm ý “đớp” tiền ở ngoài rồi “nhả” vào nhà mình.

Cách khai quang điểm nhãn cho Thiềm Thừ
1, Chọn một ngày đẹp, tắm rửa sạch cho Thiềm Thừ.
2, Lấy nửa thùng nước giếng, lấy tiếp nửa thùng nước mưa.
3, Đổ vào đồ chứa đã chuẩn bị từ trước, đồ chứa đó phải sạch sẽ.
4, Đặt Thiềm Thừ vào nước ngâm 3 ngày 3 đêm.
5, Sau khi lấy ra dùng khăn bông sạch lau khô Thiềm Thừ.
6, Lấy một chút nước CHÈ vẩy vào mắt Thiềm Thừ – đây còn gọi là khai quang điểm nhãn.
7, Thiềm Thừ thông nhân tính, vì thế khi khai quang tốt nhất chỉ có mình ở đó, Thiềm Thừ sau khi khai quang người đầu tiên nó nhìn thấy là bạn sẽ mãi mãi “phù hộ“ bạn. (vì thế có lúc người khác dùng rất tốt nhưng tặng bạn lại không linh là vì lí do này!).

CÔNG VIÊN VĂN HÓA LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG
Qua nhiều ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam có rất nhiều di tích lịch sử và công trình văn hóa quý báu tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh kiên cường của các thế hệ người VIệt Nam để bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc.
            Thế nhưng các di tích lịch sử và công trình văn hóa của đất nước nằm trải dài từ Bắc đến Nam không phải ai cũng có điều kiện đến được; cho nên việc xây dựng và thể hiện những cột mốc lịch sử và văn hóa dân tộc ở một địa điểm tương đối tập trung là rất cần thiết cho việc giáo dục, phát huy truyền thống dân tộc và tạo điều kiện giao lưu văn hóa trong nước, giới thiệu văn hóa Việt Nam với nước ngoài.
        Dự án Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc tại thành phố Hồ Chí Minh với mục tiêu trên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quỵết định số 298/TTg ngày 08-5-1997. Đây là một công viên văn hóa có chọn lọc và sinh động những truyền thuyết, những sự kiện lịch sử và công trình văn hóa tiêu biểu của dân tộc; có làng văn hóa các dân tộc giới thiệu những kiến trúc, lễ hội truyền thống, trò chơi, phong tục tập quán của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; có khu vui chơi giải trí, khu bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch sinh thái, làng hoa kiểng ... phù hợp với sự phát triển phong phú, đa dạng về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của Thành Phố Hồ Chí Minh.
Mục đích xây dựng
Căn cứ Quyết định số 298/TTg ngày 08/05/1997 của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu xây dựng Công viên lịch sử văn hoá dân tộc được xác định :
+ Làm điểm tựa giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc cho nhân dân nhất là cho thế hệ trẻ ( ở trong nước và đồng bào ở nước ngoài về thăm quê hương), góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
+ Tạo điều kiện giao lưu văn hóa trong nước và giới thiệu văn hoá Việt Nam với nước ngoài, tăng cường tính phong phú, đa dạng trong đời sống tinh thần của nhân dân Thành phố.
+ Tạo một cảnh quan thiên nhiên thoáng rộng; góp phần cân bằng sinh thái cho môi trường của Thành phố; giới thiệu có chọn lọc những sự kiện lịch và công trình văn hoá tiêu biểu của dân tộc; có làng văn hoá các dân tộc giới thiệu những kiến trúc, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, trò chới dân gian trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; có khu vui chơi giải trí, khu bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch sinh thái, làng hoa kiểng ... phù hợp với sự phát triển phong phú và da dạng của thành phố Hồ Chí Minh.
Địa điểm
Cách trung tâm Thành phố 27km về hướng Đông Bắc, gần các khu công nghiệp,thương mại, dịch vụ của vùng tam giác thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai.
Diện tích
Diện tích đất sử dụng 408 ha, trong đó 381 ha thuộc quận 9, Tp. HCM và 27 ha thuộc huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương; được quy hoạch thành 4 khu chức năng.
Khu Cổ Đại
Diện tích 84,15 ha
Khu Cổ Đại có diện tích (84,15ha) tái hiện thời cổ đại Thượng cổ - Văn minh sông Hồng, thời Hùng Vương cho đến Ngô Quyền (938 sau công nguyên) với các nội dung xây dựng chính:
 * Khu tưởng niệm các vua Hùng
 * Khu tái hiện thời đại Văn hóa Sơn Vi; Hòa Bình; truyền thuyết về người giao chỉ.
 * Khu tái hiện sinh hoạt Văn hóa Bắc Sơn, Phùng Nguyên.
 * Khu tái hiện văn minh sông Hồng, nước Văn Lang.
 * Khu thể hiện các truyền thuyết: Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh Thủy Tinh, sự tích Trầu Cau,Bánh Dày Bánh Chưng, Thánh Gióng ...
 * Khu tái hiện tình cảnh nhân dân và các cuộc khởi nghĩa từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Khúc Hạo đến Ngô Quyền.
Quan trọng nhất trong khu vực này là Khu tưởng niệm các Vua Hùng với công trình trung tâm là Đền tưởng niệm các Vua Hùng. Đây là một trong 12 công trình và chương trình trọng điểm của Tthành phố Hồ Chí Minh đã được triển khai xây dựng với mục đích là:
 * Nơi tôn nghiêm để tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm tại Thành phố Hồ Chí Minh.
 * Nơi thiêng liêng để nhân dân đến tưởng niệm, vọng bái tổ tiên, hướng về cội nguồn.
 * Nơi tổ chức các lễ hội, sinh hoạt văn hóa, khơi dậy tình cảm về nguồn, lòng tự hào dân tộc.
Khu Trung Đại
 Diện tích 29,19 ha
Khu Trung Đại có diện tích (29,19ha) tái hiện các chiến công và những sự kiện lịch sử thời Đinh, Lê, Lý, Trần đến thời Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn (Thế kỷ 10 - thế kỷ 18) với các nội dung xây dựng chính:
·        Khu vực tái hiện thời Đinh - Lê -Lý
·        Khu vực tái hiện thời Nhà Trần
·        Khu vực tái hiện triều đại Hồ Quý Ly
·        Khu vực tái hiện thời Lê Lợi -  Nguyễn Trãi
·        Khu vực tái hiện thời Mạc - Trịnh - Nguyễn
Khu vực tái hiện thời Tây Sơn
Khu Cận - Hiện Đại
Khu Cận - Hiện Đại có diện tích 35,92ha tái hiện từ thời nhà Nguyễn đến thời đại Hồ Chí Minh, với các nội dung xây dựng chính:
·        Khu vực tái hiện thời nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1858
·        Khu vực tái hiện thời Pháp thuộc từ 1858 - 1930
·        Khu vực tái hiện thời kỳ đấu tranh giành độc lập từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
·        Khu vực tái hiện cuộc đời và sự nghịêp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Khu quảng trường Độc lập và tượng đài Thống nhất
Khu Sinh Hoạt Văn Hóa
Khu sinh hoạt văn hóa có diện tích (245,74 ha) bao gồm Cù lao Bà Sang với các khu sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí theo chuyên đề.
1. Bảo tàng lịch sử tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh.
      Là một bảo tàng trong hệ thống Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam được Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể tại Quyết định số 86/2006/QĐ-TTg ngày 20/4/2006 và được triển khai đầu tư  xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam và Khu rừng Trường Sơn.
       Giới thiệu các nét văn hóa đặc trưng của 54 dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.
Tổ chức giao lưu văn hóa và sinh hoạt lễ hội của các dân tộc.
       Tái hiện rừng Trường Sơn tổ chức các   loại sinh hoạt vui chơi giải trí cho thanh thiếu niên nhằm giáo dục lòng yêu nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
3. Công viên Điện ảnh.
      Giới thiệu nền điện ảnh Việt Nam từ ngày mới thành lập đến nay. Tổ chức trường quay và các dịch vụ về điện ảnh phục vụ các đoàn làm phim trong và ngoài nước.
4. Khu Làng hoa - du lịch tắm bùn khoáng.
       Giới thiệu chuyên ngành hoa kiểng của thành phố, trưng bày, giao dịch, mua bán các giống hoa kiểng và hoa quả nhiệt đới Việt Nam. Tổ chức khu nghĩ dưỡng với loại hình tắm bùn khoáng nóng
5. Khu Công viên mạo hiểm và quảng trường Hòa Bình.
6. Khu du lịch sinh thái Cù lao Bà Sang.
       Xây dựng trên Cù lao Bà Sang với các loại hình du lịch sinh thái, du lịch nhà vườn và các loại hình vui chơi giải trí đặc thù vùng sông nước Nam bộ.
7. Khu vui chơi giải trí dọc Sông Đồng Nai.
       Tổ chức các loại hình vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, dịch vụ... phục vụ khách tham quan, du lịch.
8. Khu bảo tồn chùa Hội Sơn thuộc hệ phái Phật giáo Bắc Tông.
9. Khu bảo tồn chùa Bửu Long thuộc hệ phái Phật giáo Nam Tông
Khu Cận - Hiện Đại
Diện tích 35,92 ha
Khu Cận - Hiện Đại có diện tích 35,92ha tái hiện từ thời nhà Nguyễn đến thời đại Hồ Chí Minh, với các nội dung xây dựng chính:
·        Khu vực tái hiện thời nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1858
·        Khu vực tái hiện thời Pháp thuộc từ 1858 - 1930
·        Khu vực tái hiện thời kỳ đấu tranh giành độc lập từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
·        Khu vực tái hiện cuộc đời và sự nghịêp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Khu quảng trường Độc lập và tượng đài Thống nhất
Khu Sinh Hoạt Văn Hóa
Khu sinh hoạt văn hóa có diện tích (245,74 ha) bao gồm Cù lao Bà Sang với các khu sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí theo chuyên đề.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu tưởng niệm các vua Hùng - 14/05/2008
Sáng 10-5, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân và Phó Chủ tịch Thường trực UBND TPHCM Nguyễn Thành Tài đã đi tìm hiểu và chỉ đạo việc thực hiện dự án Khu tưởng niệm các vua Hùng và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trong Khu công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc tại phường Long Bình, quận 9.
Sau khi nghe báo cáo tình hình, Chủ tịch Lê Hoàng Quân ghi nhận những nỗ lực của Ban quản lý công viên và chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện dự án. Theo đó, UBND TPHCM cho phép chỉ định thầu những công việc đòi hỏi chuyên ngành nghệ thuật cao để đẩy nhanh tiến độ thi công. Phải hoàn thành công việc xây lắp, lắp đặt trang thiết bị, trang trí nội ngoại thất của đền chính vào tháng 12-2008. Đầu tháng 2-2009 hoàn thành phần văn bia, câu đối liễn (GS Vũ Khiêu đã nhận lời góp ý về nội dung); liên hệ với Đền Hùng Phú Thọ về việc nhận trống đồng (phiên bản), đất Tổ, bát nhang, cây cọ; chuẩn bị bài văn tế và mời chủ tế cho buổi lễ Giỗ Tổ Hùng Vương vào năm 2009. Sở VH-TT thực hiện tập sách và bộ phim giới thiệu về công trình này.
Chủ tịch Lê Hoàng Quân yêu cầu giải quyết dứt điểm việc giải phóng mặt bằng đúng luật định, chú ý tái định cư và nhận con cháu của người dân ở địa phương vào làm việc tại công viên. Hướng tới, công viên cần khai thác, tổ chức các loại dịch vụ, cung ứng cây xanh, hoa kiểng, huy hiệu Đền Hùng, các sản phẩm lưu niệm... để lấy thu bù chi. Từ năm 2010, công viên phải thu hút khoảng 10 triệu khách/năm.

NHÀ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Tổ tiên ta từ khi thoát khỏi tình trạng nguyên thủy, từ thời đại đồ đá chuyển sang thời đại đồ đồng, con người đã rời bỏ những hang động miền núi để tiến về miền trung du và đồng bằng, họ quần cư trên các gò, đồi, các mỏm đất cao. Song song với việc lập làng là việc xây dựng nhà. Đấu vết để lại là những di tích, hình ảnh nhà sàn thô sơ trên trống đồng Đông Sơn.
Ông cha ta có câu “An cư mới lập nghiệp” do vậy việc làm nhà là hết sức quan trọng. mỗi vùng miền có một điều kiện địa hình, khí hậy, vật liệu xây dựng…khác nhau nên có những cách làm nhà khác nhau. Các dân tộc ở vùng cao, miền núi thường làm nhà sàn, còn các dân tộc ở đồng bằng ven biển loại nhà chủ yếu là nhà trệt, nhà sát đất.. chẳng hạn như ở Đồng Bằng Sông Hồng, lúc đầu dân cư ở đây làm nhà sàn, nhưng sau khi nhà Lý cho xây dựng đắp những con đập để tránh chu kỳ lũ lụt hàng năm nên cư dân chuyển sang làm nhà trệt, nhà đất.
Vật liệu xây dựng chủ yếu là  tận dụng các vật liệu có sẵn trong tự nhiên như: đất đá để xây dựng. có một số vùng có gổ, tre để làm cột nhà, kèo nhà, dùng tre, nứa đan làm những tấm phênh và vách ngăn. Mái nhà được lợp bằng các loại lá như: tranh , lá dừa, lá cọ, ngói…
Vào thời phong kiến việc xây dựng nhà của người dân được quy định rạch ròi. Năm 1097 vua Lý Nhân Tông ra lệnh “cấm dân gian bách tính không được xây nhà ngói, làm thuyền lớn “ (Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim), nhà Nguyễn thì quy định cụ thể hơn, Luật Gia Long ở điều 156 quy định về kiến trúc dân gian rất ngặt nghèo. Nhà ở trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được dựng trên nền 2 cấp hay chồng 2 mái (chồng diêm). Không được sơn vẽ, trang trí, cấm làm nhà có gác cao, cấm dùng gỗ lim làm nhà…
“Dân phường mà giáp đường quan
Không được làm gác trông ngang ra đường
Có can làm chỗ cửa hàng
Chiều cao không được cao bằng kiệu quan”
Ngày nay việc làm nhà phải thuận tiện cho việc làm ăn sinh sống của cư dân. Địa thế làm nhà phải là “nhất cận thị, nhị cận tân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền” (một gần chợ, hai gần bến đò, ba gần sông, bốn gần đường cái, năm gần ruộng).
Nhà của người Việt (Kinh):
Mặt bằng xây dựng nhà theo chữ nhất (--) chữ nhị (=) chữ đinh (J) thường có một gian, 3 gian, 5 gian cộng thêm hai chái ở hai bên. Trước đây tùy vào vào điều kiện tự nhiên mỗi vùng mà có cách xây nhà khác nhau. Nền nhà được đắp bằng đất, sau này thì lát gạch hoặc hoặc ván, các bức tường được làm bằng đất sét, đá ong hoặc bằng gạch.
Quan trọng nhất trong một ngôi nhà là hệ thống cột và vì kèo (đà ngang, cột dọc) tạo nên các khung vững chắc cho ngôi nhà. Cột được liên kết lại với nhau bằng những vì kèo. Phổ biến nhất là kèo ba cột vì trong một dãy có 3 hàng cột được liên kết lại với nhau. Cách bố trí trong nhà gồm: gian giữa thường làm nơi thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ…các gian 2 bên dùng làm phòng ăn,sinh hoạt, phòng ngủ hoặc để thóc lúa…
Suốt dọc bờ biển miền Bắc, nhất là từ Quảng Ninh đến Thái Bình là nơi đầu sóng ngọn gió, nên căn nhà phải thu mình thật ngạt (nhỏ), bám chặt vào đất. kiểu nhà bốn hàng chân mở cửa phía Nam đón gió mát tránh gió bão từ biển thổi vào, mái lợp tranh hoặc ngói. Tường được đắp đất rất dày, trổ ít cửa tạo dáng nhỏ bé nhưng vững chắc.
ở Miền Trung có 2 kiểu nhà đặc trưng là nhà Rọi và nhà Rường. nhà Rọi là loại nhà mà trong một hàng cột có 3 cái xếp thẳng hàng với nhau, cột giữa nhỏ và cao hơn 2 cột hai bên. Được liên kết với nhau bằng hệ thống xà ngang và vì kèo rất chắc chắn tạo nên hình chữ thập. nhiều hàng cột liên tiếp nhau tạo thành các gian nhà. Trên các xà ngang có thể dùng ván lót để chất hàng hóa, thóc lúa khi bị lũ lụt. còn nhà Rường thì trong một hàng cột có 4 cột dựng liên tiếp thẳng hàng nhau. Hai cột giữa cao hơn hai cột 2 bên liên kết với nhau cũng bằng hệ thống vì kèo tạo ra sự kiên cố nhất định.
Vào đến Nam Bộ, địa hình kinh rạch chằng chịt, mặt nước mênh mông. Cư dân tự cư trú trên các kênh rạch, đào đất đắp nền, dùng cây đước cây tràm, lá buông làm nhà, Có những nhà nổi làm nhà nhà sàn trên những cột gỗ cắm xuống lòng kênh lợp bằng lá dừa…
“Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”Như vậy hướng của các cửa chính ngôi nhà phải quay về hướng Nam. Mục đích chính là đón gió mùa đông bắc, ngôi nhà tránh được gió rét và vào mùa hạ vẫn được mát mẻ. ngày nay đa số nhà cửa của chúng ta quay về hướng mặt tiền, hướng nhà quay ra đường rất thuận tiện cho việc buôn bán và đi lại…
Kiến trúc cơ bản về nhà cửa của các dân tộc anh em
-    Nhà người Chăm có núi phía nam, có sông phía bắc, có gò cao phía tây, thoải dần về phía đông. Trong làng chỉ trồng cây me, khuôn viên nhà gồm có: nhà tục (thang đơ), nhà đôi (thang mơ dâu), nhà bếp (thanh dìn), nhà kho (thang tôn), nhà ngang (thang cần), nhà ló (thang Pinai).
-    Nhà người Ê đê: nhà sàn dài 3- - 40 m (dài bằng một tiếng chuông, rộng hơn một tiếng cồng) có một hay vài bếp ăn. Nhà hướng bắc – nam, cửa hai đầu hồi, có cầu thang hình phụ nữ, ngôi sao hình trăng khuyết (nam đầu bắc nữ đầu nam) vách phía đông là phòng ngủ, ngủ quay đầu về hướng đông, bếp trước buồng ngủ, đầu bắc nơi tiếp khách để nhạc cụ hoặc vũ khí.

TỔNG QUAN ĐỒNG NAI:
TỈNH ĐỒNG NAI
®Lịch sử Đồng Nai
Cuối thế kỷ XVI, vùng đất Đồng Nai vẫn còn hoang dã, chưa được khai phá, người dân bản địa gồm các dân tộc Stiêng, Mạ, Kơ ho, M'nông, Chơ ro và một vài sóc người Khơ me sinh sống. Dân ít, sống thưa thớt, kỹ thuật sản xuất thô sơ, trình độ xã hội còn thấp.
Cuộc chiến tranh của họ Trịnh  và họ Nguyễn ở miền Trung và Bắc Việt Nam làm cho dân chúng khổ sở, điêu đứng và tạo ra một làn sóng di cư của người dân miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sống.
Bản tính cần cù, chịu khó, lưu dân người Việt đã cùng với người bản địa chung sức khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp. Dần dà, rừng rậm hoang vu đã trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu tươi tốt.
Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay).
Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (là cả Nam Bộ bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
Người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đầu tiên định cư ở Bến Gỗ, nhưng thấy Cù lao Phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán, họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống. Từ đây, Cù lao Phố phát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định (Nam bộ ngày nay).
®Diện tích: 5.903,9km²
®Dân số:2.214,8 nghìn người (năm 2006)
®Tỉnh lỵ:Thành phố Biên Hòa 
Các huyện, thị:
- Thị xã: Long Khánh.
- Huyện: Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Xuân Lộc, Long Thành, Nhơn Trạch, Cẩm Mỹ, Trảng Bom.
®Dân tộc:Việt (Kinh), Hoa, Xtiêng, Chơ Ro, Chăm.
®Điều kiện tự nhiên


Đồng Nai là tỉnh miền Đông Nam Bộ, cửa ngõ phía đông của Tp. Hồ Chí Minh, phía bắc giáp Lâm Đồng, phía đông giáp Bình Thuận, phía tây giáp Bình Dương, Bình Phước và Tp. Hồ Chí Minh, phía nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tỉnh Đồng Nai nằm trên lưu vực sông Đồng Nai và một nhánh của nó là sông La Ngà, có sông Lá Buông chảy qua, có nhà máy thủy điện Trị An... Địa hình Đồng Nai gồm một số thung lũng, đồng bằng, gò, đồi thấp, tuy nhiên phần đất tiếp giáp với cao nguyên Lâm Viên và Di Linh thì tương đối cao. Phần lớn đất ở Đồng Nai là đất bazan, đất xám và đất phù sa cũ rất tốt cho việc trồng trọt. Bởi vậy Đồng Nai trồng nhiều cây công nghiệp (cây cao su, cà phê...), cây ăn trái và cây công nghiệp ngắn ngày.
Khí hậu:có 2 mùa - mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 25,4ºC - 27,2ºC.
®Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Đồng Nai là tỉnh có công nghiệp phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn thứ hai của khu vực miền Nam, chỉ sau Tp. Hồ Chí Minh. Xung quanh thành phố Biên Hoà có khu công nghiệp rộng lớn, nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty. Đồng Nai có nhiều nghề thủ công. Đồ gốm sứ Đồng Nai đẹp có tiếng trong nước. Đồng Nai có những rừng cao su, cà phê bạt ngàn, có rừng cấm Cát Tiên, một khu rừng nguyên sinh rộng lớn.
Đến Đồng Nai du khách có thể tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong các khu rừng hoặc vườn cây ăn quả, cũng như săn bắn, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long Ẩn, khu văn hoá Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã Đà,... hay tham quan các di tích chiến tranh, nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa... Đồng Nai còn nổi tiếng với nghề thủ công truyền thống như làng gốm Tân Vạn, ven sông Đồng Nai của người Việt, nghề đục đá truyền thống tinh xảo của người Hoa sống gần hồ Long Ẩn.

®Dân tộc- tôn giáo
Đồng Nai có nhiều dân tộc sinh sống, phần lớn là người Việt. Ngoài ra có người Hoa, Xtiêng, Chơ Ro, Chăm, Mạ... Đồng Nai có một truyền thống dân gian khá phong phú, đặc biệt là văn hóa của đồng bào dân tộc ít người. Tôn giáo chủ yếu ở Đồng Nai là Phật giáo và Công giáo. Ngoài ra, một số ít người theo đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Đài, Hòa Hảo.
 Đồng Nai còn là quê hương của một số loại nhạc cụ dân gian độc đáo: đàn đá Bình Đa, sáo trúc, chiêng đồng, thanh la, khèn bầu, khèn môi. Lối hát Tam Pót của dân tộc Mạ, một loại hình hát kể có vần điệu được lưu truyền trong cộng đồng người Mạ ở huyện Định Quán hiện đang được khôi phục lại.
® Giao thông
Thành phố Biên Hòa cách Tp. Hồ Chí Minh 30km, cách Hà Nội 1.684km theo đường quốc lộ 1A, cách Đà Lạt (Lâm Đồng) 278km theo quốc lộ 20, cách Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu) 95km theo quốc lộ 51, cách Cần Thơ 198km. Đường sắt tuyến Bắc - Nam đi từ Hà Nội qua thành phố Biên Hòa đến Tp. Hồ Chí Minh.
®Sông Đồng Nai-Cầu Đồng Nai
Sông Đồng Nai là tên con sông lớn thứ nhì đất Nam Bộ, chỉ thua sông Cửu Long. Sông chảy qua các tỉnh Lâm ĐồngĐăk NôngBình PhướcĐồng NaiBình DươngThành phố Hồ Chí MinhLong An, và Tiền Giang với chiều dài trên 500 km.Theo sách cổ Gia-định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức thì sông còn có tên là "sông Phước Long" vì gọi tên theo phủ Phước Long. Nguồn sông xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng. Đoạn trên sông mang tên sông Đắc DungSông Đa Nhim, một phụ lưu của nó, góp nước vào sông Đắc Dung ở Đại Ninh. Sông uốn khúc chảy theo hướng đông bắc-tây nam vượt khỏi miền núi ra đến bình nguyên ở Tà Lài, tỉnh Đồng Nai. Ở khoảng hợp lưu với sông Bé thì có đập Trị An chắn dòng sông, tạo nên hồ nước nhân tạo lớn nhất miền Nam, tức Hồ Trị An. Hồ Trị An cũng là nơi sông La Ngà từ triền núi phía nam cao nguyên Di Linh dồn nước về. Đến thị trấn Uyên Hưng thì sông Đồng Nai chảy theo hướng bắc-nam ôm lấy cù lao Tân Uyên và Cù Lao Phố. Sông chảy qua thị xã Biên Hòa và Nhà Bè thì phân nước ra mấy nhánh như sông Lòng Tàu và sông Đồng Tranh. Vì vậy ca dao có câu:
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về...
Gia Định là rẽ theo sông Sài Gòn lên phía Tây Ninh, còn Đồng Nai là theo dòng sông lên Biên Hòa. Nhánh chính sông Đồng Nai ở khúc hạ lưu thường gọi là sông Nhà Bè. Sách xưa gọi sông này là "Phước Bình". Sông Đồng Nai hoà với nước của sông Vàm Cỏ từ Long An đổ về trước khi tuôn ra Biển Đông tại cửa Soài Rạp.Phụ lưu chính của sông Đồng Nai gồm sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ.Sông Đồng Nai có một số cảng lớn như cảng Cát Lái, cảng Bình Dương. Đường sắt và Quốc lộ 1 A vượt sông này qua Cầu Đồng Nai ở Biên Hòa.Đồng Nai nguyên tên phiên âm tiếng Miên là "Nông-Nại". Đây là vùng đất Chân Lạp người Việt vào khai phá trước tiên.
Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai là nơi phát triển sầm uất của cộng đồng người Minh Hương trước khi vùng đất này trở thành đơn vị hành chính chính thức của Đàng Trong năm 1698.
Cầu Đồng Nai : dài 453,9m- ngang 16m,là một cầu đường bộ quan trọng trên Quốc lộ 1A, bắc qua sông Đồng Nai ở giữa địa phận thành phố Biên Hòa và huyện Dĩ An tỉnh Bình Dương. Được xây dựng từ thời Pháp thuộc khoảng năm 1959-1961, tu bổ hòan toàn bởi công ty xây dựng Mỹ, cây cầu hiện nay đã có dấu hiệu xuống cấp mặc dù là tuyến giao thông huyết mạch với trọng tải 25 tấn có hơn 44,000 lượt xe mỗi ngày. Có cảnh báo cầu có thể bị sập bất cứ lúc nào. Hiện có dự án cầu Đồng Nai 2 đã được xây dựng.
®Thành phố Biên Hoà
Lịch sử
Nhóm người Hoa đầu tiên đến Cù Lao Phố là : Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình đã lập cảng Nông Nại Đại Phố
Văn hoá
Nơi đây là điểm hội tụ giao thoa của nhiều nền văn hoá cổ Óc Eo Hoa Chăm Việt và nhiều bộ tộc thiểu số , nhiều di chỉ phát hiện ở cù lao Rùa, đàn đá ở Bình Đa, mộ cổ Hàng Gòn ở Trảng Bom.
Địa lý
Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, nam giáp huyện Long Thành, đông giáp huyện Trảng Bom, tây giáp huyện Dĩ AnTân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh.Biên Hòa ở hai phía của sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách thành phố Vũng Tàu 90 Km (theo Quốc lộ 51).Tổng diện tích tự nhiên là 154,73 km2, chiếm 2,64% diện tích tỉnh.
Dân cư
Dân số năm 2005 ước có 541.495 người, mật độ 3.500,97 người/km². Dân số năm 2007 đã lên tới 604.548 người
Kinh tế
Bên cạnh việc là tỉnh lỵ của Đồng Nai, Biên Hòa còn là trung tâm kinh tế và xã hội của tỉnh.Thành phố đô thị loại II này cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước. Biên Hòa có 4 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt: Khu công nghiệp Biên Hòa 1, Khu công nghiệp Biên Hòa 2, Khu công nghiệp Amata và Khu công nghiệp Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ.Chính phủ cũng đã phê duyệt Khu công nghiệp Hố Nai và Khu công nghiệp Sông Mây. Tỉnh đã quy hoạch Khu công nghiệp Bàu Xéo. Biên Hòa là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia, có đường sắt Thống Nhất chạy qua cùng Quốc lộ 1 và Quốc lộ 51.
Kết quả 9 tháng đầu năm 2005
Sản xuất công nghiệp (tính theo giá cố định) tăng 16 % so cùng kỳ năm trước; sản phẩm chủ yếu như đất, đá, bê tông, gốm xuất khẩu, mây tre xuất khẩu, chế biến gỗ.
Khu vực quốc doanh tăng 15% so cùng kỳ năm 2004.
Khu vực ngoài quốc doanh tăng 85% so cùng kỳ năm trước
Đồng Nai đạt 5 điểm nhất so với cả nước về công nghiệp
+ Địa phương có nhiều khu công nghiệp nhất
+ Có diện tích đất công nghệp lớn nhất 20.000ha
+ Nhiều dự án về công nghiệp nhất : 168 dự án
+ Vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất 17,35tr USD
+ Mức tăng trưởng giá trị sản phẩm công nghiệp cao nhất 59%
Ngã 3 Vũng Tàu hiện nay là ngã 4 Vũng Tàu
Cách thành phố Hồ Chí Minh 25km, rẽ phải theo quốc lộ 51 đi khoảng 100km sẽ đến Vũng Tàu
Khu công nghiệp Biên Hoà 1(bên trái)
Được xây dựng năm 1963 với diện tích 706ha với 94 nhà máy và xí nghiệp . Các nhà máy tiêu biểu : Ác quy Đồng Nai , chế biến café Biên Hoà – giấy Đồng Nai – điện tử Biên Hoà- gốm Thiên Thanh ….
Khu công nghiệp Biên Hoà 2(bên phải)
Được hình thành  ngày 15-12-1990 với diện tích 375ha. Trước năm 1975 là căn cứ quân sự của Mỹ còn gọi là tổng kho Long Bình (1965-1966) 1975 do tổng cục hậu cần quản lý. Các nhà máy tiêu biểu :thức ăn gia xúc Jtan- thuốc lá Đồng Nai, tập đoàn điện tử Huynday,Daewoo…
Khu căn cứ Long Bình
Nằm ở phía tay phải ( gốc Đông Bắc ngã 3 xa lộ) được xây dựng năm 1964 với diện tích ban đầu là 6 ha , dùng làm kho chứa đạn và dụng cụ chiến đấu, ban đầu gọi là kho Long Bình.
Tháng 4-1965 sau khi kiểm tra tình hình miền nam Việt Nam phái đoàn quân sự do Mac Namara và taylor cầm đầu đã quyết định xây dựng lại Kho Long Bình , năm 1966 mở rộng gấp 4 lần so với trước là 24ha và gọi là tổng kho Long Bình , Kho Long Bình lấy hàng từ cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu, sân bay Biên Hoà và trở thành trung tâm cung cấp vũ khí cho quân đội Mỹ và chư hầu. Tổng kho Long Bình có 6 hầm ngầm đủ chứa 150.000 tấn bom, đạn. Có 6 lớp rào bao bọc  
Siêu thị Cora
Đi vào hoạt động năm 1998, do tập đoàn thương mại dịch vụ quốc tế Bourbon đầu tư, đây là một tập đoàn thương mại của Pháp hiện có 74 siêu thị trên thế giới . Siêu thị Cora bao gồm một trung tâm thương mại dịch vụ , khu nhà xưởng chế biến , khu vui chơi giải trí, bãi đậu xe với tổng vốn đầu tư 54tr USD, hiện có hơn 20 000 mặt hàng trong đó 90% là sản phẩm của Việt Nam 
Ngã tư Tam Hiệp ( trước kia là ngã 3). Nếu rẽ trái đi khoảng 6km là đến TP Biên Hoà, bên phải đó là công viên, có tượng đài kỉ niệm trận đánh vào căn cứ Long Bình 1964. Là tượng đài gốm sứ dầu tiên ở Việt Nam.
Khu công nghiệp Amata ( bên phải)
Công ty TNHH AMATA Việt Nam là chủ đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp AMATA
Thành lập : 1995
* Công ty đầu tư hạ tầng : Công ty Phát triển KCN Long Bình hiện đại ; là Công ty liên doanh giữa Công ty Phát triển KCN Biên Hòa Sonadezi và Công ty Amata Corp. Public - Thái Lan).
* Diện tích : giai đoạn 1 phát triển 129 ha, đã lắp đầy và đang triển khai giai đoạn 2 với 232 ha.Với tổng diện tích 361 ha, khu công nghiệp Amata, tỉnh Đồng Nai, thu hút nhiều ngành nghề, từ vật liệu xây dựng, cơ khí, máy vi tính, đến may mặc, nữ trang, dược phẩm.
Địa chỉ: phường Long Bình, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngành nghề thu hút đầu tư: Máy vi tính và phụ kiện; Thực phẩm, chế biến thực phẩm; Chế tạo, lắp ráp điện, cơ khí, điện tử; Sản phẩm da, dệt, may mặc, len, giầy dép; Hàng nữ trang, mỹ nghệ, mỹ phẩm; Dụng cụ thể thao, đồ chơi; Sản phẩm nhựa, bao bì; Sản phẩm từ cao su, gốm sứ, thuỷ tinh; Kết cấu kim loại; Vật liệu xây dựng; Sản xuất phụ tùng, chế tạo ô tô; Dược phẩm, nông dược, thuốc diệt côn trùng; hoá chất, sợi PE, hạt nhựa, bột màu công nghiệp.
Khu hố Nai 1
Nằm cặp theo quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Biên Hoà 3km phía Đông Bắc , trãi dài trên 12kmTrước năm 1954 khu đất này là rừng hoang thuộc xã Bình Phước, huyện Đức Tu, tỉnh Biên Hoà. Năm 1954 hơn 40.000 đồng bào theo đạo thiên chúa thuộc 29 xứ đạo ở Miền Bắc di cư vào đây,lập trại định cư theo sự bố rí của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 8-1956 Ngô Đình Diệm gọi trại định cư này xã Hố Nai.Xã Hố Nai có diện tích 2090ha đa số là người kinh và một số người Nùng. Sau năm 1975 Hố Nai được tổ chức thành 4 khu nằm trong huyện Thống Nhất  , tỉnh Đồng Nai và dân số phát triển lên đến 718.000 người, xây dựng 29 nhà thờ, 28 trường học và 10 trạm y tế…
Chợ Sặt (bên trái)
Hình thành năm 1954 bởi dân làng Sặt ở phía Bắc nay thuộc phường Tân Biên TP Biên Hoà.
Đặc điểm hai bên đường:
Hai bên đường  có nhiều nhà thờ và cơ sở bán đồ mộc gia dụng. Nghề làm mộc là nghề truyền thống nhưng từ khi xây dựng hồ Trị An, phải phá một số lớn diện tích rừng nên đã thúc đẩy nghề mộc ở đây phát triển mạnh hơn.

Thuỷ điện Trị An (km 45) ngã 3 rẽ trái 19km thuộc Hố Nai 3
Nhà máy thủy điện Trị An được xây dựng trên sông Đồng Nai, cách thành phố Hồ Chí Minh 65 km về phía Đông Bắc, với sự hợp tác của Liên Xô từ 1984, đưa vào hoạt động năm. 1991. Nhà máy thủy điện Trị An có 4 tổ máy, với tổng công suất thiết kế 400 MWsản lượng điện trung bình hàng năm 1,7 tỉ KWh. Dung tích hồ chứa nuớc của nhà máy là 2.765,00 km khối.
Hồ Trị An là một hồ nước nhân tạo thuộc tỉnh Đồng Nai, hồ là nơi chứa nước cung cấp cho nhà máy Thủy điện Trị An.Hồ Trị An được khởi công vào năm 1984 và hoàn thành đầu năm 1987. Hồ có dung tích toàn phần 2,765 km³, dung tích hữu ích 2,547 km³ và diện tích mặt hồ 323 km². Hồ được thiết kế để cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị An công suất 400MW với sản lượng điện hàng năm 1,7 tỷ kWh.

Chiến Khu Đ (di tích căn cứ khu uỷ Miền Đông)
Chiến khu D là tên gọi tắt quen thuộc khi nói về một chiến khu, căn cứ kháng chiến quan trọn nhất miền Đông Nam Bộ. Nằm ở hữu ngạn sông Đồng Nai. Trung Tâm của Chiến Khu Đ cách thị trấn Tân Uyên 2km, cách Biên Hòa 10km và Sài Gòn 30km. Chiến khu D hình thanh và phát triển suốt chiều dài lịch sử qua 2 cuộc kháng chiến, phạm vi của chiến khu thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.
Trong kháng chiến chống Pháp, Chiến Khu Đ được hình thanh vào tháng 2 năm 1946 , chủ yếu từ 5 xã Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Định, Thường Tân, Lạc An thuôc huyện Tân Uyên. Từ năm 1948 – 1949, chiến khu Đ mở rộng từ đường 16 phía Tây và sông Đồng Nai

Ngã 3 Dầu Giây
Cách thành phố Hồ Chí Minh 67 km. Người ta cho rằng trước kia vùng này trồng rất là nhiều cây dầu và có thân leo. Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng dầu giây là đọc trại của từ trầu giây. Từ đây nếu đi thẳng theo quốc lộ 1A đi các tỉnh Miền Trung còn nếu rẽ trái đi khoảng 260km sẽ đến Đà Lạt

Vài nét về cây cao su
Cuối TK IXX  đầu TK XX bác sĩ Alexangder Yersin  mang giống cao su sang VN cho trồng thí nghiệm tại Suối Dầu – Nha Trang và nhận thấy giống cây này thích hợp với điều kiện đất đai và khí hậu VN.
Vào TK XVIII tại Bazil lưu vực sông Amazôn người ta đã tìm thấy cây cao su, lâu lắm rồi bộ tôc Mai – Nác đã biết dùng mủ cây cao su để chống ẩm, làm bóng để chơi vào các mùa hè nên họ đặt tên cho cây này là Caoochoc có nghĩa là “Nước Mắt của cây”. Đến TK XIX khắp thế giới đã trồng cây cao su nhưng tập trung nhiều ở vùng nhiệt đới của xứ châu Phi, Châu Mỹ và vài nước Châu Á. Khi mang giống cây này sang Việt Nam, người Pháp đã phiên âm chữ Caoochoc và gọi là cây cao su, họ đã cho trồng thử nghiệm ở 1 số nơi nhưng không thành công.
Đến năm 1863 người Pháp đưa hạt giống từ Java,Malaysia để gieo trồng tại vườn Ông Thêm – Thủ  Dầu Một, ngoài ra còn trồng thí điềm tại Phú Nhuận với diện tích 45 ha, cùng thời điềm mà BS Yersin cho trồng thử nghiệm tại Suối Dầu – Nha Trang. Sau đó họ nhập giống từ Colombia & Bazil, đến năm 1904 thành lập đồn điền cao su Suzana (tên của vợ toàn quyền Đông Dương) với diện tích 3.400 ha đầu tiên ở ngã 3 Dầu Giây. Ngày nay hầu hết các nông trường cao su do Nhà Nước quản lý, tuy nhiên cũng có 1 số người dân trồng và phát triển ngành cao su.

Cây cao su được trồng bằng cách ươm cây giống trong vườn ươm, khi cây cao khoảng 0,8m – 10m người ta mang cây cao su con ra trồng tại vườn theo từng hàng thẳng, mỗi cây cách nhau 4 – 5m  thuận tiện cho việc chăm sóc và lấy mủ cao su và để cho ánh nắng chiếu vào cây. Khoảng 7 năm sau khi trồng cao su bắt đầu cho mủ, đường kính của cây lúc dó phải đạt khoảng 20cm.
Người thợ cao su phải lấy mủ vào lúc sáng sớm vì khi ấy quá trình quang hợp chưa xảy ra mạnh nên mủ cao su có chất lượng hơn. Ban đầu người thợ dùng 1 con dao có móc cong cạo lớp vỏ lụa bên ngoài cây cao su tránh cạo sâu vào bên trong vì như vậy cây cao su sẽ bị tổn thương và làm ảnh hưởng đến năng suất của cây. Trung bình 1 cây cao su cạo được khoảng 60l mủ = 20kg. Mủ tươi sau khi sấy khô sẽ còn 1/3 trọng lượng, giá trung bình 1 tấn mủ cao su là 1.600USD. Hiện nay diện tích trồng cây cao su trên cả nước VN gần 700.000 ha.
Ban đêm cây cao su thải ra khí độc (cacbonic) rất có hại cho sức khỏe của người thợ nếu họ ở trong nông trường. Vào thời Pháp thuộc, những người phu làm đồn điền cao su cho Pháp bị bóc lột rất tàn nhẫn và bị đàn áp rất dã man. Chính vì vậy mà người ta đã truyền khẩu một số câu ca dao như sau:
                                        “Bán thân đổi mấy đồng xu
                                     Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”
                               Hay               “Cao su đi dễ khó về
                                      Khi đi trai tráng khi về bủng beo”

Thông thường cây cao su có chiều cao khoảng 20 mét, rễ ăn rất sâu để giữ vững thân cây, hấp thu chất bổ dưỡng và chống lại sự khô hạn. Cây có vỏ nhẵn màu nâu nhạt. Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phấn chéo, vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái. Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu, đường kính 02 cm, có hàm lượng dầu đáng kể được dùng trong kỹ nghệ pha sơn.
Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 22°C đến 30°C (tốt nhất ở 26°C đến 28°C), cần mưa nhiều (tốt nhất là 2.000 mm) nhưng không chịu được sự úng nước và gió. Cây cao su có thể chịu được nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mủ sẽ giảm. Tại Việt Nam cây thích hợp với đất đỏ sẫm ở vùng Đông Nam Bộ.Cây chỉ sinh trưởng bằng hạt, hạt đem ươm được cây non. Khi trồng cây được 5 tuổi có thể khai thác mủ, và sẽ kéo dài trong vài ba chục năm.
Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hưởng tới thời gian và lượng mủ mà cây có thể cung cấp. Bình thường bắt đầu cạo mủ khi chu vi thân cây khoảng 50 cm. Cạo mủ từ trái sang phải, ngược với mạch mủ cao su. Độ dốc của vết cạo từ 20 đến 350, vết cạo không sâu quá 1,5 cm và không được chạm vào tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh. Khi cạo lần sau phải bốc thật sạch mủ đã đông lại ở vết cạo trước. Thời gian thích hợp nhất cho việc cạo mủ từ 7 đến 8 giờ sáng.
Hiện nay cây cao su là một trong những cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, và đang được trồng nhiều trên các huyện Châu Đức, Tân Thành của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Lâm Đồng…
Rừng cây Giá Tỵ km 54-55.
RỪNG CÂY GIÁ TỴ- ĐÁ CHỒNG ĐỊNH QUÁN
Dọc hai bên đường chúng ta thấy trồng rất nhiều cây Giá Tỵ, thân thẳng lá rộng (40-50cm), vỏ trắng, gốc có nhiều khía cạnh, hoa có chùm màu trắng thường gặp ở Lào Miến Điện, miền Bắc Thái Lan.
Rừng cây giá tỵ được trồng năm 1958 do bà Trần Lệ xuân (vợ cố vấn Ngô Đình Nhu) Diện tích 165 ha, hiện là nơi cung cấp giống cho cả nước. Thân cây thường được dùng trong những nghành công nghiệp chính xác: báng súng, gỗ công nghiệp, trang trí ….(do tính chất gỗ nhẹ, nhiều sớ, ít bị co giãn)Lá, hạt dùng làm lá xông tắm trị bệnh ngoài da, thuốc lợi tiểu. Bông sử dụng làm thuốc hạ nhiệt.
Cây giá tỵ 80 năm mới thu hoạch. Diện tích cả nước 4.670ha.
Đá chồng Định Quán.
Nằm cách TP.HCM khoảng 110 km. Chúng ta thấy có những khối đá xếp chồng lên nhau 1 cách khéo léo, người ta gọi đó là đá ba chồng (có ba khối đá nằm chồng lên nhau gần đường đi)
Những khối đá hoa cương này trước đây nằm trong lòng đất. Sau đó do quá trình kiến tạo những mạch đá nằm bên trong bị đứt gãy. Vì vậy nước mưa có thể thấm sâu vào những khe nứt, làm tách dần chúng ra, phần lớp mặt theo thời gian bị bóc mòn dần và lộ ra những nhân đá bên trong. Để những khối đá có bề mặt tròn trịa như vậy chứng tỏ trải qua thời gian rất dài hàng triệu năm.
Km 76: Ranh giới giữa tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng.
Km 78: thị trấn Ma Dagui thuộc huyện Đạ huoai, tỉnh Lâm Đồng. Ngã ba bên trái vào Thánh Địa Cát Tiên khoảng35km
Nam Cát Tiên  Vùng Đất Kỳ Bí
Thật vậy, từ thời Pháp đến thời Mỹ và chế độ Sài Gòn đã đổ ra không biết bao công sức, tiền của ròng rã suốt mấy chục năm trời để chinh phục, kiểm soát vùng đất Cát Tiên, nhưng có lẽ do thiên nhiên tính và nhân tính nên cuối cùng đạ thất bại một cách thảm hại. ấy vậy mà vùng đất kỳ bí nằm bên bờ sông Đồng Nai này lại dang rộng vòng tay đón nhận, chở che, bảo vệ cho hàng vạn cán bộ, chiến sĩ quân Giải Phòng và Trung Ương Cục Miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt. và điều kỳ diệu hơn năm 1987, Cát Tiên  (CT) đã hóa thân thành một đơn vị hành chính của tỉnh Lâm Đồng: Huyện Cát Tiên!
Chiến tranh đã qua đi cách đây 40 năm, nhưng có lẽ trong lòng nhiều anh bộ đội Cụ Hồ năm xưa vẫn không thể nào quên: Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gian khổ hàng trăm bà con người Mạ, người X Tiêng đã chung lưng đấu cật, chia sẻ  bao khó khăn, vui buồn với Cách Mạng. chính tại nơi này nhờ có nhân dân mà Đảng được tồn tại, còn dân dựa vào Đảng để đủ dũng khí đối mặt với quân thù. Quân Mỹ và Sài đã mở hàng trăm cuộc hành quân đánh phá ác liệt vào Cát Tiên với quyết tâm “san thành bình địa” và chiếm lấy vùng đất này. Nhưng, với tấm lòng yêu nước nồng nàn, đồng bào các dân tộc Mạ, Xtiêng đã kề vai sát cánh bên quân Giải Phóng giáng trả cho quân thù nhiều trận thất điên bát đảo, phải tháo chạy thoát thân. Chính vì vậy, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông liền một dải, Nhà nước đã quyết định phong tặng ngay danh hiệu cao quý Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang cho nhân dân xã Đồng Nai, huyện Cát Tiên.
Vườn Quốc Gia Cát Tiên (VQGCT) được thành lập  lập ngày 13 tháng 1 năm 1992, chuyển hạng từ khu rừng cấm NCT. Ngày 10/11/2001, VQGNCT đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới và là Khu Dự trữ sinh quyển thứ 2 của Việt Nam.
VQGCT trải rộng quanh vĩ độ 11o bắc, với tổng diện tích 71.920 ha thuộc 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước. Đây là nơi nổi bất về đa dạng sinh học, là kho dự trữ tài nguyên sinh học vô giá của nước ta, có nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và đặc hữu, là hiện trường phong phú cho các nhà khoa học nghiên cứu, cho du khách trong và ngoài nước đến tham quan.
VQGCT có các kiểu địa hình đặc trưng của cuối dãy Trường Sơn và Đông Nam Bộ như các bậc thềm sông,suối, bán bình nguyên cổ, các đồi khá bằng phẳng, xen kẽ đầm hồ. độ cao so với mặt nước biển từ 130 đến 600m nơi dốc nhất là 30o.
VQGCT nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt là mùa khô, lượng mưa trung bình hằng năm là 2.185mm, nhiệt độ trung bình hằng năm là 2.185mm, nhiệt độ trung bình là 25,4o C, độ ẩm trung bình là 83,6%. Sông Đồng Nai bao bọc ba phía Bắc, Tây và Đông VQG với chiều dài khoảng gần 90km là một phần thuận lợi cho việc bảo vệ, gìn giữ hệ sinh thái động thực vật. Trong VQGCT có nhiều suối lớn nhỏ với những thác ghềnh kỳ vĩ cung cấp nước cho động thực vật và hài hòa với cỏ cây tạo nên cảnh đẹp thiên nhiên.
VQGCT hội tụ được các luồng hệ động thực vật phong phú, đa dạng, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thường xanh của các tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Với tổng diện tích 71.920ha, VQG chia làm 3 khu vực là Nam Cát Tiên (Đồng Nai), Cát Lộc (Lâm Đồng) và Tây Cát Tiên (Bình Phước). vười có rừng lá rộng xanh quanh năm, rừng cây nửa rụng lá, rừng hỗn giao gỗ-tre-nứa, rừng tre nứa thuần loại và thảm thực vật đất ngập nước.
Giới thực vật chia thành các ngành, dưới ngành là lớp dưới lớp là bộ, họ rồi đến chi, loài.
VQGCT đã xác định được 1.610 loài, 724 chi, 162 họ, 75 bộ thực vật. đặc biệt, ở CT có 38 loải quý hiếm (ngồn gen quý hiếm) thuộc 13 họ như Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Cẩm Lai (Dallbergia spp), Giáng hương (Pterocarpus), Gõ mật (Sindora cochinchi-nensis), Căm xe (Xylia xylocarpa), có tên trong Sách đỏ Việt Nam.
VQG đang triển khai các đề tài nghiên cứu về bảo tồn gen của một số loài thực vật quý hiếm như cây Gõ đỏ , Cẩm Lai bông. Phối hợp với Viện Di truyền nông nghiệp Hà Nội, Vườn trồng 0,7 ha rừng cây Câm Lai Bông ở khu vực Đà Cộ.
Tuy nhiên, cũng như nhiều vùng khác ở khu vực Nam Bộ, hệ sinh thái CT gặp phải một trở ngại lớn, đó là cuộc xâm lược của cây Mai dương, Mai dương là một loại cây ngoại lai du nhập vào môi trường của ta. Cây này có một sức sống, sinh sản và phát triển mạnh mẽ hơn các loải cây bản địa  nên đangchèn ép, lấn lướt thảm thực vật, nhất là ven bờ nước, nơi nó lan rất nhanh nhờ các hạt trôi. Cuộc chiến chống lại cây Mai dương quả là một thách thức lớn đối với các chiến sỹ bảo vệ môi trường.
Nghiên cứu về côn trùng, các cán bộ khoa học của VQGCT đã điều tra được 439 loài bướm, trong đó 30 loải mới cho Việt Nam, 2 loài phụ mới cho khoa học. các nhóm côn trùng khác nhau như bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera), bộ Cánh giống (Homoptera)…cũng có nhiều ở rừng CT.
Trong các đầm, hồ, sông, suối của VQG có trên 133 loài cá, thuộc 28 họ, trong đó có 10 loài mới phát hiện đối với Việt Nam, một loài nằm trong Sách đỏ của Hiệp Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN), 8 loải của Sách đỏ Việt Nam.
Chung quanh bờ nước, rừng CT có 41 loải lưỡng cư sinh sống, thuộc 6 họ và 2 bộ. VQG có 79 loài bò sát 17 họ và phân họ, 4 bộ trong đó có 23 loải có tên trong Sách đỏ Việt Nam, như Cá sấu Xiêm (Crocodylus siamensis), Trăn gấm (Pythonreticulatus), Trăn đen (Python molurus)…
Cá sấu là những loài bò sát to lớn và hung dữ. cặp hàm lớn lởm chởm răng nhọn trong thật ấn tượng. trên thế giới có 25 loài cá sấu nhưng ở Việt Nam chỉ có hai loài là cá sấu hoa cà và Cá sấu xiêm. Cả hai loài này trước kia có rất nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng do bị săn bắn nhiều quá nên ngày nay không còn ai nhìn thấy ngoài thiên nhiên nữa. trong Sách đỏ Việt Nam hai loài này đều ghi nhận tình trạng nguy cấp.
Chương trình phục hồi Cá sấu nước ngọt ở Bàu Sấu của VQGCT là dự án đầu tiên ở Việt Nam phục hồi loài cá sấu nước ngọt trong điều kiện tự nhiên. VQG đã thả 60 con Cá Sấu vào Bầu Sấu sau khi được Trường Đại Học Queensland và Canbera (Úc) kiểm tra AND, xác định đây là loài cá sấu xiêm thuần chủng.
Cá sấu có giá trị kinh tế cao vì thịt ngon, da dùng làm giày dép, thắt lưng, túi xách, ví. ở nước ta hiện có khá nhiều cơ sở nuôi Cá sấu.
Chim có 351 loài thuộc 64 họ, 18 bộ. trong đó có 31 loài quý hiếm được phát hiện có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Các loải chim quý hiếm gồm có Hạc cổ trắng, Công, Già đãy Java, Cò quắm cánh xanh. Đuôi cụt bụng vằn. đuôi cụt bụng đỏ, Gà lôi hông tía. Đặc biệt, có loải Gà so cổ hung (Arborophila davidi) là loài đặc hữu và rất quý hiếm.
Gà so cổ hung thuộc họ Trĩ, bộ Gà, lần đầu tiên được phát hiện ở Phú Riềng tỉnh Đồng Nam. Lần thứ 2 loài này được nhìn thấy ở Nam Cát Tiên vào tháng 4 năm 1991. Đặc hữu có nghĩa là chỉ riêng khu vực này có. Nhìn chung chim màu nâu xám với những vệt đen, ngực nâu, bụng hung vàng nhạt, sườn xám có những vệt đen trắng xen kẽ, mắt nâu, mỏ đen, chân hồng. loài chim này có giá trị kinh tế lớn về khoa học và thầm mỹ. Trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới, Gà so cổ hung được xép vào tình trạng nguy cấp, cần được quan tâm, bào vệ.
Thú ở VQG có 105 loài thuộc 29 họ, 11 bộ trong đó có 25 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, như Bò rừng (Bosjavanicus), Bò tót (Bos gaurus), Hổ (Pantheratigris), Gấu chó (Ursus maylayanus) Gấu ngựa (Ursus thibethanus), Voi Châu Á (Elephas maximus), Báo Hoa mai (Pardofelis par-dus).
Năm 1988 một sự kiện làm các nhà Khoa Học và những người yêu thiên nhiên hoang dã trên thế giới  sửng sốt: Việt Nam chính thức công bố loài tê giác Java một sừng quý hiếm còn sót lại ở Đông Nam Á có từ 8 – 10 con tại khu vực rừng CT.
Y học cổ truyền Trung Hoa cho rằng sừng Tê giác rất bổ, già chợ đen mỗi ký hiện nay tương đương nửa tỷ đồng Việt Nam. Vì thế trong vòn 100 năm lại đây, Tê Giác là loài động vật bị loài người truy sát ráo riết nhất. xưa kia ở nước ta có 2 loài Tê giác. Người bà con kia có 2 sừng, mang tên loài Tê giác Sumatra, đã hoàn toàn biết mất vào đầu thế kỷ XX. Từ giữa thế kỷ XX mọi người tin rằng ngay cả tê giác một sừng Java cũng không còn một mống nào ở Việt Nam. Bổng năm 1999, bẫy ảnh đặt trong rừng sâu VQGCT đã chụp được hình Tê giác này. Sự kiện chấn động địa cầu này đem đến niềm tin cho các nhà môi trường học thế giới là có thể bào tồn được loài động vật cực kỳ quý hiếm mà Sách đỏ thế giới đã liệt vào tình trạng cực kỳ nguy cấp (Critically Endangerd). Trước khi có phát hiện này người ta tin là toàn thế giới chỉ còn duy nhất một quần thể tê giác Java khoảng 40 con sống trong VQG trên đảo Java, Indonesia.
Bảo vệ sự sống những báu vật này của hành tinh là nhiệm vụ khó khăn và trọng đại của VQGCT.
Các nhà khoa học đã tìn ra 68 loài cây là thức ăn của Tê Giác, đã chụp được 12 kiểu ảnh tê giác bằng lỹ thuật bẫy ảnh, làm bằng chứng khoa học về sự có mặt của Tê giác tại CT.
Dự án Bảo Tồn VQG CT đã đặt quan hệ với một giáo sư trường đại học Culumbia, Ney York (Mỹ) để giúp xác định số lượng cá thể, giới tính, độ tuổi và cấu trúc chủng quần bằng việc phân tích AND từ các mâu vật của Tê giác như:sừng, da, phân mà nhân dân địa phương thu lượm được.
Tính đa dạng sinh học cao, có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm có tên trong sách đỏ, địa hình phong phú đan xen sông, suối, đầm, thác gềnh tạo nên sức thu hút mạnh đối với du khách cũng như các nhà khoa học đến them quan và nghiên cứu.
Ngay sau đó,Tổ Chức Bảo Vệ Động Vật Hoang Dã (WWF) đã cử đoàn chuyên gia về tận nơi kiểm tra và lập một dự án trị giá 5,6 triệu USD nhằm bảo vệ loài thúc trên.cũng trong thời gian này, các cơ quan chức năng Trung Ương và Ủy Ban Nhân Dân các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé (nay là Bình Phước) đã giao trách nhiệm cho chính quyền sở tại và ngành lâm nghiệp địa phương xúc tiến tiến ngay các hoạt động thiết thực nhăm bảo vệ loải tên giác Java và Rừng CT.
Tháng 4/1992, Chi Cục Kiểm Lâm Lâm Đồng đã ra quyết định số 90/QĐ-RCKL chuyển giao toàn bộ diện tích rừng Ct cho ngành dọc. một Ban Quản Lý Rừng Cấm CT đã ra đời, Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Lâm Đồng cũng đã ban hành chỉ thị số 16/CT-UB tăng cường các biện pháp bảo vệ loài tê giác Java quý hiếm còng sống sót ở Rừng Cấm CT.
Hiện nay CT có diện tích rừng và đất rừng khoảng 30.000 ha, chiếp 81,3% tổng diện tích tự nhiên. Qua khảo sát thực tế các nhà khoa học cho biết: Rừng CT hiện có khoảng 500 loài động vật, trong đó có hàng chục loài thú thuộc 8 bộ lớn như: Hổ, báo, gấu, bò rừng, sơn dương…40 loài bò sát như trăn, rắn, tắc kè…Về động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài loài tê giác Java còn có hạc cổ trắng (Cinonia episopus), cò quắm (Rahamatipichgiatra). Riêng chim ở rừng CT dẫn đầu trong cả nước với 274 loài gồm: Công, gà lôi, gà tiền, yểng, vẹt, diều hâu…
Về thực vật CT cũng hết sức phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại. trong số 1.000 loài có hơn 600 loài thực vật bậc cao. Ngoài ra, CT con có một quần thể thực vật có độ tuổi lên đến vài ngàn năm, trong đó có các loài cây gỗ quý như: trắc, cẩm lai, chò, trầm đỏ, gõ đỏ..; 80 loài cây làm thuốc, 15 loài cây cho dầu nhựa, 31 loài cây  đặc sản như song mây, nứa, lồ ô…
VQGCT có nhiều loại hình du lịch phong phú và hấp dẫn như du lịch nghiên cứu, học tập; du lịch nghỉ dưỡng để tận hưởng không khí trong lành và sự tỉnh lặng thơ mộng của núi rừng; du lịch mạo hiểm như đi xuyên rừng, vượt qua địa hình hiểm trở để thưởng ngoạn những kỳ bí của thiên nhiên và là dịp để thử thách, rèn luyện ý chí, VQG có 12 tuyến, điểm tham quan.
Tuyến Bàu Sấu giúp ta tận mắt thưởng ngoạn những cánh rừng già, với cây Tung cổ thụ hơn 500 tuổi đường kính vài chục người ôm hay những loại dây leo có hình dáng kỳ lạ như Bàm bàm, Cẩm nhung…Dọc đường , du khách có thể thấy trăn, rắn hổ mang, rắn lục, kỳ nhông hay chim quý hiếm đuôi cụt bụng vằn, đuôi cụt cánh xanh, gà tiền mặt đỏ, gà lôi hông tía, gà so ngực gụ, hạc cổ trắng.
Du khách có thể dạo quanh hồ Bàu Sấu trên chiếc xuồng nhỏ chèo tay để tận hưởng vẻ đẹp tuyệt vời của mặt hồ tĩnh lặng, xem nhiều loải chim, nhất là các loài chim nước, ban đêm có thể thấy những đàn bò tót ăn cỏ, chiều tối có thể thấy cá sấu ngoi lên mặt hồ.
Tuyến Bàu Chim giới thiệu các kiểu rừng khác nhau, sự phân bố thảm thực vật từ thấp lên cao. Từ chòi quan sát, ta thấy rỏ toàn cảnh quanh hồ với các loài chim nước như: Bói cá, le nâu, Ó cá, cò bợ, công.
Tuyến Bằng Lăng xuyên qua cánh rừng Bằng lăng gần như thuần loại. Vào đầu mùa khô, rừng Bằng lăng sắp sửa thay lá, lá xanh chuyển sang màu đỏ tạo nên một vẻ đẹp rực rỡ. trên tuyến này ta có thể thấy được nhiều loài cây lớn quý hiếm, đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ như Cẩm lai bọng, Gõ đỏ, Gõ mật. trên đường đi chúng ta sẽ được giới thiệu về cây Thiên tuế (Cycas rumphii)rius). Trung quân là vị thuốc quý chữa bệnh đường ruột, cây này lại có đặc điểm là không cháy nên trong chiến tranh, quân dân ta dùng lá để lợp nhà…Rồi cây Tung đại thụ 400 tuổi, chu vi khoảng 20 người ôm, với bộ rể bạnh vè kỳ vĩ giúp cây chống chọi với gió lớn trong khi đất không đủ dày cho nó cắm sâu rể. Và cả cây Gõ đỏ khoảng 700 tuổi, mà năm 1988, cố thủ tường Phạm Văn Đồng đã đến thăm, dặn dò về công tác bảo vệ rừng.
Điểm du lịch cây Si đưa ta đến Cây Si khổng lồ với không biết bao nhiêu thân nối liền nhau trùm sum suê lên cả một đoạn suối nước trong veo chảy róc rách. Ta đã biết là cây si buông rể từ trên cành cao, cắm xuống đất. Rễ này lớn dần thành một cây mới, cứ thể cây mọc lan dần, có thể có hàng trăm thân nối liền nhau, khó mà nhận biết cây nào là cây đầu tiên.
Tuyến du lịch sinh thái tương đối bằng phẳng và có nhiều loại cây, phù hợp với những ai thích đi bộ xem cây, nghỉ ngơi thư giãn. Du khách sẽ đi xuyên  qua các kiểu rừng khác nhau,thỉnh thoảng gặp vài con suối nhỏ và có thể nhìn thấy heo, nai, gà rừng… Trên đường về bạn có thể đi bộ dọc theo tuyến Thác Trời, dạo chơi xem cây, chim thú, xem cây Gõ đỏ 700 tuổi.
Tuyến xem thú ban đêm sẽ đưa bạn bằng xe ô tô mui trần xuyên qua những khu rừng và những bãi cỏ tranh nối tiếp nhau trong bóng đêm tĩnh lặng. Dưới ánh sáng đèn xe ô tô và đèn pha xem thú, du khách có thể nhìn thấy những đàn Nai nhởn nhơ gặm cỏ, tố Lợn rừng sục sạo kiếm ăn, con Chồn hương thoăn thoắt trên cành cây tìm quả chín, Nhím, Trút chậm chạp bò trên mặt đường, anh Thỏ rừng chạy thục mạng trước đầu xe như muốn đua với ô tô.
Điểm Vườn Thục Vật dành cho những người quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thực vật miền Đông Nam Bộ, trên diện tích 29,6 ha có đến 322 loài, thuộc 75 họ thực vật đặc trưng.
Điểm Ghềnh Bến Cự và tuyến Thác Mỏ Vẹt đưa bạn đến những thắng cảnh sông nước mỹ lệ hài hòa với cỏ cây muông thú hoang dã.
VQGCT có 2 cộng đồng dân tộc là Mạ và Xtiêng với những nét sinh hoạt đậm tính truyền thống, văn hóa đặc trưng như lễ hội đâm trâu, những truyện cồ, thuyền thuyết, huyền thoại độc đáo, những nhạc cụ gắn liền với đời sống văn hóa tâm linh như bộ cồng chiêng, trống,khèn bầu,tù và, sáo trúc ba lỗ gắn vào trái bầu khô. Người phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệ thổ cẩm với những hoa văn tinh tế hình hoa lá, chim thú và nhiều màu sắc lạ mắt. Ngày nay, hàng thổ cẩm đang dần dần chiếm được cảm tình, được nhiểu du khách quốc tế ưa chuộng.
Trên tuyến tham quan làng dân tộc Mạ và X tiêng ở Tà Lài, ta sẽ xem Nhà Văn Hóa các dân tộc, nơi lưu giữ những di vật, những nhạc cụ cổ truyền của hai dân tộc này, dự những lễ hội tạ ơn Giàng đã phù họ cho vụ mùa bội thu, người người khỏe mạnh.
Đi ca nô dọc sông Đồng Nai chúng ta sẽ nhìn thấy những cảnh đẹp hai bên sông với những sinh hoạt thường nhật của người dân sống ven bờ.
Đến với CT du khách không chỉ choáng ngợp trước những khu rừng nguyên sinh thuần khiết, nơi trú ngụ hàng trăm loài động thực vật quý hiếm, mà còn bàng hoàng trước một vùng đất mà trong lòng nó đang ẩn chứa một di sản văn hóa vô giá của nhân loại. Đó là Thánh Địa Bà La Môn của vương quốc Phù Nam.
Mấy năm qua, sau nhiều cuộc khai quật, Nhà Nước đã thu được không ít hiện vật của  có giá trị như: Ngẫu tượng Linga-Yony, tượng thần Siva, 265 miếng vàng lá trên đó có chạm khác những hình tượng có liên quan đến Bà La Môn Giáo, tượng Phúc Thần Ganêsa…
            Năm 1985, lần đầu tiên một di chỉ văn hóa Phù Nam được người Việt Nam phát hiện, đó là hai nhân viên trẻ của Bảo Tàng Lâm Đồng tên là Hồ Thị Thanh Bình và Đinh Thị Nga cùng các cán bộ trung tâm khảo cổ thuộc viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh. Theo các nhà khảo cổ học cho biết, di tích Cát Tiên là thánh địa của đạo Bà La Môn của vương quốc Phù Nam, tồn tại từ thế kỷ thứ VI đến đầu TK VII. Tuy nhiên, trải qua 20 năm với nhiều lần khai quật, các nhà khảo cổ học lần lượt phát lộ ra nhiều đền tháp chìm dưới lòng đất, nhưng vẫn chưa xác định được chủ nhân của thánh địa cổ xưa này.
Cuối năm 1994 và đầu năm 1995 là đợt khai quật lần thứ 2, cuối năm 1996 là đợt khai quật lần thứ ba, đoàn khai quật đã chọn di tích nằm ở vị trí đầu tiên, cao nhất và đền tháp bình dồ hình vuông 12m x 12m, có diện tích lớn gấp 2 lần bốn lần tháp đã phát hiện trước đây. Kiến trúc vòm cổng có một phần nhô ra 5m. cửa lên xuống dẫn vào cửa chính hướng về phía đông. Dưới lòng tháp có một trụ giới thông từ nền gạch xuống hơn 3m để đỡ một linga dài 2,1m nặng khoảng 4 tấn. dưới bệ trụ có 1 một hộp cát chứa toàn bộ hiện vật mang ý nghĩa tôn giáo của chủ nhân đền tháp. Rất nhiều hiện vật khác nhau được phát hiện ở bên ngoài như tượng Phúc thần Ganesa của đạo Bà La Môn, đĩa đèn, đồ đồng, đồ sắt, gốm và nhiều hiện vật khác trong lòng đất như đá thạch anh, 79 mảnh gốm, 116 mảnh vàng được chạm hình ảnh các vị thần ttrong đạo Bà La Môn bằng kỷ thuật gò nổi (trước đó có kỷ thuật khắc chìm) và những văn tự bằng chữ Phạn (Sankrit) có 47 tấm trong số đó, một bộ linga bằng vàng và một bằng đồng bịt bạc có kích thước nhỏ nhất so với những tượng linga mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Việt Nam.
Theo đánh giá của các nhà khảo cổ, thánh địa CT cổ kính không thua kém thánh địa Mỹ Sơn. Lại nằm trên đường tỉnh lộ nối với QL 20, nên thánh địa CT sẽ là điểm tham quan du lịch và nghiên cứu thuận lợi, đầy hấp dẫn và giá trị. Hiện nay, Bộ Văn Hóa Thông Tin  đã hỗ trọ kinh phí để tỉnh Lâm Đồng tiến hành qui hoạch, trùng tu tổng thể quần thể di tích thánh địa CT trải rộng trên diện tích 15 km2.
Giáo sư Hà Văn Tấn – Viện trưởng viện Khảo Cổ Học Việt Nam nhận xét: “Trong lịch sử, Cát Tiên là đường biên giới của các miền văn hóa, một đường biên giới không biến động, với những đền tháp uy nghiêm. Nơi đây các nhà khảo cổ đã ý thức và chọn một phương pháp khai quật lưu giữ di tích rất công phu để bảo vệ các cấu trúc và bình diện của đền tháp và đền mộ. Di tích Cát Tiên là một điểm quan trọng để nghiên cứu sự hình thành quốc gia, nhà nước cổ đại Phương Nam. Với những chứng tích và di vật từ CT có thể khôi phục lại giai đoạn lịch sử không thành văn mà CT là trung tâm chính trị, tôn giáo của một quốc gia cổ đại…”

Đèo chuối (km 81-85) là đèo đầu tiên từ TP.HCM lên Đà Lạt. Đèo Chuối dài 4 km. Chạy giữa thung lũng của hai dãi núi cao. Trước đây vùng này mọc tất nhiều cây Chuối nên ngừơi ta gọi là đèo Chuối. Xe lên hết đèo Chuối tức là chúng ta ở trên độ cao 350m so với mặt nước biển.
ĐÈO CHUỐI – SUỐI TIÊN
Khu du lịch suối Tiên (km 85)
Suối Tiên bắt nguồn từ núi Sun-Say giáp tỉnh Bình Thuận, dài trên 10 km.
Liên doanh giữ Sài Gòn Tourist và huyện Đahoai khánh thành 1989.
Suối Tiên là dòng suối rộng, trong xanh, chảy xiết với nhiều khối đá nổi lên rên dòng suối. Dòng nước chảy qua vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh càng tạo phong cảnh hữu tình. Ở đây có thể tổ chức tour nghỉ ngơi giải trí, cắm trại, thăm rừng.

- Km 81: Đèo Chuối. Đây là ngọn đèo đầu tiên trên đường đi từ TP. Hồ Chí Minh lên Đà Lạt. Đèo Chuối dài 4km nằm giữa thung lũng của 2 dãy núi  cao. Nơi cao nhất của đèo Chuối là 350m so với mực nước biển. Trước đây, tại khu vực đèo này có rất nhiều chuối hoang nên người ta đặt tên là đèo Chuối.
- Km 86: Khu Du Lịch Rừng Madagui - Suối Tiên.
Khu Du Lịch Rừng Madagui
Khu Du Lịch Rừng Madagui còn được gọi là KDL Suối Tiên, là một phần của mảng rừng Bắc Cát Tiên thuộc thị trấn Madagui, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Đây là khu du lịch sinh thái rất hấp dẫn bởi địa hình phong phú, thích hợp cho du khách yêu thích không khí trong lành, khám phá thiên nhiên. Ngoài cánh rừng nguyên sinh bao la với nhiều hang động, khe suối tự nhiên còn có dòng suối Tiên chảy qua, tạo cho KDL không những lãng mạn, hữu tình mà còn có đầy đủ yếu tố phong thuỷ.
Địa danh Madagui xuất phát từ ngôn ngữ của người Mạ. Ăm "Ma" có nghĩa là người dân tộc Ma; âm "Đạ" được phát âm lệch thành "Đa", có nghĩa là sông, suối, âm "Gui" có nghĩa là chỗ dừng, chỗ đứng. Như vậy "Madagui" có nghĩa chung là vùng đất có sông suối mà người Mạ dừng lại để chọn làm nơi sinh sống. Nhưng cũng có người bào âm "Gui" là tên của dòng sông hay dòng suối và giải thích rằng "Madagui" là sông Gui của người Mạ. Đây là nơi dân cư người Mạ sống lâu đời nhất tại vùng này.
Khu Du Lịch Rừng Madagui có một mảng rừng với tổng diện tích 600 hécta, đang được khai thác gần 50 hecta để xây dựng những công trình hạng mục kết hợp với thắng cảnh thiên nhiên đa dạng để phục vụ cho du khách tham quan. Chiếc cầu treo dài 120m được bắt ngang để nối 2 bờ của dòng Suối Tiên, mở lối đi cho du khách khi vào tham quan rừng nguyên sinh.
Dòng suối Tiên là một phần của sông Đạ Huoai bắt nguồi từ Bảo Lộc chảy qua rừng Madagui với chiều dài khoảng 3km. Đây là nơi sinh sống của 2 loài cá lăng và cá leo. Mùa khô, dòng nước trong xanh với mực nước dười 1m; nhưng vào mùa mưa, nước dâng cao có thể trên 10m. Dọc bờ suối là những bãi sỏi thiên nhiên là bãi tắm rất lý tưởng cho du khách.
Truyền thuyết về suối Tiên của người Mạ: "Thuở xa xưa, trong một đợt hạn thán kéo dài làm khắp  buôn làng người Mạ lo lắng vì thiếu nước. Trẻ con khóc hét suốt ngày vì khát nước. Có một người phụ nữ vừa sinh con nhưng không có sữa cho con bú, nên người chồng phải vào rừng tìm trái cây chua cho vợ con ăn. Chàng đã vượt qua ba ngọn núi và bảy cánh rừng. Một buổi sáng, khi mặt trời vừa nhô lên cao, chàng phát hiện một tổ ong liền dương cung bắn. Mũi tên vừa chạm vào tổ ong, một dòng nước  bắn thẳng vào người chàng. Chàng trai hoảng sợ bỏ chạy, tức thì dòng nước đuổi theo. Chàng chạy nhanh, dòng nước đuổi theo càng sát chân chàng. Đến khi kiệt sức, chàng gục xuống bên cánh rừng rồi thiếp đi, dòng nước cũng dừng lại và lan rộng mãi tạo thành một vũng nước sâu. Nhờ dòng nước này mà buôn làng người Mạ được cứu sống sau đợt hạn thán đó và tồn tại cho đến ngày nay"
Cách suối Tiên khoảng 2.000m là suối voi nằm sâu trong khu rừng hoang sơ, có chiều dài khoảng 1km. Bà con người dân tộc phát hiện dòng suối này là nơi đàn voi rừng thường xuyên đến uống nước và đùa giỡ với nhau, nên gọi là suối Voi. Dòng suối chảy qua nhiều ghềnh đá. Vào mùa mưa, nước chảy cuồn cuộn tạo nên dòng nước trắng xoá như mộ dải lụa trải dài giữa rừng xanh; đến mùa khô, nước chảy róc rách bên những khe đá được tạo thành bởi những tảng đá hoa cương to nằm kề sát nhau, có thể là nơi dừng chân cho khách tham quan. Nơi đây từng là bãi đào khai thác vàng của dân địa phương trước đây. Ngoài ra, trong khu rừng du lịch này còn có nhiều dòng suối ngầm chảy len lỏi trong các hang đá.

Hang động của KDL rừng Madagui gồm 2 hệ thống được tạo thành bởi những khối đá granite khổng lồ: hệ thống hang động nằm sâu dưới lòng đất, cách mặt đất từ 10 - 12m; và hệ thống hang động nằm trên cao, cách mặt đất khoảng 10m. Điểm chung đặc biệt của hang động rừng Madagui là không khí bên trong mát lạnh; vào cửa này và ra cửa khác, vi lối quay lại rất khó đi. Các hang động nơi đây đang được khai thác để giới thiệu cùng khách tham quan như: hang Tử thần, hang Thầy, hang Dơi, hang Cô, hang Thần Núi...và còn nhiều hang động khác nằm sâu trong rừng được bao phủ bởi rễ của những loài cây cổ thụ.

Hang Tử Thần là một hang đẹp tự nhiên nằm sâu trong rừng, được bao phủ bởi những rễ cây. Trong hang có những khu vực sâu thẳm tạo cho du khách cảm giác hồi hợp khi thám hiểm.
Hang Thầy được tạo thành bởi một tảng đá to, có vòm nghiêng như một mái nhà kết hợp với những phiến đá lớn, phẳng lì khác tạo nên một hang động kín đáo. Trong hang có dòng suối ngầm chảy len lỏi dưới các phiến đá. Chuyện kể rằng: "Trước đây, có một người đàn ông cao tuổi đến sống và tu tại hang động này. Không ai biếy rõ ông đến từ đâu. Lúc ông ra đi và đi về đâu cũng không người nào biết. Ông chỉ để lại dấu tích những ngày trú ngụ tại nơi đây là một chiếc bàn được ghép và kê bằng những phiến đá bằng phẳng và "bộ chuông mõ". Từ đó dân địa phương gọi nơi đây là hang Thầy.

Thạch Lâm là mộ quần thể đá giữa rừng, gồm hàng chục khối đá hoa cương khổng lồ trong một  khuôn viên rộng khoảng hai hecta. Những khối đá này xếp chồng lên nhau tạo nên những hình thù kỳ lạ, kích thích trí tưởng tượng cho du khách đến tham quan.

Động Dơi là nơi tập trung các loài dơi núi về đây trú ngụ, là hang động chính trong khu vực Thạch Lâm nằm giữa rừng bằng lăng. Hang động này có chiều dài khoảng 50m, có 3 lối đi. Lối đi trong hang khúc khuỷu, khó đi. Du khách vào hang tham quan có cảm giác như đang đi vào lòng đất, nhưng thực ra là đang đi lên đỉnh hang trên mặt đất.
Hang Cô còn có tên gọi là Hang Voi, có chiều dài khoảng 20m. Lối đi lên hang khá hẹp và vất vả vì độ dốc cao. Hang động này là nơi đàn voi rừng thường ghé vào để nghỉ ngơi trước đây. Chúng khéo léo đi vào hang qua những bậc đá có sẵn. Trong hang có nhiều tảng đá nhẵn do voi cọ lưng vào.

Hang Thần Núi là một trong những hang động hấp dẫn nhất trong hệ thống hang động của KDL rừng Madagui. Qua miệng hang trên mặt đất, du khách sẽ được đi sâu vào lòng đất để tham quan. Hang có chiểu dài khoảng 200m, sâu khoảng 5m, chiều rộng khoảng 3m. Trong hang có dòng suối ngầm đang ngày đêm tuôn chảy. Bên trong hang khá tối, địa hình lồi lõm, lối đi ngoằn ngèo như một địa đạo tự nhiên hoàn toàn bằng đá. Có những đoạn hẹp rất khó đi nên phải lách người chen qua tạo cảm giác rùng rợn. Hang thần núi có 3 tầng, mỗi tầng cách nhau khoảng 30 - 40m. Tầng thứ nhất có khoảng sân rộng chừng 100m2, làm nơi dừng chân  cho du khách tiếp tục vào khám phá tầng hai và tầng ba.

Hệ thống thực vật KDL rừng Madagui rất phong phú với hàng trăm loại cây lạ và gỗ quý như: lồ ồ, tre, mun, mekeo, cây si, tung, gõ, bằng lăng...các loại hoa kiểng quý được trồng trong KDL rừng Madagui. Những cây cổ thụ có hàng trăm tuổi, to khoảng chục người ôm với bộ rễ dài nổi cuộn trên mặt đất và một số cây mọc trên đá. Đặc biệt là loài cây kơnia đặc trưng của rừng núi Tây Nguyên, được xem là loài cây thiêng của bà con người dân tộc. Ngoài ra, khu du lịch này còn xây dựng khu rừng mưa nhiệt đới nhằm góp phần vào việc bảo tồn rừng nhiệt đới cũng như tạo môi trường tham quan, học tập, nghiên cứu thiên nhiên cho học sinh, sinh viên, đồng thời góp vai trò điều hoà khió hậu, chống xói mòn, giữ nước nuôi cây trồng tái tạo rừng.

Bên cạnh đó, KDL rừng Madagui còn có bộ sưu tập tre trong khoảng diện tích 10 hecta với hơn 40 loài tre khác nhau. Bộ sưu tập vườn cây ăn trái rộng 12 hecta với những giống cây trai phổ biến của mọi miền đất nước, cho trái quanh năm để phục vụ cho  khách du lịch như: ổi, mận, chôm chôm, nhãn, sầu riêng, táo, sơri, mãng cầu, cam, bưởi, quít...
Động vật của khu rừng này cũng đa dạng như voi, cheo, nhím, heo rừng, sóc, dúi (thú gặm nhấm sống trong hang đất, tự đào củ và rễ cây để ăn) và các loài ong, bướm, côn trùng khác.

Ngoài thắng cảnh thiên nhiên, KDL sinh thái này còn có nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí như: câu cá, cưỡi ngựa, khu mê cung ắc ó, khu văn nghệ cồng chiêng Tây Nguyên, nhà Tarzan, hồ bơi, tắm suối, ảo thuật, sân tennis, bắn súng hơi,các trò chơi dân gian, xiếc thú: bồ câu, khỉ, chó...và các khu dịh vụ ẩm thực, khu nhà nghỉ dành cho khách lưu trú qua đêm được xây dựng giữa cảnh quan yên tĩnh, không khí trong lành, đầy đủ tiện nghi.
Khu vực dành riêng cho du khách cắm trại có diện tích khoảng 10 hecta gồm đồi: Gió, đồi Mai Vàng, đồi Bò Cạp, đồi Bằng Lăng, đồi Anh Đào...với thảm cỏ xanh rợp bóng mát trải dọc theo bờ suối Tiên. Hệ thống lều trại hiện đại và các dịch vụ cắm trại khác...
Hiện nay, KDL rừng Madagui là điểm tham quan, nghỉ ngơi lý tưởng thu hút rất nhiều du khách  trong và ngoài nước đến vui chơi, nghỉ dưỡng. Đây cũng là điểm tham quan lý thú cho các đoàn du khách dã ngoại, picnic, cắm trại với các dịch vụ văn nghệ, sinh hoạt múa hát cùng bà con đồng bào dân tộc Tây Nguyên bên đống lửa trại và các món ăn dân dã như: bắp nướng, khoai nướng và có cả tiệc barbecue với rượu cần. Đặc biệt, đây là môi trường  giáo dục bổ ích cho các đoàn học sinh, sinh viên đến đây tham quan thực tế về môi trường sinh thái, luyện tập kỷ năng sống hoà mình với thiên nhiên để cùng nhau bảo vệ môi trường xanh của hành tinh đang ngày càng bị ô nhiễm.

Từ năm 2006 - 2010 đánh dấu sự đổi mới của Khu Du Lịch với nhiều công trình được đầu tư mới :
Nhà hàng Trà My Vàng (Camellia Flava) với thiết kế kiểu mẫu nhà rông Tây Nguyên có sức chứa 800 khách phục vụ ăn uống, phục vụ phòng họp, hội nghị.

Hệ thống Villa mang tên gọi của các loại trái cây như Banana (chuối), Papaya (đu đủ), Guava (ổi), Carambola (khế), Sapodilla (hồng xiêm), Casava (củ sắn), Cherimoya (sơ-ri), Mango (xòai), Avocado (bơ), Pomelo (bưởi), Cainito (vú sữa) đạt tiêu chuẩn 3 sao. Những dịch vụ hỗ trợ đạt tiêu chuẩn quốc tế như hồ bơi, sân tennis, billiard... mà trong đó phải kể đến công trình hồ bơi cảnh quan với thiết kế độc đáo gồm 3 tầng thác đổ giữa núi rừng thiên nhiên với diện tích mặt nước hơn 2.000m2.

Ngoài không gian của núi rừng thiên nhiên, Khu Du Lịch Rừng Madagui cũng đáp ứng nhu cầu vui chơi thư giãn với những dịch vụ như bắn súng đạn nước sơn "Paintball", chèo thuyền hơi, thuyền độc mộc, kayak, khám phá hang động, bơi lội, ca nhạc cồng chiêng, đốt lửa trại, cưỡi ngựa, câu cá, bắn súng cự ly, đạp xe vượt địa hình, hát karaoke, xông hơi, xoa bóp... Tại đây luôn có những chương trình hấp dẫn được thiết kế riêng phù hợp với từng dịp lễ, tết trong năm.

KDL rừng Madagui hân hạnh giới thiệu một chương trình mới khám phá núi rừng Madagui với tên gọi Cảm Giác Madagui. Với hành trình khám phá này, Quý Khách sẽ khám phá Công Viên Thần Núi, được ngắm Cầu Treo bắc qua dòng sông Đạ Huoai để rồi sau đó lạc lối vào Mê Cung Ắc Ó. Hành trình tìm kiếm cảm giác Madagui sẽ bắt đầu từ Thiên Phúc Sơn Động, xuyên qua Vườn Tre Sưu Tập để đến Hang Tử Thần với độ sâu hơn 15m. Bước ra khỏi hang, Quý Khách lại đi bộ xuyên qua Rừng Mưa Nhiệt Đới để từ đây lại rong ruỗi trên lưng những chú ngựa khỏe mạnh, tận hưởng những cảm giác lắc lư theo nhịp bước của những chiến mã để rồi chợt bừng tỉnh khi một cành lá rừng khẽ vuốt qua bên mình. Bước ra khỏi những tán lá cây rừng, Quý Khách như vỡ òa bởi những cảnh thiên nhiên hùng vĩ của đất trời, của sông nước, của dòng suối đang lượn lờ chảy qua trước mắt mình!

Trở về từ chuyến chinh phục, Quý Khách sẽ được tận hưởng những món ăn đặc sản miền núi chỉ có ở núi rừng Madagui.
KDL rừng Madagui hân hạnh giới thiệu chương trình ẩm thực "Tuần Lễ Các Món Ăn Đặc Sản Miền Núi" với chủ đề "Cá Suối Rau Rừng". Đặc biệt Góc Nướng Madagui mang lại cảm giác cồn cào, nôn nao từ những món ăn mà chỉ nghe thôi đã thấy hương vị của nó mang lại như: Heo Sinh Thái Nướng Than Hoa, Ếch Rừng Nướng Sả Ớt, Cá Lăng Nấu Măng Chua ... Hơn thế nữa là những món ăn chế biến từ cá suối như cá Lăng, cá Leo, cá Trèn, cá Chạch ... và từ rau rừng như rau Nhíp, đọt Đủng đỉnh, hoa Chuối Rừng, Mướp Rừng, Tàu U, Măng rừng ...

Hãy đến khám phá và tận hưởng cảm giác "Vượt qua chính mình" tại Khu Du Lịch Rừng Madagui. Quý Khách sẽ hài lòng với những gì
KDL rừng Madagui mang đến.
Các ACE có thể liên hệ:
VP Madagui: 063.3946888 - 3946999 - Fax: 063.3946789
Liên hệ: NGÔ ANH KIỆT - F & b Manager - M: 0908.011.030
Email: anhkiet.ngo@managui.com.vn
VPĐD TP.HCM: 08.39142211 - 22406311 - Fax: 08.39141926
Email: sales@madagui.com.vn
Website: www.www.madagui.com.vn
Đèo Bảo Lộc km 98-108 dài 10 km.
ĐÈO BẢO LỘC
Đây là một trong những đèo đẹp và có nhiều khúc quanh nhất trên đường đến Đà Lạt. Đèo Bảo Lộc được xây dựng từ năm 1923-1931. Do người Pháp xây dựng khoảng 70 kỹ sư cầu đường, khảo sát tính toán và 1.500 công nhân làm việc liên tục khoảng 9 năm để xây dựng đường đèo Bảo Lộc.
Khi lên đèo Bảo Lộc chúng ta có thể quan sát thực vật hai bên đường. Đây là loại rừng hỗn giao, xen lẫn giữa rừng cây nhiệt đới (lá rộng) và rừng ôn đới (lá nhỏ) chính do sự thay đổi đột ngột độ cao từ 350-800m nên khí hậu cũng thay đổi theo làm thực vật thay đổi theo.
Đèo Bảo Lộc còn là ranh giới giữa 2 huyện Bảo Lộc và Đa Hoai.
Km 102.5: tượng đài Đức Mẹ An Bình. Đây là điểm dừng chân của du khách trên tuyến đường QL20
Km 104: Miếu 3 cô (Điện Tam Cô), còn gọi là Bồng Sơn Miếu, do ông Đặng Hà thành lập để tưởng niệm ba cô gái đã tử nạn đường đèo tại đây. Đoạn tượng đức mẹ và Miếu ba Cô là 2 khúc quanh rất gắt.
Giữa km 104-105: Cầu Bảo Lộc 1
Km 105: cầu Bảo Lộc 2.
Lên hết km 108: là hết đèo Bảo Lộc, phía trước chúng ta thấy dãy núi đang được khai thác. Gọi là Núi Đá, dưới chân núi này là xí nghiệp khai thác đá.
Km 112 :bên trái nhà máy ươm tơ tự động Việt Ý(Liên doanh VN-Ý). Xây dựng 1992. Vốn của Ý. Công suất 500 tấn tơ loại A/năm.

 CÔNG NGHỆ TƠ TẰM BẢO LỘC
Thị xã Bảo Lộc là một vùng nổi tiếng với những đặc sản như: Trà, Càfê, dâu tằm…..Thị xã Bảo Lộc còn là nơi đặt Tổng Công ty dâu tằm tơ Việt Nam. Xí nghiệp dâu tằm tơ nằm tại Km 208, quốc lộ 20.
Trồng dâu nuôi tằm là nghề truyền thống xuất hiện ở nước ta từ rất lâu. Ví dụ Trưng Trắc và Trưng Nhị ở vùng Mê Linh người ta trồng dâu nuôi tằm. Năm 1597 Phùng Khắc Khoan đi xứ sang Trung Quốc đã học được khung dệt Trung Quốc và ông được coi là ông tổ của nghành dệt Việt Nam.

Km 118: Có nhiều cửa hiệu kinh doanh trà nổi tiếng của Bảo Lộc, đây là trung tâm trà của Miền Nam và Miền Trung. Vùng đất Bảo Lộc là nơi người Mạ đã sinh sống qua nhiều thế kỷ và họ cũng từng giao lưu mua bán với người Việt và Xiêm. Người Mạ có tục cà răng căng tai. Đồ gốm của người Việt thời Lý, Trần, Lê đã được tìm thấy ở vùng đất này.
Phía tay phải có nhà thờ Bảo Lộc, một công trình kiến trúc Công Giáo lạ và đẹp mắt được thiết kế kết hợp hình ảnh trời tròn đất vuông với nhiều đường nét cách điệu hiện đại. Ngôi thánh đường nay được xây dựng vào những năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ 2. Giáo xứ Bảo Lộc được thành lập năm 1936, do Linh Mục Gion Baotixita Cassigne.

Km 136: Nông trường trồng trà
TRÀ LÂM ĐỒNG
Trà có ở Việt Nam lâu đời. Được trồng thành đồn điền 1877.
Tỉnh Lâm Đồng trồng Trà từ thời Pháp thuộc, năm 1930 một rung tâm nghiên cứu nông học được thành lập ở Bảo Lộc, nghiên cứu các giống Trà phục vụ cho việc phát triển các đồn điền. Sau năm 1954 bên cạnh những đồn điền càfê rộng lớn cùa Pháp còn có các đồn điền nhỏ của người dân di cư từ Miền Bắc. Ơ Pleiku và Kom Tum các đồn điền Trà quan trọng là Catecka và Pit.
Ở Bảo Lộc, Di Linh giống Trà Shan được trồng nhiều. Đây là giống trà lá nhỏ, thường được gọi là “ Bạch mao trà”, được chế biến thành loại trà xanh mà người Việt rất yêu thích. Ngoài ra còn có Trà Assam, chế biến thành loại Trà Đen để xuất khẩu trung bình 1 ha trà thu hoạch chế biến khoảng 800 kg trà thô, trung bình 1 tháng người ta thu hoạch khoảng 2 lần và khai thác khoảng 20-25 năm phá bỏ, trồng mới. Trong cây trà người ta phân tích là có 13 chất với 120 hoạt tính khác nhau trong đó quan trọng nhất là Tanin và Cafein, hai chất này gíup người uống trà tiêu hoá dễ dàng kích thích thần kinh.
Chế biến và phân loại Trà:
Trà đọt hay trà Móc Câu, đây là búp trà sau khi sấy có dạng như móc câu. Nếu là giống trà Shan sau khi sấy xong bên ngoài đọt trà có một lớp lông trắng mờ, mà người ta gọi là trà Bạch Mao.
Trà Lá hay Trà Buồm có giá trị thấp sử dụng đại trà
Diện tích cả nước hiện nay là 160000 ha Lâm Đồng 16000ha, Bảo Lộc 10000 ha. Năng suất 18-20 tấn lá/năm/ha.
Cây trà có tên khoa học là Camelia Sinencis, thuộc họ Theacae. Ở Việt Nam, tuỳ từng địa phương gọi tên loại nông sản này là "trà" hoặc "chè". Trà có hoa trắng, lá xanh tốt quanh năm. Thân cây trà mọc hoang có chiều cao từ 5 - 10m; nhưng trong đồn điền, người ta cắt xén cho thân cây trà cao khoảng 50 - 120cm, để người nông dân dễ dàng hái lá và nụ khi thu hoạch. Người ta thường cắt ngang thân những cây già để chồi mới được phát triển; phương pháp này giúp cho cây trà đạt đến tuổi thọ 100 năm là bình thường.
Theo các tài liệu nghiên cứu cho biết, người ta đã tìm thấy dấu tích cùa lá và cây trà hoá thạc ở đất tổ Hùng vương thuộc tỉnh Phú Thọ. Người ta còn đặt vấn đề, cây trà đã có từ thời đồ đa thuộc Văn Hoá Hoà Bình. hiện nay ở vùng suối Giàng thuộc tỉnh Yên Bái, nơi có độ cao khoàng 1.000m so với mực nước biển có một rừng trà hoang với khoảng 40.000 cây trà dại, trong đó có một cây trà cổ thụ mà ba người ôm không hết. Như vậy có thể nói, Việt Nam chính là một trong những chiếc nôi cổ  nhất của cây trà trên thế giới và kết luận của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã khẳng định điều này.
Hạt trà được ươm sáu tháng có rễ chuột (rễ chính), thân dài khoảng 30cm sẽ được nhổ lên cắt lông tơ và một phần nhỏ của  của đuôi chuột. Sau đó, dùng nọc xoi vào đất và đặt cây trà vào, chèn đất thật chặt. Sau 3 năm, trà có thể được thu hoạch. Hiện nay, người ta có thể chiết cành giâm vào bầu đất, chờ đến khi phát triển thành cây thì mang đi trồng và có thể là thu hoạch sản phẩm sau 2 năm; kỹ thuật này có ưu thế là xác định được giống trà một cách rõ ràn. Thời gian khai thác cây trà dài hay ngắn tuỳ thuộc vào phương pháp chăm sóc và tưới bón của nhà nông, có thể kéo dài đến 100 năm.
Vào mùa nắng, cần phải giữ độ ẩm cho cây trà bằng cách tưới nước thường xuyên. Người ta thường dùng phương pháp tưới phun. Tuy kỹ thuật của mỗi nhà nông và vùng đất mà bón phân thích hợp cho cây trà. Thường xuyên cắt tỉa, để thân cây trà vừa tầm tay người thu hoạch. Để bào quả tốt  vườn trà, các cây trà bị sâu cần phải được nhổ bỏ ngay, vì cây trà kỵ thuốc trừ sâu rầy. Mỗi tháng, thu hoạch trà từ 3 - 4 lần. Việc hái trà cũng rất quan trọng và được quy định rõ ràng, trà xanh đc ngắt hai lá, trà Ô Long được ngắt ba lá to và búp...
Trà xanh là loại trà không ủ lên men, phân biệt với trà đen, có hương tự nhiên, không ướp hoá chất hoặc bất kỳ hương liệu nào. Trà được rang trong chảo bằng gang. Lá trà được cuộn bằng tay hoặc bằg máy rồi đem rang một lần nữa. Trà xanh được ướp hương như hoa sen, lài, cúc, sói, ngâu...được gọi là trà xanh hương lài, trà xanh hương sen...Đặc biệt trà hương sen là loại trà quý chỉ dùng để tiếp đãi khách tri ân hoặc làm quà biếu.
Trà đen là loại trà được ủ cho lên men. Chế biến trà đen phức tạp hơn trà xanh Sau khi thu hoạch từ vườn về, trà phải được xử lý ngay trong ngày, không để qua đêm bằng cách xào, luộc, hấp trong khoảng 24h. Sau đó, trà được cuộn bằng tay hoặc đưa vào máy se lại. Tiếp tục ủ men ấm trong 3 - 5h rồi đêm sấy khô. Đó là những khâu sơ chế. Sau khi tinh chế, trà được đem phân thành nhiều loại.
Có rất nhiều loại trà như trà lá, trà búp, trà xanh, trà đen, trà hạt, trà bột, trà cám, trà mộc hay trà ướp hoa...nếu không phải là người sành điệu cũng không dễ dàng phân biệt. Ngày nay, người ta thường uống trà xanh là lá trà tươi được rửa sạch rồi đem hãm trong nước sôi. Nước có màu vàng xanh, mùi thơm dịu. Loãi trà này, khi uống có kèm theo phông kẹo đậu phộng là ngon tuyệt.
Loại trà xanh được sơ chế bằng phương pháp thủ công rất được người Việt Nam ưa dùng và thường được gọi là trà móc câu. Trà móc câu là trà búp non, cánh săn và nhỏ, có dáng cong như hình chiếc móc câu. Nhưng cũng có người gọi là trà "mốc cau" với lý luận là trà tròn cánh, có mốc trắng như mốc cay cau.
Trà, dù được chế biến hay uống bằng cách nào vẫn thể hiện một thứ đạo, đó là "đạo trà" và nghệ thuật thưởng trà là một trong nghệ thuật ẩm thuỷ hàng đầu của người Đông Nam Á. tục uống trà ở Việt Nam đã có từ lâu và rất phong phú, từ cách uống cầu kỳ, cổ xưa cho đến cách uống bình dân hay hiện đại.
Một bộ đồ uống trà có bốn chén quân và một chén tống để chuyển trà. Trong đạo trà Việt Nam rất trân trọng cách dâng mời trà. Dâng trà là một cách thể hiệnvăn hoá biểu hiện sự lễ độ hay lòng mến khách. Dâng trà đúng cách là ngón tay giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón trỏ và ngón cái đỡ lấy miệng chén, gọi là "Tam long giá ngọc". Người dâng trà và người nhận trà đều phải cung kính cúi đầu. Cầm chén trà uống phải quay lòng bàn tay vào trong, đưa chén trà lên mũi để thưởng thức hương vị của trà. Người uống trà thường mím miệng nuốt nhẹ để hương trà thoát ra đường mũi và đọng nơi cổ họng và để từ từ cảm nhận hương và vị của trà.
Ngày xưa, muốn uống trà ngũ vị phải dùng chiếc khay có năm ô trũng đựng năm loại hia, úp năm chiếc cốc sạch lên năm ô trũng của khay và đặt lên bếp lửa. Một lúc sau nhấc cốc ra, cốc sẽ đượm mùi hương thơm chả mỗi loại hoa trên khay. Khi rót trà vào cốc, mỗi cốc trà sẽ có mùi hương đặc trưng của từng loài hoa. Khách tuần tự thưởng thức được cả năm loại trà với năm mùi hương hoa khác nhau.
Dù trời mưa hay nắng, lòng vui hay buồn cũng không thể từ chối một ly trà nóng khi chủ nhà trân trọng mời bằng 2 tay. Uống trà cũng là cách ứng xử của văn hoá, uống từng ngụm nhiỏ để thưởng thức hết hương vị ngọt ngào của trà và cảm nhận hơi ấm cũa chén trà, uống để đáp lại lòng mến khách, uống để mở đầu câu chuyện gia đình, chuyện xã hội, chuyện nhân tình thế thái...và uống để cảm nhận hương vị của đất trời trong chén trà. Mời trà và cùng nhau dùng trà là một biểu hiện nét thanh cao, tình tri âm tri kỷ, thể hiện lòng mong muốn hoà hợp để xoá đi những đố kỵ, hiềm khích, hận thù trong văn hoá ứng xử. Qua cách uống trà của mỗi người cũng nói lên mức độ tình cảm và trình độ học vấn của người đối thoại, đồng thời có thề xét đoán tâm lý của người đối diện lúc dùng trà.
Phương ngôn có lưu truyền những câu về việc uống trà:"Trà dư, tửu lậu", "Rượu ngâm nga, trà liền tay, "trà tam tửu tứ...Uống trà là một triết học về sự tế nhị, thanh tao, suy ngẫm, tĩnh tâm để mưu cầu điều thiện và tránh điều ác. Do đó, cần có sự tiết độ trong việc uống trà: không uống nhiều, không uống đặd và không uống liên tục suốt ngày...để thể hiện tính giao hoà vời thiên nhiên, hợp lý về thời gian, không gian, môi trường và con người. Ca dao có câu:
"Làm trai biết đánh tổ tôm
Uốg chè Liên tử, ngâm nôm Thuý Kiều"
Trà ngon cũng như bạn hiền, may mắn mới có được chứ không phải cầu là có. Thật vậy, do thời tiết, mưa nắng mạnh yếu và trình độ sản xuất, chế biến...là những yếu tố quyết định đến chất lượng trà thành phẩm. Vào mùa hè nóng bức, người nông dân đi làm đồng về có được bát trà xanh pha chút đường để uống là quý nhất. tuy nhiên, uống trà không đúng cách sẽ làm mất vị ngon của trà và ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ.
Để bảo quản, trà phải được cất giữ nơi khô ráo và thoángmát, hạn chế tối thiểu ánh sáng để không làm suy suyễn hương vị của trà. Muốn uống được tách trà ngon cần phải đun đúng nước đúng lửa. Nước tinh khiết, không có bất kỳ mùi lạ nào, không co nhiều muối khoáng; thường người ta dùng nước mưa. Nước cần phải đun thật sôi trước khi đem pha trà và đổ bớt chút nước qua vòi ấm đun nước để tránh mùi khói vướng lại đầu vòi ấm lúc đun. Bình pha trà được tráng qua một lần bằng nước sôi. cho trà vào bình và rót nước sôi vào vừa ngập trà rồi đổ bỏ, gọi là rửa trà. Sau đó, cho nước sôi vào bình để hãm trà cho đến lúc vừa khẩu vị rồi đem mời khách.
Một chuyên gia nước ngoài có nhận xét về nền kinh tế nông nghiệp của nước ta rằng:"Ở Việt Nam, ngoài lúa gạo và cà phê, chẳng có sản phẩm nào có lợi hơn trà khô. thật vậy trà Việt Nam đã thâm nhập thị trường của khoảng hơn 45 quốc gia, đưa nước ta trở thành một trong 10 nước xuất khẩu trà hàng đầu thế giới. Diện tích trồng trà cả nước có khoảng 90 hecta, với sản lượng gần 330.000 tấn mỗi năm. Ở Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, cây trà đã được trồng từ những năm 1930 và cho đến nay có nhiều công ty chế biến trà có danh tiếng ở vùng đất này như: Tâm Châu, Trâm Anh, Bảo Duy...
Nông Nghiệp chủ yếu của Bảo Lộc là cây trà. Những người nông dân nơi đây là những người di cư từ miền Trung và miền Bắc vào những năm trước và giữa thế kỷ 20. Họ lập nên những vườn trà từ bao đời nay với những loại giống trà gốc Bắc. Ngày nay, trà Bảo Lộc rất đa dạng với nhiều loại giống mới
Hiện nay, tại trung tâm thành phố Bảo Lộc, có rất nhiều hiệu trà danh tiếng , trong đó danh trà Trâm Anh ở số 807 Trần Phú, cũng là quốc Lộ 20, thanh phố Bảo Lộc là một trong những hiệu trà nổi tiếng, có kinh nghiệm trồng và chế biến trà qua ba thế hệ. Trà Trâm Anh đã tạo được uy tín đối với du khách trong và ngoài nước. Sản phẩm trà của thương hiệu này là một trong những doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu hàng đầu Bảo Lộc với nhiều hương vị trà phong phú. Đây là một điểm dừng chân lý tưởng của tuyến du lịch Đà Lạt, du khách đến đây sẽ được thưởng thức trà và cafe miễn phí, nhưng giá sản phẩm phục vụ không thay đổi.
Công Dụng của Trà:
Uống trà là thú vui tao nhã từ xưa đến nay. Trà không những là lọai nước giải khát rất tốt, mà còn có thể chữa được một số căn bệnh và là một loại mỹ phầm tự nhiên giúp bảo vệ làn da, mái tóc cho con người.
Trà đặc có tác dụng giải độc hơi than, uống nhầm kim loại, chất kiềm độc hại, thuỷ ngân, rượu...nhờ chất cacid tanic trong trà làm lắng đọng và thải trừ kim loại, làm trì hoãn sự hấp thu chất độc của cơ thể. Khi thời tiết hanh hao, da của nhiều người hay bị nứt nẻ đến rơm máu, bị sưng đau do chấn thương  bằng cách dùng búp chè tươi giã nát rồi đắp vào chỗ vết thương băng lại; vết nứt sẽ lành nhanh chóng. Trà giúp chữa các vết thương lở loét ở trẻ em và chống ngứa bằng cách lấy nước đặc còn ấm của nước trà tươi rửa vết thương.
Trà xanh được biết đến như một loại "mỹ phẩm"  tuyệt vời dùng để làm đẹp có hiệu quả và rẻ tiền như dưỡng da, làm đẹp  tóc, chống thâm quần mắt, giảm nhăn da, chống nắng, gội đầu chống bị ngứa...Trà ủ trong nước khoáng có pha chút đường, mật ong hoặc bột gạo và lòng đỏ trứng gà dùng để thoa lên mặt sẽ giúp làn da sáng mịn. Vào mùa hè, dùng nước trà thoa đều lên phần da hở trên cơ thể trước khi ra nắng để tránh da bị gây xạm do ánh nắng mặt trời. Nước trà đặc để nguội thoa vào chổ thâm quần sẽ làm dịu bớt màu thâm đen sau một đêm mất ngủ, hoặc có thể  dùng trà túi đặp trực tiếp. Nước trà pha với rượu và dầu thực vật thoa lên da đầu giúp chân tóc khoẻ, mượt tóc, sạch gầu.
Trà có tác dụng chữa tiêu chảy, kiết lỵ, kích thích thần kinh được tỉnh táo, giãn nở khí quản giúp hô hấp dễ dàng, chống ung thư, viêm gan, viêm thận, hạ cholesterol trong máu, chống béo phì, chống lão hoá, cung cấp vô số vitamin và khoáng chất có lợi cho sức khoẻ ...Trà không những là thứ nước giải khát khá tốt, mà còn chống được tác dụng của Strontium 90 là chất gây phòng xạ nguy hiểm nhất trong các vụ nổ bom nguyên tử có thể làm ung thư máu và các dạng ung thư khác.
Uống trà cũng cần được quan tâm đúng cách. Không nên uống trà quá nóng, vì chén trà nóng trên 65o sẽ làm tổn thương vách trong của dạ dày dẫn đến bị đau  hoặc loét. Không uống trà hoặc các loại thuốc có nhiều thành phần trà trà khi đói bụng, do chất chát trong trà đi vào tạng phế và làm lạnh tỳ dẫn đến triệu chứng cồn cào, nôn nao trong  người, chóng mặt hay hoa mắt rất khó chịu. Không uống trà trước hoặc sau khi ăn no; trà có khả năng kích thích dạ dày tiết ra nhiều chất chua, vị chua này làm mất cảm giác ngon miệng, các chất có trong trà có thể tạo ra phản ứng kết tủa với sắt trong thực phẩm và lượng sắc quý giá này coi như bị mất . Không uống nước trà qua đêm, do các loài vi sinh vật hoặc nấm mốc xuất hiện khi trà để lâu.

DƯỢC TÍNH TRÀ XANH
Trà làm tăng cơ hội sống của người bị đau tim - Trà cũng có thể bảo vệ cơ thể khỏi bệnh nhồi máu cơ tim
Nghiên cứu mới cho thấy, những người hay uống trà dễ sống sót sau cơn đau tim hơn những người không nghiền nó. Uống 19 tách trà mỗi tuần giảm được 44% nguy cơ tử vong. Tác dụng này là do chất chống ôxy hóa trong trà đem lại.
Các đệ tử của trà (dù là trà đen hay trà xanh, trà nóng hay trà đá) đều ít bị chết trong vòng 3 - 4 năm sau khi bị cơn đau tim so với những người thích dùng các đồ uống khác. Kết luận này được các nhà khoa học Mỹ đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên 1.900 bệnh nhân ở độ tuổi 60 bị một cơn đau tim. Họ được theo dõi trong vòng 4 năm, bắt đầu khoảng 4 ngày sau tai biến nói trên và được chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Không uống trà.
- Nhóm 2: Uống trà vừa phải (dưới 14 cốc/tuần trong vòng 1 năm trước khi bị cơn đau tim).- Nhóm 3: Uống nhiều (hơn 14 cốc/tuần).
Thống kê cho thấy, bệnh nhân thuộc nhóm 2 thường dùng 2 tách trà/tuần, còn những người thuộc nhóm 3 thường dùng 19 tách/tuần. Sau gần 4 năm, 313 người tham gia nghiên cứu đã chết (chủ yếu là vì bệnh tim mạch). Các tác giả nhận thấy, bệnh nhân càng uống nhiều trà thì nguy cơ tử vong trong 4 năm sau khi bị đau tim càng thấp: Nguy cơ tử vong giảm 28% ở nhóm uống trà vừa phải và 44% ở nhóm uống nhiều trà.
Theo các tác giả, có thể việc sử dụng nhiều flavonoid (thành phần chính của trà) đã làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành và nguy cơ tử vong ở những người bị bệnh tim mạch.
Flavonoid là chất chống ôxy hóa tự nhiên có trong các đồ ăn có nguồn gốc thực vật như táo, hành và súp lơ xanh...

Trà xanh làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng -Trà xanh rất được ưa chuộng tại châu Á
Nghiên cứu của các nhà khoa học Australia tiến hành tại Trung Quốc cho thấy, phụ nữ uống trà xanh đều đặn hằng ngày giảm được 60% khả năng bị ung thư buồng trứng so với những người không dùng đồ uống nói trên.
Kết luận này được các nhà khoa học Đại học Curtin ở Perth (Australia) và các nhà khoa học Trung Quốc đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên hơn 900 phụ nữ.
Theo chuyên gia y tế, các loại trà khác cũng tỏ ra hiệu quả nhưng trà xanh có tác dụng mạnh nhất. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Hội Nghiên cứu Ung thư Mỹ số mới nhất.

Trà có thể giúp xương thêm chắc  - Trà ô long là đồ uống được ưa chuộng tại châu Á
Nghiên cứu mới của Đài Loan cho thấy, những người uống trà lâu ngày thường có bộ xương khỏe hơn. Điều này đúng với những người uống trung bình 2 chén trà/ngày trong vòng ít nhất 6 năm, bất kể đó là trà xanh, đen hay trà ô long.
Các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Cheng Kung (Đài Loan) đã tiến hành nghiên cứu trên hơn 1.000 nam và nữ tuổi 30 và lớn hơn. Một nửa trong số này có thói quen uống trà thường xuyên trong vòng ít nhất 1 năm. Phần lớn đều dùng trà xanh hay trà ô long không pha thêm sữa.
Kết quả cho thấy, mật độ xương hông tăng 6,2% ở những người dùng trà đều đặn trong hơn 10 năm và tăng 2,3% ở những người dùng trà trong hơn 5 năm so với những người không dùng đồ uống này. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể giữa những người uống trà 1-5 năm so với những người không uống trà. Theo các nhà nghiên cứu, tác dụng củng cố xương của trà có được là nhờ 2 thành phần fluor và flavonoid. Cả 3 loại trà (đen, xanh, ô long) đều được chế biến từ một loại cây, nhưng trải qua các công đoạn xử lý khác nhau.
Gãy xương do loãng xương và giảm nồng độ xương đang trở thành vấn đề toàn cầu do số lượng người già ngày càng tăng. Một số tính toán cho rằng gần 1/2 dân số Mỹ tuổi từ 50 trở lên bị chứng bệnh này.

 Khẳng Định Thêm Tác Dụng Chống Ung Thư của Trà Xanh
08 – 07 – 2003 - ROCHESTER (Reuters) - Trích thuật tin của BBC, thông tấn xã Reuters cho hay trong thế giới thảo mộc có tác dụng ngăn ngừa ung thư, trà xanh đặc biệt có uy tín do chứa nhiều chất chống oxy hóạ Mới đây, các nhà khoa học Anh còn khám phá thêm 2 chất khác trong loại thảo dược này có thể ức chế hoạt động của một phân tử đóng vai trò kích thích sự phát triển ung thư.
Phân tử đó được gọi là cảm thụ thể aryl hydrocarbon (AH) đóng vai trò kích hoạt gene. Khi bị khói thuốc lá và các chất chứa dioxin gây rối loạn chức năng, cảm thụ thể AH sẽ buộc các gene hoạt động theo hướng có hại cho con người.
Hai chất hóa học đặc biệt mới được tìm thấy trong trà xanh có khả năng vô hiệu hóa các cảm thụ thể AH khi nó bắt đầu có những biểu hiện tiêu cực, giáo sư Thomas Gasiewicz thuộc Đại học Tổng hợp Rochester nhận định. Những chất này giống như flavonoid - hợp chất ngừa ung thư có trong một số thực phẩm như súp lơ xanh, bắp cải, quả nho, rượu vang đỏ... Trong các thử nghiệm trên chuột, 2 chất này đã ức chế hiệu quả các cảm thụ thể AH của tế bào ung thư.
Giáo sư Gasiewicz nhận định: "Tế bào người cũng có thể nhận được tác dụng tương tự", song cần tiến hành nghiên cứu thêm, do đến nay y học vẫn chưa xác định được cơ chế hoạt động của phân tử trà xanh trong cơ thể ngườị Hơn nữa, có rất nhiều giống trà xanh trong thực tế và mỗi loại lại mang đặc tính riêng.

Trà xanh có thể làm giảm nguy cơ viêm khớp - Uống trà xanh hàng ngày có lợi cho sức khoẻ
Uống trà xanh thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ mắc chứng viêm khớp. Đó là những nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học. Trà xanh vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc 5.000 năm trước và vẫn được coi là một loại đồ uống có lợi cho sức khoẻ. Chúng có thể ngăn chặn các căn bệnh về động mạch, đột quỵ và thậm chí là một số căn bệnh ung thư khác nhau.
Các nhà khoa học thuộc ĐH Sheffield đã phát hiện thêm 2 hợp chất có trong trà xanh có thể ngăn chặn căn bệnh viêm khớp xương mãn tính. Đó là EGCG (epigallocatchin gallate) và ECG (epicatechin gallate). Chúng giúp phong toả các enzyme phá huỷ sụn trong khớp. Tiến sỹ David Buttle, thuộc ĐH Sheffield, nói rằng các thử nghiệm ban đầu đã cho thấy những lợi ích rõ ràng của trà xanh.
Trà xanh có thể được dùng như những phương pháp phòng ngừa bệnh tật. Tiến sỹ Buttle nói: ''Nếu bạn đã bị mắc chứng viêm khớp, thì trà xanh cũng chẳng giải quyêt được vấn đề gì ngay lúc đó. Tuy nhiên, nếu như bạn đã uống trà xanh trong khoảng thời gian hàng chục năm, thì cuối cùng bạn mới thấy hết được giá trị của nó''.
Thành phần EGCG cho thấy rõ ràng hơn những tác dụng chống lại căn bệnh viêm khớp. Tiến sĩ Buttle khẳng định: ''Chúng tôi đã thấy được tác dụng bảo vệ sụn của EGCG. Bên cạnh đó, EGCG cũng có thể làm giảm sự sưng tấy và đau đớn của vùng khớp bị viêm. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cần thêm những nghiên cứu sâu hơn và có thêm các thử nghiệm trên con người''.

Trà xanh có thể ngăn chặn ung thư - Uống trà có lợi cho sức khoẻ
Trà xanh chứa nhiều chất chống oxy hoá, có thể có tác dụng bảo vệ người uống chống lại ung thư. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu do các chuyên gia thuộc ĐH Rochester, Anh, tiến hành, khả năng chống ung thư của trà xanh thậm chí còn mạnh và đa dạng hơn so với người ta vẫn nghĩ.
Nhóm nghiên cứu phát hiện 2 hoá chất trong trà xanh phong toả hoạt động của một phân tử then chốt mang tên thụ thể aryl hydrocarbon (AH). Thụ thể này có vai trò quan trong trong tiến trình phát triển của ung thư.
Hai hoá chất trên giống hợp chất flavonoid, tồn tại trong súp lơ xanh, cải bắp, nho, vang đỏ. Tất cả các loại rau củ này đều có tác dụng chống ung thư. Trong phòng thí nghiệm, chúng phong toả thụ thể AH ở tế bào ung thư của chuột. Thử nghiệm sơ bộ trên tế bào của người cũng cho kết quả tương tự.
Giáo sư Thomas Gasiewicz cho biết: ''Trà xanh có thể hoạt động khác hơn chúng ta vẫn nghĩ. Các hợp chất trong đó kích hoạt thông qua nhiều con đường khác nhau''. Nghiên cứu còn cho thấy trà xanh có thể giảm nguy cơ thấp khớp cũng như mức cholesterol.

Trà xanh làm giảm tác hại của thuốc lá - Trà có lợi cho xương và hệ tim mạch
Một nghiên cứu của Đại học Arizona (Mỹ) cho thấy, thói quen uống trà xanh thường xuyên có thể giúp giảm các nguy cơ bệnh tật mà việc hút thuốc lá mang lại.
Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm trên 140 người hút thuốc lá. Những người này được chia làm 3 nhóm: uống nước, uống trà đen và uống trà xanh với liều lượng 5 ly mỗi ngày. Kết quả xét nghiệm nước tiểu sau 4 tháng cho thấy, mức 8-OHdG - một chất tàn phá tế bào, dẫn đến ung thư hoặc các bệnh hiểm nghèo khác - ở nhóm uống trà xanh thấp hơn 25% so với nhóm kia.
Một nghiên cứu của Trung tâm Beltsville (Mỹ) cũng cho thấy, việc uống trà xanh giúp giảm 10% lượng mỡ trong máu.
TRÀ NHẬT BẢN
Đã lỡ " tản mạn" chuyện trà mà lơ là " sự cố" trà đạo của xứ Phù Tang có lẽ là thiếu sót khó được chấp nhận!
Như có nhắc sơ trong mấy mục về trà đã đăng ở trang trước, trà đã theo chân một số tu sĩ Phật giáo và du nhập vào nước Nhật kể từ đầu thế kỷ thứ Tám... nhưng mãi đến khoảng đời Lý/Trần của mình (khoảng thế kỷ thứ 11-13), trà xanh mới được dùng rộng rãi hơn trong giới tu sĩ và quan quyền của xứ Phù Tang theo bài bản của kinh trà Trung Quốc.
Đạo Phật được du nhập vào xứ Phù Tang dần dà cũng thay đổi theo phái Zen, khác với đạo Phật ở Trung Hoa hay Việt Nam... và cách uống trà cũng thế! Mãi cho đến hậu bán của thế kỷ thứ 16, một tu sĩ người Nhật mang tên Murata Shoukou mới soạn cách uống trà theo thể " Zen" mà ngày nay chúng ta thường biết đến là " Trà Đạo" của người Nhật!
Trong trà còn có các nguyên tố hoạt động như  cafein (cafein là chất có trong hạt cà phê và trà...dùng làm thuốc lá), các phenol, Vitamin các loại muối khoáng, protein, aminoacid, glucid và một số chất hữu cơ khác...Tỉ lệ cafein trong trà chiếm khoảng 2% đến 4% (trong cafe có khoảng từ 5% - 10%) Daphenol là những hoá chất có chức năng như rượu có tỉ lệ khoảng 25% Vitamin C, chỉ có trong trà xanh. Các Đa phenol lại làm cho cafein trong trà ít nghuy hiểm hơn trong cafe. Tuynhiên, với tỉ lệ nhỏ cafein làm cho trà trở thành chất kích thích thần kinh có lợi cho các hoạt động cơ bắp và trí tuệ.
Tuy nhiên, đây chỉ là thông tin về tác dụng phong phú của trà được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Du khách muốn áp dụng cần liên hệ, tư vấn từ các nhà chuyên môn như dược sĩ, bác sĩ hay các chuyên viên thẩm mỹ...để được hướng dẫn cách sử dụng thích hợp.

Làng của những ngôi chùa (Làng chùa Đại Ninh)

Một ngôi làng (thôn) chỉ với 2.170 nhân khẩu nhưng có đến 53 cơ sở thờ tự gồm chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm phật đường. Tính trung bình cứ 40 người có một cơ sở thờ tự, và đây được xem là địa phương quy tụ nhiều chùa chiền nhất Việt Nam hiện nay. Nhiều người gọi đây là "xóm chùa", "làng chùa" Đại Ninh.
Thôn Phú An, xã Phú Hội (huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng) vốn là vùng đồi núi hoang sơ, nằm dọc hữu ngạn sông Đa Nhim, cửa ngõ vào thôn gần cầu Đại Ninh (quốc lộ 20, cách thành phố Đà Lạt khoảng 42 km). Ông Lê Hoàng, Phó chủ tịch Văn xã, xã Phú Hội cho hay: "Trước ngày đất nước thống nhất, vùng đất Phú An còn rất hoang sơ, dân cư thưa thớt, chỉ có vài ba ngôi chùa, thạch thất ẩn mình sau rặng rừng già, càng về sau dân tứ xứ kéo nhau về đây định cư, lập nghiệp tạo thành khu dân cư khá sầm uất với nhiều chùa chiền, tịnh thất nên Phú An được mệnh danh là vùng "đất lành", là "làng chùa". Ông Mai Hữu Hòa, Trưởng phòng tôn giáo huyện Đức Trọng cho biết thêm: trên 14 xã, thị trấn của huyện có 165 cơ sở thờ tự Phật giáo thì riêng tại xã Phú Hội có 62 cơ sở (thôn Phú An 53 cơ sở), xã Ninh Gia (tả ngạn sông Đa Nhim) có 29 cơ sở. Toàn huyện có 650 chức sắc và tăng ni, riêng thôn Phú An đã có tới 492 vị, đây là điều hiếm có.
Một ngày ở làng chùa
Một ngày cuối tháng 3, chúng tôi đến thăm "làng chùa" Đại Ninh, từ quốc lộ 20 vừa mới rẽ vào thôn Phú An đã nghe tiếng chuông chùa ngân vang, văng vẳng từ các triền đồi tiếng gõ mõ, tụng kinh khiến lòng người cảm thấy thanh thoát, an bình. Nơi đầu tiên chúng tôi tìm đến là Vĩnh Minh Tự Viện, ngôi chùa nổi tiếng nhất Phú An, tọa lạc trên ngọn đồi cao, xung quanh là không gian thoáng mát rợp bóng cây xanh rộng khoảng 10 ha. Tại đây Đại Đức Thích Nguyên Chánh đã cho chúng tôi biết quá trình hình thành "làng chùa" độc đáo này. Những năm đầu thập niên 1960, các hòa thượng Bửu Lại, Bửu Huệ và Thích Thiền Tâm đã tìm đến núi rừng hoang vu bên bờ sông Đa Nhim này khai sơn, dựng thạch thất để yên tĩnh tu hành. Sau đó, hòa thượng Thích Thiền Tâm cho xây dựng tu viện và chùa Hương Nghiêm (ngôi chùa đầu tiên ở vùng đất này, bây giờ được gọi là Tổ đình). Còn Vĩnh Minh Tự Viện được thành lập bởi hòa thượng Thích Tâm Thanh (là học trò của 3 vị hòa thượng đầu tiên đến Phú An khai sơn) từ năm 1973, trên ngọn đồi cao bên cạnh chùa Hương Nghiêm.
Ban đầu hòa thượng Tâm Thanh chỉ xây dựng tịnh thất nhỏ để về tịnh dưỡng sau những ngày đi thuyết giảng. Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1983 nhận thấy duyên hóa độ có nhiều thuận lợi, ông xây dựng chùa Vĩnh Minh Tự Viện. Theo các phật tử, từ khi Vĩnh Minh Tự Viện hình thành, cùng với tài thuyết giảng kiệt xuất của hòa thượng Tâm Thanh (nguyên Phó ban trị sự kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng) nơi đây đã trở thành điểm tựa tinh thần cho dân chúng khắp các làng quê quanh vùng. Tiếng lành đồn xa, không chỉ tăng ni, phật tử trong huyện Đức Trọng mà cả tăng ni, phật tử nhiều tỉnh thành khác cũng lặn lội lên núi Phú An để được nghe thuyết giảng và thọ giáo quy y. Từ đó, người tứ xứ về đây ngụ cư, lập tịnh thất, tịnh xá để tu hành.
Theo ông Mai Hữu Hòa (Trưởng phòng tôn giáo huyện), Phú An là vùng đất không có tệ nạn xã hội, an ninh trật tự luôn bảo đảm. Các tăng ni về đây lập nghiệp, tu hành đều tự lao động sản xuất, trồng cà phê, cây ăn trái để nuôi sống bản thân. Hầu hết các chùa, tịnh thất đều tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, gắn bó với chính quyền và Hội chữ thập đỏ huyện tổ chức nhiều đợt khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho người dân quanh vùng. Điều đặc biệt nữa là các chùa ở đây luôn mở rộng vòng tay đón nhận trẻ em mồ côi, bất hạnh; các em đều được tạo điều kiện đến trường học hành, bên cạnh đó các tăng ni còn giáo dục nhân cách cho các em, giúp các em trưởng thành mọi mặt. Xin nói thêm, lúc sinh thời hòa thượng Thích Tâm Thanh đã vận động ân nhân xa gần để làm gần 4 km đường bê tông nhựa nóng chạy dọc thôn Phú An, xây dựng chiếc cầu treo dài trên 200m bắc qua sông Đa Nhim, nối liền 2 thôn Phú An và Đại Ninh giúp cư dân qua lại dễ dàng, thuận tiện, giảm bớt tai nạn giao thông vì không phải chèo thuyền qua sông.
Như đã đề cập, hiếm có nơi nào có "duyên" (chữ nhà Phật) như vùng đất Phú An, bởi vậy vào các dịp lễ tết, Vu Lan, Phật đản và rằm tháng giêng (lễ hội Pongour), rất nhiều du khách đến thăm "làng chùa" độc đáo này. Sau một ngày tham quan làng chùa Phú An, chúng tôi cảm nhận được những nét văn hóa độc đáo, phong phú. Tại chùa tổ Hương Nghiêm có tháp mộ 3 tầng khá đồ sộ của cố hòa thượng Thích Thiện Tâm. Đến với Phương Liên Tịnh Xá, ngoài ngôi chùa uy nghi, rộng lớn với kiến trúc Đông - Tây kết hợp (đang được xây dựng dở dang), còn có bảo tháp 7 tầng đồ sộ tọa lạc trên đỉnh đồi cao, nơi đây còn có tháp mộ của cố ni sư Thu Nguyệt (vị trụ trì chùa). Tại Vĩnh Minh Tự Viện có cổng tam quan xếp bằng đá, bảo tháp xá lợi Minh Tích Án khá uy nghi, cùng tượng Phật Niết bàn và nhiều tượng đài khác. Dọc theo hữu ngạn sông Đa Nhim còn có hàng chục ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm phật đường, mỗi cái mỗi vẻ kiến trúc khác nhau vừa mang nét cổ kính vừa xen lẫn tính hiện đại như tịnh xá Ngọc Thành, các chùa Hương Sen, Dược Sư, Đạo Tràng Long Châu...
Đến với làng chùa Phú An du khách còn có thể tiếp cận những bậc chân tu lão thành như sư Tràng (tịnh xá Ngọc Thành), sư bà Hải Triều Am (chùa Dược Sư), Thượng tọa Thích Tâm Mãn... Trao đổi với chúng tôi, Thượng tọa Thích Minh Chiếu (Chánh đại diện Phật giáo huyện Đức Trọng) cho biết: "Các tăng ni, phật tử trên địa bàn luôn ý thức sống tốt đạo đẹp đời, chung sức chung lòng xây dựng quê hương giàu đẹp. Mỗi tháng 2 lần các Đại đức, tăng ni có 2 buổi quy tụ về chùa Hương Nghiêm (Tăng) và Đạo Tràng Long Châu (Ni) để bố tát thuyết giới (học giới luật nhà Phật), đây cũng là dịp để các tăng ni biểu lộ tinh thần gắn kết cùng nhau xây dựng đạo, đời tốt đẹp.
Rồi đây khi đập thủy điện Đại Ninh (cách làng chùa khoảng 1 km) xây dựng xong sẽ trở thành một thắng cảnh đẹp. Nếu các công ty lữ hành biết kết hợp du lịch - hành hương thì sẽ biến vùng đất Phú An, Đại Ninh thành địa chỉ du lịch hành hương thú vị.

Thủy điện Đại Ninh
14h ngày 17/1/2008, sau hơn 4 năm xây dựng,  nhà máy thủy điện Đại Ninh đã chính thức hòa lưới điện quốc gia tổ máy thứ nhất có công suất 150MW. Dự kiến tổ máy thứ hai cùng công suất 150MW sẽ hòa lưới điện trong tháng 3/2008. Khi cả hai tổ máy vận hành sẽ cung cấp sản lượng điện hàng năm 1,2 tỷ kWh.Được biết sau thời gian hiệu chỉnh, chạy thử nghiệm (từ 28/11/2007 đến 16/1/2008) tổ máy thứ nhất đã đưa lên lưới điện quốc gia được 1,4 triệu kWh.
 Dự án Thủy điện Đại Ninh thuộc hệ thống bậc thang của sông Đồng Nai, nằm trên sông Đa Nhim cách Thành phố Hồ Chí Minh 260 km, công trình đầu mối nằm trên địa phận xã Phan Lâm, huyện Bắc Bình, Bình Thuận. Được khởi công từ ngày 10/5/2003, thủy điện Đại Ninh là một công trình vừa cấp phát điện cho hệ thống điện phía Nam và dẫn nước từ lưu vực sông Đồng Nai về cho Bình Thuận. Nhiệm vụ của dự án là:
+ Cấp nước và phát điện với N = 300 MW
+ Cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt cho vùng hạ lưu.
+ Cải thiện khí hậu trong vùng và tạo cảnh quan môi trường
+ Tạo điều kiện phát triển du lịch. 
Kết nối nguồn nước giữa sông Đa Nhim và sông Đa Queyon, hồ chứa nước thủy điện Đại Ninh rộng 2.000 ha được hình thành qua 2 đập chính cao gần 60 mét, 4 đập phụ, hai đập tràn sự cố và một kênh nối thông giữa hai hồ, dẫn nước từ sông Đồng Nai thuộc tỉnh Lâm Đồng tạo thành hồ chứa với tổng dung tích 320 triệu m3 nước, ở cao trình khỏang 640 mét, thuộc địa phận huyện Đức Trọng (Lâm Đồng), cách thành phố Đà Lạt khỏang 40 km. Nước từ hồ chứa Đa Nhim và Đa Queyon sẽ được dẫn về Nhà máy Thủy điện Đại Ninh qua một đường hầm áp lực dài 11,2 km xuyên trong lòng núi và đường ống thép áp lực dài 1,8 km, đường kính 3,2 mét, với lưu lượng nước thiết kế qua tất cả các tua bin là 55 m3/giây phục vụ cho hai tổ máy phát điện tổng công suất lắp đặt là 300 MW (mỗi tổ máy 150 MW), cung cấp sản lượng điện hàng năm 1,2 tỷ kWh.
Một số thông số của nhà máy:
Tuyến đầu mối: Hệ thống gồm 2 hồ liên thông với nhau, một trên nhánh sông Đa Nhim, một trên nhánh sông Đa Queyon     
* Một số thông số cơ bản của hồ chứa:
+ MNC = +860 m, Dung tích chết Vc = 68,04 triệu m                                  
+ MNDBT = + 880,0 m, Dung tích hồ ứng với MNDBT: Vk = 320 triệu m3
+  Mực nước lũ lớn nhất ở hồ Đa Nhim là +882,6 m
+  Mực nước lũ lớn nhất ở hồ Đa Queyon là +883,2 m
+ Đầu mối có các công trình: 2 đập chắn, 4 đập phụ, tràn xả lũ chính, cống xả nước sâu, tràn sự cố, kênh nối hai hồ
* Đập chính Đa Nhim: - Đập đất  đồng chất có lõi chống thấm,
- Cao trình đỉnh đập +883,7 m; rộng 8 mét
 - Chiều dài đỉnh đập L = 430m
 - Chiều cao đập lớn nhất Hmax = 56m
* Đập chính Đa Queyon:
- Đập đất  đồng chất có lõi chống thấm,
- Cao trình đỉnh đập +884, 3 m; rộng 8 mét
- Chiều cao đập lớn nhất Hmax = 58m

* Đập phụ : có 4 đập phụ số 1, 2, 3, 4 có chiều cao lần lượt là 22m, 17m, 31m, 34m
* Kênh nối hai hồ có đáy rộng 22 m, đáy thấp hơn MNC. Kênh dài 2510 m, lưu lượng thiết kế là 3077 m3 /s
*Tràn xả lũ chính:
- Cao trình ngưỡng tràn +862,5m, thấp hơn MNDBT 17,5m
-Tràn có 3 cửa, van cung kích thước b x h = 15 x 18,75 (m)
- Ngưỡng tràn thực dụng. Cột nước tràn lớn nhất Hmax = 20,1m
- N ối tiếp sau ngưỡng tràn là dốc nước . Cuối dốc nước là tiêu mũi phun

*Tràn sự cố: đặt ở đập phụ, Tràn sự cố kiểu đập đất nước tràn qua đỉnh đập gây vỡ. Cao trình ngưỡng tràn sự cố  +869,0 m, thấp hơn MNDBT 11,0 m   
 * Cống xả sâu: Là loại cống tròn, chảy có áp. Đường kính cống 0,8m đặt ở dưới ngưỡng tràn xả lũ chính. Lưu lương qua cống từ 7 đến 20 m3 /s  nhằm duy trì dòng chảy ở hạ lưu đáp ứng các yêu cầu khác nhau
2. Tuyến năng lượng
* Cửa nhận nước : cao trình ngưỡng cửa vào +850,0m
* Đường hầm dẫn nước: Sau cửa nhân nước là đường hầm dẫn nước. Dài 11.254 mét. Đường kính trong là 4,5 m
* Tháp điều áp: cao 230 m; mặt cắt ngang dạng tròn. Gồm 3 phần: phần sâu nhất đường kính 3,5m; phần ở giữa đường kính 10m; phần trên cùng đường kính 28m
* Đường ống: Có một đường ống nối tiếp sau đường hầm dẫn nước. Đường kính ống từ 3,2m đến 3,3m. Tổng chiều dài là 1.818m.  Đến nhà máy đường ống rẽ làm 2 nhánh đi vào buồng xoắn tuốc bin. Đường kính ống nhánh là 2,25m
Tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng khỏang 440 triệu USD, trong đó vốn vay Nhật bản chiếm 85%.
 
Theo kế hoạch, tổ máy thứ nhất của Nhà máy Thủy điện Ðại Ninh sẽ vận hành vào cuối tháng 11 tới và tổ máy thứ hai cũng sẽ hoạt động vào cuối năm nay. Nhà máy Thủy điện Đại Ninh vận hành, ngoài việc bổ sung nguồn điện cho lưới điện quốc gia, nước xả từ thủy điện Ðại Ninh còn là nguồn năng lượng phục vụ cho thủy điện Bắc Bình với công suất khỏang 33 MW trong tương lai và cung cấp luợng nước đáng kể cứu cho hàng chục ngàn ha đất nông nghiệp có nguy cơ sa mạc hóa ở huyện Bắc Bình và Bắc thành phố Phan Thiết (Bình Thuận).
 
Nước sau thủy điện Ðại Ninh và thủy điện Bắc Bình đổ ra suối Mác Tin, nhập cùng dòng sông Ða Ka Chu (Ta Mai) ở thượng nguồn sông Lũy, rồi xuôi về biển. Ðể tận dụng nguồn nước này, cuối tháng 5-2006, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có quyết định phê duyệt điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi dự án tưới Phan Rí - Phan Thiết giai đoạn một. Nhiệm vụ của dự án (giai đoạn một) là cấp nước tưới cho 15.700 ha đất canh tác thuộc đồng bằng Phan Rí, cấp nước phục vụ dân sinh và cải tạo môi trường trong khu vực.

Theo đó, ở khu đầu mối, xây dựng một đập đất dài 430 m, rộng 5 m, chiều cao đập lớn nhất là 10 m cùng một đập tràn và cống lấy nước, cống xả, nhà quản lý đầu mối. Kênh chính Ðông của công trình dài gần 10 km cùng hệ thống kênh cấp I, cấp II, cấp III trở xuống và kênh tiêu có tổng chiều dài hơn 180 km. Tổng dự toán thực hiện dự án (thời điểm quý 3 năm 2005) hơn 1.100 tỷ đồng. Dự án cũng đã kết hợp đã xây dựng các khu tái định cư cho bà con hai xã Phan Lâm, Phan Sơn, huyện Bắc Bình. 

Bắc Bình là vùng khô hạn nhất tỉnh. Cuối tháng 12-2005, tỉnh Bình Thuận đã khảo sát xây dựng đập dâng nước Bắc Bình (dài 140 m, mặt đập rộng 1,5 mét) tại thôn 3, xã Phan Sơn, nhằm ngăn dòng sông Lũy, chảy qua tuyến kênh đào dài 14 km dẫn nguồn nước xả sau thủy điện Đại Ninh về hồ chứa Cà Giây. Khi tổ máy thứ nhất của thủy điện Ðại Ninh hoạt động, công trình này sẽ tiếp nguồn nước có lưu lượng nước từ 8 đến 12 m3/giây để đưa về hồ Cà Giây, nâng năng lực tưới của hồ lên khỏang 8.000 ha, gấp 2 lần năng lực thiết kế.

Cùng với tiến trình xây dựng đập đầu mối sông Lũy đưa nước về hồ Cà Giây, ngành thủy lợi tỉnh Bình Thuận cũng đã khảo sát và nâng cao đập 812 ở hạ lưu sông Lũy từ 1,4 m lên 2,4 m và mở rộng từ 1 lên 3 cửa cống tưới tải nước về cho kênh Úy Thay với lưu lượng nước qua mỗi cống 3 m3/giây. Công trình này phục vụ tưới cho hơn 850 ha, thay vì lấy  nguồn nước từ hồ Cà Giây để tưới nên đã tiết kiệm được nguồn nước khá lớn của hồ. Ðồng thời, hệ thống cống sẽ đưa nước từ đập 812 về tưới cho khoảng 2.000 ha ruộng “ăn” nước trời thuộc xã Lương Sơn, Sông Bình và bổ sung nước cho đập Ðồng Mới ở khu vực hạ lưu. Tổng vốn đầu tư cho hai công trình nói trên khoảng 30 tỷ đồng, khi Thuỷ điện Đại Ninh đi vào vận hành, thì đồng nghĩa hai công trình thủy lợi này cũng phát huy hiệu quả và mang lại tiềm năng kinh tế rất lớn cho một vùng khô hạn, hàng năm chỉ sản xuất một vụ bấp bênh, thậm chí không có nước cho gia súc uống vào mùa khô.

Theo thiết kế, hồ Cà Giây tưới được hai vụ cho khoảng 4.000 ha, năm nào mưa thuận điều tiết nước sản xuất thêm được khoảng 1.000 ha vụ đông xuân. Khi thủy điện Ðại Ninh hoạt động và hai công trình trên đưa vào sử dụng, năng lực tưới của hồ Cà Giây sẽ tăng gấp hai lần so với thiết kế và đủ nước tưới ba vụ/năm.

Thủy điện Đại Ninh không những đánh thức tiềm năng một vùng đất khô hạn, còn mở ra được hướng làm giàu từ du lịch sinh thái, đồng thời góp phần không nhỏ trong việc cải thiện đời sống cho nhân dân trong vùng./.

Ngay Bưu Điện Bảo Lộc có ngã 3 , rẽ trái vào thác Dambri
Thác DamB’ri
Vị trí: Thác Đambri nằm cách trung tâm thị xã Bảo Lộc khoảng 18km.
Đặc điểm: Đây là ngọn thác lớn ở Lâm Đồng, nằm giữa khung cảnh rừng nguyên sinh hoang sơ và hùng vĩ.
Từ thị xã Bảo Lộc - Lâm Đồng qua những đồi chè, cà phê, cây ăn trái xanh ngát, du khách sẽ đến với khu du lịch sinh thái Đambri để được thưởng thức cảnh đẹp hùng vĩ cùng khí hậu trong mát của rừng nguyên sinh nam Tây Nguyên. Thác Đambri có độ cao khoảng 60m. Mùa mưa, nước thượng nguồn đổ về ầm ầm, đi xa vài kilômét còn nghe thấy tiếng. Xung quanh thác là một khu rừng hầu như vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét đẹp hoang sơ chưa mấy người khám phá với diện tích gần 300ha cùng đủ loài chim. Nhiều cây cổ  thụ quý hiếm như sao, kền kền, dổi... gốc to tầm vài ba vòng tay người ôm cũng có mặt ở đây. Đường vào trung tâm khu du lịch có một cầu ximăng dài hơn 20m bắc ngang suối, gần đỉnh thác. Đứng trên cầu, khách du lịch có thể thưởng thức cảnh tượng hùng vĩ của dòng nước cuồn cuộn đổ từ đỉnh thác xuống. Khách muốn xuống chân thác có thể đi bằng hai đường: thang máy hoặc đường bộ. Nhưng hầu hết du khách đều chọn đường bộ men theo sườn núi, đã được bêtông hoá nên đi lại thuận tiện để được thưởng ngoạn phong cảnh.Theo lối mòn ven suối đi về phía thượng lưu, muốn sang bờ bên kia khách sẽ được một lần thử độ khéo léo và lòng dũng cảm khi chênh vênh đi trên chiếc cầu dây theo kiểu của đồng bào dân tộc ở địa phương vẫn làm. Cầu được bện từ những thứ dây leo rất sẵn ở rừng như song, mây, giang, lồ ô... Vào buôn của người dân tộc Châu Mạ - một trong những làng văn hoá dân tộc ở Tây Nguyên, khách sẽ được thưởng thức những lễ hội cồng chiêng, khám phá tìm hiểu về nghề dệt thổ cẩm truyền thống và cũng có thể tự mang lều trại để tổ chức sinh hoạt dã ngoại. Thật rất nhiều điều thú vị.

Để những chuyến tham quan của du khách thêm sinh động, Ban Quản lý khu du lịch sinh thái Đambri còn khoanh một khu vực nuôi các loài thú. Đảo khỉ tại đây có hàng trăm con, hươu nai được nuôi thả tự do khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng và thích thú khi bắt gặp. Cũng có cả những khu nuôi gấu, ba ba, rùa. Đặc biệt, có những chú voi đã được thuần dưỡng và ngoan ngoãn tuân theo sự chỉ dẫn của quản tượng. Du khách có thể ngồi trên lưng voi để chụp ảnh lưu niệm. Đi một vòng quanh khu du lịch rộng lớn, du khách có thể nghỉ chân bên hồ nước Đambri rộng hàng nghìn mét vuông, thuê một chiếc thuyền để hưởng thú câu cá trên hồ.
Đặc biệt từ tháng 4 đến tháng 11, du khách đến tham quan thác Damb’ri, đứng gần chân thác với khói nước giăng kín như đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Có thể đi theo những bậc tam cấp được xây dựng men theo sườn dốc hoặc đi bằng phương tiện thang máy xuống chân thác để thưởng thức những đàn cá tung tăng bơi lội trong làn nước trong xanh, hay sờ tay vào dòng nước để nghe hơi lạnh như nước đá của dòng nước miền Cao Nguyên đang tuôn đổ.

Tu Viện Bát Nhã
Tu Viện Bát Nhã toạ lạc trên một ngọn đồi cao có diện tích 18 hecta thuộc thôn 10 , xã Damb’ri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Công Trình kiến trúc tôn giáo này cách Khu Du Lịch sinh thác Damb’ri khoảng 2km, gồm 2 khu: khu Tăng được gọi là Rừng Phương Bối và Khu Ni được gọi là Bếp Lửa Hồng.
Tu viện (TV) này được khởi công xây dựng từ năm 1998, do Thương Toạ Thích Đứd Nghi khai sơn. Công trình có nét kiến trúc độc đáo mang màu sắc Á Đông với mái ngói 2 tầng cong vút cổ kính được kết hợp với không gian thiên nhiên làm cho công trình càng nổi bật giữa những rừng chè bạt ngàn, tạo nên cảnh quan đẹp, thơ mộng trong khuôn viên rộng 35 hecta. Trong khuôn viên tu viện, ngoài rừng thông là loài cây phổ biến của vùng đất Tây Nguyên, còn có các loài cây kiểng quá giá như cau, thiên tuế,tùng…
Đây là nơi dành cho các vị Tăng Ni tu tập theo môn phái Tịnh độ của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Tất cả những sinh hoạt hằng ngày như đi đứng, nằm ngồi, ăn mặcv.v…đều được tập trung cao độ gọi là ‘chánh điện’. Ăn cơm trong chánh niệm: theo triết lý nhà Phật, ngoài ý nghĩa đơn giản của ăn cơm là nhai thật kỹ thức ăn nhằm giúp chuyển hoá tốt để nuôi sống cơ thể, còn hàm chứa bao điều sâu xa khác như quan niệm trong khi ăn, quán niệm về những thứ ta đang ăn là những sản  phẩm do đất trời và con người tạo tác; hiện hữu trong bát cơm thơm ngon, trắng tinh ấy có hình ảnh lam lũ, vất vả của người nông dân trên cánh đồng; hành trình của hạt gạo phải chịu ‘một nắng hai sương’ và bao công đoạn xay,giã,dần,có cơm ăn áo mặc…Quán niệm để hiểu được những điều như thế trong mỗi hành động của con người sẽ giúp ta biết sống san sẻ, yêu thương nhau, trân trọng những tạo vật của đất trời và giá trị cuộc sống của con người.
Phía bên phải chánh điện, đường dẫn lên đồi  trước rừng thông là pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 350cm ngự giữa hòn giả sơn, tay cầm bình tịnh thủy nhỏ từng giọt nước trong vắt nhiệm màu cho những ai cần xoa dịu cơn bệnh và nỗi khổ đau.. Đây là một khu vườn được thiết kế, xây dừng rất đẹp, tạo cảnh quan cho ngôi tu viện càng tăng thêm nét thâm nghiêm nhưng không kém phần thơ mộng. Hòn giả sơn cao gần 10m, là nơi du khách Phật tử thường lên ngồi dưới chân Quan Thế Âm  niệm Phật hoặc chiêm ngưỡng cảnh đẹp thanh tịnh quanh đồi. Dưới chân hòn giả sơn là hồ nước rộng và những chiếc cầu được bắt quanh tạo cảnh quan và là nơi dành cho du khách nghỉ ngơi ngắm cảnh.
Đây là một điểm tham quan mới, một nét du lịch tâm linh trong những chuyến hành hương của văn hoá Việt, một điểm dừng chân lý tưởng dành cho du khách được kết hợp với điểm tham quan Thác Damb’ri tạo nên tuyến thú vị của địa danh Bảo Lộc. Khi du khách đặt chân lên miền Cao Nguyên đầy vẻ quyến rũ này, lại được nhìn ngắm ngôi tu viện từ xa sẽ khiến tâm hồn cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát để quên đi những gánh nặng đời thường.

Thác Bobla 
Đây là một thác nước đẹp, hùng vĩ vừa được tôn tạo thành khu du lịch sinh thái mới ở xã Liên Đầm, huyện Di Linh (Lâm Đồng). Bobla được xem như một nàng tiên tuyệt trần vừa được đánh thức bởi vì thác được phát hiện khá lâu nhưng mãi đến năm 2000 mới được giới thiệu cùng du khách và  là điểm dừng chân tham quan của nhiều du khách trong và ngoài nước, trên lộ trình hoặc trong những tour du lịch từ TP HCM lên Đà Lạt.

Nằm cách không xa quốc lộ 20, nên ngay từ xa đã có thể nghe tiếng thác vọng cả núi rừng. Ấn tượng đầu tiên khiến du khách phải ngỡ ngàng là dòng thác cao 50m rộng 12m, nằm giữa hai ngon đồi hình voi phục như một dải lụa trắng tinh đổ sầm sập xuống lòng hồ, tung bọt trắng xoá.
Thiên nhiên ở đây đẹp như tranh vẽ, thác nước nằm gọn trong khu rừng nguyên sinh còn lưu giữ nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi; hai bên thác là vách đá cao phủ rong rêu, rễ cây cổ thụ buông xuống; dòng suối chảy lặng lờ, len trong những tảng đá, hai bên bờ cây cỏ, hoa dại nở quanh năm chạy tít tắp về phía buôn làng, hơi sương bay khắp một vùng trời... Tất cả tạo nên vẻ đẹp vừa nguyên sơ, vừa huyền hoặc của núi rừng cao nguyên Di Linh.
Trong ngôn ngữ của người Cơ Ho, Bobla do được đọc lệch từ 2 âm ‘PốPla’, có nghĩa là ‘Đầu Ngà Voi’, ‘Pố: nghĩa là đầu và ‘Pla’ có nghĩa là ngà voi.
Đồng bào các dân tộc bản địa sinh sống trên vùng đất này đã xem thác Bobla là biểu tượng của sự bất khuất, là sức mạnh của cư dân miền sơn cước, quê hương của chàng Liang Dăm, người đã có công đánh đuổi quân Chăm từng kéo lên quấy nhiễu, giày xéo buôn làng.
Chuyện xưa kể rằng: Thuở trước, vùng đất của Thác Bobla là nơi giao tranh thường xuyên giữa quân Chăm và người Cơ Ho. Thời đó quê hương của người Cơ Ho ở Di Linh bị giặc chiếm đóng. Người Cơ Ho muốn được bình yên, phải thường xuyên cống nạp những sản vật quý giá cho giặc như: ngà voi, sừng tê giác và những loại da thú quý hiếm…
Một ngày kia , tộc trưởng của người Cơ Ho săn được một con voi có cặp ngà rất lớn và mang cặp ngà này dâng lên cho thủ lĩnh của quân giạc với lời thỉnh cầu:’Hãy để dân làng Cơ Ho được bình yên’. Họ nhận lễ vật và hứa chấp nhận lời thỉnh cầu của người Cơ Ho, rồi đặt tên cho thác nước nơi này là ‘Pố Pla’. Tuy nhiên chẳng bao lâu, họ không thực hiện lời hứa mà còn đem quân  tiến đánh người Cơ Ho. Nhưng những lần tấn công này họ phải đối đầu với sức mạnh phi thường của chàng dũng sĩ Liang Dăm.
Liang Dăm là một chàng thanh niên mồ côi đến đây làm thuê cho người Cơ Ho trong nhiều năm qua, nhưng không một ai biết được nguồn gốc quê hương của chàng. Khi đội quân hùng hậu của giặc tấn công các buôn làng, người dân Cơ Ho hoảng sợ bỏ chạy tán loạn, chỉ một mình chàng Liang Dăm bình tĩnh trụ lại buôn làng theo dõi tình hình quân giặc. Chàng tiến đến bẻ một nhánh của gốc cây trâm bên dòng thác rồi hướng về phía quân thù. Một điều lạ xảy ra, cành trâm trong tay chàng hướng đến đâu, quân giặc ở đấy bỏ chạy hoảng loạn. Nhân cơ hội này một người đàn ông Cơ Ho của Buôn làng tên Lăng Ler kêu gọi dân làng cầm gươm đến giết giặc. Giặc tan, Lăng Ler cùng dân làng đến tạ ơnchàng thanh niên mồ côi này đã giúp cho buôn làng thoát được giặc ngoại xâm. Nhưng chàng Liang Dăm đi về phía ngọn thác và tan biến vào làn khói nước từ lúc nào’  Ngọn thác ấy ngày nay chính là thác Bobla và cây trâm cổ thụ ngày xưa vẫn còn tươi tốt. Đến Bobla ngày đã được xây dựng mở rộng và khôi phục lại những khu rừng già hoang vu để đưa vào phục vụ khách du lịch, du khách có thể vượt thác, thám hiểm núi, câu cá, cắm trại..

Km 156: Thị trấn di Linh được việt hoá từ ngôn ngữ của dân tộc Cơ Ho là Djring. Tại đây có một ngã 4, quẹo phải đi Phan Thiết 97km, quẹo trái đi Đaklăk 77km.
Km 172: Đèo Phú Hiệp. Đây là ranh giới giữa hai huyện Di Linh và Đức Trong.
Km 190: Phía tay trái có đường đi vào Thán Pongour 8km. Hàng năm, nơi đây có tổ chức ‘Lễ Hội Pongour’ vào ngày 15/01 âm lịch.

LINH ẨN TỰ
Chùa Linh Ẩn (thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà) cách TP.HCM khoảng 300 km, cách Buôn Ma Thuột chừng 200 km và cách Phan Thiết chưa tới 200 km.
Có hai đường đến chùa Linh Ẩn: từ TP.HCM qua QL27 đến Cửa rừng rồi đi về thị trấn Nam Ban hay từ Đà Lạt theo đường Hoàng Văn Thụ qua thác Cam Ly đi thẳng về Nam Ban.
) Đường đến Linh Ẩn tự – thiền viện Trúc Lâm thứ hai của Đà Lạt – qua nhiều con dốc quanh co với những đồi thông nhấp nhô, nhiều hình thù lạ mắt. Qua bản làng đồng bào người Nùng (xã Tà Nùng), bạn sẽ đến thị trấn Nam Ban, nơi Linh Ẩn tự tọa lạc.
Từ tỉnh lộ 725, thấp thoáng dưới rừng thông, Linh Ẩn tự hiện lên như đầu một con rồng phun nước. Nằm trên độ cao 1.080m, ở thế “tọa sơn ngọa thủy”, sau chùa có đồi thông xanh ngút ngàn, trước mặt có thác Voi ào ào tuôn chảy quanh năm nên không khí ở chùa luôn luôn mát mẻ, yên tĩnh.
Du khách đến với Linh Ẩn tự ai cũng trầm trồ khen ngợi vị sư trụ trì, thượng tạo Thích Tâm Vị – khi ngài có con mắt tinh tế khi chọn địa thế để xây dựng ngôi chùa cho bà con người Hà Nội đi xây dựng kinh tế mới ở Lâm Hà (Lâm Hà ghép từ hai địa danh Hà Nội và Lâm Đồng). Nằm ở chốn “thâm sơn cùng cốc” nhưng kiến trúc Linh Ẩn tự vẫn toát lên vẻ hiện đại và thân thiện với thiên nhiên. Toàn bộ diện tích đất hơn 4 ha của chùa được phủ xanh với những loại cây rừng như gió, sộp, si,bằng lăng…
Nơi hoành tráng nhất của chùa là Tòa chánh điện (khởi công năm 1999), rộng trên 1.400m2, lợp ngói đỏ. Phía tiền điện, hai bên bậc cấp dẫn lên chánh điện nội là hai con rồng tinh xảo đắp bằng xi măng dài 20 mét. Còn sau những nhành hoa bằng lăng tím nở trái mùa, trên nền trời trong xanh, tượng Di Lặc sừng sững hiện ra, tượng cao 12,5m, rộng 6,5m, ngang 9m (chiếm trên 630m3 không gian). Bên trái vườn dựng tượng Thích Ca thành đạo, vườn Lâm Tỳ Ni… Theo gợi ý “sao không qua đêm ở chùa để đêm nằm nghe thác đổ” của thầy tri viên Thích Hạnh Viên (thầy chăm sóc hoa cây cảnh của chùa), thử sống chốn thiền môn một đêm.
Trong khuya vắng, tiếng chuông chùa thời kinh tịnh độ thi thoảng ngân vang hòa cùng tiếng thác rì rầm đổ khiến không gian trở nên yên ả, thanh tịnh lạ thường. Một đêm, chỉ một đêm sống nơi già lam nghiêm tịnh của miền rừng núi Lang Biang mà trong lòng chúng tôi nhẹ tênh như vứt bỏ mọi phiền muộn của cuộc sống bon chen thường nhật và thức dậy miệng không khỏi mỉm cười…
Linh Ẩn tự cách thành phố du lịch Đà Lạt 30 km, từ lâu đã trở thành điểm đến lý tưởng của nhiều du khách, đặc biệt là du khách Tây phương ưa mạo hiểm, thích khám phá và tận hưởng sắc màu Đông phương.

THÁC PONGOUR:
Thác Pongour thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm đông. Đây là một ngọn thác đẹp nổi tiếng, hoang dã nhất và cũng hùng vĩ nhất không chỉ đối với Miền Nam Tây Nguyên mà còn xứng đáng để so sánh với khu vực Đông Dương, được mệnh danh là ‘Đông Dương đệ nhất hùng thác’. Thác Pongour còn được gọi là ‘Thác bảy Tầng, Thiên Thai hay thác Mẹ.Tại vùng đất này có nhiều kaolin, là loại đất sét mịn có màu trắng hoặc vàng được dùng để sản xuất sản phẩm gốm sứ, gạch chịu nhiệt cao và giấy.
Dòng sông Đa Nhim uốn lượn qua bao vùng đất phía trên thượng nguồn rồi trải rộng như một bàn tay nắm lấy những tảng đá núi lô nhô nơi một vực thằm tạo nên một dòng thác nơi đây. Thác Pongour có chiều cao hơn 50m, mặt thác trải rộng hơn 100m uốn cong hình cánh cung, nước đổ ào ào xuống một hồ lớn. Vào mùa mưa, dòng thác càng trở nên dữ dội, cả đất trời của vùng thác Pongour vang vọng trong tiếng thác rền không dứt.
Dòng thác từ trên cao đổ xuống qua từng bậc thang đá trải rộng trước khi đổ xuống vực sâu, rồi uống lượn qua các khe đá hoa cương nhẵn và không lồ để chảy về phía hạ nguồn của dòng thác và băng qua dòng nước mát lạnh đang chảy xiết mà nghe lòng vừa vui sướng vừa hồi hộp. Dưới chân thác là một thung lũng rộng lớn được bao bọc bởi những vách núi cao sừng sững, có nhiều tảng đá rất lớn như những khoảng đấ trống, bằng phẳng mà thiên nhiên dành sẵn cho du khách đến tham quan thác có chỗ vui chơi và nghỉ chân.
Tên Pongour có nguồn gốc từ ngôn ngữ của người Cơ Ho là ‘pon’ và ‘gou’ mà người Pháp đã phiên âm thành ‘Pongour’. Nhưng ý nghĩa của tên thác thì có giả thuyết khác ngau:Pongou: có nghĩa là ông chủ của vùng đất sét trắng hay có nghĩa là bốn sừng tê giác với nghĩa đencủa từ vựng ‘pon’: ‘bốn’ và ‘gou’: ‘sừng’. Trong đó giả thuyết thứ 2 được tin cậy nhiều hơn vì có tài liệu cho biết, có có nguồn gốc từ truyện cổ tích của người Cơ Ho, Chăm và Churu. Người ta cho rằng, thác Pongour là dấu vết của bốn con tê giác cắm xuống núi rừng Tây Nguyên trong quá trình giúp sức cho nàng Ka Nai giữ gìn và bảo vệ quê hương trong câu truyện cổ tích này.
Truyền thuyết trong truyện cổ tích của các dân tộc bản địa và các dân tộc có liên quan trong lịch sử kể rằntg:’Ngày xưa, tại vùng đất tân Hà ngày nay có một nữ tù trưởngxinh đẹp làm thủ lĩnh tên gọi Ka Nai. Nàng có một sức mạnh phi thường, có thể chinh phục được các loải thú dữ trong rừng. Đặc biệt là loài tê giác. Do đó, trong bộ tộc của nảng có bốn con tê giác to lớn mà Kanai thường dùng để khai phá núi rừng, đồng thời bảo vệ buôn làng.
Thuở đó, người chăm vùng Panduranga của đất Ninh Thuận ngày nay thường xua quân quấy phá, đánh chiếm và bắt người dân nơi đây về vương quốc Cah9mpa để làm nô lệ hoặc phải đi lính chống lại người Kinh. Để thể hiện sức mạnh của dân tộc mình, đồng thời chống lại kiểu thống trị, hiếp tróc của người Chăm, nàng Ka Nai đã đứng lên kêu gọi các bộ tộc Tây Nguyên hợp sức chống lại người Chăm. Sau nhiều lần dẫn quân đi trả thù, Ka Nai đã chiếm được bốn thành của người Chăm vả giải cứu cho hàng trăm người Cơ Ho bị bắt trước đây. Tuy nhiên nàng Ka Nai rất đau khổ vì còn một số người Cơ Hi – Mạ chấp nhận từ bỏ gia đình và người thân để ở lại Panduranga làm nô lệ cho người Chăm, không chịu quay về quâ hương Tây Nguyên. Cuối cùng, vị nữ tù trưởng phải đành lòng quyết định trừng trị những kẻ bội nghĩa vong ân.
Quê hương không còn bóng giặc, nàng Ka Nai bắt đầu tập trung xây dựng một cuộc sống mới cho buôn làng. Một cuộc sống chỉ có những con người thủy chung, biết đùm bọc, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong tình yêu thương của dân tộc. Bốn con tê giác giúp sức cho nàng san ủi núi đồi , khai thác rừng hoang cho người Cơ Ho. Nàng Ka Nai đã chọn mùa trăng tròn đầu tiên của mùa nắng ấm sau khi quê hương được thanh bình để tổ chức ngày kỷ niệm cho bộ tộc của mình’
Vào ngày rắm tháng Giêng hàng năm, du khách khắp nơi trẩy hội về thác Pongour để vui chơi, tưởng nhớ về ngày kỷ niệm của người cơ Ho xưa. Đây cũng là dịp bà con các dân tộc từ miền xuôi đến mạn ngược rộn rã du xuân. Đường xuống chân thác bằng phẳng quanh một ngọn đồi, hay theo các bậc thang đá đi dưới những tán lá rừng rồi theo các con đường mòn đến gần chân thác, băng qua những đám mây nước như mưa rào để sang bên kia bờ sông…Càng đi về phía hạ nguồn du khách càng cảm nhận được vẻ hùng vĩ của dòng thác Pongour đang tuôn trào mạch nước.
Đêm đến, du khách có thể tham gia cùng các bạn dân tộc vui chơi bên ánh lửa trại trong các điệu nhảy Tây Nguyên và rất thú vị hơn nữa cho những du khách thích khám phá cảm giác lạ khi nghỉ lại bên thác rừng  Pongour trong chiếc lều dã chiến. Chính nơi đây ngày xưa, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn nước ta rất thích thú nghỉ đêm tại đây mỗi lần đến Pongour sănbắn.

Km195: Thác Gougar: Ngọn thác này nằm các QL20 khoảng 500m
Thác Gougar
Thác Gougar còn có tên gọi là Thác Ổ Gà, Gougar là tên do người dân tộc ở địa phương dặt tên cho Thác, còn Ổ Gà là tên của người Kinh đặt do khi đứng từ xa, người ta trông thấy thác Gougar được phân chia theo 2 nhánh: một bên là dòng nước màu lòng đỏ trứng gà êm đểm chảy, một bên là dòng nước chảy ầm ầm tung bọt trắng xoá bao phủ cả một vùng tựa như lòng trắng của quả trứng; nhưng cũng có giả thuyết cho rằng, tênỔ Gà là do phát âm trại từ hai âm Gougar. Theo tiếng Cơ Ho, tên Gougar cõ nghĩa là ‘bờ sông giống cái cũi lồng’.
Tuy nhiên, vào mùa mưa, lượng mưa trung bình cao nên hai dòng của thác hoà vào nhau tạo lưu lượng cao với cường độ dòng chảy lớn, thác trở nên hùng vĩ hơn. Thác cao gần 20m. Cột nước khổng lồ từ cao đổ xuống ì ầm suốt ngày đêm làm vang động cả núi rừng, tạo nên một bức tranh hoang dã đầy sống động của vùng Nam Tây Nguyên.
Đứng nơi dòng thác này, du khách có dịp đi ngược dòng lịch sử trở về bới bao huyển thoại của các dân tộc anh em từ miền xuôi lên miền ngược. Tuy rằng, bao huyền thoại ấy vẫn được xem là giả thuyết gắn liền với lịch sử thăng trầm của mỗi dân tộc. Theo các truyện cổ Nam Tây Nguyên, vùng đất từ núi Chai đến thác Gougar là lãnh thổ của người dân tộc Churu – Chăm, có thủ lĩnh là nữ tù trưởng Ma Anh. Đa số người Churu có gốc là người Chăm di cư lên miền Tây Nguyên từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ XVII.
Theo giả thuyết của người Chăm, vùng đất thác Gougar ngày xưa là một vực sâu chôn giấu kho tàng của Hoàng Hậu Nai Biút. Truyện kể rằng:’Nàng Nai Biút gốc người việt (Yuan?) kết hôn cùng vua Chăm. Nàng được nhà vua hết mực sủng ái nền thường bày kế tỏ ra yếu đuối để được vua chiều chuộng. Mỗi khi nằm, Biút dùng bánh tráng nướng đặt dưới chiếu để khi nàng xoay người đổi tư thế nằm, bánh tráng sẽ bể tạo nên âm thanhnhư bị gãy xương. Nhà vua quan tâm, nàng thưa:’Thiếp bị bệnh, nên cơ thể thường hay kêu răng rắc’. Vua Chăm lo lắng bảo quan ngự y chạy chữa cho nàng. Một đại thần trình tâu với vua rằng, nên xây cho hoảng hậu một cung điện bên ngoài vương quốc Chămpa để hoàng hậu dưỡng bệnh, hy vọng hoàng hậu sẽ được khỏi bệnh ‘xương cốt’. Vua Chăm đồng và một cung điện mới dành cho hoàng hậu được mọc lên giữa rừng vùng núi này. Khi hoàng hậu mất, vua Chăm cho chôn cất nàng tại đây, một kho tàng vàng ngọc châu báu được chôn theo mộ phần để nàng Nai Biút dùng khi về bên kia thế giới. Về sau, các dân tộc ở vùng đất này đã tôn nàng Nai Biút là hoàng hậu của họ’.
Lại có một truyện giả sử khác của người Cơ Ho liên quan đến Huyền Trân Công Chúa:’Nàng Nai Biút chính là Huyền Trân Công Chúa đã nên duyên với vua Chăm là Chế Mân. Sau khi Chế Mân mất, Huyền Trân được Trần Khắc Chân giải cứu, Huyền Trần được trở về với đất nước Đại Việt. Nhưng không bao lâu đoàn quân Chiêm Thành kéo ra Thăng Long xin rước nàng về để suy tôn lên ngôi hoàng hậu của vương quốc Chămpa. Huyền Trân không muốn quay trở lại sống trên đất nước của người Chăm, nên nàng xin được đến sống ở một vùng đất không thuộc Đại Việt và Chămpa. Và Gougar là nơi Huyền Trân công chúa chọn trong truyện giả sử này.

Km 203: Sân bay Liên Khương bên tay trái
Km 204: cầu Liên Hiệp, ngã 3 bên trái là QL 27 đường đi Đaklăk 174km. Theo ngã 3 này đi khoảng 9km gặp một ngã 3 rẽ phải đi thêm 9km gặp cầu thác Voi. Tại đây có ngã 3 quẹo trái vào khoảng 100m đến thác Voi. Đường đi từ quốc lộ vào thác Voi đã được trải nhựa rất đẹp.

Thác Voi
Thác Voi Thuộc thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng. Đây là một trong những thác nước rất đẹp nhưng còn hoang sơ, thâm u với nhiều lạoi cây rừng cổ thụ. Đường đi xuống chân thác cheo leo, hiểm trở, rất khó đi.
Nếu Thác Pongour hùng vĩ, đầy vẻ hùng vĩ, duyên dáng, quyến rũ bao nhiêu thì cành quan cùa Thác Voi lại đầy vẻ mạo hiểm bấy nhiêu. Dòng suối chảy ngang qua cầu thác Voi của thị trấn Nam Ban trông rất hiền hoà, nhưng vừa đến vực thằng cách cầu khoảng 100m lại đồ xuống trông rất hùng vĩ. Từ trên đỉnh nhìn xuống thấy chân thác là một vực sâu đầy thu hút, thôi thúc du khách trẻ yêu thích khám phá phải tìm mọi cách xuống tham quan.
Thác cao gần 100m. Bên dưới thung lũng chân thác là những tảng đá to nằm ngổn ngang với nhiều hình dáng dài, ngắn, tròn dẹt khác nhau. Chiều dài mỗi khối đá trên dưới 10m, làm nơi dừng chân cho khách xuống tham quan thác. Đặc biệt có màu đen tuyền, bề mặt nham nhở. Có khu vực, những khối đá mang hình dáng những cây cột khỗng lồ nằm xếp chồng lên nhau giốngnhư xưởng chế tác đá  xây dựng. Có lẽ đây là dấu tích xưa của núi lửa? Là sản phẩm của nham thạch chảy ra từ miệng những ngọn núi lửa hoạt động cách đây hàng triệu năm.
Hiện nay, địa hình thác Voi không thích hợp cho du khách lớn tuổi, nếu lối đi xuống thác không được cải tạo, xây dựng. Tuy nhiên đây là thắng cảnh tuyệt vời, rất hấp dẫn đối với những du khách trẻ thích khám phá. Dòng sống dưới chân thác có rất nhiều cá, là nơi người dân địa phương thường đến quăng chài, thả lưới bắt những loài cá đang sống nép mình vào những khối đá to quanh thung lũng.
Thắng cảnh thác Voi đã được Bộ Văn Hoá – Thông tin công nhận là Di tích quốc gia ngày 28 – 12 – 2001.

Km 209: ngã 3 Finôm. Quẹo trái là đường đi Phan Rang 100km
Km 218: Núi Voi
Núi Voi
Núi Voi cap 1.756m. Ngọn núi này đã được nhắc đến nhiều trong các truyện cổ và truyền thuyết của các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên trong việc bảo vệ quê hương chống lại quân Chăm xâm lược vào các thấ kỷ XV – XVII.
Có truyền thuyết kể rằng:’Có 2 con voi ở vùng La Ngà Thượng đi dự lễ cưới của chàng Lang và nàng Bian. Khi đi đến ngọn núi Cà Đắng thuộc vùng đèo Prenn, nghe tin đám cưới của 2 người biến thành đám tang nên 2 con voi đã quỵ ngã tại đây và đau buồn  đến chết. Xác của 2 con voi này đã hoá thành hai ngọn núi và người ta gọi là Núi Voi. Nước mắt của voi chảy hoá thành dòng thác nên người ta đặt tên thác Voi, một ngọn thác nằm gần khu vực này.
Một truyền thuyết  khác:’Tại vùng đất này có đôi tình nhân người Cơ Ho. Chàng tên Ka Yar và nàng tên Ka yung, họ yêu nhau tha thiết. Khi quân người Chăm tràn lên cao nguyên đánh chiếm đất này, chàng Ka Yar phải lên đường chinh chiến và không trở về. Nàn Ka Yung đang khổ ra suối ngồi khóc. Tiếng khác của nàng đã làm lay động núi rừng, đất đá sụp đổ và nước mắt của nàng kết thành một dòng suối đổ ầm ào, cuồn cuộn. Đó là thác Voi ngày nay.
Sau năm 1471, từ thời vua Lê Thánh Tông, quân Chiêm Thành không còn đủ sức để đánh phá Đại Việt như thời Chế Bồng Nga. Từ đó, các vua Chăm lo củng cố vùng đất Panduraga và tìm cách mở hướng đánh chiếm lên vùng Tây Nguyên với ý đồ mở rộng vương quốc. Vua Pôrêmê là vị vua nổi tiếng về quân sự đã nhiều lần đưa quan lên đánh vùng đất Đà Lạt – Lâm Đồng và bắt dân địa phương làm nô lệ.
Trong thời giao giao tranh, núi Voi là một trong hai căn cứ đóng quân kiên cố và vững chắc của người Cơ Ho. Lachr, Chink.. (một căn cứ khác là núi Lap Bê cao 1.732m nằm ở đông bắc, còn núi Voi nằm ở phía Tây Nam) có đủ khả năng chế ngự quân của đối phương lên đồi Cà Đắng. Quân chăm không tấn công lên nổi Đà Lạt  do không phá được hai căn cứ này. Các thung lũng quanh vùng là những tuyến phòng thủ, phục binh an toàn nhất của người bản địa, đã nhiểu lần đánh tan đội quân của Pôrêmê tại giới thuyến đồi Cà Đắng. Đạo quân của người Cơ ho, Chink, Lachr khi ẩn khi hiện theo những con đường mòn dọc theo con suối phủ đầy lá cây mà người Chăm không thể nào phát hiện.
Tuy không chiếm được Đà Lạt, nhưng người Chăm cũng đến được Cao nguyên này bằng một hướng khác để phá huỷ nhiều công trình của người M’nông, Chink, Lachr. Đó là vùng Đak Krông Nô thuộc tỉnh Đak lăk ngày nay.

Trúc Lâm Viên
Trúc Lâm Viên chỉ mới nghe tên gọi đã cho ta liên tưởng đến cảnh thiền định nơi chốn sơn thuỷ hữu tình. Sau những bộn bề lo toan của cuộc sống, sự câu thúc công việc, nhịp sống hối hả thời hiện đại…con người luôn khao khát một khoảng lặng để tìm kiếm  sự an trí trong cõi lòng và có lẽ Trúc Lâm Viên là một lựa chọn.
Khu du lịch văn hoá - nghệ thuật - tâm linh Trúc Lâm Viên do Doanh nghiệp tư nhân Trần Lê Gia Trang đầu tư nằm cách thành phố Đà lạt 15 km về phía Nam được khởi công xây dựng từ năm 2006. Sau 4 năm đầu tư xây dựng với nhiều hạng mục: Đường vãn cảnh nội bộ, các công trình kiến trúc mang phong cách truyền thống Á đông, vườn hoa cây xanh… đã biến nơi đây từ một vùng đồi đá sỏi hoang vu dưới chân núi Voi thành khu sinh cảnh biệt lập với bên ngoài. Toàn bộ khu du lịch được kiến tạo trong diện tích khoảng trên 40 hécta, với nhiều hạng mục công trình mang đậm nét văn hoá truyền thống, nhiều ý tưởng độc đáo như: Suối Thanh Lương và Dân Sinh, thác Bảy Tầng, thác Tam Bảo, hồ Định An, nhà Thuỷ Tạ, Vọng Nguyệt lầu, Nghinh Phong cát, cùng nhiều tác phẩm nghệ thuật đá cảnh, bonsai và tranh thêu tạo nên một không gian nghệ thuật quyện hoà vào thiên nhiên hữu tình. Vì vậy, tách khỏi đường cao tốc Liên Khương – Đà Lạt, đi ngược về phía núi Voi khoảng 500 mét là tới Trúc Lâm Viên, du khách như trút bỏ  tiếng xe cộ ngược xuôi trên đường cao tốc để thả hồn theo các lối đi nhỏ nhắn hai bên liễu rủ, thông reo, những hàng cây mai anh đào thẳng tắp và nghe tiếng suối reo róc rách bên sười núi. 

Nằm soi bóng bên hồ Định An là thư viện trung tâm Thất Huệ Hiền mang đậm nét kiến trúc Á Đông, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca, các vị tổ sư Thiền tông và Đức Thánh Trần Hưng Đạo khiến du khách như đang bước nhẹ vào cõi Thiền mênh mang, tĩnh tại. Dạo quanh hồ Định An, chỉ cần vỗ tay hàng trăm con cá cảnh đủ màu sắc chen nhau trồi lên mặt nước. Du khách cũng có thể đắm mình trước những tác phẩm tranh thêu tay nghệ thuật, đốc đáo với kỹ thuật thêu nổi bằng chỉ tơ tăm trên nền tơ lụa. Cảm nhận nét tinh tế qua từng tác phẩm tranh thêu mang đậm bản sắc văn hoá Việt qua kỹ xảo, đường thêu tài hoa của các nghệ nhân Trần Lê Gia Trang. Hay chiếm ngưỡng khu vườn sưu tập bonsai, non bộ, tiểu cảnh với nhiều chủng loại xen kẽ với những vườn hoa ôn đới như Đỗ quyên, Trà mi… Đặc biệt bộ sưu tập bonsai thông, tùng độc đáo. Thưởng thức nét văn hoá “độc nhất vô nhị” trên Cao nguyên Lâm Viên, đó là Trà đạo tại vườn đá cảnh Nhật Bản với những khối đá cảnh, những bộ bàn ghế đá được chế tác công phu nhập nguyên bộ từ đất nước Mặt trời mọc, sứ sở Hoa anh đào. Với không gian này khách có thể hoá thân vào thiếu nữ trong trang phục Kimono, võ sĩ Samurai hay thiếu nữ Ấn Độ làm duyên với cảnh sắc cỏ cây, hoa lá, kiến trúc. Nhân viên trong khu du lịch bảo rằng, với không gian kiến trúc tựa mình vào thiên nhiên, sự bài trí đá cảnh, tranh thêu và văn hoá trà đạo khách muốn thưởng thức âm nhạc cũng mang một phong cách riêng nên không có trống, đàn điện tử mà thay vào đó là nhạc cụ truyền thống: sáo, đàn bầu hay violon…

Dưới những rạng thông xanh thấp thoáng bên sườn đồi là những Bungalow tiện nghi và xinh xắn, không gian riêng tư ấm áp cho những gia đình, bè bạn tụ hội. Đan xen với những công trình xây dựng mỹ thuật có biết bao tiểu cảnh, cây kiểng, hòn non bộ, thác nước nhân tạo hay Thạch Hoa viên với những kỳ hoa dị thảo giữa sa thạch hàng ngàn năm tuổi, tất cả hoà quyện như một bức tranh thuỷ mặc sống động. Từ trên đỉnh cao đồi vọng cảnh, du khách có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát cả một khu đồi bạt ngàn cây xanh hay thưởng thức các món ăn ở nhà hàng Yến Sào, nhà hàng Cơm chay tại khu du lịch cùng với các dịch vụ khép kín du khách sẽ có những giây phút thư thái, an trí trong lòng mỗi khi vãn cảnh nơi đây để hoà điệu với thiên nhiên rất Thiền Trúc Lâm Viên:

“Trên dòng nước mát thác Thanh Lương.
Vọng lại âm thanh thật diệu kỳ
Bóng bọt tung bay trên phiến đá
Nghìn năm nhạc khúc nước trôi đi”.


Km 212 + 700: Rẽ vào ngã 3 đường đất đỏ bên trái khoảng 500m; gặp nhã 3, rẽ phải vào khoảng 700m đến làng Con Gà của người Cơ Ho.
Km 222: Bắt đầu lên đèo Prenn vào thành phố Đà Lạt

 Thác Prenn
Thác Prenn là một thác nước đẹp thuộc tỉnh Lâm Đồng. Thác mang một vẻ êm dịu, duyên dáng như một màn nước đổ nhè nhẹ từ độ cao 10 m xuống một hồ nước nhỏ, xung quanh đầy hoa lá và một đồi thông vi vu.
Thác Prenn nằm ở chân đèo Prenn cách trung tâm Đà Lạt khoảng 10 km, nằm ven quốc lộ 20.
Cái tên Prenn gợi nhớ đến một thời xa xăm vào khoảng thế kỷ XV – XVII, khi vùng núi rừng nơi đây còn là ranh giới chiến trường của các cuộc chiến tranh xâm lăng và bảo vệ lãnh thổ. Prenn gốc tiếng Chăm có nghĩa là "vùng xâm chiếm", còn các tộc dân bản địa như Lat, Chil, Sré lại gọi kẻ xâm lăng là "người Prenn".
Để vào thác, du khách phải qua một chiếc cầu ngắn bắc ngang dòng suối đã được kè chắn bằng bêtông nhằm tránh bị xói lở. Con đường xuống thác thật đẹp với những bậc đá ôm theo sườn đồi được bố trí một cách hợp lý; Du khách sẽ nhìn thấy một bức màn nước buông mình từ độ cao gần 10m xuống thung lũng nhỏ đã được chỉnh sửa thành vườn hoa mà từ đây có nhiều lối đẹp đưa chân lên các đồi thông thoáng đãng chung quanh.
Du khách có thể men theo các con đường dẫn đến vườn thú, vườn lan hay thư thả dạo gót hoa viên ngắm nhìn những bông hoa khoe sắc, những căn chòi xinh xinh trên ngọn cây hoặc đung đưa cùng cầu treo bắc ngang dòng suối nhỏ. Ở một góc độ khác, vườn đá Thái Dương với sự sắp xếp đầy ngẫu hứng tạo được một bất ngờ thú vị. Đặc biệt với hệ thống cáp treo, du khách có thể ngang qua dòng thác trong cảm giác phiêu bồng, tưởng như đang đi vào cõi thần tiên...
Hiệnnay, thác Prenn do Công ty cổ phần Dịch vụ Du lịch Đà Lạt quản lý khai thácnhưng đang trong tình trạng xuống cấp do không được tu bổ, sửa chữa thườngxuyên

Đồng Hành Việt - Đặt Trọn Niềm Tin!

DU LỊCH CÔN ĐẢO

Loading...

DU LỊCH PHÚ QUỐC

Loading...

DU LỊCH ĐÀ NẴNG

Loading...