Đồng Hành Việt - Đặt Trọn Niềm Tin!

Dịch trang

Di tích lịch sử Bến Nhà Rồng

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Tài Liệu Thuyết Minh Đà Lạt Năm 2020 Phần 2

Cẩm chướng còn được dùng trong việc tiên đoán tương lai của người con gái vị thành niên ở Đại Hàn. Khi người con gái ở vào tuổi vị thành niên, ba đóa hoa cẩm chướng được cài lên búi tóc của cô gái theo thứ tự. Nếu đóa hoa nào tàn trước, chẳng hạn như đóa dưới cùng, cô bé sẽ phải chịu khổ cực cả cuộc đờị Còn nếu đóa trên cùng, thì những ngày cuối cuộc đời, cô bé phải chịu nhiều đau khổ. Khoảng đầu đời của cô bé sẽ rất khốn khó, nếu như đóa chính giữa tàn nhanh hơn hai đóa hoa kia….

HOA QUỲNH VÀ HOA MẪU ĐƠN
Theo truyền thuyết, ngày xưa vào thời nhà Tùy (Dương Quảng 605 – 617) ở Dương Châu, Trung Quốc, có Tùy Dạng Đế là ông vua hôn quân vô đạo, chơi bời trác táng, xa hoa, phung phí, một đêm nằm mơ thấy một cây trổ hoa đẹp… Cùng thời điểm ấy, tại Lạc Dương thành có ngôi chùa cổ kính là Dương Ly, vào giữa canh ba, ngoài cửa chùa thình lình ánh sáng rực lên như lửa cháy, hương thơm sực nức lạ lùng, như sao trên trời sa xuống, làm dân chúng bàng hoàng đổ xô đến xem đông như kiến cỏ. Gần giếng nước trong sân chùa mọc lên cây bông lạ, trên ngọn trổ một đóa ngũ sắc với 18 cánh lớn ở phía trên, 24 cánh nhỏ ở phía dưới, mùi thơm ngào ngạt bay tỏa khắp nơi nơi, lan xa ngàn dặm. Dân chúng đặt tên là hoa Quỳnh.
Điềm báo mộng của vua Tùy Dạng Đế được ứng với tin đồn đãi, nên Vua yết bảng bố cáo: “Ai vẽ được loại hoa Quỳnh đem dâng lên, Vua trọng thưởng”. Không đầy tháng saụ.. có một họa sĩ dâng lên Vua bức họa như ý. Nhìn đóa hoa trong tranh cực kỳ xinh đẹp, tất nhiên hoa thật còn đẹp đến dường nào! Nghĩ vậy, Vua liền quyết định tuần du Dương Châu để thưởng ngoạn hoa Quỳnh.
Trong chuyến tuần du cần có đủ mặt bá quan văn võ triều thần hộ giá, nên để tiện việc di chuyển, Tùy Dạng Đế ban lệnh khai kênh Vạn Hà từ Trường An đến Dương Châụ Hàng chục triệu ngày công lao động phải bỏ ra, hàng vạn con người phải vất vả bỏ mình. Kênh rộng cả chục trượng, sâu đủ cho thuyền rồng di chuyển. Hai bên bờ kênh được trồng toàn lệ liễu đều đặn cách nhau 10 mét một cây (cụm từ “dặm liễu” xuất phát từ đó, điển hình câu thơ: Dặm liễu sương sa khách bước dồn của Bà Huyện Thanh Quan). Kênh đào xong, một buổi lễ khánh thành được cử hành trọng thể, đoàn thuyền giương buồm gấm khởi hành… cả nghìn cung nữ xiêm y rực rỡ, mặt hoa da phấn… thuyền rồng được buộc bằng các dải lụa dùng để kéo đị Vua Tùy Dạng Đế ngồi trên mui rồng uống rượu nghe đàn hát ca sang ngắm cảnh Giang Nam và đàn cung nữ tuyệt thế giai nhân. Vua thấy nàng nào thích ý cho vời vào hầu ngaỵ Chuyến tuần du của bạo chúa Tùy Dạng Đế vô cùng xa xỉ, hao tốn công quỹ triều đình. Đây là một trong những nguyên nhân đẩy đất nước đến đói nghèo, loạn lạc khắp nơi, đưa nhà Tùy đến sụp đổ, dựng nên cơ nghiệp nhà Đường. Trong những quan quân hộ giá, có cha con Lý Uyên. Qua thời gian hơn 90 ngày, đoàn du hành đến đất Dương Châụ Thuyền vừa cặp bến, con của Lý Uyên phương danh là Lý Thế Dân cùng bằng hữu rủ nhau lén lút đi xem hoa ngay trong đêm, sợ sáng hôm sau triều thần cùng đi đông vầy lớp trẻ khó chen chân lọt vào vườn hoạ Lý Thế Dân là người có chân mạng đế vương (về sau là Vua Đường Thái Tông 627 – 649) nên giống hoa nhún mình lên xuống 3 lần để nghinh đón. Cánh hoa cong trắng nõn, nhụy hoa điểm xuyết màu vàng, hương hoa ngọt ngàọ Dưới ánh trăng vằng vặc hoa đẹp tuyệt vời! Xem xong, một cơn mưa to rụng hết.
Sáng hôm sau, Tùy Dạng Đế xa giá đến xem hoa, chỉ còn thấy trơ vơ cánh hoa úa rũ, tan tác!… Vua tức giận, tiếc công nghìn dặm không được xem hoa, ra lệnh nhổ bỏ, vứt đi! Từ đó hoa Quỳnh chỉ nở về đêm cho những ai có lòng lân ái: “Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”.
Qua cuộc tuần du, nhiều cuộc bạo loạn nổi lên khắp nơị Tùy Dạng Đế bị cận thần sát hại dẫn đến nhà Tùy mất ngôi, Lý Thế Dân đứng lên lập nên nhà Đường.
… Đến đời Đường Cao Tông, say đắm Võ Hậu, lúc Vua băng hà con còn nhỏ, Võ Hậu chuyên quyền nhiếp chánh hãm hại công thần, tự xưng vương, đổi nhà Đường thành nhà Đại Châu, xưng hiệu Võ Tắc Thiên hoàng đế. Một hôm, Võ Tắc Thiên ngự du vườn thượng uyển nhìn cỏ cây xác xơ trơ trọi liễu đào ủ rũ điêu tàn, liền truyền lệnh bằng bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn:
Lai triều du thượng uyển – Hỏa tốc báo xuân trị
Bách hoa liên dạ phát – Mạc đãi hiểu phong xuỵ
Dịch: (Bãi triều du thượng uyển – Gấp gấp báo xuân haỵ
Hoa nở hết đêm nay – Đừng chờ môn gió sớm).
Linh ứng thay! Trăm hoa phụng mệnh, chỉ trong một đêm bừng nở khắp vườn, mùi thơm sực nức nhân gian! Rạng sáng hôm sau, Võ Tắc Thiên dạo vườn trông muôn hồng ngàn tía ngoan ngoãn đua chen nở rộ, lấy làm tự mãn cho rằng quyền uy tột đỉnh. Bất giác, bà Chúa bạo dâm Võ Tắc Thiên nhìn đóa Mẫu Đơn bất tuân thượng mệnh, thân cây khẳng khiu cứng cỏi, không hoa lá. Giận thay cho loài hoa ngoan cố, Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam. Do đó, vùng Giang Bắc thiếu vắng loài hoa vương giả, biểu trưng cho quốc sắc thiên hương nhằm ám chỉ tuyệt sắc giai nhân. Người đương thời thấy vậy dệt bài Phú Ngọc Lâu Xuân Tứ nhằm thương hại và tán thán vẻ đẹp, sự khẳng khái của hoa Mẫu Đơn, thà chịu cảnh phong trần lưu lạc tự giải phóng cuộc đời chớ không làm vương giả chốn kinh đô, chịu giam mình trong vườn hoa tù hãm của bạo chúa, đem sắc đẹp hương thơm ban rải cho mọi người để được dự phần thanh caọ
Đó là truyền thuyết hoa Quỳnh và hoa Mẫu Đơn được đời sau dệt thành giai thoại đầy hấp dẫn qua thuyết Đường của Trung Quốc biểu thị cho người đời suy gẫm Hoa và Người: Ai là người xứng đáng thưởng hoa và hoa phải thế nào cho con người thưởng ngoạn.

HOA HUỆ DẠ HƯƠNG
Có lẽ trên đời này không có đủ sức mạnh nào có thể chia rẽ được quan hệ giữa thần Apôlông và chàng Ghiaxít, con trai của vua Xpáctát. Apôlông yêu quí Ghiaxít chẳng khác nào đứa em ruột của mình, và mọi người cho rằng họ sẽ không bao giờ xa được nhau. Con trai Thần Dớt vốn là người rất hâm mộ cái đẹp, sáng nào chàng cũng lên đỉnh núi để chào Mặt Trời vừa thức dậy sau một chuyến đi dài ngày vòng quanh trái đất. Trong những chuyến đi ấy của Apôlông, Ghiaxít bao giờ cũng tháp tùng theo.
Sau khi tiễn Mặt Trời đi xa, các chàng trai thường ghé lại thăm đàn gia súc đang được chăn thả trên các cánh đồng cỏ đẫm sương, khiến người chủ của bầy rất vui sướng vì được thần Apôlông ban phước lành. Những cánh đồng lúa chín vàng mà Apôlông lướt mặt qua, họ cũng đều tìm đến và được ban tặng một mùa lúa bội thu.
Khoảng giữa trưa, Apôlông và Ghiaxít cùng nghỉ lại trong một khu rừng sồi, nghe tiếng đàn áp của Ela. Khi hoàng hôn buông xuống, Apôlông lại cho mời các thi sỹ đến đọc thơ ca ngợi cái đẹp, tình bạn và tình yêu.
- Hỡi thiên thần của tôi, tôi xin đa tạ Người về việc tôi được làm kẻ hạnh phúc nhất trần gian – ngày nào Ghiaxít cũng nói với Apôlông như thế, và trong lời nói của chàng không hề gợn chút xu nịnh hay giả dối.
Một hôm, cả thần lẫn người đều dừng lại rất lâu bên bờ một con sông. Họ tắm mát, bắt châu chấu trong các bụi cói và thi ném thia lia. Tình bạn của họ thật tuyệt vời. Có lẽ do họ gây chuyện quá ồn ào nên nữ thần Nhim Pha phải dội nước chui lên, la hét:
- Ê, mấy chàng nghịch ngợm kia, chẳng lẽ không bớt la hét một chút được sao? Cha tôi đang nghỉ trưa đó.
Apôlông quay lại bờ sông, vứt luôn cái thia lia định ném đi. Chàng ngỡ ngàng trước một người đẹp mà chàng chưa từng thấy trong số các cô gái của họ nhà thần: gương mặt bụ, trắng như sữa, mái tóc xanh hệt màu cây cỏ, còn bộ ngực thì tròn đầy như hai trái táo đang độ chín. Vì quá sửng sốt, chàng nhào luôn xuống nước.
- Hỡi người đẹp, nàng là ai vậy? Và cha nàng là ai? – Apôlông hỏi.
- Cha tôi là Thần Sông, còn tôi là Đápna, con gái của người, – nữ thuỷ thần đáp.
Chẳng riêng gì Apôlông, các Thần khác nếu gặp Đápna cũng sẽ phải lòng nàng ngay từ giây phút đầu. Apôlông có cảm giác không khí quanh chàng nóng như thiêu như đốt, và chỉ có nước sông kia mới làm dịu mát được cơ thể chàng. Bị nữ thuỷ thần từ chối không cho được lại gần, Apôlông đâm chán ghét những chuyến leo núi buổi sáng, biếng nhác thơ ca, thậm chí sao nhãng cả tình bạn với Ghiaxít; chàng chỉ muốn được chia xẻ số phận với Đápna và được ở lại bên nàng, dầu có phải làm tôi tớ dưới thuỷ cung.
- Đápna ơi, nàng là cô gái tuyệt vời nhất trong số các cô gái tuyệt vời. Ta là Apôlông, thần ánh sáng đây. Hãy đi với ta và chia xẻ tình yêu cùng vương quốc với ta! – Apôlông khẩn khoản xin nữ thủy thần.
Đápna lắc lắc cái đầu đang đội vương miện nước óng ánh.
- Nàng chính là ái nữ kỳ diệu của đời ta, ngay đến Êlêna kiều diễm cũng không dám sánh cùng nàng! Apôlông chìa cả hai tay về phía Đápna và thốt lên.
- Chàng lúc nào cũng nóng nảy như mặt trời của chàng vậy – Nữ thủy thần ngụp luôn xuống nước, chỉ để hở gương mặt trắng trẻo như bông súng trắng trôi nổi trên dòng chảy.
- Đápna ơi, nếu em không lấy ta, ta sẽ liều mình theo em – Với một nỗi say mê cuồng nhiệt, Apôlông toan gieo mình xuống dòng sông.
Khoan đã, đừng làm nước nổi sóng lên, cha đang ngủ đó. Nếu đánh thức người dậy trước giờ hạn định, Người sẽ nổi giận, làm cho sóng nước cuộn lên và tất cả thuyền bè sẽ bị lật nhào hết, – Đápna ngăn Apôlông và tìm cách làm nguội lạnh ngọn lửa đang hừng hực nơi chàng.
Nàng nhặt cái thia lia ở dưới đáy sông lên đưa cho Apôlông và nói:
- Hãy để các thần phán quyết số phận của chúng ta. Em sẽ yêu một người nào đó trong số các bạn của chàng ném ba lần thia lìa xa nhất.
Ghiaxít thật đáng thương! Chàng hết lòng mong muốn cho bạn mình giành được chiến thắng, song, vì hồi hộp, Apôlông bị run tay, đã hai lần ném đều không thành, còn Ghiaxít, mặc dù rất ủng hộ bạn, nhưng cả hai lần chàng đều ném xa hơn Apôlông. Lần thứ ba, Ghiaxít buộc phải ném trúng đích. Apôlông lồng lộn, chàng vung cái thia lia lên nhằm trúng đầu bạn mà ném. Ghiaxít ngã xuống và thiếp đi một giấc ngàn thu. Đápna vô cùng xúc động. Thế là chàng trai tốt bụng đã phải chết vì tội lỗi của nàng!
Tới nửa đêm, khi mặt trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng trên khoảng rừng tùng bác thì Đápna và các bạn gái của nàng cùng nhô lên khỏi dòng sông. Họ lấy ánh sáng trăng thắp lên những ngọn nến có ánh lửa trắng, đỏ, xanh, hồng và vàng, rồi cắm xuống mảnh đất đã thấm máu Ghiaxít.
Đột nhiên, từ cánh rừng thông gần đó hiện ra một hình người bằng lửa phát ra sức nóng có sức thiêu đốt từ xa.
- Hãy chạy đi, hỡi các nữ thần, Apôlông đến đó – Đápna hét to và bỏ chạy.
Con gái của Thần Sông đã bị các thần trừng phạt. Họ biến nàng thành kẻ mất trí và chỉ cho nàng lối đi bấp bênh không phải ra ngoài sông mà là ra ngoài đồng không mông quạnh, để một ngọn gió nóng thiêu đốt đôi chân nàng và một luồng hơi thở khủng khiếp phả vào cổ nàng.
Đápna tuyệt vọng van xin nữ thần số mệnh cho nàng được biến thành cây nguyệt quế. Mong ước của nàng đã thành hiện thực, và trước mắt Apôlông, một cây hoa Nguyệt Quế đã xoè tán lá.
Các thần cũng như những tên bạo chúa, không bao giờ chịu thừa nhận tội lỗi của mình, ngay cả khi họ là những kẻ sát nhân. Không chiếm được trái tim Đápna, Apôlông càng ghen hơn với nàng vì Ghiaxít. Chàng đến chỗ mà người bạn của chàng đã ngã xuống, phảy tay dập tắt các ngọn nến.
Không hiểu vì sao Apôlông sau đó không thấy bén mảng đến chỗ ấy nữa, vì vậy những ngọn nến kia đã xoè nở hệt như những bông hoa, toả ra thứ hương hơi khó ngửi dường như là hơi thở của chính chàng trai trước lúc chết về hạnh phúc không thành đạt. Đó chính là loài hoa Ghiaxin – hoa Huệ Dạ Hương.

HOA SÚNG TRẮNG
Cả làng đang bước vào mùa cưới. Và cũng chẳng nên ngạc nhiên khi lucun, chàng trai sởi lởi và đáng yêu nhất vùng lại kết hôn với Lilia, người con gái hay lam hay làm, dễ thương nhất ở làng ấy. Thật quả là trai tài gái sắc.
Nhưng thời ấy có một con quỷ sông lang thang đây đó, chuyên nghề phá vỡ hạnh phúc của những đôi tân hôn. Một buổi chiều lucun ngồi trên bờ hồ chờ đợi Lilia đáp thuyền từ bên kia sông vượt sang. lucun đến trước, ngồi trên một gốc cây mơ màng nghĩ về niềm hạnh phúc lớn lao của mình. Vừa lúc ấy có một người lạ mặt tiến tới gần, lặng lẽ ngồi xuống một bãi cỏ ngay gần chàng và bắt chuyện.
Chờ đợi mãi mà chẳng thấy Lilia, lucun nghĩ rằng có lẽ người yêu đã quên mất cuộc hẹn hò, đôi tay chàng thốt nhiên run rẩy. Người lạ mặt tỏ ra rất tinh ý liền rút trong tay áo ra một cái chai, đưa cho lucun và nói rằng, đây là một phương thuốc chữa bệnh sầu não rất hiệu nghiệm.
- Chàng hãy uống thử một ly, chàng sẽ thấy tâm hồn thanh thản ngay – Người lạ mặt vừa nói vừa rót ra một ly rượu – một thứ thuốc độc và mời lucun thưởng thức.
Thế là nỗi sầu muộn dường như tan biến. Chàng lại cười nói minh mẫn như thường lện. Chàng nghĩ: nàng đến chậm có thể vì còn bận nhiều việc nhà.
Lát sau, người lạ mặt lại rót ra một ly rượu nữa, lần này là một ly rượu đầy tràn, chuốc cho lucun say mèm. Bây giờ đây chàng còn muốn nhảy múa ca hát nữa. Và Lilia trong khi ngồi trên thuyền vượt hồ nước đã nghe tiếng hát của lucun vẳng lại từ xa:
ở đây ta uống, ở đây ta chơi….
- Chàng làm sau vậy? – Lilia lo lắng tự hỏi. Nàng không thể hiểu được lucun đã kiếm đâu ra rượu độc, bởi lẽ người lạ mặt đã biến mất không để lại dấu vết.
Một tuần lễ sau, khi trên đường từ nhà người yêu trở về, lucun lại gặp người lạ mặt. Trông dáng vẻ chàng buồn rầu, không được tự nhiên. Thì ra là chàng mới bị bà mẹ vợ tương lai quả trách vì tội đã nhảy múa, hát hò, gây ồn ào một buổi chiều nọ. Người lạ mặt săn đón, hỏi dò vì sao chàng lại buồn, và chàng đã không giấu diếm gã nỗi lòng mình. ồ, chẳng việc gì phải buồn, ai mà chẳng biết được mụ phù thuỷ và bà mẹ vợ kia thực ra chỉ là một, chỉ cần nhắp một chút rượu thuốc này thôi là bao nhiêu nỗi buồn sẽ tiêu tan hết. lucun lại uống và càng uống nhiều, chàng càng cảm thấy trong người phấn chấn hơn. Chàng cứ tiếp tục uống nữa, uống mãi. Sáng ra, người nhà tìm thấy chàng đang nằm gục bên bờ giếng, chỗ đàn ngựa hay uống nước.
Cứ thế, mỗi lần lucun gặp chuyện bất hạnh gì đấy, người lạ mặt lại xuất hiện với cái chai cầm trên tay. Có bận Lilia tìm thấy người tình của mình nằm trên bờ hồ, toàn thân lấm lem và đang rên rỉ. Nàng gạn hỏi chàng rất lâu, cho tới khi lucun phải thú nhận rằng, chàng đã uống quá nhiều rượu của một người lạ mặt. Lilia hết lời van xin chàng hãy xua đuổi con quỷ rượu kia đi và tìm cách vượt qua nỗi bất hạnh của mình.
lucun hứa sẽ làm theo đúng lời nàng dặn. Còn người lạ mặt dường như đã nghe được câu chuyện giữa hai người nên không dám bén mảng đến nữa. Tuy vậy gã vẫn lén lút dúi chai rượu khi thì vào túi áo, khi thì đặt dưới gối lucun. Đối với lucun nếu không uống thì anh sẽ mất ngủ và trong đầu luôn luôn quay cuồng câu hỏi: lấy đâu ra tiền để mua sắm áo cưới và tổ chức yến tiệc?
Chỉ còn đúng ba ngày nữa là tới đám cưới; hôm ấy, sau khi đã chờ đợi vô ích lucun trên bờ hồ, Lilia bèn đích thân đi xem xét tại sao chàng lại không tới. Ngôi nhà và mảnh sân đã bị màn đêm bao phủ, từ phía cửa ra vào hé mở lọt ra một tia sáng xanh leo lét, Lilia tiến lại gần. Chuyện gì thế kia? Trên nắp thùng rượu, lucun và – lạy Chúa! – một người nữa đang đánh cờ. Chẳng lẽ lucun lại không nhận ra kẻ đang ngồi đối diện với chàng kia là một con quỷ lông xù tai dài, có cặp sừng và đang gõ gõ cái móng ngựa xuống nền nhà bằng đất sét đó sao? Từ trong đôi mắt ứa máu của quỷ phát ra một tia sáng xanh leo lét, lucun không nhận ra điều đó sap?
- át chủ bài! – Quỷ hét
Quỷ đã thắng và giơ bàn tay ra:
- Đưa chiếc nhẫn đây!
Còn lucun? Chàng đang tháo chiếc nhẫn, quà tặng của vợ, đưa cho quỷ.
Lilia toan hét lên, song vì sợ hãi và giận dữ, cổ họng nàng cứ tắc nghẹn lại.
- Tao cược một chai nữa – tiếng quỷ la – Mày cược gì?
- Tôi chẳng còn gì nữa cả – lucun phàn nàn – Tôi đã thua trắng tay, cả nhà cửa, của cải, thậm chí đến chiếc nhẫn cưới cũng mất.
- Mày còn cô vợ chưa cưới đó, đưa nàng ra cá cược nốt đi! Quỷ cười.
lucun thốt lên:
- Không được! Khác nào mày rút trái tim trong lồng ngực của tao.
- Hãy uống một hớp đã rồi thoả thuận sau – Quỷ đưa cho chàng cái chai và lucun đã tu thả sức.
- Cược Lilia nhé – Quỷ hỏi
- Không!
- Cược Lilia nhé?
- Hèm… – lucun thở dài.
- Uống đi!
Uống cạn ngụm rượu thứ ba, lucun thốt lên:
- Được! Chả lẽ trên thế gian này ngoài nàng ra không còn gái đẹp nữa sao?
Một tiếng rên thốt ra từ lồng ngực Lilia:
- lucun, anh làm gì thế?
Nàng chạy lại bên hồ, đôi chân rớm máu. Nhưng nhữn vết thương này làm sao có thể so sánh được với nỗi đau đang dày vò lương tâm nàng. Nàng không hề mảy may có ý nghĩ rằng trên đời này ngoài lucun nàng còn có nhiều chàng trai khác. Không, nếu lucun coi rượu của quỷ quý giá hơn cả nàng thì nàng chẳng nên sống làm gì. Thà nhảy xuống hồ tự vẫn còn hơn.
Sau khi bơi thuyền đến hồ, Lilia thốt lên:
- Vĩnh biệt tuổi thanh xuân của ta!
Nàng gieo mình xuống nước và ở lại đó vĩnh viễn, còn con thuyền thì bị gió đánh bạt sang bờ khác.
Đến lúc này, lucun mới hiểu rằng chàng đã đánh mất hạnh phúc của mình. Ngày nào chàng cũng đến ngồi bên hồ và chờ đợi một điều gì đó, hy vọng một điều gì đó, cùng với nỗi lòng chàng đầy phiền muộn và tiếc thương.
Nhưng một hôm, đúng lúc vào ngày lễ thánh, chàng nhìn thấy một bông hoa trắng trôi nổi, bập bềnh trên mặt nước, và không hiểu tại sao chàng cứ đinh ninh đó là Lilia, người vợ chưa cưới của chàng đã mất tích ba ngày trước khi cưới. Và chàng nghe có lời ca vang xa trên hồ nước:
Bông hoa trắng trên hồ
Đó là người bạn đời của ta
Nhưng liệu có lời đáp lại không?
Không, chàng lại nghe rành rọt những lời sau:
Thà ở lại vĩnh viễn đáy hồ
Còn hơn trong vòng tay ôm ấp của chàng
Đó chính là Hoa Súng Trắng – Hoa của hồ nước.

HOA BẰNG LĂNG
Ngày xưa Ngọc Hoàng có mười hai nàng công chúa. Mỗi người một vẻ , không ai thua ai. Ngọc Hoàng rất thương mười hai nàng công chúa của mình. Một hôm Ngọc Hoàng bảo ta sẽ cho các con làm chúa của các loại hoa dưới nhân gian. Cô công chúa đầu thì đòi làm chúa của loài Hoa Hồng, Cô kế làm chúa loài hoa Mẫu Đơn, rồi Hoa Lan, Huệ, v.v…. Chỉ riêng cô công chúa Út 0 biết mình phải làm chúa hoa gì nữa. Cô lặng lẻ âm thầm đứng yên mãi đến khi Ngọc Hoàng lên tiếng.
- Hỡi nàng công chúa Út của ta, con muốn làm chúa loài hoa nào? Ta sẽ cho con toại nguyện.
Công Chúa Út suy nghĩ mãi vẫn chưa ra thì cô ta nhìn tà áo tím thướt ta của mình. Từ nhỏ cô đã thích màu tím. Vì thế cô xin với Ngọc Hoàng.
- Dạ tâu phụ hoàng, con rất thích màu tím ngây thơ. Xin Phụ Hoàng cho con làm chúa loài hoa mang màu tím.
Ngọc Hoàng suy nghĩ mãi mới quyết định cho nàng công chúa Út làm chúa hoa Bằng Lăng Tím.
Cùng lúc đó ở dương gian có chàng thư sinh nghèo, thấy loài hoa tím bằng Lăng vừa xinh lại dịu dàng. Chàng liền lấy về nhà trồng rồi mỗi ngày chàng điều ngắm loài hoa tím. Mỗi năm đến mùa hoa nở chàng thư sinh chết mê mệt với sắc màu tím và dần dần chàng lại đem lòng yêu thương hoa Bằng Lăng Tím. Cũng cùng lúc nàng công chúa Út của chúng ta cũng đem lòng suy mê văn tài của chàng thư sinh. Công chúa xin Ngọc Hoàng được xuống dương gian làm vợ chàng thư sinh. Ngọc Hoàng cương quyết 0 cho. Cô Công Chúa Út từ đó suy tư và không biết bao nhiêu chàng công tử trên trời đến cầu hôn nàng điều khướt từ. Và từ đó loài hoa Bằng Lăng càng ngày càng phai nhạt màu tím đi. Chàng thư sinh vẫn một lòng si tình hoa Bằng Lăng Tím.
Thế nên từ đó loài người cho Hoa Bằng Lăng là loài hoa chung thủy, sự ngây thơ của màu tím đã tượng trưng cho tình đầu của thuở học trọ.

HOA BÁCH HỢP
Những giọt nước mắt nào có giúp được gì! Giắc sẽ phải lên đường chinh chiến ở một xứ xa lạ, đành bỏ lại Lilia, người vợ chưa cưới của mình trên đất Pháp. Lúc chia tay, Giắc rút trái tim ra khỏi lồng ngực mình, trao cho Lilia và nói:
- Ðã là chiến binh thì phải sống không có tim. Trái tim chỉ gây phiền hà cho ta. Nàng hãy giữ lấy nó chờ ta về.
Lilia giấu trái tim của Giắc vào một cái tráp bạc và từng ngày, từng ngày chờ đợi người yêu quay trở về. Với một người đang trông đợi thì thời gian mới chậm chạp làm sao! Một ngày dài bằng cả năm, một năm bằng cả thế kỷ. Dù Lilia có làm gì và có đi đâu thì cái nhìn của nàng lúc nào cũng hướng về phía mà Giắc đã ra đi. Nàng đã mất thói quen tính ngày, tính tháng. Một lần nàng rất phẫn uất khi người cha nói với nàng:
- Con gái của ta, thế là đã mười năm trôi qua kể từ ngày người yêu cả con xông pha nơi trận mạc, không chắc nó có hồi hương. Ðã đến lúc con phải lo tấm chồng khác rồi đấy.
- Cha ơi, cha mà lại nói với con như vậy ư? – Nàng đau đớn nói với cha – Giắc đã trao trái tim của chàng cho con rồi và bây giờ trái tim ấy đang ở chỗ con, con không thể nào quên Giắc được đâu cha ạ.
Người cha chỉ biết lắc đầu, thở dài não nuột. Chắc chắn là ông không thể sống cho đến ngày ông được bế trên tay một đứa cháu trai.
Hai mười năm nữa qua đi, cuộc chiến cũng vừa tàn, các chiến binh lục tục trở về, người thì chống nạng, kẻ thì tay áo lủng lẳng. Lilia chờ đợi Giắc, nàng hỏi tin chàng khắp nơi, nhưng vẫn chẳng nhận thêm được điều gì.
- Có lẽ chàng đã phải lòng người con gái khác và ở lại xứ người rồi, – có lần em gái Lilia tỏ ý nghi ngờ, song Lilia không thể tin điều đó.
- Chàng có thể yêu người khác sao được một khi trái tim chàng đang còn ở chỗ ta? Một người không có tim thì không thể yêu được!
hoaloaken.jpgChiến tranh đã qua rồi, nhưng một con người không có trái tim như Giắc, suốt trong những năm tháng ấy chỉ quen chém giết, cướp bóc không biết ghê tay, bây giờ chàng sống theo kiểu khác rồi. Chàng trở thành thủ lĩnh một băng cướp ở xứ người và nhiều khi còn trấn lột vàng bạc của quý của người qua đường.
Khi tên cướp già Pie bị ốm, Giắc đã thẳng tay đuổi ra khỏi băng cướp. Sau này, khi quyết định phải trả thù thủ lĩnh, Pie liền tìm đường về quê hương của Giắc với mong muốn kể cho họ hàng thân thích và người quen biết Giắc hiểu rõ rằng, Giắc đang làm một công việc tầm thường như thế nào.
Pie phải đi mất cả chục năm mới về tới nước Pháp vậy mà vẫn không tìm thấy làng quê của Giắc. Và người đầu tiên mà gã ta gặp là một bà già tóc đã bạc phơ, có cái nhìn khắc khoải.
- Bà có biết Giắc không? – Pie hỏi
- Ôi lạy chúa, ông hỏi tôi về chuyện gì vậy? – người đàn bà kêu lên – Giắc là chồng chưa cưới của tôi, là người tôi đang mòn mỏi trông chờ, tôi không biết sao được? Hãy làm ơn nói mau, hiện chàng đang ở đâu và chàng đã gặp điều gì chẳng lành?
Pie thấy trong cặp mắt người đàn bà vẫn còn đang cháy lên niềm hy vọng, và gã hiểu ngay rằng bà vẫn còn yêu Giắc cháy bỏng như thời còn son trẻ. Gã không nỡ nói hết sự thật kinh hoàng về Giắc.
- Vậy ra bà là vợ chưa cưới của Giắc đấy! – Pie thốt lên.
- Phải, tôi là Lilia, chúng tôi đã thề nguyện với nhau.
- Ôi, tôi mang đến cho bà một tin buồn – Pie cụp mắt xuống – Giắc đã lao vào cuộc chiến như một dũng sĩ. Anh ấy mới yêu bà làm sao! Trước lúc nhắm mắt, anh ấy cứ nhắc mãi cái tên của bà – Lilia.
Giắc của ta đã chết và đã yên giấc ngàn thu – Lilia đau buồn nghĩ – Nhưng chàng nằm xuống đất sao được khi chàng không có tim? Ta phải đi tìm mộ chàng và trả lại cho chàng trái tim nhân hậu đáng yêu.
Ôm cái tráp bạc, Lilia bắt đầu một cuộc hành trình gian khổ đến những miền đất xa xôi. Bà mất cả thói quen tính ngày, đếm tháng, nhưng gặp ai bà cũng hỏi thăm đường. Mọi người can ngăn bà không nên đi tiếp khi chỉ có một mình, vì biết đâu sẽ gặp bọn cướp ác độc, song Lilia không nghe. Quả nhiên, đến một khúc đường ngoặt, bà bị mấy tên cướp râu xồm trấn mất cái tráp đựng báu vật. Bà khóc lóc, vật nài, kể lể về mối tình bất hạnh của mình với Giắc, nhưng tất cả điều đó không hề làm bọn cướp động lòng. Bọn cướp mang cái tráp về dâng thủ lĩnh. Chúng vừa cười hô hố vừa thuật lại chuyện một bà già mất trí đi tìm mộ chồng để trao cho chồng trái tim mà ông ta đã trao cho bà làm tin trước lúc ra trận.
Trong lúc bối rối, thủ lĩnh toán cướp bèn mở tráp ra và trông thấy trái tim của chính mình mà bao năm tháng qua đã bị mất. Và thật lạ lùng, trái tim đã nói với người chủ của nó bằng tiếng nói của con người:
- Nếu còn là người, chớ có nói cho Lilia biết người là cái hạng gì. Hãy cứ để cho Lilia tin rằng người đã chết, như vậy bà ta sẽ giữ được trọn vẹn những kỷ niệm tốt đẹp về người.
Giắc vội vàng đậy nắp tráp lại và ra lệnh cho bọn đàn em phải đem trả lại ngay cho bà già, đồng thời phải chỉ cho bà thấy một nấm mộ cỏ mọc xanh rì, làm như đó là mộ của Giắc. Dọc đường đi, bọn cướp quyết định giữ cái tráp lại, song chúng vẫn không quên chỉ cho Lilia nấm mộ theo ý của Giắc.
Người đàn bà bất hạnh giờ đây vẫn còn mang tình yêu với Giắc như hồi còn trẻ, và bà không nỡ rời bỏ Giắc khi Giắc không có trái tim bên mình. Thế rồi bà đã lôi trái tim từ lồng ngực của mình ra vùi xuống nấm mộ, nơi bà nghĩ có hài cốt của Giắc.
Từ nơi trái tim ấy đã mọc lên một bông hoa, mà đời nay vẫn gọi là bách hợp,  Loài hoa tượng trưng cho sự trinh trắng, lòng chung thuỷ và cao thượng.

HOA NHÀI
Từ thuở xa xưa, tất cả các loài hoa đều có màu trắng. Nhưng một ngày kia có một hoạ sỹ đã đến khu vườn mang theo một hộp to đựng các loại mực màu và một nắm bút lông. Chàng nói với các loài hoa và các khóm hoa:
- Tất cả hãy lại gần ta và nói cho ta biết ai thích màu gì.
Lập tức các đám hoa và cây cối trong vườn bèn đứng vào chỗ theo hàng lần lượt, bởi vì loài nào cũng muốn chọn cho mình thứ màu rực rỡ nhất. Chỉ có Nhài là đứng gần hoạ sỹ hơn cả. Nó nói rằng, nó muốn hoa của nó phải có màu vàng vàng như màu của tóc của thần Mặt Trời mà nó hằng yêu mến.
- Mi dám cả gan len lên trước nữ hoàng Hoa Hồng ư? – hoạ sỹ đẩy Nhài sang một bên.
- Tôi không hề len lách, tôi từng đứng ở đây nhiều năm rồi, – Nhài tức giận đáp lại.
- Nhưng mi cần phải hiểu rằng, ai là người có quyền được đứng lên hàng đầu – Hoạ sỹ giải thích – Mi phải chịu hình phạt đứng cuối và muốn gì thì phải xin ta.
- Ngài nhầm rồi, thưa ngài, tôi sẽ không cầu xin ai hết – Nhài trả lời và vẫn đứng yên tại chỗ cũ.
Họ sỹ trò chuyện rất lâu với các chị Hoa Hồng. Các bà hoàng kiêu hãnh này không chọn cho mình được một thứ màu nào cả! Họ muốn cả màu đỏ thắm, màu vàng, màu hồng rồi màu da cam. Họ chỉ chê màu xanh lơ thôi, bởi đó là thứ màu quá xuềnh xoàng, quê kiểng. Để màu xanh lơ không khỏi uổng phí, hoạ sỹ bèn đem quét lên hoa Lưu Ly và hoa Xa Cúc, mặc dù hai loài hoa này rất mê màu đỏ thắm. Nhưng hoạ sỹ cứ khăng khăng rằng, với các anh chị nhà quê này thì màu xanh lơ là hợp hơn cả.
Hoa Anh Túc mỉm cười thật nhã nhặn với hoạ sỹ và hoạ sỹ đã phóng tay phết màu thật dày lên người nó. Hoa Cẩm Chướng thì hết lời phỉnh nịnh hoạ sỹ và nó đã được đền bù một cách xứng đáng. Hoạ sỹ lưu lại ở khu vườn mấy hôm liền, và chàng đã ban phát cho các loài hoa đủ loại màu sắc khác nhau.
Hoa Ngưu Bàng lá rộng thì lại tỏ ra rất mực khiêm tốn. Khi được hỏi thích loại màu gì, nó chỉ đáp cụt lủn: “Màu gì cũng được!”. Hoạ sỹ bèn bôi màu xám cho nó rồi hỏi nó có hài lòng không, nó chỉ nói: “Tôi biết, tất cả các màu mực có sắc rực rỡ, chàng đã gần cạn. Nếu ai cũng thích rực rỡ như nữ hoàng Hoa Hồng thì không còn ai nhận ra được vẻ đẹp riêng của từng loài hoa nữa!”
Những nàng Păngxê bé xíu vây quanh hoạ sỹ và chào mời rất lịch thiệp. Đối với hoạ sỹ, chúng chẳng khác những đứa em gái bé bỏng, và chàng đã dùng sắc màu biến chúng thành những bông hoa nho nhỏ vui nhộn.
Hoa Tử Đinh Hương lại muốn trả ơn hoạ sỹ theo cách riêng của nó, nếu chàng không tiếc màu cho nó:
- Về mùa Xuân, chàng có thể bẻ cành của tôi và đem tặng người yêu của mình được đấy. – Tử Đinh Hương nói – Cành của tôi càng được bẻ nhiều thì tôi càng khoe sắc lộng lẫy.
- Mi nói năng bất nhã lắm, vậy mi phải mang màu trắng, – hoạ sỹ giận dỗi gạt Tử Đinh Hương sang một bên. Nhưng rất may là nó đã được các chị gái của mình ban tặng cho những thứ màu tuyệt vời.
Hoa Bồ Công Anh dâng lên hoạ sỹ một cốc Xmêtana (váng sữa). Hoa Nhài chỉ biết tròn mắt nhìn hoạ sỹ chuyển giao cơ man nào là màu vàng, loại màu mà Nhài vốn ưu thích, cho Bồ Công Anh. Trong lúc mải mê với màu vàng, hoạ sỹ bỗng sực nhớ tới Nhài, loại hoa đầu tiên mà chàng đã gặp.
- Thế nào cô bạn? – Hoạ sỹ nhếch mép cười với Nhài – Thứ màu này còn ít lắm, nhưng nếu mi tỏ ra biết điều, ta sẽ cho tất.
- Ta không cần cầu xin,. – Nhài đáp.
- Vậy là sao? – Thái độ bướng bỉnh của Nhài khiến hoạ sỹ bực mình – Thôi được, nếu mi không dám nêu yêu cầu của mình thì mi hãy phục xuống đất, cho dù phải chịu còng lưng.
- Tôi thích õng ẹo chứ không muốn còng lưng! – Nhài kiêu hãnh đáp lại.
Hoạ sỹ vì quá tức giận đã trút tất cả màu vàng còn lại vào mặt Nhài và hét:
- Mi là cái thá gì mà không chịu cầu xin và hạ mình! Vậy vĩnh viễn với mi sẽ chỉ là màu trắng!
Vì thế Hoa Nhài mảnh dẻ vẫn mang những cánh trắng muốt như xa xưa mà chúng ta vẫn thấy ngày nay.

HOA BẤT TỬ
Hoa bất tử – một loài hoa không xa lạ gì với chúng ta, nhất là những người đang yêu. Thế nhưng không phải ai cũng đã có cái may mắn được nghe câu chuyện về loài hoa này, với một câu chuyện tình đẫm nước mắt của một chàng trai nghèo khổ với một cô gái xinh đẹp…
Chuyện kể rằng có một đôi trai gái yêu nhau thắm thiết. Một ngày nọ, người con gái ước ao có được chùm hoa quí ở trên một đỉnh núi cao nhiều người biết đến nhưng không sao hái được, vì nghe đâu, đỉnh núi rất cao, trong khi hoa thì chỉ nở vào mùa đông tuyết phủ dày đặc nhất. Như vậy, người nào muốn trở thành chủ nhân của loài hoa quí hiếm ấy sẽ phải vượt qua mọi con đường băng tuyết, chinh phục đỉnh núi cao nghìn mét mới hái được hoa.
Chiều lòng người yêu, chẳng quản gian khổ nhọc nhằn, chàng trai đã từ biệt cô gái vào một ngày đầu xuân băng giá đang tan, để lặn lội đến nơi có chùm hoa quí. Khi tới chân núi, tiết trời đã sang thu, chàng quyết tâm ngay lập tức trèo lên đỉnh núi để kịp mang hoa quí về cho người yêu đúng vào mùa xuân để kỉ niệm tròn một năm họ xa nhau.
Chàng leo, leo mãi từ mõm đá sắc nhọn này đến mõm đá sắc nhọn khác, mặc cho mưa rơi, mặt cho tuyết phủ, mặc cho băng giá quây quanh chàng vẫn trèo, mặt hướng về phía đỉnh núi cao, bò rạp cả thân hình xuống để tập trung mọi sức lực trèo lên đỉnh núi. Đói, khát, lạnh cóng… Không làm chàng lùi bước.
Cho đến một ngày đông có ánh mặt trời le lói, chàng trai đã hoàn toàn kiệt sức và không thể trèo lên đỉnh núi cao nữa. Chàng quay xuống vào đúng cái ngày tròn một năm xa cách người yêu trong tư thế quỳ rạp xuống, nhưng gương mặt vẫn hướng về phía đỉnh núi mà người ta lưu truyền là có loài hoa quí. Chàng tắt thở vì kiệt sức.
Và kì lạ thay, nơi chàng trai ngã xuống đã mọc lên một chùm hoa đỏ thắm như máu con tim, có thân mềm yếu nằm rạp xuống đất, nhưng đóa hao lại tươi thắm sắc đỏ và vươn về phía có đỉnh núi. Về sau, người ta lại tìm thấy loài hoa lạ nơi nấm mồ chàng trai trẻ và để kỉ niệm mối tình bất diệt của chàng người đời đã đặt tên cho loài hoa ấy là hoa bất tử.
Hoa bất tử chẳng ai bán mà cũng chẳng ai mua. Người dân ở vùng núi cao nơi chàng trai hi sinh vì tình yêu đả lên núi ngắt lấy đóa hoa màu đỏ thắm vì chẳng thể lấy được cành hoa mềm rũ, yếu ớt, nên họ chỉ ngắt lấy bông hoa đem về phơi khô làm thuốc uống và quà tặng. Cũng thật kì lạ, khi phơi những đóa hoa ấy dưới nắng mặt trời thì bông hoa se lại và cánh thêm tươi thắm sắc màu. Người dân lấy những cành cây vót nhọn đầu và cắm hoa bất tử khô lên đó, làm những chiếc lá giả quanh cành cây tạo nên những cành hoa thật đẹp, và họ đem tặng nhau vào những dịp lễ hội. Còn những cặp trai gái lấy đó làm tặng truyền thống quý báu vào ngày Lễ tình nhân 14/2.
Có nơi gọi hoa bất tử là cúc dại, hoa tình yêu. Song, dẫu với tên gọi nào thì nó vẫn luôn mang trong mình một ý nghĩa cao đẹp: Tình yêu là bất tử, giống như hoa bất tử – loài hoa không bao giờ chết trong gian khổ khó khăn.

HOA TRINH NỮ
Thuở ấy, nhà nọ từng có hai kiếp đàn bà, cả hai kiếp đến lượt mình, đều chôn chân thờ chồng đi lính.
Hai người đàn ông lần lượt ra đi, nhưng người về thì chỉ một. Người chiến binh dũng cảm ấy về làng trong tiếng tiền hô hậu ủng, xênh xang trong mũ áo vua ban và làm vẻ vang cho dòng họ. Nhưng khi đón chồng, người đàn bà thứ hai khóc thầm: “Cân đai, mũ áo, bổng lộc vua ban… tất cả đều đẹp nhưng mái đầu ta và ông ấy tự lúc nào đã ngả sang màu sương!…”
Vậy nên, kiếp đàn bà thứ ba vừa lọt lòng và nhoe nhoe khóc, thì cả bà, cả bố và mẹ cô bé chắp tay: “Lạy Phật! Lại thêm một cái tội nữa. Nhưng lần này, chúng ta sẽ không gả nó cho bất kỳ một người lính nào đâu nhé. Hai đời, chúng ta đã đợi chờ đến bạc tóc, thế còn chưa đủ sao?”.
Cô bé lớn lên mơn mởn như nụ hồng. Từ nhỏ đến lớn cả nhà không cho cô được nói chuyện với bất cứ một người lính nào để cô giữ lời nguyền thuở trước.
Một buổi sáng, xa xa vẳng tới tiếng trống ngũ liên. Cô gái bước ra vườn, đến bên bờ giậu đẫm sương. Chàng trai nhà bên đang gấp gáp khăn gói lên đường. Vốn là đôi trẻ vẫn cũng nhau chơi trò “đố lá”, họ cùng nhìn nhau rồi cùng cúi mặt, lớp lông măng ngăm ngăm trên mép chàng trai khẽ rung. Tiếng trống thúc dồn. Chàng trai đánh bạo:
- Thế… có chờ… không?
- Sao không hỏi xem bông tầm xuân có nở trước khi mặt trời lên không? – Cô gái cắn môi, nước mắt lăn tròn trên má.
Và thế là mặt chàng trai đỏ đến tận chân tóc. Lâng lâng như vừa được chắp cánh, chàng bấm bụng: “Ta có thể ra đi, dù “da ngựa bọc thây”.
Cô gái trở vào, mắt ngấn nước và thẫn thờ như người ốm, trong tiếng trống ngũ liên xa xa thúc dồn. Vậy là cả nhà biết. Họ trách lẫn nhau, rồi hai người đàn bà ôm nhau khóc. Bà cô gái thắp ba nén hương khấn người chồng quá cố: “Ông ơi! Có lẽ cháu ông đúng, bởi tôi nghiệm rằng, nếu bây giờ ông sống dậy, lại ra trận, thì tôi vẫn chờ ông. Ôi! Cái kiếp đàn bà!…”. Mẹ cô gái nức nở: “Chỉ tại mẹ thôi, chính mẹ đã truyền cho con dòng máu “đợi chờ”! Con làm sao khác được!”. Ông bố cố gạt đi: “Thì cũng phải có một đứa con gái nào đó chờ thằng bé ấy chứ, cũng như ngày xưa, trong căn nhà này bà chờ tôi vậy! Bây giờ, chỉ còn biết mong sao thằng bé ấy trở về!”.
Nhưng thằng bé không sớm trở về. Chàng tân binh hăng hái giết giặc trong vài trận rồi ngôi sao chiếu mệnh mỉm cười với chàng ta, đấng quân vương vốn giỏi chọn người, vừa nhìn thấy chàng trai đã nhận ra ngay rằng đây là một tên lính hầu trung thành vô hạn. Thế là, ngài cho rút chàng trai về, ngày đêm cận kề bên ngài, một bước cũng không được rời xa. Khi còn giặc giã, vua cần chàng đưa vồng ngực vạm vỡ ra che làn đạn giặc, còn khi hết giặc, vua càng cần chàng hơn, để giữ gìn quyền uy tối hậu. Chàng là lưỡi kiếm “trừng phạt” tuyệt hảo, sẵn sàng giáng xuống đầu bất kỳ ai, theo lệnh đấng quân vương.
Đã mười bảy năm rồi, cô gái chờ người lính ấy. Từ một thiếu nữ như nụ hoa chớm hé, nàng đã trở thành một cô gái quá lứa nhỡ thì. Bà nàng, rồi cha mẹ nàng theo nhau lần lượt trở về cõi Phật. Trước khi nhắm mắt, họ đều gọi con gái đến bên giường dặn dò: “Mai ngày nếu sinh con gái…”. Cô gái lặng lẽ khóc khi bà và bố mẹ mất, lặng lẽ khóc khi người yêu của chúng bạn trở về hay tử trận và cuối cùng, lặng lẽ để tang người yêu năm xưa, vì đã mười mấy năm rồi, chàng biệt vô âm tín.
Thế rồi một buổi chiều có tiếng vó ngựa ghé sát bên thềm.
Bước xuống từ yên ngựa là một người đàn ông phong trần và nhìn mọi vật từ trên xuống qua ánh mắt lạnh lẽo như thép. Ngang lưng anh ta thắt chiếc đai vàng vua ban. Đó là phần thưởng sau khi anh ta lập được công đâm vào lưng người bạn cũ. Người bạn này đã cả gan ngăn vua khi ngài hạ lệnh chém một danh tướng. Ông này chỉ vì mắt kém mà trót dâng vua một quả táo bị sâu ăn. Sau bữa tiệc ngập máu ấy, vua đã cất nhắc anh ta và cho phép anh ta về thăm nhà sau mười mấy năm xa cách. Mười mấy năm qua, người lính đó vẫn không quên người yêu xưa. Giữa cuộc đời bụi bậm, giữa triều đình đầy mưu kế sâu độc, cô trinh nữ nhà lành cắn môi cố nuốt giọt nước mắt chia ly vẫn không mờ nhạt mà thật lạ kỳ, lại càng như vầng trăng xa thẳm gọi anh về.
Người con gái lỡ thì bước tới vài bước rồi sững lại. Nàng hoang mang tự hỏi, không biết đó có phải là chàng trai hàng xóm năm xưa rụt rè mãi mới dám hỏi: “Thế… có chờ… không?”. Nhưng khi người đàn ông ấy gọi tên nàng bằng giọng nói thân thuộc, nàng khóc, tiếng khóc nghe như ngàn mảnh thủy tinh rơi, vì nàng phải chờ đợi quá lâu, và người nàng chờ nay đã biến thành người đàn ông có cái nhìn lạnh lẽo như thép.
Làng xóm đua nhau chúc mừng nàng. Các ông làm nghề “gõ đầu trẻ” đem mối tình chung thủy của hai người rao giảng trong các lớp học. Thế là từ đấy có thêm nhiều cậu bé chỉ mơ về chiến trận. Mơ về một mai mình được hầu cận đấng quân vương. Còn những cô bé thì chỉ ao ước sao mai này lớn, được chờ người yêu đến khi lỡ thì!
Không chậm trễ gì, người ta làm lễ cưới cho đôi tình nhân chung thủy. Vua ban áo tím cho nàng trinh nữ lỡ thì và đám cưới trọng thể hết chỗ nói. Hoàng hôn xuống, cạnh chén rượu bên mâm cỗ, quan khách tròn xoe mắt nghe chú rể kể chuyện. Mười mấy năm hầu cận vua, anh ta đã quen tính kín miệng. Và chỉ bốc lên khi rượu đã ngà ngà. Nhưng anh không biết nói chuyện gì khác, ngoài chuyện chém giết. Anh kể về những bữa tiệc đầy sơn hào hải vị ngập máu trong thời bình và say sưa mô tả các kiểu chết của nhiều người khác nhau dưới tay kiếm của anh. Cuối cùng, vì sao vua đã ban cho anh ta chiếc đai vàng.
Người trinh nữ nghe chuyện của chồng mới cưới và nàng đứng không vững nữa. Lảo đảo, nàng lùi dần về buồng. Nép mình trên giường trong bóng tối, nàng như ngửi thấy mùi tanh lợm của máu, và trên mặt nàng như có làn môi lạnh toát của những oan hồn lướt qua. Nàng vùng dậy, run lật bật, vội vàng châm lửa lên tất cả các ngọn đèn dầu lạc mà nàng tìm được trong buồng. Ánh đèn chập chờn đỏ quạch càng làm nàng thêm sợ hãi.
Vừa lúc đó, có tiếng kẹt cửa. Thân hình to lớn của người chồng mới cưới chếnh choáng tiến vào. Theo thói quen, anh ta vẫn mang theo thanh kiếm. Nàng nhìn lên, và thấy anh không vào một mình. Theo liền sau anh là một người đàn bà trong veo, tóc xoã – chỉ có bộ tóc là còn màu sắc – mặc quần áo đại tang, đang cầm một tấm áo đẫm máu giơ lên và cất giọng đều đều một cách kỳ lạ, lặp đi lặp lại như không bao giờ dứt:
-Hãy trả chồng cho ta! Kẻ giết bạn kia, trước khi mi bước vào giường cưới! Hãy trả cha cho năm đứa con thơ dại của ta! Hãy trả…
Vậy mà chồng nàng không nghe thấy gì cả, anh dựng thanh kiếm vào vách, rồi xáp tới đặt tay lên ngực nàng. Ngay lúc đó, nàng nhìn thấy máu từ tấm áo trong tay người đàn bà xoã tóc rỏ xuống hai bàn tay người chồng mới cưới. Nàng ôm mặt rú lên kinh hãi:
- Ôi kìa, máu! Máu nhiều quá! Máu đỏ cả hai bàn tay!
Chồng nàng giật mình nhìn lại. Anh vẫn không thấy gì cả, ngoài những vết sẹo ngang dọc nơi bàn tay mình. Anh dỗ dành:
- Ồ! Can đảm lên, cô em ủy mị! Chẳng qua là vì em quá hồi hộp đó thôi! Đã bao ngày ta chờ phút giây này. Nào, hãy vui lên.
Anh nói vậy, nhưng miệng không cười và mắt vẫn lạnh như thép, cũng như từ ngày về đến giờ, chưa một ai nhìn thấy anh cười. Người trinh nữ bỏ hai bàn tay che mặt. Nàng không nhìn thấy người đàn bà tóc xoã nữa, nhưng trên khuôn mặt đang gần xuống mặt nàng, nàng chỉ thấy khóe miệng mím chặt và cái nhìn lạnh lẽo như cái nhìn của Thần Chết. Lại sợ hãi cuống quít, nàng van vỉ:
-Hãy mỉm cười đi anh! Em van đấy! Hãy cười lên để em thấy anh của ngày xưa. Bao năm chờ đợi, em đâu muốn anh buồn…
Người chồng cố hết sức để mỉm cười. Đã lâu lắm rồi anh không làm cử chỉ đó nên bây giờ anh không biết bắt đầu một nụ cười như thế nào. Khó nhọc lắm, anh mới nhớ ra rằng, khi cười người ta phải để lộ ít nhất là một hàm răng. Anh nhếch môi, để lộ hẳn hai hàm răng chắc khỏe.
Nhưng anh quên rằng, khi người ta cười, chính đôi mắt cười trước, cái miệng cười sau, thậm chí chỉ cười bằng mắt cũng đủ. Mà đôi mắt muốn cười, trước hết tâm hồn phải cười đã, cho nên cố gắng để mỉm cười, trông anh lại thêm vẻ dữ dằn đe dọa của một con sói. Ngay lập tức, vợ anh co rúm lại và quay mặt vào trong, thổn thức cố kìm tiếng khóc.
Người chồng buồn bã soi trong tấm gương cười, ngắm kỹ mình, rồi tuyệt vọng:
- Thôi, thế là hết, cả một đời chờ đợi! Em chối từ ta, em ghê tởm ta ư?
Anh rũ xuống thành giường, rồi gầm lên như một con thú bị thương:
- Tại sao em chờ ta cả đời, để rồi chối từ ta? Tại sao em bắt ta phải cười! Còn đâu nữa chàng trai với lớp lông măng trên mép ngày xưa! Ta đã trở thành “người đàn ông không cười” của triều đình, từ khi bàn tay này nhúng vào máu bạn bè, bên những bàn tiệc đầy sơn hào hải vị. Đấng quân vương sai ta giết hết những kẻ bất tuân thượng mệnh bằng các chiếc đũa. Trong mọi chiếc đũa nạm vàng nơi bàn tiệc đều có một lưỡi dao tinh tế giấu ở trong…
Anh nức nở, đôi vai rung lên dữ dội:
- Ôi! Bạn ta! Người bạn đã cùng ta tựa vào lưng nhau tìm hơi ấm chống đỡ cơn gió lạnh chiến hào. Thôi, thế là hết và đây là đêm tân hôn vĩnh biệt, phần thưởng cuối cùng cho người lính quá nửa đời phụng sự đấng quân vương.
Tiếng nức nở dữ dội của người chồng mới cưới rung chuyển cả căn phòng. Rồi xách kiếm trên tay, anh bỏ đi biệt xứ. Có người nói rằng anh đã đến tìm vua, định bắt vua phải đền tội đã biến anh thành người đàn ông không biết cười. Nhưng vua đã kịp giết chết anh trước, bằng chính một trong những chiếc đũa nạm vàng nơi bàn tiệc. Cũng có người bảo rằng anh lại lao vào những cuộc chém giết mới không ghê tay cho quên ngày tháng.
Chỉ còn lại nơi quê nhà người trinh nữ lỡ thì. Nàng sống âm thầm như cái bóng, mà không một lần nghĩ đến chuyện tự giải thoát bằng cái chết. Nhưng cái tật hễ có tiếng chân hay tiếng động mạnh là đưa tay lên ôm mặt thì nàng không sao bỏ được.
Một hôm, người xã trưởng được mời đến để làm giấy chứng tử cho nàng. Nàng chết mà hai tay che mặt, người khâm liệm nắn thế nào cũng không bỏ ra.
Vài ngày sau, trên mộ nàng rùm roà mọc một loài cây thấp lòa xòa mang hình tròn tim tím buồn man mác. Mỗi khi có chân bước qua hay va chạm mạnh, những chiếc lá lăn tăn lại giật mình khép lại, xuôi xuống như bàn tay ai che mặt.
Những loài hoa cỏ mọc đầy chung quanh lấy làm lạ lùng lắm về chuyện đó. Một hôm, chúng chặn chàng Gió lại:
- Này, anh Gió! Ở đây, không có ai già như anh và trẻ như anh. Vậy anh hãy nói cho chúng tôi biết vì sao loài cây mới đến kia, tầm thường đến vậy, lòa xòa bên vệ cỏ, khách bộ hành dễ dàng giẫm lên, có gì đặc biệt đâu mà phải gìn giữ, hơi một tí lại lấy tay che mặt, điệu đà làm vậy?
Từng trải như chàng Gió mà cũng không trả lời được.
Thế là một đêm thanh tĩnh, dịu dàng, muôn hoa cỏ đang mơ màng trong giấc ngủ êm đềm, chàng Gió lướt tới bên loài cây tầm thường ấy, khẽ hỏi:
- Này cô em bé bỏng! Sao em hay che mặt thế? Ở đây có ai chọc ghẹo em sao? Em hay e thẹn lắm à? Nếu không, tại sao người ta lại gọi em là cây trinh nữ?
Đắn đo một chút, rồi loài cây ấy nhẹ nhàng đáp:
- Không phải thế đâu, mặc dù chết đi, em vẫn là trinh nữ. Em che mặt vì sợ. Ngày nay người ta càng tranh giành nhau dữ hơn, những bàn tiệc ngập máu vẫn còn nhiều. Vậy nên, mỗi va chạm, mỗi bước chân tạt qua đều làm em giật thót mình. Em sợ người ta sẽ gửi đến cho em đôi bàn tay đầy máu và khuôn mặt người yêu xưa chẳng biết cười.
Cây trinh nữ chợt co mình lại vì vừa nghe tiếng chân qua. Đó là bước chân sóng đôi của một đôi trai gái đang đi trong sương mù. Trước khi cẩn thận khép những mắt lá lại, cây trinh nữ cầu khẩn: “Ôi! Lạy Phật! Cầu cho đây không phải là bước chân của những người phải tiễn nhau về nơi ấy…”.

TRUYỀN THUYẾT HOA PHƯỢNG
Ngày xưa, xưa lắm, ở một vùng đất đồi kia, có một ông thầy dạy võ nổi tiếng về tài đánh kiếm. Vợ ông chết sớm, ông thương vợ, không lấy ai nữa nên ông không có con. Ông đi xin năm người con trai mồ côi ở trong vùng về làm con nuôi. Ngoài những giờ luyện võ, ông lại cho năm người đi học chữ, vì ông muốn năm người cùng giỏi võ, giỏi văn.
Tuổi năm người con xấp xỉ ngang nhau. Năm ấy, họ chỉ mới mười ba, mười bốn… Người nào học cũng khá và tài múa kiếm thì nổi tiếng khắp vùng. Ai cũng dễ nhận được họ vì ông sắm cho năm người năm bộ quần áo màu đỏ, để mặc ra đường. Thương bố nuôi nên năm người con rất biết nhường nhịn nhau và yêu quý mọi người trong làng… Năm ấy trong nước có loạn. Giặc ngoài kéo vào. Nhà cháy, người chết. Tiếng kêu khóc và lòng oán giận cứ lan dần, lớn dần. Đâu cũng đồn tên tướng giặc có sức khỏe kỳ lạ. Chỉ cần đạp nhẹ một cái cũng làm bật gốc được một thân cây to. Hắn lại sử dụng một cây thương dài và nặng, đâm chết từng xâu người một cách dễ dàng. Mọi người còn đồn thêm rằng hắn sở dĩ khỏe như vậy là vì hắn thích ăn thịt sống và đặc biệt hơn nữa là chỉ thích ăn toàn xôi gấc chứ không thích ăn cơm, mỗi lần hắn ăn hàng chục cân thịt cùng với một nong xôi gấc lớn. Người thầy dạy võ ở vùng đất đồi nọ định xin vua đi đánh giặc thì ngã ra ốm. Tay chân ông bị co quắp cả lại. Cụ lang giỏi nhất vùng đến xem bệnh và chỉ biết là ông uống phải thuốc độc. Ai cũng nghi tên tướng giặc đã ngầm cho những kẻ chân tay của hắn đi tìm giết trước những người tài giỏi trong nước. Người thầy dạy võ vừa uống thuốc, vừa ngày đêm ra sức tập luyện để tay chân mình lại cử động được như xưa. Một buổi sáng, tên tướng giặc bất thình lình phóng ngựa, dẫn quân lính của hắn kéo ập vào làng.
Hắn thấy ông thầy dạy võ đang lấy chân đạp vào một gốc cây sung to. Cây sung lúc đầu bị rung khe khẽ, rồi mỗi lúc rung một mạnh hơn. Sau đó, ông nhấc một cái cối đá to đưa lên, đưa xuống, vẻ còn mệt nhọc. Tên tướng giặc cười phá lên rồi xuống ngựa giơ chân đạp nhẹ vào thân cây sung. Thế là cây sung bị gãy ngang và ào ào đổ xuống. Hắn lại nhẹ nhàng đưa một tay tóm lấy cái cối đá ném vứt đi, như ta ném một hòn gạch con và cho rơi ùm xuống cái ao lớn gần đấy. Hắn gọi mấy tên quân đến trói chặt ông thầy dạy võ lại rồi bảo:
- Tao nghe mày muốn đi đánh tao phải không? Bây giờ thì mạng mày nằm trong tay tao rồi! Muốn sống thì hãy giết một con bò tơ, lọc năm mươi cân thịt ngon nhất, nấu một nong xôi gấc rồi mang đến chỗ ta đóng quân ở trên ngọn đồi giữa làng. Phải đội trên đầu mà đi chứ không được gánh. Đi luôn một mạch, không được dừng lại hay đặt xuống nghỉ. Đội thịt đến trước! Đội xôi đến sau!
Nói xong hắn ra lệnh cởi trói cho ông. người thầy dạy võ giận tím ruột, tím gan nhưng chẳng nói gì. Lúc ấy năm người con đang đi vắng, họ phải đi học chữ xa làng và lại sắp đến mùa thi. Không ai dám rời cái bút cái nghiên. Nhưng vừa nghe tin giặc kéo đến làng, họ lập tức đeo gươm vào người mà xin thầy cho về. Về đến nhà, nghe bố kể chuyện lại, năm người con nổi giận muốn chạy đi tìm tên tướng giặc hung ác để giết ngay. Người bố liền khuyên:
- Không được! Lúc nào quân lính của hắn cũng vây quanh, khó mà đến gần. Ngọn thương của hắn lại có thể đâm chết người từ rất xa. Các con cứ bình tĩnh, ta đã có cách khử nó!
Người cha đi vay tiền mua một con bò tơ, mổ thịt rồi lọc lấy năm mươi cân thịt ngon nhất để vào một cái nia to. Ông lại đi vay ba gánh nếp trắng, đi xin ba chục quả gấc đỏ, nấu một chục nồi xôi thật dẻo. Ông đội nia thịt bò tơ đến trước. Chân ông còn đau, năm mươi cân thịt đội trên đầu không phải là nhẹ. Ông đội nia đi, mồ hôi vã ra đầy trán. Tên tướng giặc thấy ông đội thịt đến, mồm cứ nuốt nước bọt ừng ực. Hết nuốt nước bọt ừng ực, hắn lại khoái trá cười to. Còn người đội thịt thì bấm ruột chịu đựng và nghĩ thầm: “Cho mày cứ cười rồi mày sẽ biết…” Tên tướng giặc cười nhận thịt xong quát to lên và giục:
- Còn nong xôi nữa, mày về đội đến đây ngay!
Người thày dạy võ lại về đội nong xôi đến. Nong xôi to và nặng hơn nia thịt nhiều. Nhưng xôi nấu ngon và nhìn đẹp quá. Ông đội nong xôi đi đến đâu, ở đó cứ thơm lừng. Mới đi được nửa đường, mồ hôi ông đã vã ra đầy mặt, đầy người. Đôi chân ông mỗi lúc một yếu, cứ run lẩy bẩy. Cái cổ cứ như muốn gãy gập lại. ông vẫn bặm môi, cắn răng và bắt đầu leo lên đồi. Tuy mệt lử nhưng đôi mắt ông sáng quắc và lòng ông rất vui. Ông tự nhủ: “Gắng lên! Chỉ cần một lúc nữa, một lúc nữa…” Tên tướng giặc ngồi trên cao theo dõi, vừa hả dạ, vừa lo lắng.
Hắn nghĩ: “Thằng này không bị thuốc độc của ta thì khó mà trị được nó. Mà ngay bây giờ, hắn vẫn là một tay đáng sợ”. Cái nong xôi gấc to lớn, thơm lừng vẫn lù lù tiến lên đồi. Mặt người đội xôi tái hẳn lại. Chỉ có đôi mắt. Đôi mắt vẫn sáng quắc. Nong xôi có lúc lảo đảo, ngả nghiêng, nhưng liền đó lại gượng lại, rồi nhích dần lên. Tên tướng giặc vội giật lấy thanh gươm của tên lính hầu rồi đứng phắt dậy, phóng gươm đi. Đường gươm sáng rực lên như một tia chớp, cắm vào bụng người thầy dạy võ làm ông chực gục xuống. Nhưng ông đã gượng đứng thẳng lên và đưa tay rút lưỡi gươm ra, phóng lại vào ngực kẻ thù. Tên giặc tránh được.
Bỗng từ trong nong xôi, năm người con nằm quây tròn được xôi phủ kín, đã vung kiếm nhảy ra và như năm làn chớp đâm phập cả vào ngực tên giặc ác. Tên tướng giặc không chống đỡ kịp, rú lên một tiếng rung cả ngọn đồi rồi ngã vật xuống. Thấy tướng đã chết, bọn lính giặc hoảng quá, kéo nhau chạy bán sống bán chết. Dẹp giặc xong, năm người con trai trở về ôm lấy xác người bố nuôi khóc vật vã mấy ngày liền. Cả làng cùng năm người con lo chuyện chôn cất rất chu đáo. Dân làng mỗi người một nắm đất đắp cho ngôi mộ ông thày cao lên.
Thương bố nuôi, năm người con lại trồng quanh khu mộ năm gốc cây con, một giống cây có lá đẹp như thêu và có nhiều bóng mát. Hàng năm, đến ngày giỗ bố, họ lại đem áo đỏ ra mặc. Họ nhớ tiếc người thầy dạy võ đã có công giết giặc cứu dân. Đến lúc năm người lần lượt chết đi thì năm cái cây họ trồng quanh khu mộ người bố cũng lần lượt ra hoa màu đỏ thắm, đúng vào ngày giỗ người thầy dạy võ. Hoa đỏ như muốn nói với mọi người rằng: tuy chết đi, nhưng năm người con vẫn yêu thương người bố nuôi và hàng năm đến mùa giỗ bố, họ lại mặc áo đỏ để tưởng nhớ người đã khuất…


HOA LONG ĐỞM
là loài hoa dại của mùa thu có màu xanh lộng lẫy và cánh hoa có tua viền một cách sắc sảo. Nó mang tên của Geneus, một vị vua xứ Illyria, người đã phát hiện ra việc loài cây này rất tác dụng trong việc chữa trị nhiều chứng bịnh. Các thầy thuốc thời xưa đã sử dụng cây hoa này để trị nhiều bệnh khác nhau như chó cắn, xơ gan, suy nhược, gãy tay chân, dịch hạch. ở Hungary, cây hoa này được gọi là Sanctus Ladislas Regis Herba để tưởng nhớ đến một vị vua mà dưới thời của ông đã xảy ra một trận dịch hạch lớn với nhiều tổn thất. Quá tuyệt vọng, vua Ladislas mang cung và tên đi ra một cánh đồng. Ông cầu nguyện rằng, khi ông bắn ngẫ nhiên một mũi tên, Chúa trời hãy hướng mũi tên đó cắm vào loại cây nào có thể dùng để ngăn chặn sự tàn phá của dịch bệnh khủng khiếp này. Và mũi tên ấy đã cắm vào cây Long Đởm. Thật phi thường, nó đã trị được bệnh dịch này. Tuy nhiên không ai giải thích được tại sao bông hoa xanh hiếm thấy này lại có nghĩa là “sự kiêu hãnh trong trắng”.

HOA THƯỢC DƯỢC
Danh y Hoa Đà trồng cây thược dược trong vườn mà không biết đó là cây thuốc. Hồn hoa hiện thành cô gái đứng khóc mong được chú ý, nhưng ông cũng chẳng bận tâm. Chỉ đến khi bà vợ được chữa khỏi bằng cây này, ông mới biết đó là thuốc quý.
Trong các loài hoa, mẫu đơn đứng đầu, thược dược đứng thứ hai. Mẫu đơn được tôn xưng là “hoa vương”, thược dược được coi là “hoa tướng”. Danh y Lý Thời Trân của Trung Quốc cũng đánh giá như vậy khi nói về tác dụng chữa bệnh của hai loài hoa này.
Tuy chỉ là “hoa tướng” nhưng thược dược lại thành danh sớm hơn mẫu đơn. Tương truyền từ 3.000 năm trước, vào thời Tam Đại, thược dược đã được trồng để thưởng ngoạn ở rất nhiều nơi trong khi người ta còn chưa biết đến hoa mẫu đơn. Khi mới phát hiện ra mẫu đơn, người ta tưởng đó chỉ là một loài thược dược, nên đã gọi nó là “mộc thược dược”. Hai hoa này nhìn thoáng qua rất giống nhau nên người xưa thường gọi là hai chị em.
Về sau, người ta phát hiện mẫu đơn và thược dược tuy cùng họ nhưng là hai cây khác nhau. Thược dược là loài thân thảo, còn mẫu đơn là cây thân gỗ. Thược dược được xếp vào nhóm thuốc bổ huyết, sử dụng chủ yếu để bồi dưỡng cơ thể; còn mẫu đơn thuộc nhóm thanh nhiệt lương huyết, chủ yếu dùng khi cơ thể đã mắc bệnh.
Cây hoa thược dược cảnh. Ảnh: Cernyseed.
Bạch thược dược (Paeonia Lactiflora) có hoa rất to, mọc ở ngọn thân, tựa như hoa mẫu đơn hay thược dược cảnh. Cánh hoa màu hồng nhạt hay trắng muốt, nhị vàng cam, rễ phình to thành củ. Củ này luộc chín phơi khô chính là vị thuốc bạch thược. Cây bạch thược này không phải là cây hoa thược dược (Dahlia variabilis Desf) vẫn được trồng nhiều trong dịp Tết.
Tương truyền, tác dụng chữa bệnh của bạch thược đã được danh y Hoa Đà phát hiện ra trong một tình huống rất ly kỳ. Để nhận biết và tránh nhầm lẫn các vị thuốc, ông đã trồng đủ thứ cây thuốc quanh nhà. Một hôm có người đem biếu ông cây hoa lạ, nói rằng có thể dùng chữa bệnh nhưng không rõ chữa được bệnh gì. Hoa Đà đem trồng ở góc sân bên cửa sổ.
Xuân tới, cây ra những bông hoa rất to, trắng muốt, thơm như hoa hồng. Ông thử hái hoa sắc uống nhưng không nhận thấy có gì khác lạ. Ông lại hái lá rồi hái cành đem thử cũng không phát hiện điều gì đặc biệt. Nghĩ rằng cây hoa này tuy đẹp nhưng không có tác dụng chữa bệnh nên mấy năm liền, Hoa Đà không để ý đến nó nữa.
Một đêm thu, Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe thấy ngoài cửa sổ có tiếng con gái khóc thút thít. Nhìn ra, ông thấy dưới ánh trăng mờ, có một người con gái rất đẹp đang đứng đó khóc. Ông tự hỏi, không biết con gái nhà ai, chắc có nỗi oan ức nào đây. Ông khoác áo ra ngoài nhưng nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người nào nữa, chỗ cô gái đứng khóc chỉ còn một cây thược dược.
Hoa Đà đi vào và tự nhủ: “Cho dù nhà ngươi có linh tính thì bây giờ cũng đang là mùa thu, hoa đã tàn, lá đã rụng, còn sử dụng được vào việc gì?”.
Nhưng ông vừa ngồi xuống tiếp tục đọc sách thì lại nghe tiếng khóc thút thít, nhìn ra vẫn là cô gái ban nãy. Hoa Đà bước ra, cô lại biến mất, vẫn chỉ có cây bạch thược. Sự việc cứ lặp đi lặp lại mấy lần khiến Hoa Đà vô cùng ngạc nhiên. Ông bèn đánh thức vợ đang ngủ say dậy kể lại chuyện.
Bà nói: “Tất cả các cây trong vườn đều được ông sử dụng làm thuốc cứu người, chỉ có cây bạch thược này bị bỏ quên, chắc là nó có nỗi oan ức”. Hoa Đà bảo: “Tôi từng thử tất cả các bộ phận của nó thấy chả có tác dụng, vậy còn oan ức nỗi gì?”.
Bà vợ nói: “Ông mới thử những thứ trên mặt đất, còn rễ của nó thì sao?”. Nhưng danh y gạt đi: “Hoa lá cành còn chẳng có gì đặc biệt, vậy thì còn thử rễ làm gì?”. Dứt lời, ông nằm xuống ngủ thiếp đi. Bà vợ suốt đêm không sao chợp mắt, nghĩ rằng chồng mình đã thay đổi, không còn lắng nghe ý kiến của người khác như trước kia nữa.
Vài hôm sau, bà vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng, băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà liền lén ra vườn đào rễ cây bạch thược đem sắc uống. Chỉ nửa ngày sau, bụng đã hết đau, máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà rất cảm kích: “Cảm ơn bà đã thức tỉnh ta, nếu không thì ta đã để mai một cây thuốc quýquý”.
Sau sự kiện đó, ông thử nghiệm và nhận thấy ngoài tác dụng giảm đau, cầm máu, rễ bạch thược còn có tác dụng dưỡng huyết và chữa được nhiều bệnh phụ khoa. Cây hoa lạ này ban đầu có tên bạch thược, sau đó Hoa Đà thêm chữ “dược” thành bạch thược dược.
Cùng với thời gian, Đông y phát hiện thêm nhiều công dụng nữa của cây bạch thược. Nó trở thành thuốc bổ huyết thiết yếu, phổ tác dụng rộng và tần suất sử dụng rất cao. Bạch thược chủ trị kinh nguyệt rối loạn, vã mồ hôi, mồ hôi trộm, đau đầu, chóng mặt. Trên lâm sàng y học hiện đại, nó chữa tử cung xuất huyết, viêm thận mạn tính, tăng huyết áp, tiểu đường, viêm võng mạc, cường tuyến giáp…

HOA CÚC TRẮNG
Có thể nói hoa Cúc trắng là loài hoa nhận được nhiều nhất sự chiêm ngưỡng của các nhà thơ, chỉ sau hoa hồng. Theo truyền thuyết, bông hoa nhỏ bé này có nguồn gốc từ Belides, một trong các nữ thần chăm sóc các khu rừng. Một hôm, khi Belides đang nhảy múa với người yêu của mình là Ephigeus, cô đã lọt vào sự chú ý của Vertumrus, nam thần cai quản các vườn cây. Để bảo vệ cô khỏi sự săn đuổi này, chúa của loài hoa là Flora đã biến cô thành một đóa cúc trắng. Một trong các nhà thơ lớn người Celte (Ai-len) lại đưa ra một nguồn gốc mang nhiều vẻ thần thoại hơn: Hoa cúc trắng đã được gieo trồng lần đầu tiên lên ngôi mộ của một hài nhi bởi những đôi tay mềm mại của các thiên thần nhỏ bé.

HOA MÀO GÀ
Ngày xưa, chú gà nào cũng có một cái mào đỏ rất đẹp như mào các chú gà trống bây giờ. Một buổi sớm, gà Mơ soi mình trong vũng nước và sung sướng thấy cái mào rực rỡ nằm trên đỉnh đầu của mình như một chùm hoa đỏ rực. Gà Mơ khoan khoái đập cánh và hát bài hát quen thuộc của họ nhà gà : “Cục ta cục tác, mào ta đã mọc, cục ta cục tác, mào ta đã mọc”.
Mọi vật quay qua nhìn gà Mơ và cùng xuýt xoa: “Chiếc mào mới xinh xắn làm sao, trông Gà Mơ thật đáng yêu”. Gà Mơ đi tung tăng khắp nơi kiếm mồi. Nó đến bên bể nước và nghe có tiếng khóc ti tỉ. Nó dừng lại nghiêng đầu, chớp chớp đôi mắt và lắng tai nghe. Thì ra, đó là một cây màu đỏ tía đang tấm tức khóc một mình. Gà Mơ đang vui sướng, thấy bạn buồn, Mơ bỗng bối rối. Nó vội vàng chạy đến khẽ hỏi:
- Bạn sao thế?
Cây rơi hạt nước mắt trong suốt như hạt sương xuống gốc và sụt sịt bảo:
- Các cây quanh đây, cây nào cũng có hoa mà chỉ mỗi mình tôi là không có hoa.
Chưa nói dứt câu, cây lại bật khóc, nước mắt cứ rơi xuống thánh thót. Gà Mơ an ủi bao nhiêu cũng không làm cây nín. Gà Mơ nghĩ một lúc rồi quyết định:
- Tôi cho bạn bông hoa đỏ trên đầu tôi nhé.
Cây sung sướng vẫy là rối rít:
- Thế bạn cho tôi thật nhé ! Cám ơn bạn!
Sáng hôm sau, mọi người ngạc nhiên khi thấy chiếc mào đẹp đẽ của gà Mơ biến đâu mất. Còn cái cây bên bể nước thì lại nở một chùm hoa rực rỡ y hệt chiếc mào của Gà Mơ.
Cây hoa sung sướng vươn mình đón ánh mặt trời nhuộm cho bông hoa thêm đỏ thắm. Cây khe khẽ kể cho mọi người nghe câu chuyện về lòng tốt của Gà Mơ. Thế là mọi người gọi cây đó là cây hoa mào gà.
Trên đầu Gà Mơ bây giờ cũng nhú lên một chiếc mào mới nho nhỏ, xinh xinh rồi đấy.

SỰ TÍCH DÂY TƠ HỒNG
Tơ hồng Nguyệt lão thiên tiên” dựa theo tích Vi Cố gặp ông lão trong một đêm trăng, ngồi kiểm sách hướng về phía mặt trăng, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. Ông lão bảo cho biết đây là những văn thư kết hôn của toàn thiên hạ. Còn những dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua. Bỗng ông già lại hiện lên cho biết đứa bé kia sẽ là vợ anh. Vi Cố giận, bảo đày tớ tìm giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ lẻn đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Mười bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố gạn hỏi, vợ mới bảo: Thuở còn bé, một bà vú họ Trần bế vào chợ bị một tên cuồng tặc đâm phải. Vi Cố hỏi: Có phải bà vú đó chột mắt không? người vợ bảo: Đúng thế! Vi Cố kể lại chuyện trước, hai vợ chồng càng quý trọng nhau cho là duyên trời định sẵn.
Mẩu chuyện vui: Tình yêu làm cho con người lú lẫn.
… “Tâu Thượng đế, theo hạ thần thì thượng đế không cần đòi lại trí khôn của con người. làm như thế không khỏi mang tiếng là trời nhỏ nhen. Điều mà thượng đế nên làm là hạn chế trí khôn của con người.”
-”Bằng cách nào”?
-”Chỉ có tình yêu-Không có gì làm con người lú lẫn đi như trong tình yêu. Trời chỉ cần phái một vị thần mang vòng dây xuống trần, cứ đôi trai gái nào ở gần nhau thì quăng cho một vòng. Người nào càng thông minh thì cần quăng thêm cho nhiều vòng. Con người chỉ luẩn quẩn trong những vòng ấy mà chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lên quấy nhiễu nhà trời nữa”.
Trời khen “Thật là diệu kế”!, bèn truyền cho ông tiên già mang những chiếc vòng của trời xuống trần gian.
Từ ngày bị ông tiên già khoác vào người mình những vòng dây tình ái, con người chỉ luẩn quẩn với nhau, không còn nghĩ tới chuyện đánh nhau với trời nữa. Ông tiên già ấy được gọi là ông “Tơ” .

HOA DàQUỲ
Ngày xửa ngày xưa, nơi buôn sóc nọ có chàng K’lang của núi rừng yêu tha thiết nàng H’limh của con suối.Ngày ngày chàng K’lang vào rừng săn bắt thú rừng còn nàng khéo léo dệt tấm chăn kiệu chồng (vì theo tục lệ của bộ tộc nàng con gái trước khi lấy chồng phải dệt một tấm chăn thật đẹp để mang về nhà chồng). Rồi tối tối họ lại quây quần đốt lửa và múa hát cùng dân làng trong buôn. Cuộc sống vui vẻ hạnh phúc của họ cứ trôi đi.
Đến một ngày kia khi H’limh chờ hoài đến tối mà vẫn không thấy K’lang đi săn về, nàng lo lắng từ buôn sóc nàng đi tìm K’lang, nàng cứ đi, đi mãi đi hết mười mấy con suối, mười mấy ngọn núi rồi mà không thấy người yêu của mình đâu cả. Mệt quá nàng ngủ thiếp đi trong giấc mơ nàng thấy K’lang gọi nàng và bảo nàng hãy đi thêm một con suối nữa sẽ gặp chàng ở đó. Nàng giật mình rồi đi tiếp đến cuối nguồn nàng nhìn thấy K’lang đang bị những tên hung ác của bộ tộc Lasiêng trói chặt. Nàng chạy lại ôm lấy chàng mặc cho những mũi tên, những ngọn giáo đâm vào da thịt. Mặc cho bao nhiêu đau đớn nàng vẫn quyết bảo vệ cho người yêu cho tới khi nàng bị trúng mũi tên độc cuối cùng của chàng La rihn con trai tộc trưởng Lasiêng. Vì quá hờn ghen với tình yêu của H’limh dành cho k’lang chàng đã buông lơi mũi tên hận tình. Chàng cũng không ngờ người lãnh trọn mũi tên ngiệt ngã ấy lại là H’limh – người con gái mà chàng ngày đêm thương thầm trộm nhớ mà không được đáp lại tình cảm.
Từ đó cứ mỗi độ tháng mười nơi nàng H’limh chết lại nở ra một loài hoa có màu vàng rực. Người ta thường gọi là hoa Dã Quỳ. Cây hoa Dã quỳ rất dễ mọc và mọc rất nhanh những cánh hoa màu vàng tràn đấy sức sống mãnh liệt như tình yêu chung thủy.

HOA MỘC LAN
Ở Nhật Bản có một người con gái tên là Câycô, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhà nghèo, ngay từ khi còn nhỏ nàng đã phải tự đi làm để kiếm sống.
Một cô bé như nàng phỏng có thể làm được việc gì? Nàng phải làm hoa giấy đem ra phố bán. Nhưng hoa bán đã nhiều, mà tiền thu về chẳng đáng là bao. Khi đã ra dáng một thiếu nữ. Câycô cũng không có đủ tiền sắm nổi một bọ kimônô mà các cô con nhà quý phái vẫn mặc.
Một đêm nọ, khi Câycô đang mải làm việc trong phòng của mình, bỗng có một con vẹt bay đến đậu trên bậc cửa sổ bỏ ngỏ. Đôi cánh màu xanh của nó đã nhợt nhạt, có lẽ nó đã già song vẫn còn đủ minh mẫn và biết nói tiếng người.
- Đừng đuổi ta, ta sẽ tiết lộ cho nàng một điều bí mật về cách làm giàu.
- Vẹt yêu quí ơi, cớ sao ta lại đuổi mi – Câycô buồn bã mỉm cười – ở đời ta chẳng còn biết thổ lộ tâm tình với ai, thế mà mi lại nói được tiếng người. Cứ ở lại đây, cùng chia nghèo, sẻ khổ với ta, còn sự giàu sang, phú quý, tốt nhất là chẳng nên màng tới, vì ta rất xa lạ với chuyện ấy.
- Đa tạ Câycô tốt bụng – Vẹt gật gù – Trước khi đi tìm chủ mới, ta đã chăm chú theo dõi các cô gái bán hoa, và ta đã thấy nàng tặng bông hoa đẹp nhất của mình cho một cô gái nghèo như thế nào rồi. Cô gái nghèo ấy không có tiền nhưng lại rất muốn làm cho người bà ốm yếu của mình được thanh thản nỗi lòng.
Nhưng vì sao ngươi lại phải đi tìm chủ mới? – Câycô hỏi – Phải chăng chủ cũ không tốt với mi?
- Bà ta đã qua đời – Vẹt đau đơn báo tin, rồi im lặng giây lát – Bà ta chết vì tham lam.
- Bà ấy nghèo lắm à? – Câycô hỏi tiếp.
- Không, rất giàu là đằng khác. Song với bà, như thế còn quá ít. Bà đã bán đến giọt máu cuối cùng để lấy vàng – Vẹt nguẩy mỏ vẻ trách móc.
- Đổi máu lấy vàng là thế nào, ta không hiểu? – Câycô ngạc nhiên.
- Chuyện là thế này. Bà chủ của ta cũng làm nghề bán hoa giấy như nàng, song có một mụ phù thuỷ đã tiết lộ cho bà một bí mật về cách làm cho hoa giả trở thành hoa tươi, nghĩa là phải lấy máu của mình tiếp sức cho các cành hoa. Chính nàng cũng thừa hiểu hoa tươi quý như thế nào rồi. Chẳng bao lâu bà chủ trở nên giàu có. Lúc đó mụ phù thuỷ đã báo trước cho bà ta rằng, dù thế nào cũng chớ có hiến đến giọt máu cuối cùng. Nhưng với bà chủ của ta, dầu có tích góp được bao nhiêu của cải cũng vẫn cứ là ít. Và thế là khi có một vị khách ngoại bang hứa cho bà một khoản tiền lớn nếu bà bằng lòng tiếp thêm sinh lực cho hoa. Bà chủ đã không ngần ngại ngay cả đến giọt máu cuối cùng để có thêm nhiều tiền và bà đã phải chuốc lấy cái chết. Số của cải bà để lại trở thành miếng mồi ngon cho đám họ hàng xâu xé nhau.
- Thật là khủng khiếp! – Câycô thốt lên – Vì sao mi không ngăn cản bà ta?
- Rơi vào hoàn cảnh ấy, người ta khó mà sáng suốt – Vẹt phàn nàn. – Ta đã thẳng thắn khuyên nhủ bà đừng hành động một cách ngu ngốc, song bà trả lời như thế nào, nàng biết không? “Ta đã chán ngấy những lời đường mật của họ nhà Vẹt rồi!” bà chủ nói thế đấy.
- Vẹt già tốt bụng ơi, hãy ở lại đây với ta và làm cố vấn cho ta – Câycô gợi ý. Vẹt cảm thấy hởi lòng, hởi dạ.
Sau khi bán được ít hoa tươi đầu tiên, Câycô liền m ua ngay một bộ kimônô lụa và một đôi dép thật đẹp. Nàng chải lại mái tóc đen mượt và cài lên đó một bông hồng đỏ thắm rồi đi ra phố. Từ bóng cửa sổ xa xa, nàng nhìn thấy một cô gái xinh đẹp. Câycô gật đầu chào. Cô gái cũng gật đầu chào lại. Hai người cùng mỉm cười với nhau. Câycô đoán rằng co gái đó có lẽ là hình bóng của nàng được phản chiếu vào gương.
Câycô nhanh chóng hoà vào dòng người trẻ tuổi, và lần đầu tiên trong đời nàng, được đặt chân tới một gian phòng rực rỡ ánh đèn, nơi có từng cặp trai gái đang nhảy múa uyển chuyển như chim bay, bướm lượn. Có một chàng trai đến mời Câycô. Nàng vừa nhảy vừa mỉm cười một cách sung sướng. Chàng trai khiến nhàng thích thú nhất ấy có tên là Aratumi.
- Câycô ơi! – Aratumi nói, – Em đẹp khác nào một đoá hoa Anh Đào nở chúm chím. Hãy nói đi, biệt thự nhà em ở đâu và vì sao một cô gái sang trọng như em lại đến nơi vũ hội của đám sinh viên nghèo hèn này?
Câycô toan thú nhận nàng chỉ làmột cô gái nghèo rớt đang sống trong một căn nhà dột nát, nhưng nàng chợt nhớ tới nhan sắc tuyệt trần của mình, nàng hình dung ngay việc nàng sẽ nhanh chóng trở nên giàu có và sẽ xây được biệt thự ra sao. Chính bản thân Câycô cũng không nhận thấy nàng đã vẽ ra trước mắt chàng trai mơ ước của mình về một toà biệt thự y như thật. Khi nàng im lặng, Artumi thở dài nói:
- Đáng tiếc là em giàu có như vậy. Một chàng sinh viên nghèo đâu dám đặt chân tới toà biệt thự, vậy mà anh lại cứ muốn được trông thấy em.
Câycô không dám thú nhận rằng nàng không hề có biệt thự nào cả. Song nàng cũng rất muốn gặp lại Aratumi và ngỏ ý rằng, hôm khác nàng sẽ tới công viên thành phố dạo chơi.
Khi Câycô và Aratumi gặp nhau ở công viên, họ cầm tay nhau cùng bước đi trên những con đường nhỏ, và kỳ diệu thay, từ lúc nào cặp môi của họ đã xoắn xuýt với nhau trong một cái hôn dài.
- Câycô, Câycô của anh! – Aratumi thì thào – nhưng mặt chàng lập tức sa sầm lại – Đó phải chăng là một cái hôn vĩnh biệt? Vì cha em sẽ không cho phép em được làm vợ một sinh viên nghèo.
Câycô bắt đầu khóc lóc và nàng đành thú nhận rằng, biệt thự, đó chỉ là chuyện nàng bịa ra, rằng nàng chỉ là một cô gái bình thường chuyên nghề làm hoa giấy đem ra phố bán.
Nếu Câycô thấy đựoc nét mặt Artumi thay đổi như thế nào thì chắc hẳn nàng đã không tiết lộ cho chàng biết điều bí mật của đời mình. Nhưng vì xấu hổ, nàng đã nhắm nghiền mắt lại. Còn Artumi, sau khi nghe chuyện nàng, đã vội nắm lấy bàn tay nàng. Chàng thậm chí còn tỏ ra vui vẻ, bởi sắc đẹp của Câycô sẽ hứa hẹn một sự giàu có vô biên.
Cô gái Câycô mảnh khảnh bắt đầu những ngày lao động cật lực. Cần phải làm thật nhiều hoa, đặc biệt làm thêm hoa tươi nhiều hơn nữa, rồi đem bán đi để mua một ngôi nhà nhỏ. Họ sẽ sống ở đó sau khi cưới. Nàng sẽ mua thêm thảm, tranh, đồ sứ cùng những bộ quần áo mới cho m ình và cho chồng. Một buổi chiều, Vẹt nói như muốn thức tỉnh cô gái:
- Cây cô ơi, nàng đang tiêu phí máu mình một cách quá dễ dãi đấy!
- Ôi, anh bạn Vẹt già đáng yêu của ta! – Câycô vuốt đầu Vẹt – khi Aratumi học hành xong, chàng sẽ kiếm đủ tiền và ta sẽ được nghỉ ngơi.
Nhưng khi hai người vừa tổ chức xong lễ cưới thì Aratumi cũgn bỏ luôn trường lớp, vì chàng chẳng thiết theo đuổi đèn sách nữa.
- Anh chỉ thích được xem nhưng ngón tay nhỏ nhắn của em trổ tài khéo léo và duyên dáng khi em làm hoa thôi.
Nghe những lời nói ngon ngọt của chồng, nàng cảm thấy thật sung sướng. Nhưng chỉ vài năm sau, ngôi nhà bé nhỏ kia đối với Aratumi thật quá ư xuềnh xoàng. Nhiều lần chàng nói với vợ:
- Tất thảy chúng bạn của anh đều sống rất sung túc. Trước họ anh cảm thấy rất ngượng.
Và những ngón tay của Câycô lại làm việc miệt mài hơn. Để có được một ngôi nhà khang trang ngày tháng sao ngắn ngủi thế. Cứ chiều chiều, khi Câycô đi bán hoa ngoài phố thì Aratumi ngồi một mình bên ấm trà. Chàng còn biết làm gì vào lúc này?
- Câycô ơi, Câycô – Vẹt lắc đầu buồn bã mỗi khi chủ của nó trở về nhà ngồi vào chỗ làm việc với dáng vẻ mệt mỏi.
Còn chàng Aratumi nghèo khổ lúc nào cũng chỉ thích sống trong một biệt thự. Chàng cho rằng Câycô đã lừa dối chàng. Nàng đã hứa với chàng sẽ có một chỗ ở khang trang, vậy mà cho đến giờ chàng vẫn cứ phải chui rúc trong túp lều tồi tàn. Câycô cảm thấy mình có lỗi, bởi nàng càng ngày càng thêm yêu Aratumi.
- Chúng ta sẽ có biệt thự, nàng cam két với chàng như vậy, và càng rút ngắn bớt thời gian nghỉ ngơi của mình.
- Câycô ơi, hãy cẩn thận, – Vẹt báo trước – Nàng đã quá yếu rồi, máu trong tim nàng còn lại rất ít đấy.
- Bạn ơi, chúng ta sắp có biệt thự rồi, lúc đó ta sẽ bắt đầu đầu sống như một bà hoàng – Câycô nói.
Lời đồn đại về cô gái bán hoa bé bỏng có tên là Câycô lan truyền khắp gần xa. Magơnon, một nhà kinh doanh hoa người Pháp đã lặn lội sang tận Nhật Bản để mua hoa của Câycô. Đối với Magơnon, chỉ có hoa không, chưa đủ. Ông hứa sẽ cho Câycô một khoản tiền lớn nếu nàng làm cho những bông hoa cùng với gốc của chúng trở thành hoa thật. Hơn nữa, chúng phải có đủ bốn màu: trắng, vàng, hồng và đỏ.
Câycô đã bán cho Magơnon đủ các loại hoa và vào phút chót nàng còn làm thêm một bông hoa đỏ chói có cả cành lẫn gốc. Những nàng cũng không còn đủ sức để trích đầu ngón tay của mình và dùng máu tiếp sức cho rễ hoa nữa.
- Câycô, Câycô ơi! – Vẹt hét lên một cảnh thảm thiết, – chớ có cho giọt máu cuối cùng!
- Thôi đủ rồi, anh bạn già ạ, loài vẹt nhà mi chỉ quen khoác lác thôi – Artumi dúi đầu Vẹt xuống và túm lấy cánh nó ném sang phòng khác.
- Artumi yêu quý, em chỉ còn giọt máu cuối cùng thôi. – Câycô lặng lẽ nhìn vào mắt chồng.
- Ta cần một bông hoa đỏ, đỏ thật sự – Magơnon hồi hộp nói – Ta sẽ không tiếc tiền, miễn là nàng làm cho bông hoa đỏ này thàn bông hoa thật.
- Câycô, em cần phải hiểu rằng điều đó có ý nghĩa đối với chúng ta lắm chứ? Aratumi lắc mạnh vai vợ – Em có hiểu không, đời sẽ thế nào nếu chúng ta sẽ có một toà biệt thự? Toà biệt thự mà em đã hứa với anh đó!
Sau khi lấy hết hơi tàn sức kiệt, Câycô chích đầu ngón tay mình, vắt ra giọt máu cuối cùng tiếp sức cho rễ bông hoa đỏ.
Aratumi xây xong toà biệt thự và cưới một cô vợ khác. Magơnon mang những bông hoa tươi rói về Pháp và đặt tên cho nó là Magơnôlia, nghĩa là “Hoa Mộc Lan”, Còn nàng Câycô thì sao? Nàng đã lùi vào những trang huyền thoại của loài người.

HOA BỒ CÔNG ANH
Trên một cánh đồng nọ, có một loài cây có những bông hoa vàng rực, những chiếc lá dài, xanh thẫm với những chiếc răng cưa nhọn hoắt như những chiếc răng nanh của con sư tử. Người ta gọi nó là cây Răng Sư Tử.
Răng Sư Tử nằm đủng đỉnh bên trên đồng cỏ dại, trong trái tim chàng ôm ấp những cánh hoa vàng như màu nắng. Người chàng yêu chính là đoá hoa nở rộ từ chính trong vòng tay ấm áp của chàng. Những chiếc lá gai góc của Răng Sư Tử ôm vòng lấy những đoá hoa, chở che và đầy khao khát.
Mùa hạ đến, những bông hoa trút bỏ những chiếc trâm cài đầu vàng óng, chiếc áo ruộm nắng được thay bằng một cái áo choàng bông nhẹ, trắng muốt và mịn như những chiếc lông ngỗng. Bông hoa từ trong vòng tay chàng trai vươn cao lên đầy kiêu hãnh. Răng Sư Tử vẫn say mê ngắm nhìn và thầm ngợi khen vẻ đẹp ấy của nàng. Người con gái của chàng đã biến thành bông Bồ Công Anh với chiếc áo choàng satin trắng xốp. Tình yêu cứ thế lớn lên…
Bỗng một ngày, từ một miền xa xôi nào đó, thổi đến một người con trai có cái tên là Gió. Gió ồn ào, mạnh mẽ, cuồng nhiệt và sôi nổi. Gió lướt đi trong vũ khúc quay cuồng. Gió cầm trên tay cây sáo trúc, thổi những bài ca đẹp về cánh đồng, và về những miền đất mà chàng đã đi qua. Gió kiêu hãnh, Gió lạnh lùng, và Gió cũng vô tâm. Gió lướt đi ngang qua trên cánh đồng, khiến biết bao loài cây phải hướng mắt theo. Bên trên cái thế giới nhỏ bé ấy, chàng là người được yêu mến và ngưỡng mộ.
Bồ Công Anh không phải là ngoại lệ. Gió ập tới khiến nàng choáng ngợp, choáng ngợp trước vẻ phong lưu và bất cần. Khi cơn Gió lướt qua trên cánh đồng, nàng vươn mình theo hướng gió, đón Gió về lại bên nàng. Nàng muốn được những ngọn gió mát rượi ôm ấp vào lòng, vuốt lên từng sợi bông của chiếc áo choàng trắng xốp. Nàng yêu Gió, trong sáng và trọn vẹn.
Nhưng Gió sinh ra không phải để dừng chân. Chàng là đứa con của Ngao Du và Mạo Hiểm. Cánh đồng cỏ bình yên không phải là chỗ trú ngụ đời đời. Gió lại ào ạt thổi qua. Bồ Công Anh cố níu giữ, cố nắm bắt Gió bằng thân hình mảnh dẻ của mình, nàng vươn mình ra. Nhưng vô ích. Gió vẫn cứ thổi lạnh lùng.
Răng Sư Tử nhói lên trong lòng. Trái tim chàng như bị chính những chiếc răng cưa cào xé. Chàng che chở cho người con gái chàng yêu, để rồi mất nàng trong giây lát. Răng Sư Tử tuyệt vọng giơ những cánh tay xanh biếc ra, giữ chặt lại Bồ Công Anh trắng muốt. Nhưng cánh tay chàng chơi vơi trong Gió. Những cánh hoa Bồ Công Anh xinh đẹp và mềm mại đã tự tách khỏi nhuỵ hoa, để bay cùng chiều với Gió mất rồi.
Và ngày ngày, những người nông dân đi trên cánh đồng vẫn nghe tiếng Răng Sư Tử thì thầm cùng với chàng Gió từ miền xa thổi đến, hỏi những cánh Bồ Công Anh đã được Gió mang tới nơi đâu… “Ở nơi đó, cô ấy sống thế nào?”. Gió im lặng, Gió không thể mang Bồ Công Anh đi mãi. Cô gái ấy rơi xuống trên những cuộc hành trình, vùi mình vào trong đất, để rồi lại hồi sinh thành những đứa con và đặt tên chúng là Răng Sư Tử…
Cây có Hoa, nhưng không giữ được Hoa. Hoa chỉ luôn vươn mình theo Gió. Gió lại khó nắm bắt, lại chỉ biết yêu những cuộc hành trình. Và khi cơn Gió qua rồi, Hoa mới biết: cội nguồn của mình là nhựa chảy trong máu của cây…

HOA PHONG LAN
Ở một miền xa xôi, khí hậu ấm áp và đất đai trù phú có một bộ lạc tên là Aruaki may mắn hơn các bộ lạc khác vì họ sai khiến được loài chim Oócchít chuyên đẻ những quả trứng bằng vàng. Khi một con chim đẻ trứng vào tổ trong hốc cây thì thủ lĩnh Nato dùng tay chuyển quả trứng đó sang một cái cây khác, và sự kiện đó được coi như một ngày hội lớn.
Các cô gái của thủ lĩnh thay nhau phục trên các cành cây, bảo vệ tổ chim khỏi bị chim ưng phá hoại. Tuy vậy, trong từng góc buôn làng, các trai tráng tay cầm những mũi tên tẩm thuốc độc đứng canh giữ không cho các chiến binh của bộ lạc khác đến đánh chiếm kho báu của bộ lạc mình.
Từ ngày quả trứng vàng kia, những tay thợ lành nghề đã chế tạo ra các vòng tay, hoa tai và đủ các loại trang sức. Số trứng vàng dự trữ mỗi ngày một nhiều. Đàn ông của bộ lạc chuyên nghề săn bắn, còn đám đàn bà, con gái ở nhà dệt những tấm khăn voan, đan giỏ và hái nhặt thảo quả.
Một hôm cánh đàn ông đi săn trở về với một tâm trạng đầy lo lắng. Họ đã chạm trán cánh thợ săn của một bộ lạc xa lạ. Cánh thợ lạ này đã kể cho họ nghe về những chiến thuyền khổng lồ đã cập bờ biển, và về những con người tóc cắt ngắn, mặt mũi trắng trẻo nom rất lạ lùng, đã đặt chân lên đất liền. Những kẻ da trắng này rất hám vàng, đã dùng một loại súng có tai khạc ra những mũi tên có lửa khủng khiếp, cướp giật vòng chân, vòng tay của chị em, tra khảo dân bản xứ nơi có vàng. Nếu những người Aruaki hiểu rằng, con người cũng có thể biến thành những kẻ tàn ác, thấp hèn, thì chắc chắn không bao giờ họ lại cho phép kẻ lạ mặt kia vào làng bản của họ. Nhưng họ không hiểu được điều đó. Họ vẫn cứ khiêng những người thợ săn lạ mặt bị gấu đánh bị thương vào làng. Vị thủ lĩnh còn ra lệnh cho đám phụ nữ đi tìm những người bị thương, còn cánh đàn ông lại lên đường đi săn.
Một kẻ lạ mặt có tên là Khơramooi Métvét. Anh ta rất mê những đồ trang sức của phụ nữ và cứ gặng hỏi họ kiếm ở đâu thứ đá vàng làm ra được các loại vòng và hoa tai này. Nhưng chị em chỉ trả lời bằng một nụ cười. Dần dà, Métvét kết thân được với cô gái cả con của thủ lĩnh tên là Dincadơvin, và hứa hẹn sẽ cưới nàng làm vợ rồi ở lại với bộ lạc. Dincadơvin nói rằng nàng phải chờ đợi cha trở về để xin ý kiến.
Métvét bắt đầu làm công việc dò hỏi Dincadơvin về việc tại sao chị em nàng cứ thỉnh thoảng lại biến vào rừng sâu và ở đó làm gì. Còn Dincadơvin đã tự cho mình là vợ chưa cưới của Métvét rồi, bởi vậy nàng đã phạm sai lầm còn lớn hơn cả sai lầm của cha nàng cho phép đưa kẻ lạ mặt bị thương vào buôn làng.
Dincadơvin không hề ngờ rằng, người tình của nàng đã bán linh hồn cho bọn da trắng để lấy một thùng rượu, và còn hứa với họ sẽ tiết lộ bí mật của bộ lạc Aruaki? Và thế là sau khi biết chắc chị em nàng thường thay nhau phục trên cây, bảo vệ bầy chim đẻ trứng vàng, Métvét liền chuốc rượu cho những người canh gác say mèm, rồi thông báo điều bí mật cho bọn da trắng biết.
Métvét không hay rằng trên đỉnh một ngọn cây cao nhất còn có chàng Ôta Te đang phóng tầm mắt quan sát khắp vùng gần xa. Anh đã phát hiện ra có những người da trắng đang đến gần nơi con chim đẻ trứng vàng mà người dẫn đầu là Métvét. Sau khi loan báo cho buôn làng hay về mối nguy hiểm đang đe doạ và về sự phản trắc của Métvét, anh liền đóng chuông báo động.
Dincadơvin đau đớn thốt lên:
- Ôi, cớ sao ta lại tiết lộ cho chàng bí mật của loài chim? Thảo nào mà chàng cứ căn vặn ta! – Rồi nàng quay lại hỏi ông thày cúng – Hãy chỉ cho ta biết ta phải làm gì và làm thế nào để cứu loại chim đẻ trứng vàng?
- Cô cô cô! – Tiếng thày cúng thốt lên, có nghĩa là “Cứ sẵn sàng đi!”
Hết thảy đàn bà và con gái chạy đến, cùng đáp to: “Khô!”
Điều đó có nghĩa là: “Chúng tôi đã sẵn sàng!”
- Hỡi các cô gái! Hãy nhanh chóng trèo lên ngồi vào các cành cây! Khi đó bọn da trắng sẽ không biết được chim làm tổ trên cây nào. Còn nếu chúng tìm thấy tổ chim thì Taxan útke sẽ chạy đi tìm những người thợ săn, gọi họ về đuổi bọn da trắng đi.
Taxan útke, tên thường gọi của con Ngựa chiến, phi như bay về phía những người đàn ông của bộ lạc đang mải săn bắn, còn hàng trăm cô gái khác thì vội vàng lao lên cây, tay ôm chặt lấy các cành cây.
Métvét dẫn đoàn người da trắng vào rừng, nhưng hắn lúng túng không biết nên chỉ vào cây nào. Bọn da trắng nổi giận, bắn những mũi tên có lửa vào các cô gái, nhưng các cô, kể cả các cô đã chết, vẫn ôm chặt các cành cây.
Khi cánh đàn ông chạy về tới buôn làng, đuổi được bọn da trắng đi thì đã quá muộn – những người con ưu tú – những cô gái đẹp của họ đã chết. Ông thày cúng trỏ tay lên trời, gọi tên họ và nói:
- Các con đã xả thân bảo vệ kho báu của bộ lạc ta, các con xứng đáng được ban thưởng. Tâm hồn các con sẽ biến thành những bông hoa ngát hương, chúng sẽ không ngừng sinh sôi trên các cành cây kia và sẽ kể lại cho các thế hệ mai sau về chiến công bảo vệ loài chim mỏ vàng của các con.
Những bông hoa tuyệt vời và đủ loại tựa như các cô gái của bộ lạc Aruaki đang đua nở trên các cành cây.
Người đời nay gọi đó là hoa Oóckhiđêa – hay là hoa Phong Lan.

HOA DIÊN VĨ
Tiếng Hy Lạp, “Iris” có nghĩa là Cầu Vồng. Trong thần thoại Hy Lạp, Iris là tín sứ của thần Zeus và nàng thường xuất hiện dưới hình một chiếc cầu vồng. Nàng là người đưa tin trên đỉnh Olympus, Iris mang thông điệp của các vị thần linh từ “con mắt Thiên Đường” xuống cho nhân loại trên trái đất qua vòng cung cầu vồng rực rỡ. Từ Iris cũng có nghĩa là “con mắt Thiên Đường” (the eye of Heaven). Iris, như ta đã biết, là tên của một nữ thần Hy Lạp, một loài hoa, và nó còn có nghĩa là tròng đen trong con mắt chúng ta. Điều này ngụ ý rằng mỗi chúng ta đều mang trong mình một mảnh của Thiên Đường. Những người đàn ông Hy Lạp thường trồng hoa Diên Vĩ tím trên mộ những người phụ nữ mà họ yêu thương để tỏ lòng tôn kính nữ thần Iris, người mang sứ mệnh dẫn dắt những linh hồn phụ nữ này đến chốn Thiên Đàng (the Elysian fields).
Diên Vĩ là loài cây lưu niên có thân thảo vươn cao, lá hình lưỡi kiếm và những đóa hoa to nhiều màu sắc với ba cánh và ba đài hoa rũ xuống. Có hơn 200 loài hoa Diên Vĩ xinh đẹp khác nhau với các màu xanh da trời nhạt, tím, vàng, trắng, hồng, cam, nâu đỏ…đa dạng như màu sắc cầu vồng. Hoa Diên Vĩ được xem như sứ giả mang đến những điềm lành. niềm hy vọng. Ba cánh hoa Diên Vĩ đại diện cho lòng Trung Thành, sự Khôn Ngoan và lòng Dũng Cảm. Hoa Diên Vĩ vàng là biểu tượng của ngọn lửa và niềm đam mê
Hoa Diên Vĩ đã từng được thấy ở sa mạc, đầm lầy hay cả miền Bắc cực Siberia lạnh giá, nhiều nhất vẫn là ở các vùng khí hậu ôn hòa. Hoa Diên Vĩ thường được vẽ trong những bức tranh tĩnh vật, như của các danh họa Vincent van Gogh, Monet…Có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải và phía Nam Châu Âu, hoa Iris đã từng được những người Hy Lạp cổ đặt trên trán của Nhân Sư và trên vương trượng của đức vua xem như là biểu tượng của quyền lực. Vào năm 1479 trước Công Nguyên, ở Ai Cập, để ghi nhớ chiến công tại Syria, vua Thutmose III đã cho vẽ những bông hoa Diên Vĩ trên bức tường ngôi đền thờ của mình.
Nhà thờ La Mã xem hoa Lily là hiện thân của Đức Mẹ Đồng Trinh. Do có ba cánh đặc biệt, fleur-de-lis cũng được làm hình ảnh tượng trưng cho Chúa Ba Ngôi linh thiêng (the Holy Trinity).
Hoa Diên Vĩ đã là biểu tượng của hoàng gia và sự che chở thần thánh suốt hàng thế kỷ trên khắp thế giới. Loài hoa đầy sức thu hút này được rất nhiều người ngưỡng mộ. Các vị vua chúa nước Pháp đã dùng nó làm biểu tượng hoàng gia và gọi nó là Fleur-de-lis. “Fleur-de-lis” có nguồn gốc từ tên “Fleur-de-Louis”, sau thời vua Louis VII, năm 1147. Theo thời gian, tên đó chuyển thành “Fleur-de-luce”, có nghĩa là hoa của ánh sáng (flower of light), cuối cùng đến ngày nay, nó được gọi là “Fleur-de-Lys”, hay Flower of the Lily (Lily : Hoa Huệ Tây, Loa Kèn, Bách Hợp). Fleur-de-Lis đã là biểu tượng của nước Pháp từ thế kỷ 13. Hoàng gia Pháp trang trí hoa Diên Vĩ trên áo choàng, các đồ vật trong cung điện và trên những bức tường như biểu hiện của sự toàn bích, ánh sáng và cuộc sống. Có nhiều truyền thuyết khác nhau giải thích tại sao hoa Diên Vĩ được chế độ quân chủ Pháp chọn làm biểu tượng . Tương truyền rằng, Clovis, vua nước Pháp triều đại Mêrôvê khi đối mặt với đội quân thiện chiến của Alamanni (Đức) đến xâm chiếm vương quốc mình, ông đã nói với hoàng hậu Clotida rằng ông sẽ theo đạo và chịu rửa tội nếu như Chúa phù hộ ông đánh thắng trận đấu này (trước đó hoàng hậu đã nhiều lần khuyên chồng mình vào đạo nhưng ông vẫn không nghe). Cuối cùng, ông thắng thật và nhận fleur-de-lis làm biểu tượng. Tiếp đó, vào thế kỷ 12, vua Louis trở thành hoàng đế nước Pháp đầu tiên khắc họa hoa Diên Vĩ trên chiếc khiên của mình. Nữ anh hùng nước Pháp, Joan of Arc (Jeanne d’Arc) đã mang theo lá cờ trắng có biểu tượng Chúa hộ mệnh của hoàng gia (hoa Diên Vĩ ) khi bà đánh bại quân Anh tại Orléans (1429).
Ở Nhật, hoa Diên Vĩ tượng trưng cho chí khí anh hùng và dòng dõi quý phái. Hoa Diên Vĩ là một phần quan trọng trong lễ hội mùa xuân dành cho các bé trai.
Được xem như một loài hoa thiêng, người ta tin rằng hoa Diên Vĩ có khả năng chữa bệnh và đã được dùng làm thuốc từ thời xa xưa. Vào thế kỷ đâu tiên sau Công Nguyên, vị y sĩ Hy Lạp Dioscorides đã đưa ra bài thuốc dùng rễ cây hoa Diên Vĩ uống với mật ong, giấm hay rượu vang để chữa ho, cảm lạnh, khó tiêu và chứng đau thần kinh tọa. Rễ cây hoa Diên Vĩ cũng được dùng để tạo hương thơm.

HOA MIMOSA
Mimosa có tên khoa học là Acacia Podalyriaefolia Cunn Mimosaceae, nguồn gốc từ Australia nhập về Đà Lạt♥
Chuyện kể rằng: Ngày xưa, ở vùng đất Australia tươi đẹp nằm giữa biển khơi đầy nắng ấm có một đôi tình nhân yêu nhau say đắm, chàng là con của một ngư dân, có thân hình vạm vỡ, nước da đen bóng và một trí thông minh tuyệt vời. Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc đẹp rực ỡơ, đài các, yêu màu vàng và được Chúa ban cho một tấm lòng nhân hậu. Họ đã trao nhau những nụ hôn say đắm và cả cuộc đời trên cảng biển Sydney thơ mộng♥
Nhưng rồi, gia đình nàng lại ép gả cho một Công tước Hoàng gia. Sau bao phen phản đối kịch liệt không thành, nàng đành chấp nhận lên xe hoa. Chàng buồn phiền từ giã biển khơi, bỏ nghề chài lưới, lên một vùng núi cao hiểm trở làm nghề giữ rừng để tìm quên mối tình tuyệt vọng. Khi đặt chân đế nơi, thì một trận hỏa hoạn dữ dội xảy ra. Một mình chàng bất chấp hiểm nguy để cứu những cánh rừng xanh và những con Calcuru tội nghiệp. Và rồi, ngọn lửa quái ác kia đã làm chàng ngất xỉu và thiêu sống chàng♥
Khi hay tin chàng trai bỏ thành phố biển lên ngàn tìm quên mối tình đầu dang dở, trong đêm tân hôn cô gái đã bỏ trốn để tìm người yêu. Nhưng, hỡi ơi! khi gặp được thì nàng không còn tin vào mắt mình nữa vì nhìn thấy thân xác chàng bên đống tro than của cánh rừng bị cháy
Nàng quỳ xuống và gục chết bên người yêu. Từ đó, trên vùng núi cao của đất nước Australia thơ mộng – nơi cặp tình nhân đã chết cho tình yêu xuất hiện một loài cây thân mộc, lá màu xanh biếc, lấp lánh hoa vàng thơm mát. Thổ dân địa phương đặt cho loài cây này một cái tên thật đẹp: Mimosa!
Truyền thuyết về hoa mimosa là vậy. Ngày nay, khi các cặp tình nhân tặng hoa Mimosa cho nhau để khẳng định sự chung thuỷ, luôn hướng về người mình đem lòng yêu thương♥
Anh sẽ cài lên tóc em
Một cành hoa mimosa
Thay lời thì thầm anh muốn nói
Tìm đâu đó một nụ cười hé nở
Rạng ngời ánh dương mãi không tàn

HOA TIGÔN
Câu chuyện xảy ra ở thành phố Athens.
Theo truyền thuyết Oedipus Rex cho rằng Cadmus, người lập thành phố Athens, tức giận thần Apollo nên giết chết vị thần rắn. Thần Apollo tức giận nên có lời nguyền, dân Athens sẽ bị bệnh dịch cứ mưới năm sẽ có một trân dịch lớn, giết hại ngàn người. Cho đến ngày kia những đứa con của Camuds sẽ mắc vào lời nguyền nếu Laius (vua Thebes sau này) và vợ Jocasta khi nào sanh ra một đứa con mà chân có bớt đỏ màu máu thì chính đứa bé này ngày kia sẽ giết cha, rồi kết hôn với mẹ.
Vua Athens, Laius, sau khi nghe tin vợ mình, Jocasta, sanh một bé trai khỏe mạnh, gót chân bé có một màu đỏ máu, trước rất vua mừng, nhưng chợt nhớ đến lời nguyền truyền kiếp trăm năm trước nên vua lo sợ sai tên hầu cận, đêm khuya phải đem đứa bé lên núi cao mà giết nó, rồi đem trái tim nó về trình diện cho ta.
Người hầu cân nghe lời, nửa đêm đợi hoàng hậu ngủ yên, tên này mới bồng đứa bé, rồi cưỡi ngựa chạy về dãy núi cao. Dãy núi cao đó tên là Mt. Cithaeron. Đứa bé sơ sanh ngủ ngon lành, tên hầu cận không nỡ giết, nên giao bé cho một kẻ chăn cừu trên triền núi Cithaeron, rồi đem một trái tim cừu về trình diện vua Laius. Thấy trái tim con mình, vua Lauis bật khóc, nhưng làm sao hơn được, vì lời nguyền này mà đứa bé con mình sẽ giết mình chết, rồi lấy vợ mình. Kinh hồn chưa?
Tên chăn cừu ôm đứa bé, xuống làng chân núi mà xin sữa cho bé, bé không chịu uống sữa cừu. Gõ ngay cửa nhà, người đàn bà ra mở cửa, thấy bé dễ thương nên cho tiền tên chăn cừu mà mua đứa bé cho mình. Merope, vợ vua Polybus (vua xứ Corynth) đặt tên bé là Oedipus Rex (Oedipus nghĩa là gót chân đỏ hay gót chân sưng danh từ HyLạp cổ xưa). Đứa bé lớn lên khỏe mạnh, làu thông võ nghệ, chân tay chắc nịt, gươm giáo, tên nỏ chàng làu thông. Ngày kia lên trên đền thờ Delphi, thì gặp một giáo sĩ tiên tri Pythia lập lại lời nguyền của Apollo là Oedipus sẽ giết cha và lấy mẹ làm vợ. Oedipus kinh hoàng, nên bỏ xứ Corynth mà trốn đi xa. Trên con đường rong ruổi, chàng thấy một cỗ xe ngựa chạy vùn vụt đến, trên xe có 2 người, chưa kịp tránh thì bánh xe ngựa cán ngang chân chàng trai, tên lái xe lại vụt Oedipus một roi vào mặt rồi cười khoái trá. Oedipus tức giận, dù chân bị thương nhưng chàng vẫn rượt kịp chiếc xe ngựa, ghì cương ngựa lại hỏi thì tên hầu cận liền rút gươm đâm Oedipus. Chàng trai né được, thuận tay anh bẻ gươm đâm trả lại tên tài xế, trên xe có một người trọng tuổi cũng rút gươm đâm Oedipus. Bất khả tránh, Oedipus liền trở lưỡi gươm này đâm lại luôn một phát. Giết luôn ông già này. Chuyện nhỏ bánh xe cán ngang chân, nay trở thành ra chuyện giết người, nếu tên đánh ngựa có lời xin lỗi chàng thì mọi chuyện xong rồi. Nay cán chân người ta rồi còn đánh người ta nữa như vậy còn gì đạo lý nữa…
Giải quyết xong, Oedipus hướng về thành Athens (thành phố vô cùng lộng lẫy nhất thời đó). Lúc này dân trong thành đang cực kỳ hoảng hốt, vì thành Athens đang bị bệnh dịch. Cứ 10 năm thì đáo trở lại không ai trị được bệnh dịch này. Đồng thời kèm bệnh dịch thì có thêm một hung thần Sphinx (đầu người mình sư tử), xuất hiện mai chỗ này mốt chỗ kia. Hung thần này hay ăn thịt người ta. Trước khi ăn thịt thì thần Sphinx hỏi nạn nhân một câu: “Con vật gì mà ban mai thì đi bốn chân, trưa thì hai chân, chiều tối thì ba chân?” Nếu trả lời được, thì lời nguyền sẽ được tan biến theo hình ảnh của hung thần Sphinx. Dân chúng xứ Thebans không một ai trả lời được. Cùng lúc đó, vua láng giềng Damasistratus được lính báo rằng vua Laius bị kẻ lạ mặt giết chết trên con đường về thành Delphi. Như vậy hoàng hậu Jocasta trở thành góa bụa rồi. Vua ban chiếu khắp xứ Creon, luôn thành Athens, nếu ai mà giết được hung thần Sphinx thì nhà vua sẽ chia nửa giang sơn cho người đó, và gả em gái mình là Jocasta cho người đó. Hung thần Sphinx rất dễ giết nếu giải được câu hỏi mà hung thần hỏi trước khi bị giết thì thần Sphinx sẽ bị biến hình bốc hơi mất lên cung đình Zeus. Phần thưởng được dán khắp ngã tư đường, từ mọi ngã đường về thành phố Athens. Dân Thebans càng lúc càng chết nhiều hơn và hung thần Sphinx xuất hiện thường xuyên hơn nữa. Dân xứ Creon kinh hoàng, thành phố Athens trở nên hoang vắng như bãi tha ma. Không một ai dám ra khỏi nhà khi màn đêm kéo đến.
Oedipus không biết chuyện này, chàng trai trẻ đi đến cổng thành Athens thì thấy bảng treo của vua láng giềng Damasistratus cho ai giải được câu hỏi của thần Sphinx thì sẽ cưới được em gái vua tên là Jocasta, rồi được chia nửa giang sơn Creon cho. Định mạng khốc liệt đang chờ chàng tại nơi đây.
Thình lình hung thần đầu người mình sư tử Sphinx hiện ra, trước khi xé xác chàng trai lạ mặt, thần đưa câu hỏi kết thệ (riddle) như lần trước: “Vật gì mà ban mai đi bốn chân, trưa đến thì đi hai chân, chiều về thì đi ba chân?” Chàng trai Oedipus Rex không do dự trả lời liền: “Đó là con người. Lúc ấu thơ thì bò bằng bốn chân, khi lớn thì đi bằng hai chân, về già với cây gậy thì đi bằng ba chân.” Lời thệ nguyện (riddle) được giải lập tức hung thần Sphinx rùng mình biến hình, rồi bốc hơi tan mất trước hàng ngàn cặp mắt sợ sệt dân thành Athens. Bệnh dịch lập tức không còn nữa. Giữ lời hứa, vua Damasistratus làm lễ thành hôn Jocasta, em gái mình cho chàng trai trẻ phương xa đến. Toàn dân hoan hỉ, hoàng hậu Jocasta xinh đẹp cũng nguôi ngoai tang lòng ngày xưa. Chàng trai làm vua được hai chục năm, thì biết được tin vua trước mình là Laius bị kẻ lạ mặt giết chết, hung thủ không tìm ra. Vua Oedipus Rex bèn treo giải thưởng cho toàn dân tìm cho ra hung thủ giết vua Laius. Oedipus và Jocasta có 4 người con, tên là Antigone, Ismene, Eteocles và Polyneices. Riêng người con gái Antigone trẻ nhất, xinh đẹp và rất có hiếu với cha mẹ.
Ngày kia, tin dữ dưa đến. Người hầu cận ngày xưa của vua Laius, người mà được lệnh vua đem dứa bé có gót chân đỏ vào núi rừng giết chết. Hầu cận này tình cớ thấy gót chân vua, khi vua bước qua một tảng đá cuội trên dòng suối cạn. Hầu cận này đã già, nhưng vẫn nhớ chuyện ngày xưa. Vua Oedipus nghe được chuyện, biếtchính mình là kẻ đã giết cha ruột. Đứa con sát thân phụ. Chuyện cũ ngày xưa trở về tâm trí mình. Trong lúc nóng giận vì bánh xe cán ngang chân, tên đánh ngựa là kẻ hung tàn, lại còn muốn giết mình nữa. Vì tự vệ thôi, nhưng tại sao lão già cùng chung xe ngựa, cũng lại rút gươm đâm mình nữa? Tại sao lại có chuyện như vậy. Chuyện nhỏ đâu đáng gì? Nếu tên đánh xe ngựa biết lời xin lỗi thì chân ta dù đau cách mấy ta cũng nguội lòng. Vua Oedipus nghe được câu chuyện ngày xưa của mình. Về cung điện, bỏ ăn bỏ ngủ ba ngày đêm liên tiếp. Chuyện kinh hoàng không thể nói nên lời. Trời ơi! Vợ mình Jocasta đang say ngủ trên giường có phải là vợ mình hay không? Còn người nào mà ngày xưa đã cho mình bú, mang nặng đẻ đau mình, nay lại là vợ mình sao? Còn mấy đứa con nữa, Antigone xinh đẹp có phải là con mình hay là em gái của mình vì Jocasta sanh ra? Không thể được. Trời ơi, ngàn lần không thể được như vậy đâu. Hỡi Thượng Đế, hỡi Thần Zeus, tại sao lại là con? Như vậy tình sao đây? Tiếp tục cùng Jocasta yên vui hạnh phúc trên ngai vàng này chăng? Không! Trăm ngàn lần không. Trời ơi!
Ngày kia, vua Oedipus không chịu nỗi cắn rứt lương tâm, không muốn thấy Jocasta, Antigone, Ismene, Eteocles. Vua Oedipus Rex bèn dùng tay móc cặp mắt của mình. Trọn đời mù lòa. Ông bỏ cung điện mà lang thang trong rừng sâu núi thẳm. Cô gái xinh đẹp nhất, Antigone thương cha mình tự dưng nổi điên mà tự làm đui mù, nên Antigone khóc nức nỡ mà chạy theo cha vào rừng sâu núi thẳm. Đi xin ăn nuôi cha mình, lo giấc ngủ cho cha mình. Một lòng hiếu thảo vô biên, nhưng cô không hiểu tại sao cha mình, từ khi đui mù thì lại tìm cách xa lánh mình, không muốn nói chuyện gì với mình hết, ngày đêm than khóc mà thôi. Cha mình cũng không gọi tên mình Antigone một cách trìu mến như ngày xưa? Tại sao như vậy? Mình đâu có một lần nào lầm lỗi với cha mình đâu? Tại sao như vậy? Antigone không trả lời được. Antigone chỉ khóc thầm mà thôi khi đêm về. Còn mẹ, tuy vắng mình, nhưng vẫn còn mấy anh em an ủi, còn cha chỉ một mình cô đơn nơi rừng sâu núi thẳm. Không, mình phải theo cha mình trọn nghĩa mới được. Tội nghiệp cha tôi. Tại sao cha phải làm như vậy? Cho tới ngày kia cha ruột mình chết héo rủ trong một ngôi đền Eumenides ở Colone. Chôn cất cha xong, Antigone trở về Athens. Nhưng câu chuyện thương tâm lại đổ thêm vào đầu cô gái vô tội. Người ta đã kết án tử anh mình, vì không tuân lệnh Creon, đã cử hành nghi lễ chôn cất cho anh mình Polynice, vì người ta kết tội anh mình là kẻ phản quốc theo địch. Antigone bị bắt, rồi Thượng hội Đồng kết án tử nàng. Bắt giam sống trong ngôi nhà mồ của dòng họ. Cửa nhà mồ bị bít kín, ngày đêm dưới mộ sâu, Antigone chiu không nỗi thảm cảnh xảy ra liên tiếp cho đời mình. Antigone đành quyên sinh. Dân làng sau đó lập một ngôi mộ mới chôn nàng. Nhưng tại ngôi mộ của cô gái đầy lòng hiếu thảo với cha, lòng thương anh và mẹ, có một loài hoa lạ mọc trên ngôi mộ của mình. Dân thành Athenes không dám gọi thẳng là tên Antigone, mà người ta gọi tắt là hoa Tigone.
Nho nhỏ, sắc hoa có năm, màu đỏ thắm, có năm màu tang trắng. Mau tàn, nhưng đầy sự lung linh sống động. Loài hoa Tigone… “

HOA MƯỜI GIỜ
Truỵện kể rằng ở một đất nước nọ, quanh năm chỉ có mùa đông băng giá, người đời không hề biết tới sư tồn tại của một ngôi làng nhỏ bé, nơi tràn ngập ánh nắng và qui tụ tất cả các loại hoa đẹp trên đời. Đó cũng là nơi yên tĩnh nhất và thơ mộng nhất trên thế gian. Trưởng làng là một người đàn bà góa chồng, 1 mình nuôi dưỡng đứa con trai độc nhất. Thời gian cứ thế trôi đi, thằng bé năm nào còn nằm trong nôi nay đã to khoẻ và tuấn tú lạ thường. Kế thừa bản tính nhân hậu của người mẹ, hắn thường hay giúp đỡ dân làng trong những việc nặng nhọc nên rất được mọi người quí mến, nhà nào có con gái đến tuổi lấy chồng cũng ước ao con mình được lấy hắn về làm rể.
Rồi ngày đó cũng tới, trái tim của cậu bé bắt đầu biết rung động : phải hắn đã yêu. Trai tài gái sắc, người con gái có một vẻ đẹp thuần khiết khiến ai ai cũng ngưỡng mộ. Ban ngày 2 người nắm tay nhau tản bộ trên bờ biển hoặc dong duổi trên những ngọn đồi phủ đầy cỏ xanh, đi xuyên qua những bóng cây cổ thụ râm mát. Buổi trưa họ trải mình trên tấm nệm cỏ. Xế chiều họ cùng nhau nô đùa trên bãi cát trắng cho tới chiều tối. Cô gái mồ côi cha mẹ từ bé nên chỉ có người con trai là người thân duy nhất nên dành trọn tất cả tình cảm vào thằng bé. Ngược lại cậu trai còn người mẹ già nên thường phải về nhà trước khi mặt trời lặn. Cô gái lại phải chờ tới sáng hôm sau để được gặp chàng trai.
Ngày này qua ngày khác, cứ đúng 10 giờ hai người hẹn nhau, tay trong tay vui đùa trước biển xanh. Tình yêu của họ tưởng chừng không gì có thể chia rẽ được. Nhưng một ngày nọ chàng trai không tới chỗ hẹn, cô gái đứng đợi, lâu rất lâu nhưng vẫn không thấy bóng dáng của người con trai.
Rồi thời gian trôi qua, cô đã chờ được 1 ngày nhưng vẫn không thấy hắn đâu, ngay lúc đó, người con gái tưởng chừng như bầu trời muốn sụp đổ. Cô muốn òa khóc nhưng sợ rằng người con trai tới nơi thấy đôi mắt đỏ hoe của mình sẽ buồn và lo lắng nên cô nuốt những giọt nước mắt đó vào trong lòng.
Thời gian lại trôi qua cô gái đã chờ được 1 tuần, cô muốn chạy đi tìm chàng trai nhưng sợ hắn sẽ tới và không thấy cô đâu rồi sẽ bỏ đi. Nghĩ vậy nên cô ghìm bước chân lại và tiếp tục chờ. Cho tới khi sức lực cạn kiệt cô gái quị xuống và trút hơi thở cuối cùng, trước khi chết cô không hề oán hận người con trai mà chỉ tự trách tình yêu của mình dành cho người con trai không đủ để tiếp sức cho cô ta tiếp tục chờ đợi và hy vọng.
Sau này xác của cô gái dược sóng mang ra giữa biển và chìm vào trong lòng của đại dương. Nơi người con gái ngã xuống mọc lên 1 loài hoa màu tím, cứ khi chuông đổ 10h là hoa lại nở rộ, từng cánh hoa một hứng lấy những hạt nắng của mặt trời để sưởi ấm cho những giọt nước mắt chất chứa trong lòng của người con gái. Người ta ví hoa 10 giờ chính là hiện thân của cô gái si tình đó, hoa nở tượng trưng cho lời hẹn ước năm nào của cô đối với chàng trai; Dù thời gian có trôi đi nhưng lời hứa của cô không hề phai tàn, cô vẫn tin vào 1 câu hẹn ước và vẫn tiếp tục đợi cho dù người con trai đó sẽ không bao giờ tới.

TRUYỀN THUYẾT HOA BAN
Tình yêu sơn cước, lòng hiếu thảo, biết ơn, bà chúa của lễ hội
Hằng năm, cứ vào dịp tháng 2 âm lịch, thời tiết nắng ấm, ở vùng Tây Bắc hoa ban bắt đầu nở trắng núi, trắng rừng. Lúc này cũng là thời kỳ lúa chiêm gặp mưa xuân, xanh mơn mởn trên các cách đồng lúa nước.
Về loài hoa đặc trưng của núi rừng Tây Bắc, truyền thuyết của người Thái kể rằng: Thuở ấy, có một chàng trai tên là Khum đem lòng yêu cô gái tên là Ban. Khum vừa giỏi làm nương, lại có tài săn bắn. Ban thì khéo tay dệt vải lại có giọng hát làm say đắm nhiều chàng trai. Thế nhưng, cha nàng Ban vì ham giàu nên đã đem gả nàng cho con trai nhà tạo mường, vốn là một thanh niên lười nhác, lại có tật gù lưng.
Mặc cho cô gái hết lời van xin, người cha vẫn không từ bỏ ý định, và ông đã bàn bạc cùng với nhà tạo mường sửa soạn làm lễ cưới cho hai người. Trong bước đường cùng, nàng Ban đã chạy sang bản của Khum gặp chàng để cầu cứu. Nhưng chẳng may khi đến nhà Khum, thì được tin chàng đã theo cha đi mua trâu ở bản xa. Nàng bèn lấy chiếc khăn piêu của mình, buộc vào nơi cầu thang nhà người rồi bươn bả đi tìm chàng. Nàng đi hết núi này, rừng khác, gọi tên người yêu đến khản cả giọng, nhưng chàng ở xa nào có nghe thấy. Cuối cùng kiệt sức nàng ngã gục sau khi vượt qua một dãy núi cao.
Nơi nàng nằm xuống sau đó mọc lên một cây hoa mang búp trắng như búp tay người con gái. Và chẳng bao lâu, loài hoa ấy mọc lan ra khắp núi rừng Tây Bắc, và hằng năm cứ mỗi độ xuân về, hoa nở trắng như bông. Người ta đặt tên loài hoa đó là hoa ban.
Về phần Khum, sau khi về đến nhà, thấy chiếc khăn piêu của người yêu vắt nơi cầu thang, biết là có chuyện chẳng lành, bèn vội vã đi tìm nàng. Dò hỏi bà con bên bản người yêu, Khum biết được là nàng đã bỏ nhà ra đi, còn đi đâu thì không rõ. Thế là chàng trai lên đường đi tìm người yêu, đi mãi hết mường này, bản khác mà vẫn không tìm thấy bóng người yêu. Cuối cùng, chàng kiệt sức, ngã xuống. Sau khi chết, chàng hoá thành con chim sống lẻ loi trong rừng, và cứ đến mùa hoa ban nở, lại hót vang như tiếng gọi người yêu tha thiết từ năm nào.
Sơn La, cứ xuân sang, hoa ban nở trắng trên các sườn núi, thì nam nữ thanh niên trong các bản mường lại rủ nhau đi hội chơi núi, hái hoa mừng xuân. Đây cũng là dịp nam nữ thanh niên vui chơi, ca hát, đánh đàn tính, thổi kèn, múa xoè, trao và đón nhận tình yêu.
Từ sáng tinh mơ của ngày hội, tiếng trống, tiếng chiêng, âm vang truyền lan núi rừng. Các bếp nhà sàn bập bùng lửa đỏ: đồ xôi, luộc gà, thái măng; có nhà mổ lợn bày cỗ. Rượu cần từng vò lớn, nhỏ được bê ra để chuẩn bị đãi khách. Đó là những công việc phần lớn thuộc về lớp trung niên và người già. Còn những chàng trai, cô gái thì áo quần, khăn váy chỉnh tề, gọi nhau í ới và cùng đổ ra đường dẫn đến những cánh rừng có nhiều hoa ban nở. Họ chọn những cành hoa đẹp nhất, vừa hé nụ đều nhất để tặng người yêu và biếu bố mẹ. Theo quan niệm của người Thái, hoa ban không chỉ tượng trưng cho tình yêu, mà còn là biểu tượng của lòng hiếu thảo, biết ơn.
Cũng trong ngày hội này, trên dòng Nậm Na, thường diễn ra các cuộc hát giao duyên của nam nữ trên thuyền. Thuyền trôi nhẹ trên dòng nước; các cô gái duyên dáng che ô ngồi ở mũi thuyền, bên cạnh những bó hoa ban tươi thắm vừa mới hái, cất lên tiếng hát những bài dân ca mượt mà, giãi bày cảm xúc và tâm trạng riêng tư, trong khi các chàng trai ngồi ở phía đuôi thuyền, vừa lái thuyền, vừa đánh đàn tính, thổi sáo.
Người Thái ở huyện Mai Châu (Hoà Bình) lại có thủ tục mở hội Xên bản, Xên mường. Hội mở vào dịp hoa ban nở, nên còn có tên là hội Hoa ban. Hội tổ chức định kỳ hằng năm, nhưng quy mô to hay nhỏ còn tuỳ thuộc vào thời tiết có liên quan đến sự được, mất của mùa màng năm đó. Vào khoảng tháng giêng, người Thái rất chú trọng đến tiếng sấm đầu năm. Theo quan niệm lâu đời của đồng bào ở đây, tiếng sấm là dấu hiệu linh thiêng, là “lời phán quyết của vua trời” có liên quan đến cuộc sống của bản mường, của mùa màng năm đó.
Hội Xên bản, Xên mường mở vào mùa hoa ban nở là hội cầu mùa, cầu phúc của người Thái. Họ gửi gắm vào đó những ước vọng lớn lao về một cuộc sống bình yên, no ấm nơi bản mường, đồng thời cũng là dịp thi tài, vui chơi, trai gái tìm hiểu, tâm tình qua tiếng hát, tiếng đàn…

HOA HƯỚNG DƯƠNG
Khi các cô gái của thần Mặt Trời tắm táp xong, đáp thuyền du ngoạn ra tận biển khơi thì nàng út mới sực nhớ ra là nàng đã bỏ quên chiếc vương miện bằng vàng của mình trên cành cây sồi ven bờ. Không có vương miện, nàng không dám về nhà và nàng tha thiết xin các chị hãy quay thuyền lại.
Nhưng các chị kêu mệt, thoái thác và chỉ muốn được đi nằm ngủ ngay, còn nếu nàng út lơ đễnh quá đáng như vậy thì hãy tự quay lại bờ một mình, và cứ đứng chờ ở đó một mình cho đến sáng, cho đến khi các chị lại trở lại tắm lần nữa.
Nàng út bơi đến bờ…. nhưng thật là khủng khiếp : chiếc vương miện không còn trên cành sồi nữa! Dưới gốc cây là một chàng trai tuấn tú, tóc đen, mắt xanh màu nước biển. Chàng giơ cả hai cánh tay vạm vỡ về phía cô gái và ôm chầm lấy nàng vừa nói những lời ngọt ngào tựa mật ong vàng.
- Nàng hãy ở lại đây mãi mãi với ta, đôi ta sẽ yêu nhau và đừng bao giờ xa nhau – Chàng thì thào rồi lại hôn nàng thật lâu và thật thắm thiết.
- Em ở lại trần gian sao được, hỡi chàng? Ðêm tối ở đây mịt mùng, lạnh lẽo lắm, mà em đã quen ở lầu son, gác tía, nơi dưới từng trần nhà đều có những chùm ngọc tía sáng chói; ban ngày em ngồi dệt chỉ vàng, tối đến đi tắm biển thật thoả thích. Trong những buổi vũ hội, chúng em nhảy múa cùng các chàng trai của Hằng Nga và cưỡi những con ngựa bạc. Chàng có thể hứa hẹn với em một cuộc sống như thế nào ở nơi trần thế này? – Con gái Thần Mặt Trời hỏi.
- Ta hứa với nàng sẽ có những buổi sáng đầy sương làm mát dịu đôi chân nàng, sẽ có tiếng chim ca, tiếng lá cây rì rầm làm vui tai nàng. Ta hứa với nàng những ngày lao động cật lực và cái mệt mỏi vào những buổi chiều. Còn đêm đến, nàng sẽ được sưởi ấm trong vòng tay ôm ấp của ta – con trai Thần Ðất nhẹ nhàng đáp lời.
- Chàng hãy chỉ cho em vẻ đẹp tuyệt vời của trần thế đi, khi đó em sẽ quyết định có ở lại với chàng hay là quay về quê hương – con gái Thần Mặt Trời nói.
Và con trai Thần Ðất đã dẫn nàng út tới bên bờ sông, nơi có những cây Anh Ðào nở hoa và tiếng hoạ mi líu lo. Chàng trai hỏi:
- Nàng đã được nghe bài ca tuyệt diệu ấy bao giờ chưa?
- Chưa, – nàng út thú nhận.
- Thế nàng đã được nghe tiếng sóng nước ồn ào của những con sông đổ ra biển cả chưa? Nàng cảm thấy hương hoa Anh Ðào thế nào? Và nàng đã biết tình yêu là gì chưa?
- Chàng chính là tình yêu của em, em sẽ ở lại đây với chàng – nàng út sung sướng hứa. Và con trai Thần Ðất bèn dẫn nàng tới một căn hầm để nàng được thấy lại vương miện của mình.
Cứ sáng sáng, Thần Mặt Trời lại ra rả gọi con gái quay về thiên cung, đồng thời không quên báo cho nàng biết, nếu nàng quyết chí ở lại hạ giới thì nàng sẽ phải làm việc quần quật ngoài đồng. Nhưng nàng út khăng khăng không chịu vâng lệnh cha, bởi lẽ nàng cảm thấy cuộc sống nơi trần thế này thú vị hơn nhiều so với ở thiên cung, nơi mà nàng đã chán ngấy những chuỗi ngày lê thê ngồi bên khung cửi. Ở trần thế nàng được nghe không biết chán tai tiếng sông nước chảy rì rào, tiếng hoạ mi lảnh lót và được thưởng ngoạn những mùa hoa Anh Ðào rực rỡ. Thần Mặt Trời đành phải gửi của hồi môn cho nàng út, và nàng đã làm lễ thành hôn với chàng trai trần thế.
- Ta không ưa chàng trai Thần Ðất, song ta không thể cấm đoán tình yêu của con được. Nhưng không nên vì ái tình mà con xem thường quê hương, tổ quốc. Sẽ xảy ra chuyện gì, nếu con thấy buồn nhớ nhà? – Thần Mặt Trời hỏi và khép màn mây lại có ý báo rằng, cuộc trò chuyện với con gái đã chấm dứt.
- Con sẽ không cầu xin trở về đâu! – nàng út kêu lên một cách kiêu ngạo.
Hôn lễ vừa xong, mẹ Thần Ðất đã bắt con dâu phải lao động. Nàng phải ra vườn coi sóc đàn ong, còn công việc khác xem chừng đôi tay trắng ngần của nàng không cáng đáng nổi. Bây giờ hàng ngày nàng út phải đứng chôn chân giữa vườn trông coi đàn ong để chúng khỏi lạc vào tổ khác. Ngày tháng cứ trôi qua bình lặng, tẻ ngắt như tiếng ong rù rì. Còn đâu nữa những buổi dong chơi trên lưng ngựa bạc, những đêm nhảy múa cùng các chàng trai của Hằng Nga, những chuyến du ngoạn bằng thuyền trên biển lớn cùng các chị?
Những con ngựa bị xua đuổi ra cánh đồng nặng nề lê từng bước còn chàng trai Thần Ðất bị công việc đồng áng hút hết sức lực nên chẳng còn thời gian nói với nàng những lời lẽ âu yếm nữa. Một hôm nàng út đòi:
- Chàng hãy mang hoa Anh Ðào về cho em!
- Hoa Anh Ðào chỉ nở có mùa thôi – chàng trai giận dữ đáp.
- Hãy mang tiếng hót hoạ mi về cho em nghe!
- Hoạ mi đâu phải lúc nào cũng cất tiếng hót.
- Ðã lâu rồi chàng chưa hôn em. Chả lẽ tình yêu của chàng không còn vĩnh hằng nữa sao?
- Tình yêu không là vĩnh hằng.
- Vậy thì cái gì là vĩnh hằng, thưa chàng?
- Lao động là vĩnh hằng – chàng trai đáp và cầm cái liềm đi ra đồng.
Con gái của Thần Mặt Trời lại phải ở nhà một mình. Nàng buồn nhớ nơi chôn rau, cắt rốn đến nỗi mất cả lòng kiêu ngạo bấy lâu nay, nàng quay về phía Mặt Trời da diết cầu xin :
- Hỡi Thần Mặt Trời kính yêu của con, xin người hãy chấp thuận lời giãi bày của con đây. Hiện giờ con rất nhớ quê nhà. Con thường nằm mơ thấy những con đường của tuổi ấu thơ, thường nghe các chị dệt trên khung cửi rào rào. Người hãy thương con và cho con được trở về thiên cung!
Thần Mặt Trời chỉ im lặng.
Nàng út vẫn không ngừng van xin :
- Hỡi người cha đáng kính, chẳng nhẽ Người không cảm thấy đứa con gái của Người đang bất hạnh trên đất khách, quê người ? Người hãy gọi con về, nếu Người không muốn thừa nhận con là con gái nữa thì con xin làm kẻ hầu hạ Người.
- Con gái ta ở hạ giới quá lâu rồi, đến nỗi đôi chân con đã bén rễ, khó mà bứt ra được. Giờ đây, Cha không thể giúp con được nữa.
Thần Mặt Trời vừa dứt lời, Người dùng ngay chiếc khăn mây trắng che kín hai mắt. Những giọt nước mắt của Người như những giọt thủy tinh trong suốt cứ rơi lã chã xuống đôi tay của con gái.
Nàng út toan nhấc đôi tay lên, song mặt đất này đã giữ chặt lấy nàng. Và nàng đã phải ở lại trần thế trong tình trạng như vậy, để rồi sau đó biến thành một bông hoa, luôn luôn hướng về phía mặt trời, về phía quê cha, đất tổ. Chính vì thế loài hoa này có tên gọi: Hoa Hướng Dương.

Ngày xưa có một em bé nghèo, mẹ mất sớm nên chỉ được sống với cha. Cha là chỗ để em nương tựa, nhưng cũng là người em phải chăm sóc, vì từ ngày mẹ không còn, cha em thường bị ốm đau luôn… Lúc mẹ còn sống, em cũng được đi học. Sau khi mẹ mất, em đành học nghề để kiếm tiền nuôi cha. Em rất khéo tay nên đến học chạm trổ với một ông bác họ rất giỏi về nghề này. Năm đó cha em ốm khá nặng. ông bác họ đã hết sức giúp đỡ nhưng sau đó đành chịu vì ông cũng nghèo.
Ông mách cho em bé biết là ở vùng dưới có một tên nhà giàu đang cất nhà mới, cần thợ chạm trổ cột kèo. Em liền nhờ ông bác họ chăm sóc cha hộ rồi xách đồ nghề đi ngay. Em mong sẽ kiếm được một ít tiền về thuốc thang cho cha. Gặp em, tên nhà giàu cho biết là hắn đã thuê đủ thợ rồi. Nhưng hắn lại hỏi em:
-Bây giờ tao không cần thợ chạm trổ mà cần một người giúp tao chuyện khác.
-Thưa ông chuyện gì?
-Mày biết ai có tài, cây chết rồi, vật chết rồi, người chết rồi, vẫn làm sống lại được thì mách cho tao, tao sẽ thưởng tiền và cho một ít thóc gạo. Tên nhà giàu này tiền của thì nhiều, nhưng lại không có một tí tẹo thông minh nào. Đã thế hắn lại thích tỏ ra ta cũng là người có chút ít chữ nghĩa và tài trí. Vì vậy, hắn thích chơi với những người có tài để học điều này điều nọ rồi đi khoe với bà con họ hàng hoặc với người này người kia. Nghe hắn bảo cần có một người có tài, cây chết rồi, vật chết rồi, người chết rồi, vẫn làm sống lại được, em bé liền nhìn ra sân, nhìn lên bàn thờ nhà hắn ta, ngẫm nghĩ một giây lâu rồi nói:
-Thưa ông, những việc ấy, ông có thể giao cho con…
-Con ông nào? Con nhà ai?
-Con chứ còn con nhà ai nữa?
-Mày ấy à?
-Dạ!
-Mày có thể cứu cây, cứu vật, cứu người chết rồi sống lại được à?
-Dạ!
-Mày tự làm à?
-Dạ!
-Mày làm không được thì sao?
-Thì con xin ở làm người giúp việc không công cho ông trong ba năm.
-Được!
-Nhưng còn nếu con làm được thì sao?
-Tao sẽ thưởng cho mày một chục quan tiền và một chục ông thóc. Em bé liền chỉ ra một dây bầu sắp leo lên đến giàn ở ngoài sân tên nhà giàu và nói:
-Xin ông cứ cắt ngọn, nhổ hết rễ cái dây bầu kia, con làm phép, dây bầu sẽ sống lại cho ông xem. Tên nhà giàu đần độn nghe nói liền làm theo ngay. Em bé cầm cái ngọn bầu, chùm rễ bầu ra về, nói chắc:
-Sáng mai, mời ông cứ dậy sớm ra mà xem! Sáng hôm sau, tên nhà giàu gắng dậy sớm (vì hắn ta vốn quen thói dậy muộn) ra chỗ cái gốc bầu bị ngắt ngọn, cắt rễ thì đã thấy cây bầu sống lại thật. Khi em bé đến, hắn ta mở mắt ra mà nhìn em rồi khen:
-Hi! Hi! Mày giỏi lắm! Dây bầu sống lại thật rồi! Mày làm như thế nào, thử nói tao nghe!
-Thưa ông, để con cứu vật, cứu người, nhận thưởng của ông rồi con hãy nói luôn một thể.
-Hi! Hi! ừ! Như vậy cũng được! Em bé lại chỉ con gà trống tơ đang đi trên sân rồi nói:
-Thưa ông, ông cứ cho người nhà bắt con gà trống tơ kia thịt đi, sau đó ông cứ cho con bộ lông của nó con mang về nhà, ngày mai con sẽ mang nó sống lại nộp cho ông! Tên nhà giàu ngu ngốc liền sai người nhà làm y lời em bé bảo. Em bé nhận bộ lông gà đủ các màu xanh trắng, tía ra về. Hôm sau em trở lại, mang theo một con gà trống tơ, đưa cho tên nhà giàu xem và nói:
-Con đã làm phép cho nó sống lại rồi. ông xem có phải đúng là con gà nhà ông đã bị giết thịt hôm qua không? Tên nhà giàu đần độn ngu si càng trố mắt ra mà nhìn em bé, hắn nói:
-Hi! Hi! Đúng là nó rồi! Giỏi thật! Mày làm cách nào mà lại cứu sống được nó. Nói ngay cho tao nghe đi.
-Con đã nói từ đầu là xong cả ba việc, cứu cây, cứu vật, cứu người, nhận xong tiền thưởng, thóc thưởng con mới nói kia mà! Tên nhà giàu đành phải nhượng bộ lần nữa. Em bé liền nhìn lên bàn thờ tên nhà giàu nói:
-Bây giờ ông cho con mượn cái bức vẽ ông cụ nhà, để con đem về một ngày, sáng mai con sẽ mang ông cụ sống lại đến cho ông. Tên nhà giàu ngu ngốc lại làm đúng theo lời em bé. Hắn ta vừa bàng hoàng, vừa kinh ngạc hỏi lại:
-Ngày mai, chú sẽ đưa ông cụ tôi sống lại đến đây à?
-Dạ! Tên nhà giàu cứ đứng ngẩn người ra mà nhìn em bé mang cái bức vẽ ra về… Hôm sau em bé cầm bức vẽ trở lại, tên nhà giàu hỏi ngay:
-Ông cụ nhà tôi sống lại chưa?
-Dạ rồi!
-Sao chưa thấy ông cụ đâu cả! Em bé liền chỉ vào cuộn giấy nói:
-Dạ, ở trong này rồi! Nói xong em bé mở cuộn giấy ra. Tên nhà giàu trợn mắt hỏi:
-Thế này mà gọi là sống à?
-Dạ!
-Mày điên à?
-Dạ không! Thưa ông vậy ông bảo cụ này chết à?
-Không chết thì sống đấy? Em bé điềm tĩnh trả lời:
-Dạ, sống thật đấy chứ! Bởi vì người chết thì phải nhắm mắt. Mắt ông cụ vẫn mở to thế này, sao lại bảo là chết! Và người chết thì làm sao cười được. ông cụ cười thế này mà lại bảo là chết rồi sao? Như thế là em bé đã vẽ lại bức tranh, ông cụ trong bức vẽ mới lại hơi mỉm cười. Tên nhà giàu đần độn, ngu ngốc không biết làm sao đành phải chịu thua cuộc em bé. Lão ta còn khen:
-Hi! Hi! Mày khôn lắm! ông phải chịu là mày giỏi… Nhưng còn cái con gà trống tơ và dây bầu thì mày đã làm như thế nào?
- Ông cứ mang tiền và thóc thưởng ra đây, con nhận xong, con sẽ nói. Tên nhà giàu liền vào lấy tiền và sai người nhà đong thóc thưởng cho em bé. Nhận thưởng xong, bấy giờ em bé mới nói:
-Thưa ông, cái dây bầu kia sống lại là nhờ thế này. Con đã chọn một cái dây bầu giống như cái dây bầu nhà ông, đang đêm mang đến trồng lại, chỉ có thế thôi! Tên nhà giàu nghe nói cứ lặng người đi, vì xấu hổ. Em bé lại nói tiếp:
-Còn con gà trống tơ, thưa ông, nó cũng na ná như vậy. Con đã để ý và biết là trong xóm con có một con gà tía, rất giống con gà mà ông đã cho thịt. Gà rất nhiều con trông giống nhau, ông muốn có con nữa, con sẽ có ngay cho ông. Con bỏ tiền ra mua đem nộp cho ông rồi sẽ có tiền thưởng to hơn gấp nhiều lần mang về. Tên nhà giàu bấy giờ mới thấy hết cái đần độn, ngu ngốc của mình. Lão ta ôm đầu than thở:
-Chỉ có vậy mà mình chẳng đoán ra! Nhưng dù sao thằng bé này vẫn là đứa giỏi. Hi! Hi! Thưởng cho nó cũng phải lắm. Nghĩ đến chuyện rồi mình sẽ bắt chước em bé và sẽ có khối người phục mình, hắn vui vẻ nhìn em bé nhận tiền, nhận thóc ra về. Có lẽ trong việc này, hắn đã tỏ ra bớt phần ngu ngốc. Thấy con mang mười quan tiền và mười ông thóc về, người cha mừng rỡ lạ lùng. Nghe con kể lại chuyện, ông đang ốm cũng phải cười khẽ mấy tiếng… Người cha vừa khỏi bệnh thì tiền kia thóc kia cũng không còn nữa. Mà ngày giỗ mẹ sắp đến rồi. ông liền nói với con:
-Thôi con ạ, cứ nấu bát cơm, kho đĩa cá cúng mẹ là được rồi. Nhưng em bé hiếu thảo nào đâu chịu vậy. Em lại nghĩ đến tên nhà giàu tuy đần độn, ngu ngốc nhưng không đến nỗi keo kiệt kia. Em nghĩ bụng:
-Lần trước ông ta đố mình, bây giờ mình có cái gì đố lại nhỉ! Em định vậy nhưng chưa nghĩ ra được cách nào. Trước mắt em phải lo giỗ mẹ cái đã. Một bát cơm, một đĩa cá, nhưng cũng có tí hương hoa cho mẹ vui lòng. Em sẽ gắng tìm mua một nén hương. Còn hoa? Đang mùa cây khô, lá vàng, cả xóm chẳng thấy cái hoa nào để xin cả. Không có thì phải làm ra vậy!
Em bé vốn khéo tay lại vô cùng thông minh ấy liền chọn những lá lúa to đẹp nhất, cắt ra thành những sợi thật nhỏ rồi bó túm lại, bên dưới thắt thật chặt, còn bên trên thì cho xòe ra. Em lấy kéo tỉa thật đẹp, thật tròn. Sau đó em lại đi hái mấy cái lá xanh, buộc thêm vào ở dưới nhìn như cái đài hoa. Em làm một chùm năm cái, cắm vào ống tre, đặt lên bàn thờ cúng mẹ. Người cha thấy thế liền hỏi con:
-Con có thứ hoa gì mà lạ vậy? Em bé mỉm cười, ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:
-Hoa trăm tuổi đó mà cha! Hoa để cúng mẹ rồi mẹ sẽ phù hộ cho cha sống thật lâu với con đó!
-Mới nhìn, cha cứ tưởng là hoa thật. Lời nói của người cha bỗng làm cho em bé này sinh ra một ý mới. Vậy là sau khi cúng mẹ, em liền đem một bông hoa kia đến tên nhà giàu và nói:
-Tôi có bông hoa lạ mang đến để biếu ông và cám ơn ông đã thưởng cho tôi tiền, thóc dạo nào. Tên nhà giàu vui vẻ nhận hoa rồi hỏi lại:
-Hoa này là hoa thật hay hoa giả?
-Muốn thật thì nó thật mà muốn giả thì nó giả.
-Vì sao lại thật? Vì sao lại giả?
-Thật vì nó có thật mà giả vì nó không phải từ cây mà từ tay người làm ra. Em bé trả lời xong tiếp luôn:
-Lần trước ông ra bài cho con làm. Lần này con xin phép được đố ông một câu vì con nghe nói ông giỏi về chuyện giải các câu đố lắm. Tên nhà giàu nghe nói, gan ruột cứ nở nang cả ra.
-Ừ, đố đi!
-Con đố ông hoa này có bao nhiêu cánh. ông mà đoán trúng, con sẽ đến ở giúp việc không công cho ông ba tháng.
-Còn nếu không đoán đúng?
-Điều đó xin tùy ông! Con chỉ xin nói là hiện nay con đang cần vải để may cho cha con một bộ quần áo mới. Tết sắp đến rồi.
-Được, tao mà đoán sai, tao sẽ cho mày mấy thước vải về may áo cho cha mày.
-Dạ, vậy thì ông đoán đi! Tên nhà giàu nhìn vào bông hoa một lúc rồi nói:
-Tao đếm có được không?
-Đếm thì không phải là đoán nữa rồi. Nhưng xin ông cứ đếm. Tên nhà giàu thử đếm mà không tài nào đếm được vì cánh hoa nhiều quá, cứ xúm xít xen lẫn vào. Không làm sao biết rõ cánh hoa nào đã đếm, cánh hoa nào chưa đếm.
-Tao mở ra đếm có được không?
-Mở ra thì càng không phải là đoán nữa rồi. Nhưng xin ông cứ mở. Tên nhà giàu liền mở bông hoa ra, bắt đầu đếm. Ông ta đếm khá vất vả. Vì những cánh hoa bé và nhiều quá. Có lúc vừa đếm xong được một khóm gió bỗng thổi tung làm lẫn những cánh hoa chưa đếm vào. Có lúc chính ông ta quên mất là mình đã đếm đến chục thứ mấy, tám mươi
hay chín mươi… Nhưng ông ta vẫn quyết đếm cho kỳ được. Ông ta hớn hở trả lời luôn:
-Bông hoa này có vừa đúng một nghìn cánh! Em bé liền hỏi lại:
-Ông bảo là một nghìn cánh?
-Hi! Hi! Chứ sao nữa! Mày đã chịu thua tao chưa nào?
-Vậy thì ông sai, sai to rồi!
-Sao lại sai! Mày đếm đi!
-Thưa ông tôi đã đếm rồi! Phải nói là ông đã đếm đúng nhưng mà vẫn sai.
-Hi! Hi! Thằng này nói lạ: đúng mà lại sai! Như vậy là thế nào?
-Dạ vì ông đã quên rằng: Hoa nào thì cũng có cánh và có nhụy, ông đã đếm cả cánh và nhụy gộp vào với nhau rồi.
-Cái nào là cánh, cái nào là nhụy?
-Thưa ông, những cái ngắn hơn nhỏ hơn một chút là nhụy. Đây con sẽ chỉ cho ông xem. Em bé liền nhặt ra những sợi rơm nhỏ hơn và ngắn hơn một tí rồi bảo:
-Ông xem đấy là nhụy đâu phải là cánh!
-Nhụy thì nó nằm ở giữa, sao nhụy này lại lẫn lung tung?
-Dạ, vì bông hoa này gồm nhiều hoa nhỏ ghép lại, mỗi hoa có bốn cánh và một nhụy ở giữa.
-Vậy theo mày có bao nhiêu cánh, bao nhiêu nhụy?
-Tám trăm cái cánh, hai trăm cái nhụy! Một lần nữa, tên nhà giàu lại phải chịu thua em bé.
-Hi! Hi! Thằng này nói phải! Hoa thì phải có nhụy chứ! Tao quên, tao quên! Được, tao sẽ thưởng cho mày! Nhưng mày phải buộc lại cái bông hoa này để nó cho tao! Tao sẽ đem đi đố người khác xem họ có bị quên như tao không? Tao được cuộc, tao sẽ còn được to gấp mấy mày!
Em bé nhận được mấy thước vải về may áo Tết cho cha. Em kể hết đầu đuôi câu chuyện cho cha nghe. Lần này không còn bị ốm như lần trước, người cha đã bật lên cười thành tiếng.
Ăn Tết xong, người bác họ đi làm ở xa về bảo cho hai cha con biết là vua đang dựng một ngôi đền lớn và cần có nhiều thợ chạm trổ thật khéo tay. Ông rủ hai bố con em bé cùng đi với mình, hứa sẽ đưa em vào một nhóm người chuyên chạm trổ ở chân cột đền. Hai bố con cùng về kinh. Sau này, nhờ khéo tay, lại thông minh sáng tạo, em bé trở thành người thợ chạm trổ giỏi nhất nước.
Một lần người thợ tài giỏi ấy được gặp cháu thần cây là thần Tiêu Lá. Nghe người thợ tài giỏi nhất nước kể lại câu chuyện ngày nhỏ, thần Tiêu Lá liền hỏi thật kỹ, sau đó thần tạo nên một giống hoa để người đời nhớ mãi tấm lòng của chú bé hiếu thảo rất đỗi thông minh kia. Hoa có hình dáng rất giống cái bông hoa kết bằng rơm của em bé ngày xưa. Hoa cũng có màu vàng như rơm, đẹp tươi hơn rơm, mà cũng nở vào dịp Tết. Hoa nở nhiều bông, lâu tàn, có hương thơm đặc biệt như là hương thơm của lòng hiếu thảo. Lá cũng thơm, đẹp như được một người rất khéo tay cắt tỉa chạm trổ. Hoa ấy ngày nay ta gọi là hoa Vạn Thọ. Tên có hai chữ nhưng đó là cả một lời chúc cho ông bà, cha mẹ và tất cả mọi người được sống lâu trăm tuổi với những người thân của mình.

Hoa Anh Đào
Ngày xưa ở xứ Phù Tang chưa có hoa Anh Đào như bây giờ . Tại một ngôi làng xinh đẹp ven ngọn núi phú sĩ hùng vĩ ,có một chàng trai khôi ngô tuấn tú dũng cảm khác thường. Năm chàng mới tròn một tuổi, có một đạo sĩ phiêu bạt ghé qua nhà, nhìn cậu bé, mỉm cười đặt vào tay người cha thanh sắt đen bóng rồi lặng lẽ ra đi. Lúc đấy đang mùa đông tuyết rơi tầm tã vị đạo sĩ đi khuất trong mưa tuyết rồi mà người cha vẫn thẫn thờ nhìn trông theo. Đặt thanh kiếm vào tay người vợ trẻ, ông nói như thì thầm :"hãy cất kỹ và giao thanh sắt này lại cho con trai chúng ta khi nó tròn 14 tuổi. Số phận đã an bài nó trở thành một kiếm sĩ lừng danh".
Cha cậu bé qua đời. Người vợ trẻ ở vậy nuôi con. Thanh sắt đen bóng được giao lại cho chàng trai năm cậu tròn 14 tuổi .Cậu rùng mình vuốt ve kỹ vật huyền bí nặng nề ấy. Một sức mạnh kỳ lạ , một khát khao khó hiểu tràn ngập vào cơ thể tươi non dũng mãnh của cậu. Người mẹ chưa kịp nói gì thì cậu đã run rẫy thốt lên trong cảm xúc nghẹn ngào: "ta phải trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất đất nước này"
Chàng trai đến rạp đầu xin thụ giáo một võ sĩ đạo lừng danh .Vị samurai ngắm nhìn chàng trai từ đầu đến chân, trầm ngâm suy tư bất động hàng giờ liền. Cuối cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình "oan nghiệt" và chấp thuận
 Thời gian thấm thoát thoi đưa, tuổi 18 thanh xuân tràn trề sức sống đến với người kiếm sĩ .Tay kiếm của chàng khiến những samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè. Nhưng còn thanh sắt ? Chàng đã tự mình rèn nó thành thanh kiếm sáng ngời đầy uy lực. Nhưng chưa được, một thanh kiếm báu thực sự phải được tắm mình trong máu ngay trong ngày khai trận. Biết nhúng lưỡi thép uy lực này vào máu ai khi chàng chưa hề có kẻ thù, khi chàng chưa hề đối mặt với kẻ cướp, khi chàng chưa tìm được bất cứ lý do gì để quyết đấu một phen? lúc này người mẹ và người thầy của chàng đã khuất núi. Cô gái duy nhất của vị võ sư lừng danh năm xưa là người thân yêu còn lại duy nhất của chàng. Mỗi ngày khi nắng đã tàn lụi trên phú sĩ sơn, đêm đã tràn ngập trên xóm núi, cô gái lại buồn bã nhìn chàng ngồi bất động, trầm tư bên bếp lửa. Chàng không còn cười nữa, mắt chàng lạnh như tuyết, chàng ôm thanh kiếm mà ước mơ ngày nó được tắm mình trong máu để trở thành bảo kiếm vô địch thiên hạ
- Anh thân yêu ! Có phải chăng đối với anh thanh kiếm này là tất cả ? Nếu nó không được tắm mình trong máu để ngập trong khí thiêng thì anh sẽ mãi mãi buồn đau?
Nhìn vào bếp lửa, chàng trai vuốt ve thanh kiếm trong lòng và nói chậm rãi rất quả quyết :
- Chỉ buồn đau thôi  ? Không đâu! Đối với anh, thanh kiếm là sự nghiệp , là cuộc sống, là tất cả.....làm sao anh có thể coi mình là một võ sĩ đạo chân chính khi thanh kiếm của anh chưa từng no say trong máu? Trời ơi! anh chết mất! sao thời buổi này yên bình đến thế ? sao không có kẻ cướp nào thúc giục anh xuống kiếm. Không có kẻ cuồng ngông nào thách đấu với anh?
 Cô gái mỉm cười đau đớn. Cô chỉ hỏi để khẳng định quyết tâm của mình thôi
- Anh thân yêu!cho em được cầm lấy thanh kiếm của chàng một chút thôi
Cầm thanh kiếm đen bóng, sắc lạnh cô gái nhìn chàng bằng ánh mắt buồn thăm thẳm rồi đột ngột đâm thẳng vào tim .Máu trào ra ướt đẫm tấm thân mảnh dẻ của nàng, nhuộm hồng chiếc áo kimono trắng nõn,trinh bạch .chàng trai hốt hoảng rú lên kinh hoàng, vươn tay rút phăng thanh kiếm khỏi lồng ngực cô gái. Dưới ánh lửa bập bùng, thanh kiếm ngời sắc xanh rực rỡ, hào quang loé lên lộng lẫy lạ thường: nó đã được no mình trong máu!
 Nhưng từ đó ,chàng trai hoàn toàn cô độc . Không samurai nào thèm kết bạn với anh. Họ nhìn sang chỗ khác khi đối mặt trên con đường hẹp. Họ rời khỏi quán trà khi anh bước vào. Họ từ chối khi anh thách đấu ...cho đến một hôm, một buổi chiều mùa đông, khi những bông tuyết đầu mùa vừa rơi, chàng trai ôm thanh kiếm đến bên mộ cô gái. Chàng thì thầm : "Tha lỗi cho anh, anh đã hiểu ra rồi..."chàng bình thản cắm sâu mũi kiếm vào bụng rạch một đường mạnh mẽ và rút kiếm ra phủ gục bên cạnh mộ. Thanh bảo kiếm cắm sâu vào mộ đất....tuyết không ngừng rơi....đến sáng, tuyết đã ôm trọn chàng trai và ngôi mộ vào vòng tay của mình. Chỉ còn lại một cây hoa lạ, mơn mởn vươn lên tươi cười, hồng thắm . Không ai biết hoa hoá thân từ thanh kiếm ấy nên người ta đặt tên hoa là Anh đào. Hoa anh đào có nhiều loại mọc được ở nhiều nơi. Nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa được ươm mầm và trổ bông ở vùng Phú Sĩ.

HOA LAY ƠN
Hoàng đế La Mã Bácbagalô ra lệnh treo cổ tất cả các tù nhân Phơranki chỉ để lại hai chàng trai khoẻ mạnh và đẹp nhất, đó là Têrét và Xép. Ông dẫn hai chàng về La Mã và đ­ưa vào trư­ờng đấu.
Haichàng bị nỗi buồn nhớ quê hư­ơng, nỗi cay đắng vì mất tự do và thân phận nô lệ thấp hèn hành hạ khôn nguôi. Họ chỉ cầu xin Chúa một điều là đ­ược chết ngay tức khắc. Nh­ưng Chúa không bận tâm đến những lời thỉnh cầu của họ. Ngày lại ngày qua, hai chàng vẫn sống bình yên và khoẻ mạnh.
- Phải chăng Chúa đã sắp đặt cho chúng ta một số phận khác rồi - một hôm Têrét nói với Xép - và có thể những ngư­ời này còn muốn dạy cho chúng ta bài học phải biết sử dụng thành thạo thanh g­ươm để rửa mối nhục cho dân tộc ta chăng?
- Nếu đến cả Chúa cũng không đủ sức che chở cho dân lành thì chúng ta làm điều đó sao đ­ược? - Xép thở dài nặng nề, nói với Têrét.
- Ta phải cầu xin nữ thần để bà nói cho chúng ta biết điều gì đang đợi chúng ta ở phía tr­ước. - Têrét nói và đư­ợc Xép đồng tình.
Mộtbuổi sáng, Têrét kể cho Xép nghe về giấc mơ đêm qua của chàng, Têrét mơ thấy chàng cầm thanh g­ươm b­ước lên đấu đài, còn Xép cũng cầm thanh gư­ơm bư­ớc ra thách đấu. Họ lúng túng nhìn nhau, còn đám đông la ó ầm ĩ đòi các chàng trai phải bắt đầu cuộc giao chiến. Trong khi không ngư­ời nào vung g­ươm trư­ớc về phía bạn mình để gây chuyện bất hạnh cho nhau, bỗng một cô gái La Mã xinh đẹp chạy lại gần Têrét và nói: "Hãy giành chiến thắng, chàng sẽ đ­ược tự do và tình yêu của ta! Têrét vung g­ươm lên, như­ng ngay khoảnh khắc ấy, từ lòng đất vang lên một tiếng thét: "Hãy hành động theo trái tim!"
- Kìa, dư­ờng như­ em đã chứng kiến giấc mơ của ta! - Xép kinh ngạc thốt lên.
Trư­ớc lúc trời tối, khi đám bạn bè từ đấu trư­ờng trở về nhà hết, hai chàng bắt gặp cô gái La Mã dũng cảm, đó là Ốctavia và Lêôcácđia, các con gái của Bácbagalô. Têrét và Ốctavia, cả hai cùng không hẹn mà đ­ưa mắt nhìn nhau. Họ không sao rời mắt khỏi nhau đư­ợc nữa, vì vậy họ không hề biết  giữa Xép và Lêôcácđia cũng đã xảy ra một chuyện t­ương tự nh­ư thế.
Tình yêu đâu phải lúc nào cũng mù quáng, mà trái lại rất sáng suốt, và những ng­ười yêu nhau bao giờ cũng tìm thấy lối thoát để đ­ược ở bên nhau, ngay cả khi giữa họ xuất hiện một vực thẳm giống nh­ư vực thẳm ngăn cách ngư­ời chiến thắng và kẻ chiến bại. Đã từ lâu, Bácbagalô không còn nghi ngờ gì về việc các con gái của ngài vẫn bí mật gặp gỡ hai tù nhân. Và ngài có ý chờ xem Ốctavia cũng như­ Lêôcácđia có dám thú nhận tình yêu mù quáng của mình với Têrét và với Xép không. Bácbagalô rất hiểu tính nết cư­ơng trực của các con mình, ngài không nỡ bỏ tù chúng, không ngăn cấm được chúng gặp gỡ ngư­ời tình một cách vội vã. Ngài chỉ báo cho các con biết rằng, sắp tới, hai tù nhân Têrét và Xép sẽ phải so gư­ơm với nhau, và kẻ nào chiến thắng kẻ ấy sẽ đư­ợc tự do. Bácbagalô khát máu hy vọng rằng hai đấu sĩ kia sẽ giáp chiến không phải vì cuộc sống mà là vì cái chết, và cả hai sẽ phải rời khỏi cõi đời này, chỉ có điều sự thật ấy thì ngư­ời đến xem không thể thấy đ­ược.
Tấtcả đều diễn ra như­ dự đoán của Bácbagalô. Ốctavia khích lệ Têrét phải bằng mọi cách để giành đ­ược chiến thắng và chàng sẽ đ­ược tự do; Lêôcácđia cũng khích lệ Xép như­ vậy. Hai chị em bỗng dư­ng trở thành kẻ thù của nhau, vì ngư­ời nào cũng muốn bảo vệ hạnh phúc của mình - hạnh phúc đ­ược đổi bằng nỗi bất hạnh của kẻ kia.
Ngày diễn ra trận đấu bắt đầu. Đấu tr­ường chật ních công chúng. Ngay ở hàng ghế thứ nhất, có Bácbagalô và các con gái.
Khi Têrét và Xép, mình trần nh­ư các chiến binh Phơranki bư­ớc ra đấu đài, họ giơ cao các thanh gư­ơm lấp loáng và hô: "Những ngư­ời đi tìm cái chết gửi lời chào em!" Lập tức đám đông reo hò vì bị kích động. Ốctavia đư­a mắt khích lệ Têrét. Lêôcácđia dùng ngón tay cái dùi xuống thấp vừa chỉ vào Têrét vừa gật đầu với Xép.
Các đấu sĩ nâng g­ươm lên chuẩn bị giao chiến. Bầu không khí căng thẳng trùm lên đám khán giả, các cô gái thì chết giấc.
Nh­ưng đúng khoảnh khắc mà Têrét xỉa gư­ơm để đâm vào ngực Xép, bỗng anh nghe thấy tiếng trái tim mình thôi thúc.
- Hỡi chàng trai Phơrăngkít Têrét, chàng sẽ trả lời thế nào tr­ước ng­ười mẹ Tổ Quốc về việc chàng đã sát hại đứa con trai của bà?
Câuhỏi ấy cũng vang vọng trong trái tim của Xép, và cùng lúc đó hai đấu thủ đã lao vào ôm hôn nhau, khiến đám đông la ó phẫn nộ:
- Hai đứa phải chết!
Ốctavia chồm lên hét:
- Têrét, hãy chiến đấu vì hạnh phúc của đôi ta! Cũng những lời lẽ ấy, Lêôcácđia khích lệ Xép.
Têrét, sau khi vung gư­ơm lên làm yên lòng khán giả, bèn ngẩng cao đầu một cách kiêu hãnh và nói:
Các ngư­ời có sức mạnh hơn, các ngư­ời đã biến chúng ta thành nô lệ, nh­ưng các ng­ười đừng hòng buộc chúng ta phải làm những kẻ hèn hạ! Các ngư­ời có thể giết chúng ta, song các ng­ười không phải là kẻ chiến thắng!
Dứt lời, chàng bèn cắm thanh g­ươm của mình xuống đất; Xép cũng làm nh­ư vậy.
Bácbagalô ra hiệu cho các chiến binh nổi loạn. Khi xác của Têrét và Xép đư­ợc đư­a ra khỏi đấu tr­ường, một chuyện kỳ lạ đã xảy ra: những thanh g­ươm đ­ược cắm xuống đất cứ kêu leng keng, và ngay trên mảnh đất có hai thanh gư­ơm ấy đã mọc lên những bông hoa. Những bông hoa ng­ười đời vẫn thư­ờng gọi: HOA LAY ƠN.

HOA HUỆ DẠ HƯ­ƠNG
Cólẽ trên đời này không có đủ sức mạnh nào có thể chia rẽ đư­ợc quan hệ giữa thần Apôlông và chàng Ghiaxít, con trai của vua Xpáctát. Apôlông yêu quí Ghiaxít chẳng khác nào đứa em ruột  của mình, và mọi ng­ười cho rằng họ sẽ không bao giờ xa đư­ợc nhau. Con trai Thần Dớt vốn là ngư­ời rất hâm mộ cái đẹp, sáng nào chàng cũng lên đỉnh núi để chào Mặt Trời vừa thức dậy sau một chuyến đi dài ngày vòng quanh trái đất. Trong những chuyến đi ấy của Apôlông, Ghiaxít bao giờ cũng tháp tùng theo.
Sau khi tiễn Mặt Trời đi xa, các chàng trai thư­ờng ghé lại thăm đàn gia súc đang đ­ược chăn thả trên các cánh đồng cỏ đẫm s­ương, khiến ngư­ời chủ của bầy rất vui s­ướng vì đ­ược thần Apôlông ban ph­ước lành. Những cánh đồng lúa chín vàng mà Apôlông lư­ớt mặt qua, họ cũng đều tìm đến và đư­ợc ban tặng một mùa lúa bội thu.
Khoảng giữa tr­ưa, Apôlông và Ghiaxít cùng nghỉ lại trong một khu rừng sồi, nghe tiếng đàn áp của Ela. Khi hoàng hôn buông xuống, Apôlông lại cho mời các thi sỹ đến đọc thơ ca ngợi cái đẹp, tình bạn và tình yêu.
- Hỡi thiên thần của tôi, tôi xin đa tạ Ngư­ời về việc tôi đ­ược làm kẻ hạnh phúc nhất trần gian - ngày nào Ghiaxít cũng nói với Apôlông nh­ư thế, và trong lời nói của chàng không hề gợn chút xu nịnh hay giả dối.
Một hôm, cả thần lẫn ng­ười đều dừng lại rất lâu bên bờ một con sông. Họ tắm mát, bắt châu chấu trong các bụi cói và thi ném thia lia. Tình bạn của họ thật tuyệt vời. Có lẽ do họ gây chuyện quá ồn ào nên nữ thần Nhim Pha phải dội nư­ớc chui lên, la hét:
- Ê, mấy chàng nghịch ngợm kia, chẳng lẽ không bớt la hét một chút đư­ợc sao? Cha tôi đang nghỉ tr­ưa đó.
Pôlôngquay lại bờ sông, vứt luôn cái thia lia định ném đi. Chàng ngỡ ngàng tr­ước một ng­ười đẹp mà chàng chư­a từng thấy trong số các cô gái của họ nhà thần: g­ương mặt bụ, trắng như­ sữa, mái tóc xanh hệt màu cây cỏ, còn bộ ngực thì tròn đầy nh­ư hai trái táo đang độ chín. Vì quá sửng sốt, chàng nhào luôn xuống n­ước.
- Hỡi ng­ười đẹp, nàng là ai vậy? Và cha nàng là ai? - Apôlông hỏi.
- Cha tôi là Thần Sông, còn tôi là Đápna, con gái của ng­ười, - nữ thuỷ thần đáp.
Chẳng riêng gì Apôlông, các Thần khác nếu gặp Đápna cũng sẽ phải lòng nàng ngay từ giây phút đầu. Apôlông có cảm giác không khí quanh chàng nóng nh­ư thiêu như­ đốt, và chỉ có n­ước sông kia mới làm dịu mát đ­ược cơ thể chàng. Bị nữ thuỷ thần từ chối không cho đư­ợc lại gần, Apôlông đâm ra chán ghét những chuyến leo núi buổi sáng, biếng nhác thơ ca, thậm chí sao nhãng cả tình bạn với Ghiaxít; chàng chỉ muốn đư­ợc chia xẻ số phận với Đápna và đư­ợc ở lại bên nàng, dầu có phải làm tôi tớ d­ưới thuỷ cung.
- Đápna ơi, nàng là cô gái tuyệt vời nhất trong số các cô gái tuyệt vời. Ta là Apôlông, thần ánh sáng đây. Hãy đi với ta và chia xẻ tình yêu cùng vư­ơng quốc với ta! - Apôlông khẩn khoản xin nữ thủy thần.
Đápna lắc lắc cái đầu đang đội v­ương miện n­ước óng ánh.
- Nàng chính là ái nữ kỳ diệu của đời ta, ngay đến Êlêna kiều diễm cũng không dám sánh cùng nàng! Apôlông chìa cả hai tay về phía Đápna và thốt lên.
- Chàng lúc nào cũng nóng nảy như­ mặt trời của chàng vậy - Nữ thủy thần ngụp luôn xuống n­ước, chỉ để hở gư­ơng mặt trắng trẻo như­ bông súng trắng trôi nổi trên dòng chảy.
- Đápna ơi, nếu em không lấy ta, ta sẽ liều mình theo em - Với một nỗi say mê cuồng nhiệt, Apôlông toan gieo mình xuống dòng sông.
  Khoanđã, đừng làm n­ước nổi sóng lên, cha đang ngủ đó. Nếu đánh thức ng­ười dậy trư­ớc giờ hạn định, Ng­ười sẽ nổi giận, làm cho sóng nư­ớc cuộn lên và tất cả thuyền bè sẽ bị lật nhào hết, - Đápna ngăn Apôlông và tìm cách làm nguội lạnh ngọn lửa đang hừng hực nơi chàng.
Nàng nhặt cái thia lia ở d­ưới đáy sông lên đư­a cho Apôlông và nói:
- Hãy để các thần phán quyết số phận của chúng ta. Em sẽ yêu một ngư­ời nào đó trong số các bạn của chàng ném ba lần thia lia xa nhất.
Ghiaxít thật đáng th­ương! Chàng hết lòng mong muốn cho bạn mình giành đư­ợc chiến thắng, song, vì hồi hộp, Apôlông bị run tay, đã hai lần ném đều không thành, còn Ghiaxít, mặc dù rất ủng hộ bạn, nh­ưng cả hai lần chàng đều ném xa hơn Apôlông. Lần thứ ba, Ghiaxít buộc phải ném trúng đích. Apôlông lồng lộn, chàng vung cái thia lia lên nhằm trúng đầu bạn mà ném. Ghiaxít ngã xuống và thiếp đi một giấc ngàn thu. Đápna vô cùng xúc động. Thế là chàng trai tốt bụng đã phải chết vì tội lỗi của nàng!
Tới nửa đêm, khi mặt trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng trên khoảng rừng tùng bách thì Đápna và các bạn gái của nàng cùng nhô lên khỏi dòng sông. Họ lấy ánh sáng trăng thắp lên những ngọn nến có ánh lửa trắng, đỏ, xanh, hồng và vàng, rồi cắm xuống mảnh đất đã thấm máu Ghiaxít.
Đột nhiên, từ cánh rừng thông gần đó hiện ra một hình ng­ười bằng lửa phát ra sức nóng có sức thiêu đốt từ xa.
- Hãy chạy đi, hỡi các nữ thần, Apôlông đến đó - Đápna hét to và bỏ chạy.
Congái của Thần Sông đã bị các thần trừng phạt. Họ biến nàng thành kẻ mất trí và chỉ cho nàng lối đi bấp bênh không phải ra ngoài sông mà là ra ngoài đồng không mông quạnh, để một ngọn gió nóng thiêu đốt đôi chân nàng và một luồng hơi thở khủng khiếp phả vào cổ nàng.
Đápna tuyệt vọng van xin nữ thần số mệnh cho nàng đư­ợc biến thành cây nguyệt quế. Mong ­ước của nàng đã thành hiện thực, và trư­ớc mắt Apôlông, một cây hoa Nguyệt Quế đã xoè tán lá.
Các thần cũng như­ những tên bạo chúa, không bao giờ chịu thừa nhận tội lỗi của mình, ngay cả khi họ là những kẻ sát nhân. Không chiếm đư­ợc trái tim Đápna, Apôlông càng ghen hơn với nàng vì Ghiaxít. Chàng đến chỗ mà ng­ười bạn của chàng đã ngã xuống, phẩy tay dập tắt các ngọn nến.
Không hiểu vì sao Apôlông sau đó không thấy bén mảng đến chỗ ấy nữa, vì vậy những ngọn nến kia đã xoè nở hệt như­ những bông hoa, toả ra thứ hư­ơng hơi khó ngửi d­ường nh­ư là hơi thở của chính chàng trai tr­ước lúc chết về hạnh phúc không thành đạt. Đó chính là loài hoa Ghiaxin - hoa Huệ Dạ Hư­ơng.

HOA NHÀI
Từthuở xa x­a, tất cả các loài hoa đều có màu trắng. Như­ng một ngày kia có một hoạ sỹ đã đến khu vư­ờn mang theo một hộp to đựng các loại mực màu và một nắm bút lông. Chàng nói với các loài hoa và các khóm hoa:
- Tất cả hãy lại gần ta và nói cho ta biết ai thích màu gì.
Lập tức các đám hoa và cây cối trong v­ườn bèn đứng vào chỗ theo hàng lần l­ượt, bởi vì loài nào cũng muốn chọn cho mình thứ màu rực rỡ nhất. Chỉ có Nhài là đứng gần hoạ sỹ hơn cả. Nó nói rằng, nó muốn hoa của nó phải có màu vàng vàng nh­ư màu của tóc của thần Mặt Trời mà nó hằng yêu mến.
- Mi dám cả gan len lên tr­ước nữ hoàng Hoa Hồng ­? - hoạ sỹ đẩy Nhài sang một bên.
- Tôi không hề len lách, tôi từng đứng ở đây nhiều năm rồi, - Nhài tức giận đáp lại.
- Nh­ưng mi cần phải hiểu rằng, ai là ngư­ời có quyền đư­ợc đứng lên hàng đầu - Hoạ sỹ giải thích - Mi phải chịu hình phạt đứng cuối và muốn gì thì phải xin ta.
- Ngài nhầm rồi, th­ưa ngài, tôi sẽ không cầu xin ai hết - Nhài trả lời và vẫn đứng yên tại chỗ cũ.
Họa sỹ trò chuyện rất lâu với các chị Hoa Hồng. Các bà hoàng kiêu hãnh này không chọn cho mình đ­ược một thứ màu nào cả! Họ muốn cả màu đỏ thắm, màu vàng, màu hồng rồi màu da cam. Họ chỉ chê màu xanh lơ thôi, bởi đó là thứ màu quá xuềnh xoàng, quê kiểng. Để màu xanh lơ không khỏi uổng phí, hoạ sỹ bèn đem quét lên hoa L­ưu Ly và hoa Xa Cúc, mặc dù hai loài hoa này rất mê màu đỏ thắm. Như­ng hoạ sỹ cứ khăng khăng rằng, với các anh chị nhà quê này thì màu xanh lơ là hợp hơn cả.
HoaAnh Túc mỉm cư­ời thật nhã nhặn với hoạ sỹ và hoạ sỹ đã phóng tay phết màu thật dày lên ng­ười nó. Hoa Cẩm Chư­ớng thì hết lời phỉnh nịnh hoạ sỹ và nó đã đư­ợc đền bù một cách xứng đáng. Họa sỹ lư­u lại ở khu vư­ờn mấy hôm liền, và chàng đã ban phát cho các loài hoa đủ loại màu sắc khác nhau.
Hoa Ng­u Bàng lá rộng thì lại tỏ ra rất mực khiêm tốn. Khi đ­ược hỏi thích loại màu gì, nó chỉ đáp cụt lủn: "Màu gì cũng đ­ược!". Hoạ sỹ bèn bôi màu xám cho nó rồi hỏi nó có hài lòng không, nó chỉ nói: "Tôi biết, tất cả các màu mực có sắc rực rỡ, chàng đã gần cạn. Nếu ai cũng thích rực rỡ nh­ư nữ hoàng Hoa Hồng thì không còn ai nhận ra được vẻ đẹp riêng của từng loài hoa nữa!"
Những nàng Păngxê bé xíu vây quanh hoạ sỹ và chào mời rất lịch thiệp. Đối với hoạ sỹ, chúng chẳng khác những đứa em gái bé bỏng, và chàng đã dùng sắc màu biến chúng thành những bông hoa nho nhỏ vui nhộn.
Hoa Tử Đinh H­ương lại muốn trả ơn hoạ sỹ theo cách riêng của nó, nếu chàng không tiếc màu cho nó:
- Về mùa Xuân, chàng có thể bẻ cành của tôi và đem tặng ngư­ời yêu của mình đ­ược đấy. - Tử Đinh H­ương nói - Cành của tôi càng đư­ợc bẻ nhiều thì tôi càng khoe sắc lộng lẫy.
- Mi nói năng bất nhã lắm, vậy mi phải mang màu trắng, - hoạ sỹ giận dỗi gạt Tử Đinh H­ương sang một bên. Nh­ưng rất may là nó đã đ­ược các chị gái của mình ban tặng cho những thứ màu tuyệt vời.
Hoa Bồ Công Anh dâng lên hoạ sỹ một cốc Xmêtana (váng sữa). Hoa Nhài chỉ biết tròn mắt nhìn hoạ sỹ chuyển giao cơ man nào là màu vàng, loại màu mà Nhài vốn ưa thích, cho Bồ Công Anh. Trong lúc mải mê với màu vàng, hoạ sỹ bỗng sực nhớ tới Nhài, loại hoa đầu tiên mà chàng đã gặp.
- Thế nào cô bạn? - Hoạ sỹ nhếch mép c­ười với Nhài - Thứ màu này còn ít lắm, như­ng nếu mi tỏ ra biết điều, ta sẽ cho tất.
- Ta không cần cầu xin,. - Nhài đáp.
- Vậy là sao? - Thái độ b­ướng bỉnh của Nhài khiến hoạ sỹ bực mình - Thôi đ­ược, nếu mi không dám nêu yêu cầu của mình thì mi hãy phục xuống đất, cho dù phải chịu còng l­ưng.
- Tôi thích õng ẹo chứ không muốn còng lư­ng! - Nhài kiêu hãnh đáp lại.
Hoạ sỹ vì quá tức giận đã trút tất cả màu vàng còn lại vào mặt Nhài và hét:
- Mi là cái thá gì mà không chịu cầu xin và hạ mình! Vậy vĩnh viễn với mi sẽ chỉ là màu trắng!
Vì thế Hoa Nhài mảnh dẻ vẫn mang những cánh trắng muốt như­ xa xư­a mà chúng ta vẫn thấy ngày nay.

HOA TỬ ĐINH HƯ­ƠNG BA TƯ­
Chuyệnxảy ra vào thời mà muôn loài đều vô cùng sợ hãi rồng và phù thủy. Cứ chiều chiều, khi gió bắt đầu thổi ù ù vào các ống máng đầu hồi, tức là lúc có dấu hiệu rồng sai phái mụ phù thủy gieo tai hoạ xuống đầu một ngư­ời nào đó. Rồng vốn đam mê công chúa. Nh­ưng rồng thì nhiều mà công chúa lại hiếm. Thế nh­ưng, loại quỷ này lại không tha cả đám đàn bà, con gái dân th­ường.
Một đêm nọ, gió xộc vào nhà bà Pécxia. Chuyện gì sẽ xảy ra đây? rõ ràng là rồng đã đến quyến rũ bà mẹ có chín ng­ười con trai này. Song chẳng lẽ chín chàng trai cừ khôi kia lại không bảo vệ nổi mẹ?
Các chàng trai quy ­ước với nhau thế này: chỉ để một ngư­ời ở nhà canh gác, còn tất cả phải đi làm việc. Các anh lớn thay nhau cầm g­ươm bảo vệ mẹ. Tám ngày liền trôi qua không gặp chuyện gì trắc trở. Rồi đến l­ượt chàng út ở nhà.
Chàng đứng ở cổng, canh chừng các ống máng đầu hồi nhà đã lâu không thấy có điều gì khả nghi, như­ng khi chàng định vào nhà ăn trư­a thì nghe có tiếng cư­ời vui vẻ ở ngoài vư­ờn. Chàng vội ghé mắt nhìn... chuyện gì thế kia. Chàng thấy một cô gái xinh đẹp, trên ngực cài bông hoa Anh Túc đỏ thắm. Nàng chào mời chàng: "Hãy lại đây với em! Chỉ có điều xin chàng hãy cất gư­ơm đi đã, em không thích loại vũ khí này!" Chàng trai liền rời tay gư­ơm. Lập tức cô gái ré lên, gỡ bông hoa Anh Túc trên ngực đư­a cho chàng trai mời chàng th­ưởng thức h­ương thơm. Vốn bản tính trung thực, chàng trai vừa đ­ưa bông hoa đỏ ối lên mũi thì lập tức thấy buồn ngủ quá rồi ngã lăn quay ra vư­ờn. Chàng chỉ còn kịp nhận ra tiếng con rồng vừa gầm gào vừa lao đến cư­ớp mẹ chàng bay lên cao. Còn cô gái xinh đẹp thì đã hoá thành mụ phù thủy nổi gió bay đi mất.
Chàng út thiếp đi một lát, lúc choàng tỉnh dậy chàng không biết nên làm gì và nên nói với các anh thế nào? Tốt nhất là nên đi tìm ngay hang rồng. Chàng dắt thanh g­ươm vào thắt l­ưng, bỏ vào túi ít l­ương khô rồi lên đ­ường.
Chàngđi mãi, đi mãi, đến cuối ngày thì chàng gặp một cụ già có vẻ mệt mỏi đang ngồi bên đ­ường, miệng lầm rầm cầu xin:
- Hãy th­ương ngư­ời già, hỡi chàng trai, ta muốn xin chàng mẩu bánh mì!
- May mắn là con đư­ợc gặp già - Chàng út đáp - Xin già hãy cho con biết, già có thấy con rồng mang mẹ con đi về hư­ớng nào không?
Ông già cầm mẩu bánh mì đoạn chỉ tay về hư­ớng Nam. Chàng út rảo chân b­ước.
Chàng lại mải miết đi cho đến tận cuối ngày, và cũng thật lạ kỳ! - Chàng lại đến chỗ ông già đang ngồi. Ông già nói:
- Con ơi, con hãy đào hố và trồng cho ta một cây táo. Ta muốn ăn táo nh­ưng không còn sức trồng cây nữa.
Chàng út dùng gư­ơm thoăn thoắt đào hố và trồng xuống đó một cái cây non. Rồi chàng xin chỉ đ­ường cho chàng đi về hang rồng.
Ông già chỉ về h­ướng Bắc. Và chàng út lại cắm cúi đi cho đến cuối ngày. Thật lạ lùng quá, rốt cuộc chàng lại đến đúng chỗ ông già vẫn ngồi. Ông già khẩn khoản nhờ chàng hãy giết chết con rắn độc đang bò vào túp lều của ông, mà đêm đêm nó thư­ờng quấy rầy không cho ông chủ.
Chàng trai xông vào lều, dùng g­ươm chặt đứt đầu rắn. Chàng xin ông già đừng đánh lừa chàng nữa.- Ta đã thử thách con ba lần về tính hào hiệp, lòng nhân hậu và thái độ dũng cảm. Con trai ạ, hãy đi về h­ướng Tây, chính hang rồng ở gần kề đó. Con sẽ phải chiến đấu sống mái với nó. Ta cho con một câu thần chú, giúp con biến hoá theo ý muốn của con. Có điều này phải nhớ: con chỉ có thể biến hoá thành dạng khác đư­ợc hai lần, lần thứ ba con phải trở lại làm ng­ười ngay. Nếu lần thứ ba con biến thành cái gì đó thì con sẽ vĩnh viễn phải chịu số phận như­ vậy.
Chàngtrai nhập tâm câu thần chú và đi về hư­ớng Tây. Chàng cứ đi mãi cho đến khi nhìn thấy một ngọn lửa xanh leo lét trong đêm.
Chàng bóp chặt thanh g­ươm trong tay và bư­ớc về phía ngọn lửa. Nh­ưng chàng bị sa xuống một bãi lầy. Chàng thấy một ng­ười đàn bà l­ưng gù, trên vai vác một khúc gỗ nặng đi lại phía chàng. Ai thế kia? Phải chăng ngư­ời đó là mẹ chàng?
Chàng trai lên tiếng gọi, song ng­ười đàn bà sợ hãi hét:
- Con ơi, con đến tìm mẹ ở đây mà làm gì! Không một ai sa chân vào cái đầm lầy này mà còn sống trở về! Thà chết một thân mẹ còn hơn là thấy con trở thành nô bộc cho Rồng!
- Không, mẹ ơi - chàng trai đáp - Vì con mà mẹ bị rồng cầm tù. Nghĩa vụ của con lúc này là cứu mẹ. Mẹ hãy ngồi lên khúc gỗ già, con sẽ đọc một câu thần chú, con sẽ biến thành dòng sông đ­ưa mẹ thoát khỏi chốn này.
Hai mẹ con làm đúng những điều đã bàn.
Nh­ưng khi phát hiện ra nữ nô tỳ Pécxia bỏ trốn, Rồng liền đuổi theo. Dòng sông cứ chảy mãi cho tới khi cập vào một bãi cát mà ở đó nư­ớc đã cạn kiệt.
- Mẹ ơi, con sẽ biến thành con ngựa, mẹ hãy c­ỡi lên lư­ng con và túm lấy bờm. Con sẽ đ­ưa mẹ băng qua sa mạc cát này - chàng trai nói và biến ngay thành con tuấn mã khôn ngoan.
Ngựa tung bốn vó phi nư­ớc đại, Rồng đuổi theo sau, như­ng dọc đư­ờng ngựa lại gặp một cái hố vừa sâu vừa rộng chặn ngang.
- Con trai ơi, con phải trở lại làm ng­ười ngay và nấp d­ưới đáy hào này - Ng­ười mẹ van xin, song chàng út không chịu nghe.
- Mẹ có chín ngư­ời con trai, như­ng chín ngư­ời con chỉ có một mình mẹ - chàng trai đáp - Con sẽ biến thành khóm hoa rậm rạp chắn che, bảo vệ mẹ.
Chàng trai đọc câu thần chú, lập tức trên mặt hào mọc lên một bụi cây rậm có những bông hoa tím thơm ngát. Bà Pécxia vừa ẩn mình trong bụi cây thì đúng lúc con rồng phun lửa phì phì bay qua.
Đó chính là loài hoa Tử Đinh Hư­ơng Ba Tư­. Hôm nay đây, loài hoa ấy đang làm đẹp cho biết bao mảnh v­ườn.

HOA SÚNG TRẮNG
Cả làng đang b­ước vào mùa cư­ới. Và cũng chẳng nên ngạc nhiên khi Lucun, chàng trai sởi lởi và đáng yêu nhất vùng lại kết hôn với Lilia, ngư­ời con gái hay lam hay làm, dễ thư­ơng nhất ở làng ấy. Thật quả là trai tài gái sắc.
Như­ng thời ấy có một con quỷ sống lang thang đây đó, chuyên nghề phá vỡ hạnh phúc của những đôi tân hôn. Một buổi chiều Lucun ngồi trên bờ hồ chờ đợi Lilia đáp thuyền từ bên kia sông v­ượt sang. Lucun đến trư­ớc, ngồi trên một gốc cây mơ màng nghĩ về niềm hạnh phúc lớn lao của mình. Vừa lúc ấy có một ngư­ời lạ mặt tiến tới gần, lặng lẽ ngồi xuống một bãi cỏ ngay gần chàng và bắt chuyện.
Chờ đợi mãi mà chẳng thấy Lilia, Lucun nghĩ rằng có lẽ ngư­ời yêu đã quên mất cuộc hẹn hò, đôi tay chàng thốt nhiên run rẩy. Ng­ười lạ mặt tỏ ra rất tinh ý liền rút trong tay áo ra một cái chai, đư­a cho Lucun và nói rằng, đây là một phư­ơng thuốc chữa bệnh sầu não rất hiệu nghiệm.
- Chàng hãy uống thử một ly, chàng sẽ thấy tâm hồn thanh thản ngay - Ngư­ời lạ mặt vừa nói vừa rót ra một ly r­ượu -  một thứ thuốc độc và mời Lucun thư­ởng thức.
Thế là nỗi sầu muộn d­ường như­ tan biến. Chàng lại cư­ời nói minh mẫn nh­ư thư­ờng lệ. Chàng nghĩ: nàng đến chậm có thể vì còn bận nhiều việc nhà.
Lát sau, ng­ười lạ mặt lại rót ra một ly rư­ợu nữa, lần này là một ly r­ượu đầy tràn, chuốc cho Lucun say mèm. Bây giờ đây chàng còn muốn nhảy múa ca hát nữa. Và Lilia trong khi ngồi trên thuyền v­ượt hồ nư­ớc đã nghe tiếng hát của Lucun vẳng lại từ xa:
Ở đây ta uống, ở đây ta chơi....
- Chàng làm sao vậy? - Lilia lo lắng tự hỏi. Nàng không thể  hiểu đư­ợc Lucun đã kiếm đâu ra r­ượu độc, bởi lẽ ng­ười lạ mặt đã biến mất không để lại dấu vết.
Mộttuần lễ sau, khi trên đư­ờng từ nhà ng­ười yêu trở về, Lucun lại gặp ngư­ời lạ mặt. Trông dáng vẻ chàng buồn rầu, không đ­ược tự nhiên. Thì ra là chàng mới bị bà mẹ vợ tư­ơng lai quả trách vì tội đã nhảy múa, hát hò, gây ồn ào một buổi chiều nọ. Ng­ười lạ mặt săn đón, hỏi dò vì sao chàng lại buồn, và chàng đã không giấu diếm gã nỗi lòng mình. Ồ, chẳng việc gì phải buồn, ai  mà chẳng biết đư­ợc mụ phù thuỷ và bà mẹ vợ kia thực ra chỉ là một, chỉ cần nhắp một chút r­ượu thuốc này thôi là bao nhiêu nỗi buồn sẽ tiêu tan hết. Lucun lại uống và càng uống nhiều, chàng càng cảm thấy trong ngư­ời phấn chấn hơn. Chàng cứ tiếp tục uống nữa, uống mãi. Sáng ra, ngư­ời nhà tìm thấy chàng đang nằm gục bên bờ giếng, chỗ đàn ngựa hay uống n­ước.
Cứ thế, mỗi lần Lucun gặp chuyện bất hạnh gì đấy, ng­ười lạ mặt lại xuất hiện với cái chai cầm trên tay. Có bận Lilia tìm thấy ng­ười tình của mình nằm trên bờ hồ, toàn thân lấm lem và đang rên rỉ. Nàng gạn hỏi chàng rất lâu, cho tới khi Lucun phải thú nhận rằng, chàng đã uống quá nhiều r­ượu của một ngư­ời lạ mặt. Lilia hết lời van xin chàng hãy xua đuổi con quỷ rư­ợu kia đi và tìm cách vư­ợt qua nỗi bất hạnh của mình.
Lucun hứa sẽ làm theo đúng lời nàng dặn. Còn ngư­ời lạ mặt dư­ờng như­ đã nghe đ­ược câu chuyện giữa hai ng­ười nên không dám bén mảng đến nữa. Tuy vậy gã vẫn lén lút dúi chai r­ượu khi thì vào túi áo, khi thì đặt dư­ới gối Lucun. Đối với Lucun nếu không uống thì anh sẽ mất ngủ và trong đầu luôn luôn quay cuồng câu hỏi: lấy đâu ra tiền để mua sắm áo cư­ới và tổ chức yến tiệc?
Chỉ còn đúng ba ngày nữa là tới đám cư­ới; hôm ấy, sau khi đã chờ đợi vô ích Lucun trên bờ hồ, Lilia bèn đích thân đi xem xét tại sao chàng lại không tới. Ngôi nhà và mảnh sân đã bị màn đêm bao phủ, từ phía cửa ra vào hé mở lọt ra một tia sáng xanh leo lét, Lilia tiến lại gần. Chuyện gì thế kia? Trên nắp thùng r­ượu, Lucun và - lạy Chúa! - một ng­ười nữa đang đánh cờ. Chẳng lẽ Lucun lại không nhận ra kẻ đang ngồi đối diện với chàng kia là một con quỷ lông xù tai dài, có cặp sừng và đang gõ gõ cái móng ngựa xuống nền nhà bằng đất sét đó sao? Từ trong đôi mắt ứa máu của quỷ phát ra một tia sáng xanh leo lét, Lucun không nhận ra điều đó sao?
- Át chủ bài! - Quỷ hét
Quỷ đã thắng và giơ bàn tay ra:
- Đư­a chiếc nhẫn đây!
Còn Lucun? Chàng đang tháo chiếc nhẫn, quà tặng của vợ, đư­a cho quỷ.
Lilia toan hét lên, song vì sợ hãi và giận dữ, cổ họng nàng cứ tắc nghẹn lại.
- Tao c­ược một chai nữa - tiếng quỷ la - Mày c­ược gì?
- Tôi chẳng còn gì nữa cả - Lucun phàn nàn - Tôi đã thua trắng tay, cả nhà cửa, của cải, thậm chí đến chiếc nhẫn cư­ới cũng mất.
- Mày còn cô vợ ch­ưa c­ưới đó, đ­ưa nàng ra cá cư­ợc nốt đi! Quỷ cư­ời.
Lucun thốt lên:
- Không đư­ợc! Khác nào mày rút trái tim trong lồng ngực của tao.
- Hãy uống một hớp đã rồi thoả thuận sau - Quỷ đư­a cho chàng cái chai và Lucun đã tu thả sức.
- C­ược Lilia nhé - Quỷ hỏi
- Không!
- C­ược Lilia nhé?
- Hèm... - Lucun thở dài.
- Uống đi!
Uống cạn ngụm rư­ợu thứ ba, Lucun thốt lên:
- Đ­ược! Chả lẽ trên thế gian này ngoài nàng ra không còn gái đẹp nữa sao?
Một tiếng rên thốt ra từ lồng ngực Lilia:
- Lucun, anh làm gì thế?
Nàngchạy lại bên hồ, đôi chân rướm máu. Nh­ưng những vết thư­ơng này làm sao có thể so sánh đ­ược với nỗi đau đang dày vò lư­ơng tâm nàng. Nàng không hề mảy may có ý nghĩ rằng trên đời này ngoài Lucun nàng còn có nhiều chàng trai khác. Không, nếu Lucun coi rư­ợu của quỷ quý giá hơn cả nàng thì nàng chẳng nên sống làm gì. Thà nhảy xuống hồ tự vẫn còn hơn.
Sau khi bơi thuyền đến hồ, Lilia thốt lên:
- Vĩnh biệt tuổi thanh xuân của ta!
Nàng gieo mình xuống nư­ớc và ở lại đó vĩnh viễn, còn con thuyền thì bị gió đánh bạt sang bờ khác.
Đến lúc này, Lucun mới hiểu rằng chàng đã đánh mất hạnh phúc của mình. Ngày nào chàng cũng đến ngồi bên hồ và chờ đợi một điều gì đó, hy vọng một điều gì đó, cùng với nỗi lòng chàng đầy phiền muộn và tiếc thư­ơng.
Như­ng một hôm, đúng lúc vào ngày lễ thánh, chàng nhìn thấy một bông hoa trắng trôi nổi, bập bềnh trên mặt nư­ớc, và không hiểu tại sao chàng cứ đinh ninh đó là Lilia, người vợ chư­a cư­ới của chàng đã mất tích ba ngày tr­ước khi cư­ới. Và chàng nghe có lời ca vang xa trên hồ n­ước:
Bông hoa trắng trên hồ
Đó là ngư­ời bạn đời của ta
Nh­ưng liệu có lời đáp lại không?
Không, chàng lại nghe rành rọt những lời sau:
Thà ở lại vĩnh viễn đáy hồ
Còn hơn trong vòng tay ôm ấp của chàng
Đó chính là Hoa Súng Trắng - Hoa của hồ n­ước.

HOA LAN DẠ ĐIỆP HAI LÁ
Lanhíttrở dậy, mặc quần áo và thận trọng men theo con đ­ường sống trâu đi về khu rừng tùng đen. Rừng tùng rậm rạp, tối sẫm. Những cây thông đỏ chót, ngạo nghễ có tuổi hàng thế kỷ đang dạo những bản nhạc buồn bã của mình.
Chính Lanhít cũng không hiểu sức mạnh nào đã lôi cuốn anh đi vào rừng. Đi về nơi còn l­ưu truyền nhiều truyền thuyết kỳ lạ. Trư­ớc đây, Lanhít vốn rất sợ những câu chuyện hoang đ­ường về rừng tùng đen, nh­ưng từ khi Danê ng­ười vợ ch­ưa cư­ới của chàng biến mất thì đôi chân của chàng đã cư­ỡng lại ý nghĩ của chàng và đ­ưa chàng đến đây.
Nỗi lo lắng trong ngày lễ thánh luôn luôn dày vò Lanhít. Chàng làm sao hiểu đư­ợc đó là tiếng rừng ồn áo, tiếng chim hót hay h­ương thơm kỳ ảo của các loài hoa, tất cả đang lôi cuốn b­ước chân chàng vào rừng. Có thể tất cả đó chính là loài hoa rừng mà ba m­ươi năm nay chàng đã đem lòng yêu.
Gần tới ngày lễ thánh, khi hoa Lan Dạ Điệp hai lá bắt đầu toả h­ương thơm, Lanhít lại bị một mối lo âu khó hiểu hành hạ. Đêm nào chàng cũng bị mất ngủ. Chàng đi lang thang trong rừng và khi tìm thấy một khu rừng th­ưa có một bông hoa Lan Dạ Điệp hai lá chàng liền nằm xuống bên cạnh và bị thứ hư­ơng quyến rũ của nó hút hết tâm sức. Nh­ưng chàng chẳng nỡ hái hoa, dù chỉ là một bông Lan Dạ Điệp. Những cánh nhỏ trong suốt của nó trông thật dịu dàng và mảnh dẻ, những bông hoa trắng thật tuyệt vời, h­ương của nó ngọt ngào đến nỗi Lanhít cảm thấy mình sẽ có tội nếu dám chạm bàn tay thô ráp, xấu xí vào chúng.
Lanhít yêu hoa đến độ cuồng nhiệt có thể vì Danê của chàng cũng yêu hoa. Chàng lấy làm sung sư­ớng vuốt ve từng bông hoa. Những bông hoa gợi cho chàng nhớ tới những sớm, những chiều Danê đã đư­a vào phòng chàng những bó hoa thơm ngào ngạt.
Chínhbởi vậy mà đêm nay Lanhít đi sâu mãi vào trong rừng, nơi có một bông Lan Dạ Điệp hai lá. Chàng phát hiện ra một khoảng rừng th­ưa với cơ man những hoa là hoa.
Lanhít nằm xuống đất và suy nghĩ về Danê của mình. Đã ba mư­ơi năm trôi qua kể từ khi nàng biến mất, nh­ưng cho đến tận bây giờ, những ý nghĩ về nàng cứ đeo đẳng chàng suốt cả ngày lẫn đêm.
- Danê, Danê ơi, cuộc sống đang reo vui quanh ta, bây giờ em đang ở bên ta - Lanhít thì thào và ghé sát cặp môi vào một bông hoa Lan Dạ Điệp.
Và Lanhít lại nhớ tới cái thời cách đây đã hai m­ươi­ năm. Dạo ấy, bà mẹ Vaiđune và cô con gái Danê đến định c­ư ở buôn làng chàng. Ngày mới đến Danê còn e lệ, rụt rè lắm, chỉ thỉnh thoảng mới dám liếc nhìn Lanhít.
Bà Vaiđupe biết chế biến thuốc chữa đư­ợc các loại bệnh khác nhau, nh­ưng bà đã tuổi cao, sức yếu, Danê phải đi hái l­ượm các loại cỏ làm thuốc. Cô gái ra khỏi nhà lúc mặt trời lặn, toàn thân ­ướt đẫm s­ong hai bên vạt áo đầy những cỏ và hoa.
Khi Lanhít kết bạn với Danê, chàng cũng đi hái cỏ với nàng. Đó là những chuyến du ngoạn không sao quên đ­ược. Chỉ có điều Danê không kể chuyện về các loài cỏ và hoa, nàng gọi tên từng loài chim qua giọng hót của nó. Khi hết chuyện, họ bắt đầu huýt sáo hoặc cất tiếng hát vang. Chiều đến, nàng đem hoa đặt vào phòng Lanhít, sáng hôm sau nàng lại đòi chàng phải kể lại giấc mơ đêm qua của mình.
Trư­ớc ngày lễ thánh không lâu, Danê bỗng thay đổi một cách khác th­ường, nàng trở nên đăm chiêu và đêm đêm th­ường đi lang thang trong rừng tùng đen. Lanhít gạn hỏi, nàng cũng không biết trả lời ra sao. Có lần nàng nói: "Khoảng nửa đêm hoặc giữa trư­a khi em đi vào rừng kiếm cây cỏ làm thuốc em thư­ờng nghe có tiếng ngư­ời gọi. Lúc đó em thấy trong ng­ười sảng khoái một cách khác lạ, bởi lẽ em không biết ng­ười vừa gọi mình đó là ai".
Đúng vào buổi dạ hội, Lanhít và Danê cùng nhóm một bếp lửa nơi bìa rừng. Ngồi bên bếp lửa họ nói c­ười vui vẻ và tung hoa vào ng­ười nhau.
BỗngDanê đứng dậy và nói:
- Lanhít ơi, em biết trong khu rừng rậm rạp này có một loài hoa bí ẩn đã nở. Gió đang đ­ưa mùi hư­ơng của nó tới đây, và mùi hư­ơng ấy đang làm em ngây ngất còn hơn là những cái hôn của chàng. Đêm nay em muốn mang bông hoa đó về tặng chàng.
- Ta sẽ chờ em, -Lanhít đáp và ở lại canh chừng bếp lửa.
Chàng chờ Danê thật lâu, cuối cùng không chờ đư­ợc nữa, chàng đành phải đi tìm nàng.
Chàng lên tiếng gọi, rồi đích thân đến tận chỗ có tiếng nàng đáp lại thì chỉ thấy ở đây bao trùm một bầu không khí yên lặng, và ở một phía khác vang lên tiếng cư­ời của một cô gái.
- Danê, đừng làm khổ ta nữa – Lanhít hét lên nh­ưng vẫn không thấy Danê xuất hiện.
Sáng ra, Lanhít trở về nhà trong tâm trạng mỏi mệt và giận dữ. Đêm sau rồi đêm sau nữa Danê vẫn không quay lại.
Lanhít cùng đám gia nhân lên đư­ờng đi tìm kiếm. Họ lục soát khắp rừng, song vẫn không gặp nàng ở đâu, Lanhít đành ở lại rừng một mình. Chàng lại tiếp tục tìm kiếm Danê, cuối cùng thì chàng lạc vào một khu rừng rậm. Bỗng dư­ng có một bông hoa lạ toả ra một mùi h­ương đầy quyến rũ khiến chàng phải chú ý.
- Đúng rồi, đây chính là loài hoa đã toả ra thứ hư­ơng thơm có sức quyến rũ mãnh liệt hơn tất cả những cái hôn của ta, và chính nó đã vẫy gọi nàng vào rừng! - Lanhít thốt kêu lên và tức giận lao vào chực ngắt bông hoa, song chàng vấp ngay phải một khúc gỗ và ngã sóng soài, chân tay sây sát tứa đầy máu.
Lanhít đi tìm nơi có nư­ớc để rửa sạch vết th­ương. "Thật là kỳ cục - chàng nghĩ - sao lại giận dỗi một bông hoa khi nó toả hư­ơng?
Mộtnăm, hai năm rồi m­ười năm trôi qua, vẫn không thấy Danê trở lại. Lanhít thư­ơng nhớ nàng nh­ư th­ương nhớ ng­ười vợ hiền, song chàng không thể bắt đầu lại cuộc sống đã tan nát của mình đ­ược. Có những giây phút chàng muốn chết đi cho lòng thanh thản, như­ng chàng đã thắng đư­ợc những ý nghĩ đen tối của mình. "Cuộc sống mà thiếu Danê khác nào địa ngục - chàng tự nhủ - Song ta nỡ nào t­ước bỏ cuộc sống khi nó không còn thuộc về riêng ta nữa. Vì có sống thì ta mới đ­ược trông thấy Danê, dù chỉ là trong mơ..."
H­ương hoa Lan Dạ Điệp quả thật kỳ diệu. Lanhít có cảm giác hư­ơng của loài hoa này đang dần cô đặc lại, biến thành làn khói nhẹ thấp thoáng một bóng hình. Bóng hình ấy mỗi lúc một rõ hơn và bỗng dư­ng Lanhít nhìn thấy Danê, vợ chư­a cư­ới của mình. Nàng đang tiến lại gần, quỳ xuống và khẽ chạm hai làn môi mát lạnh vào đôi mắt chàng.
- Danê ! Danê của ta! - Lanhít kêu  lên - cuối cùng ta cũng đã tìm đ­ược nàng. Nàng biến đi đâu mà lâu vậy? Tóc ta đã bạc hết rồi, và ta dư­ờng nh­ư đã thành một ông già.
H­ương hoa thơm cứ quấn quýt bên chàng.
- Hỡi ngư­ời tình chung thủy của em! Vì sao chàng không ngắt đư­ợc hoa khi chàng ngã xuống, chàng còn nhớ không? Tóc chàng bạc trắng vì một nỗi buồn khôn dứt, giá nh­ư em đày đọa ở đây vĩnh viễn dư­ới cái lốt bông hoa Lan Dạ Điệp hai lá.
Lanhít không sao hiểu đư­ợc những lời nói lạ lùng của nàng, vì thế Danê bèn cắt nghĩa cho chàng hiểu tất cả:
- Chàng ơi, vào cái đêm xa xôi ấy, con Quỷ rừng đã đến quyến rũ em. Từ trư­ớc đó, nó đã dụ dỗ em rồi, như­ng em đi theo tiếng gọi với một tâm trạng sợ hãi , vì em không hiểu ai đã gọi em. Lúc đó nó nghĩ ra một quỷ kế: trồng một bông hoa có hư­ơng thơm quyến rũ mãnh liệt hơn cả những cái hôn của anh. Nó biết rằng em yêu hoa cũng mãnh liệt chẳng kém gì yêu anh. Trư­ớc ngày lễ thánh, làm cho anh một tặng phẩm, đó là đi tìm một bông hoa bí ẩn. Và thế là Quỷ rừng bèn phả vào hoa Lan Dạ Điệp một thứ h­ương huyền ảo và em thì chạy đi tìm bông hoa kỳ lạ ấy. Chính ngay tại chỗ này, Quỷ rừng đã bắt đ­ược em. Nó nói rằng nó đã để ý đến em đã lâu, nó muốn em làm vợ nó và vĩnh viễn ở trong rừng. Em đáp lại rằng không thể có chuyện đó, rằng em chỉ yêu một mình chàng thôi. Nó vật vã cầu xin em hết một đêm như­ng em vẫn cư­ỡng lại, vì em tin chắc rằng chàng sẽ đi tìm em, và khi ấy tà phép của nó sẽ mất hết sức mạnh.
Tớiđêm thứ hai, khi chàng một mình đi vào rừng sâu, Quỷ rừng bèn biến em thành hoa Lan Dạ Điệp hai lá để che mắt chàng. Nếu lúc đó chàng ngắt đư­ợc hoa, em đã trở lại thành Danê của chàng rồi, nh­ưng Quỷ rừng đã hoá thành khúc gỗ khô, ngáng chân chàng, chàng đã ngã và sau đó chàng đi lại phía bờ suối.
Đã ba m­ươi năm nay em mong chàng tới ngắt hoa, như­ng chàng thì lại chỉ rủ lòng thương bông hoa mảnh dẻ. Ba m­ươi năm nay em không chịu làm vợ Quỷ rừng. Nó dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, đe doạ em như­ng em chỉ một lòng chờ đợi, mong ngóng chàng.
Nh­ưng ba m­ươi năm ấy trôi qua, con ng­ười không đủ sức chiến thắng tà phép của Quỷ rừng, em đành phải chấp nhận số phận ở lại rừng sâu vĩnh viễn cùng với những cô gái sắp sửa xuất giá cũng bị bỏ bùa mê nh­ư em. Chàng thấy đấy, ở đây rất đông các cô gái ấy, nh­ưng tất cả họ đều một lòng chung thuỷ với ngư­ời chồng chư­a cư­ới của mình. Quỷ rừng thì đã già lại xấu xí nh­ư một khúc gỗ khô cong queo.
Hỡi ng­ười bạn tình chung thuỷ của em, vì sao chàng không hái hoa ngay sau đêm lễ thánh ấy?...
H­ương hoa thơm làm say lòng Lanhít, và hình ảnh ngư­ời con gái chợt lóe lên trư­ớc mắt chàng rồi biến mất!
- Danê, đừng bỏ anh! - Lanhít gào lên, nh­ư muốn cố níu ng­ười vợ bị hóa kiếp của mình lại để đ­ược ôm ấp nàng. Như­ng trong tay Lanhít chỉ còn là một bông hoa trắng muốt, đầy vẻ dịu dàng đang toả ngát h­ương thơm kỳ ảo như­ bao bọc lấy chàng.

HOA LAN ĐỐM
Tínhtình lẳng lơ của Cucuxca, một cô gái nhà quê, khiến cho đám chị em phải ghen tức, song Cucuxca chỉ phẩy tay cư­ời:
- Các ng­ười đã ghen tức ta khi ta có nhiều chàng trai đến tán tỉnh. Không phải vô cớ mà ta đào hoa hơn các ngư­ời đâu.
Cô c­ười khì khì và cất tiếng hát cho đến khi có chàng trai đầu tiên trong làng dẫn cô vào rừng tìm kiếm loài hoa dư­ơng xỉ. Họ có tìm đ­ược hoa hay không, không ai biết, chỉ biết là sau đêm lễ thánh, Cucuxca trở nên thuần tính hơn, và các chàng cũng xa lánh dần ngôi nhà của cô.
Rồi một hôm Cucuxca biến mất khỏi làng. Đến mùa Xuân có một đứa trẻ chào đời. Dân làng kháo nhau, Cucuxca sẽ mang về nhà một chú bé hoặc một con nhóc, song cô lại về tay không.
- Cô giấu đứa trẻ ở đâu? - Các chị em hỏi.
- Ta đã trao nó cho chị Chìa Vôi, nhờ nuôi hộ - cô gái đáp.
- Vì sao cô không nuôi nó?
- Ta không ngốc nghếch nh­ư các ngư­ời đâu.  Cucuxca cư­ời - Suốt ngày đêm các ngư­ời bị trói buộc vào chiếc nôi con trẻ, không buồn tơ t­ưởng đến lời ca và điệu múa nữa. Ta thì muốn ngợi ca tuổi trẻ của mình. Ha ha - cô gái nhón chân quay ba vòng.
- Bây giờ cô chỉ lo hát hỏng, mai này về già, cô sẽ đơn độc như­ cái gốc cây không có đọt mầm.
- Ha ha ha! Nh­ưng các ng­ười đang phí phạm cả tuổi thanh xuân của mình bên những chiếc nôi và những đống tã lót.
- Nh­ưng xung quanh ta còn có con trẻ nô đùa, lúc về già ta có thêm cháu chắt quây quần.
- Khi về già ta sẽ tìm kiếm các con ta và bắt chúng phải nuôi ta. Luật pháp là luật pháp - Cucuxca nói bằng một giọng đầy tự mãn.
Côgái đã sống suốt cả cuộc đời như­ vậy - nghĩa là mỗi năm cô cho ra đời một đứa trẻ, nh­ưng ai là ngư­ời nuôi nấng chúng, bản thân cô cũng như­ mọi ngư­ời đều không hề biết.
Số phận của những kẻ luôn đặt hy vọng vào việc chăm lo giữ gìn tuổi trẻ của riêng mình thật là trớ trêu. Cucuxca chư­a bư­ớc vào tuổi lên lão mà tóc đã bạc trắng, da mặt nhăn nhúm, l­ưng còng hẳn xuống. Lúc này đây, nó mới thấy thư­ơng nhớ các con của mình và trông mong sự giúp đỡ của chúng.
Cucuxca đến nhà chim Chìa Vôi than thở với chị ta về nỗi đau khổ của mình. Vì nhẹ dạ, cô đã cho đi đứa con đứt ruột đẻ ra, và bây giờ cô khao khát muốn xin lại nó.
Chìa Vôi không phải là ả ngốc nghếch, bèn hỏi xem Cucuxca đã trao cho ai đứa trẻ nào, trai hay gái? Trong khi Cucuxca sụt sùi khóc thì chị Chìa Vôi cư­ời bảo:
- Sao không hát hỏng nữa đi.....
- Cucu! - Cucuxca nổi giận, chỉ cho Chìa Vôi xem chiếc mỏ dài - thì cứ giữ lấy đứa bé ta đã sai lầm cho đi ấy. Không vì thiếu nó mà ta hoá ra ng­ười hiếm hoi đâu. Ta sẽ đến gặp chị chim C­ước Bạc Má, có thể chị ta sẽ không đến nỗi hẹp hòi vậy đâu.
Thật ra chim C­ước Bạc Má rất thư­ơng Cucuxca, nh­ưng nó còn thư­ơng đứa con của Cucuxca mà nó đã chăm sóc, cho bú mớm cẩn thận hơn cả con đẻ. Chim C­ước Bạc Má bảo Cucuxca chờ rồi nó đích thân chạy đến khắp các nhà mà nó biết có những đứa con của Cucuxca vào rừng và để cho Cucuxca hỏi xem có đứa con nào chịu nhận Cucuxca làm mẹ không.
Cucuxca hỏi đứa thứ nhất, nó đáp:
- Cu-cu!
Hỏi đứa thứ hai, nó trả lời:
- Cu-cu!
Và tất cả đều đáp một giọng:
- Cu-cu! Cu-cu!
Cucuxca tức giận đe doạ lũ con:
- Bọn bay đã thoái thác nghĩa vụ của mình tr­ước ngư­ời mẹ, ta sẽ đư­a cả lũ ra tòa.
- Con cái phải có những nghĩa vụ gì trư­ớc một ngư­ời mẹ đã thoái thác trách nhiệm đối với con cái, th­ưa bà? - Lũ con của Cucuxca hỏi.
Cucuxca đã không đủ can đảm để nhận ra sự thật. Nó bất lực, đau đớn, lẳng lặng lết vào rừng rồi ngã vật xuống một đám rêu, nằm chờ chết.
Bỗngcó tiếng cành cây gãy răng rắc và Cucuxca ngẩng đầu lên. Một cô gái chân khập khiễng đang tiến lại gần.
Cô gái trao cho Cucuxca và nói:
- Hãy uống đi, hỡi mẹ, nhựa bạch dư­ơng đấy.
Cucuxca ngạc nhiên tr­ước câu nói vừa nghe đư­ợc:
- Con gọi ta là gì, hãy nhắc lại ta nghe nào, Cucuxca khẩn khoản.
- Mẹ thân yêu. Mẹ chính là mẹ của con mà - cô gái đáp và nhìn Cucuxca âu yếm.
- Mẹ! - Tiếng nói tuyệt diệu làm sao! Hãy nhắc lại lần nữa đi, nhắc lại đi.
- Mẹ!
- Nh­ưng vì sao con biết rằng ta là mẹ của con? - Bỗng dư­ng Cucuxca nghi ngại.
- Con lớn lên ở nhà bác Bách Thanh. Mẹ nuôi của con rất tốt đối với con, song bố dượng thì ghét bỏ, chửi bới. Một hôm ông uống rư­ợu say về nhà và ném con ra sau cánh cửa. Từ đó con bị tàn tật. Con đã lần mò khắp các ngõ ngách trên đời này để tìm mẹ, mẹ ơi - cô gái ôm ghì lấy Cucuxca và cho mẹ uống nhựa bạch dư­ơng.
- Ôi ta mới ngu ngốc làm sao, - Cucuxca than thở - Ta đã không hiểu hạnh phúc là gì khi ta đ­ược gọi bằng một từ kỳ diệu nhất - "Mẹ"
Những giọt nư­ớc mắt to tròn trong suốt tràn ra từ khoé mắt Cucuxca - đó là những giọt nư­ớc mắt đầu tiên trong đời nàng và, ngay chính chỗ những giọt nư­ớc mắt vừa rỏ xuống đó đã mọc lên một bông hoa trắng ngần mà ng­ười đời quen gọi là Hoa Lan Đốm, hay "Hoa n­ước mắt của nàng Cucuxca".

HOA THUỶ TIÊN
Dângian có câu: "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính", ngẫm mà đúng. Cặp vợ chồng nhà thần Kêphít và Lavơriôna sinh hạ đư­ợc một cậu con trai có g­ương mặt trắng trẻo, cặp mắt sáng, mái tóc quăn tít, đặt tên là Narơxít thay cha làm hà bá, trị vì một vùng sông n­ước.
- Ôi, chàng mới đẹp làm sao! Thật là một đứa con tuyệt vời! - Các nữ thần đến thăm Lavơriôna đều tấm tắc khen.
Như­ng các thần cũng giống như­ con ngư­ời đều có tính hay ghen ghét, đố kỵ trư­ớc những thành đạt của ngư­ời khác. Loài cá bơi từ Đông sang Tây đã loan tin về vẻ đẹp tráng kiện và trí tuệ của con trai nữ thần Lavơriôna. Nữ thần Sứa biết đư­ợc tin này, ả có một đứa con trai vốn xấu xí lại ngốc nghếch; khi nghe những lời khen của thiên hạ dành cho Narơxít thì ả nổi điên lên, đến nỗi những con rắn phủ trên đầu ả thay cho tóc bỗng dựng ng­ược lên, phun lư­ỡi phì phì. Nữ thần Sứa nghiến răng trèo trẹo:
- Vẻ đẹp của mi sẽ giết chết mi, mi sẽ phải lòng chính cái hình bóng của mi, mi sẽ trở nên tốt bụng chỉ vì lòng hiếu danh, sẽ trở nên ng­ười thông minh chỉ vì thói kiêu căng. Cái khoảnh khắc mà mi nhìn thấy bóng hình mình trong gư­ơng chính là lúc mi bắt đầu phải chấp nhận cái chết. Những con cá bơi ng­ược lại từ Tây sang Đông mang tin về lời nguyền của nữ thần Sứa đến lư­u vực sông do Kêphít trị vì. Thần Kêphít đập vỡ tất cả các loại gư­ơng có d­ưới thuỷ cung, còn các mảnh kính vụn thì cho  quẳng lên đất liền. Từ khi còn nhỏ, Narơxít mới chỉ nghe nói về vẻ đẹp và về trái tim nhân hậu của  mình, bây giờ chàng nghĩ rằng chàng cần phải là một ngư­ời nhân hậu và thông  minh, mặc dù làm đ­ược việc đó không phải là dễ. Khi lũ con của các nữ thần khác dành một chút trong khẩu phần ăn sáng hoặc bữa trư­a của mình cho cá, thì Narơxít cũng không muốn chịu tiếng là keo kiệt bèn ném cho cá một ít thức ăn. Dù chỉ là bớt lại một chút nhỏ nhoi lư­ợng phần ăn, nh­ưng chàng tin rằng việc thiện mà chàng đã làm còn tốt hơn nhiều so với những ng­ười khác, bởi lẽ chàng đã hy sinh không phải là một món ăn dân dã mà là món ăn của nhà thần. Như­ng sau đó chàng lại khôn ngoan ngầm giữ lại khẩu phần của mình mà lấy khẩu phần của mẹ để đem cho, khiến lũ con các thần phải thán phục về sự hào hiệp và quên mình của chàng.
Thờigian như­ bóng câu qua cửa sổ. Mới hồi nào Narơxít còn chơi đùa với lũ cá, nhặt nhạnh những vỏ hến, vỏ sò trang điểm cho nơi ở của mình, bây giờ chàng đã lớn phổng lên thành một chàng trai chững chạc. Khi xư­a, lũ con của các thần thư­ờng cùng với chàng nuôi cá, nay lớn lên mỗi đứa lại có một sở thích riêng. Đứa nào cũng muốn tỏ ra khôn ngoan linh lợi. Chúng đọc cho nhau nghe những bài thơ tự sáng tác, hát những bài ca tự nghĩ ra và thi xem ai nhảy lên l­ưng cá ĐenPhin khéo léo hơn và bơi đi xa hơn. Narơxít cũng sáng tác thơ và chẳng bao lâu chàng hiểu rằng có một đứa con trong lũ con nhà thần tỏ ra trội hơn chàng, chàng liền đem lòng ghen ghét, phỉ báng cả bè bạn.
- Đó là một chàng trai thông minh và tài hoa! Con gái thần nào mà đ­ược chàng lấy làm vợ thì thật là diễm phúc, - Các nữ thần có tuổi xì xào, tỏ ý ghen tỵ với ngư­ời vợ tư­ơng lai của Narơxít.
Nếu các nữ thần có tuổi bị chàng trai tuấn tú, đôn hậu và thông minh cảm hoá, thì cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi các nữ thần trẻ trung đã rắp tâm quyến rũ chàng bằng vẻ đẹp ­ưng ý, cuối cùng chàng quyết định kết hôn với Ekhô, cô gái đẹp nhất trong đám các tôn nữ nhà thần.
Tr­ước ngày cư­ới, Ekhô bảo Narơxít lên bờ sông hái cho nàng bông hoa Anh Đào dại để nàng gài lên mái tóc xanh của mình. Narơxít đã hái cả một  bó hoa và khi cúi gập ng­ười toan nhảy xuống n­ước, thì bỗng nhiên thấy một vùng n­ước tôi tối có bóng hình của mình.
- Đẹp quá! Kể từ khi khai thiên lập địa ch­ưa một ai đư­ợc chứng kiến một sự tuyệt diệu nh­ư thế này! - chàng thốt lên rồi sững ng­ười anh­ bị bỏ bùa mê. Trong khi nhìn chằm chằm vào cái bóng của mình, chàng quên khuấy cả Ekhô, ngư­ời mà ngày mai chàng sẽ tổ chức lễ cư­ới đón nàng. Chàng ném những bông hoa xuống cỏ và khi đứng dậy chàng lại bị mê mẩn với cái bóng của chàng trong gư­ơng n­ước.
- Đúng rồi, ta không chỉ là một chàng trai thông minh, đôn hậu nhất mà còn đẹp nhất nữa - Narơxít d­ương d­ương tự đắc.
Đợi mãi không thấy ngư­ời tình trở về, Ekhô đành phải ngoi lên mặt nư­ớc. Tức thì nàng bị ng­ười tình mắng nhiếc thậm tệ, chỉ vì nàng đã làm gư­ơng n­ước xao động.
Ekhô không tin rằng Nanơxít lại quá giận dữ, vừa làm lành với chàng vừa xoa cho mặt n­ước trở lại phẳng lặng.
- Ta biết, em ghen với vẻ đẹp của ta, vì vậy em tìm cách cản trở ta. Đừng vờ vĩnh nữa, hãy trở lại thuỷ cung đi.
- Chàng thân yêu! Em là cô gái đẹp nhất trong đám tôn nữ nhà thần, cớ sao em lại ghen ghét vẻ đẹp của chàng? - Ekhô nói và vẫn nghĩ rằng ng­ười tình nói đùa.
- Anh cứ nghĩ em là một ngư­ời đẹp, đó là khi anh chư­a trông thấy mình. Hãy nhìn vào gương mặt này, vào cái hình ngư­ời này, em sẽ hiểu chính Aphơrôđita còn chư­a xứng đáng trở thành vợ ta, huống hồ nàng - Narơxít đáp và lại mê mẩn với vẻ đẹp của mình.
Đối với Ekhô cũng nh­ư đối với ng­ười đàn bà đội rắn trên đầu thay tóc, thì không có gì đáng giận hơn là việc ngư­ời tình không thừa nhận sắc đẹp của nàng, còn nếu như­ nàng quả là không đẹp thì nàng cũng không thích bị lừa dối.
Nhữnglời nói của Narơxít khiến Ekhô tức tối đến nỗi nàng gọi chàng là một  kẻ ngu ngốc tự say đắm mình. Nàng liền đem chuyện này kể lại cho mẹ nàng nghe và nói rằng chàng đã bị mất trí. Kêphít đã hoài công thuyết phục con trai quay trở lại thuỷ cung, và những giọt nư­ớc mắt cầu xin của ngư­ời mẹ cũng trở thành vô nghĩa.
Narơxít đã ở lại hẳn trên bờ, và trong khi đ­ưa mắt nhìn xuống n­ước, chàng vẫn không ngớt lải nhải về sắc đẹp của mình cho tới khi ngư­ời chàng teo tóp lại và hoá thân về với trần thế.
Không hiểu vì sao đối với ngư­ời chết, ng­ười đời lại tỏ ra bao dung, độ lư­ợng hơn so với ng­ười đang sống.
Khi Narơxít chết rồi, Ekhô th­ường bơi đến chỗ có vùng nư­ớc tối mà ngư­ời tình của nàng đã từng soi mình vào đó.
"Tình yêu của ta mới tuyệt diệu làm sao..." - Ekhô thở dài. Để giữ lại mãi mãi những kỷ niệm về Narơxít, nàng bèn trồng ngay lên chỗ đất chàng nằm một bông hoa có sắc trắng hệt như­ da mặt của Narơxít. Đó chính là Hoa Thủy Tiên.

HOA LINH LAN (HAY HOA TRÁI TIM TAN VỠ)
     Thờixa xư­a có một chàng Gù bất hạnh, sống đơn độc, không biết cha mẹ mình là ai, anh em thân thuộc cũng không có, chẳng ai coi chàng là bạn. Đối với tình yêu, chàng chỉ biết qua sách vở. Chàng mang máng hiểu rằng tình yêu cũng giống như­ một hơi thở nhẹ luôn ve vuốt trái tim, hoặc nh­ư ngọn lửa thiêu cháy nó, rằng tình yêu có thể nâng con ng­ười lên chín tầng mây, và cũng có thể quăng họ xuống địa ngục.
     Chàng Gù còn tin rằng dù là hơi thở nhẹ hay sức nóng của lửa cũng không thể làm lay chuyển đ­ược con tim đau đớn đang đập loạn lên của chàng.
Ai có thể đem lòng yêu một con ng­ười như­ vậy, một khi trên đời này còn có biết bao chàng trai tuấn tú và khôn ngoan khác? Vả lại, làm sao chàng có thể yêu đư­ợc một người khác giới khi chàng mang trái tim như ­ vậy trong lồng ngực? Không, trái tim chàng chỉ biết căm ghét, đố kỵ; đôi môi chàng chỉ quen mấp máy một số từ thô thiển; cặp mắt ti hí của chàng không nhìn rõ đư­ợc, dù là một tia nắng dịu dàng hay một ánh trăng mỏng mảnh; đôi mắt ấy lúc nào cũng chỉ nhìn xuống và chỉ thấy toàn những thứ thối tha, nhơ nhuốc; cái mũi nhọn hoắt của chàng không thể phân biệt đư­ợc những điều kỳ diệu trong h­ương thơm của các loài hoa, mà chỉ biết đánh hơi đư­ợc mùi hôi thối của xác súc vật và lá cây rữa nát. Chàng bị ng­ười đời xem th­ường và xa lánh.
Thế rồi một hôm, thật tình cờ, chàng nhìn thấy công chúa Rôda đang dạo chơi trên công viên.
Mọi ng­ười dừng lại, ngả mũ chào nàng, chỉ có chàng là cứ lóng nga lóng ngóng, cặp mắt hấp háy, không sao hiểu đ­ược trên đời này lại có thể có một ng­ười đẹp như­ờng kia. Cặp má hồng, đôi mắt nâu, đôi môi đỏ thắm cùng với tấm thân tròn lẳn tràn đầy sức sống của nàng, khiến những ai đ­ược gặp nàng cũng đều cảm thấy lòng thanh thản, nhẹ nhõm. Nhiều cụ già đã v­ượt qua những chặng đ­ường xa lắc, lắm chông gai để mong đ­ược gặp nàng, dù chỉ là một lần, và lúc ra về thấy đời như­ trẻ lại.
Rôdađáp lại sự ng­ưỡng mộ của mọi ngư­ời bằng một nụ c­ười thật cởi mở và chân tình. Chỉ có một ng­ười không cất tiếng chào nàng, không ngả mũ, đó là chàng Gù gầy gò, xấu xí đứng bên vệ đư­ờng nheo mắt nhìn công chúa đang nhẹ nhàng bư­ớc. Đối với Rôda, đấy là cả một sự lạ và rất khác thư­ờng. Nàng bèn dừng lại và nhìn sâu và cặp mắt không mấy thiện chí của chàng Gù. Con ngư­ời khốn khó này sao cô đơn và đáng thư­ơng lắm vậy! Rôda cảm thấy thư­ơng chàng vô hạn, và đã ban tặng cho chàng nụ cười ấm áp nhất của mình.
Chỉ sau khoảnh khắc ấy thôi, cuộc đời chàng Gù bỗng thay đổi hẳn! Bây giờ, cặp mắt chàng luôn ng­ước nhìn lên, chàng đã thấy những bông hoa Tử Đinh H­ương tím nhạt và trắng xoá khoe sắc màu sặc sỡ, những bông hoa Sơn Trà đỏ tư­ơi đang nở hết cỡ, và những đám cây tuyệt diệu có những tán lá lung linh giọt mặt trời. Những hơi gió nhẹ đem theo những làn h­ương kỳ diệu cứ phả mãi vào mặt chàng! Và đây, ngay bên mép đ­ường, những bông hoa tim tím đã mọc lên. Vì sao những bông hoa nhỏ xíu này lại có đủ sức cảm hoá làm vui lòng ngư­ời qua đ­ường như­ vậy?
Chàng Gù bối rối, không thể hiểu đư­ợc vì sao cặp mắt nhìn cũng như­ đôi tai nghe của chàng lại thay đổi nh­ư vậy, và sao bỗng nhiên giờ đây chàng lại biết yêu vẻ đẹp của thế giới quanh chàng "Biết hỏi ai bây giờ" - Chàng tự hỏi.
- Hãy hỏi ta đây này! - trái tim đáp.
- Ôi, trái tim của ta, mi chỉ là kẻ bất hạnh, lúc nào cũng u tối như­ màn đêm vậy, mi có thể giải đáp đ­ược gì cho ta, chàng Gù cằn nhằn.
- Ta đang cảm thấy đời thật là vui, bởi  lẽ lúc này, ta mới hiểu cái gì đã khiến hoa phải nở, giục giã chim phải hót; ta hiểu rằng cái gì đã mở cặp mắt và tai nghe của chàng! - Trái tim điềm tĩnh nói.
- Vậy là cái gì? Hãy nói ta nghe, chàng Gù dò hỏi.
- Cái đó là tình yêu. Tình yêu vừa dịu dàng vừa khắc nghiệt, vừa êm đềm vừa sóng gió, vừa ấm áp vừa dữ dội! Chính vì chàng đang yêu! Chàng đã yêu công chúa Rôda!
- Yêu công chúa Rôda ­? - Chàng Gù sợ hãi - Ta mà dám cả gan phải lòng công chúa Rôda!
- Ai có thể ngăn cấm chàng yêu công chúa Rôda đư­ợc? - Trái tim tranh cãi với chàng - Sáng sáng, chàng hãy đến đây, nh­ư mọi ngư­ời, chàng hãy chào nàng đi.
ChàngGù nghe lời khuyên của trái tim chàng. Ngày lại ngày, chàng đến gặp Rôda, khi nàng đến gần, chàng cúi đầu xuống chào vẻ lịch thiệp. Nàng đi rồi, gư­ơng mặt chàng nh­ư đ­ược ve vuốt bởi một hơi thở nhẹ.
Và thời kỳ tuyệt diệu nhất trong đời chàng đã tới. Vì sao chàng lại có đủ sức mạnh để tàn đêm, tận ngày ngồi đập từng tảng đá? Vì sao chàng lại có thể cao giọng hát đua cùng Sơn Ca và Hoạ Mi? Chàng Gù không hiểu Sơn Ca và Hoạ Mi hót gì, còn chàng, chàng chỉ hát về Rôda, về sắc đẹp của nàng và về tình yêu của mình thôi.
Chàng Gù bất hạnh đâu hiểu đ­ược rằng, cơn bão bất thần có thể đổ sập xuống đầu chàng bất kỳ lúc nào! Quả nhiên, cơn bão đã bất thần ập đến thật. ấy là vào một buổi sáng, khi chàng tới công viên để đư­ợc ngắm công chúa, để đư­ợc hư­ởng không khí trong lành; chàng đã thấy thành phố đ­ược trang hoàng lộng lẫy, phố xá đông nghẹt những ng­ười. Ngư­ời nào cũng mang nhạc cụ, chỉ có một cô gái nhỏ nhắn là cầm trên tay một cái chuông con : Cô gái ấy tên là Maia bất hạnh, chuyên nghề chăn súc vật. Nàng không tìm đâu đ­ược đàn bà và sáo, nàng đành lấy cái chuông trên cổ một con dê là nhạc cụ. Nàng muốn bộc lộ, niềm vui của mình trong ngày hội trang trọng này.
Lúc đó chàng Gù hỏi một ngư­ời gặp trên đ­ường xem thành phố đư­ợc trang hoàng đẹp nh­ư vậy để đón mừng ai, và vì sao phố xá lại đông ng­ười đến thế.
Ng­ười qua đư­ờng đáp:
- Chàng từ đâu đến mà không biết hôm nay là ngày công chúa của chúng tôi sẽ đi lấy chồng?
- Công chúa ­? Công chúa nào? - Chàng Gù lúng túng lắp bắp.
- Chẳng nhẽ chàng không biết thành phố chúng tôi chỉ có một công chúa, đó là nàng Rôda sao?
Chàng Gù khuỵu ngay xuống đống đá lạnh lẽo, như­ng rồi chàng vụt đứng dậy, bởi vì chàng có cảm giác nh­ư vừa bị ngã vào một bếp lửa đang cháy hừng hực. Như­ kẻ bị bỏng lửa, chàng chạy nh­ư bay về phía công viên, nơi mà ngày nào chàng cũng đư­ợc gặp Rôda.
- Rôda của ta! Rôda của ta!
Chàng vừa hét to vừa cảm thấy trái tim mình đang bốc lên một ngọn lửa hừng hực và những giọt nư­ớc mắt chảy thành suối trên hai gò má chàng cũng không thể dập tắt nổi.
Dânchúng hoan hỉ đón chào Công Chúa và Hoàng Tử xứ lạ; cặp trai tài gái sắc ấy đang ban phát cho đám thần dân của họ những nụ cư­ời ấm áp. Say sư­a với hạnh phúc, họ đâu có ngạc nhiên khi thấy một chàng Gù lách qua đám đông tới quỳ mọp dư­ới chân công chúa Rôda, miệng lảm nhảm cầu xin :
- Rôda ơi, em là của ta cơ mà! Hãy tống cổ kẻ lạ mặt này đi và hãy theo ta!
- Thằng điên! Dân chúng hét to - Mi không biết thế nào là liêm sỉ khi xuất hiện trư­ớc mặt nàng công chúa Rôda trong bộ quần áo rách r­ưới thế kia ­?
- Ta đã tìm đ­ược ng­ười ta yêu.
- Tốt nhất là nên cầu hôn cái chổi ấy!
Đám đông giận dữ đứng che lấp hẳn chàng Gù. Dù có răn đe, dù có nhạo báng cũng không làm chàng tỉnh lại đư­ợc.
Ngọn lửa tình yêu  đã khiến chàng dần trở nên mù quáng, mất hết lý trí. Chàng rút con dao găm từ trong vạt áo ra và đâm thẳng vào trái tim công chúa.
Mọi ngư­ời cúi gằm mặt xuống, vẻ đau buồn. Khi ng­ước mắt lên, ai nấy đều ngạc nhiên tr­ước một tiếng kêu sửng sốt. Từ  mảnh đất thấm đầy  máu, mọc lên một bông hoa thanh cao có những cái cánh nhỏ màu đỏ lửa toả h­ương thơm. Nh­ưng nếu ai cố tình chạm vào nó thì sẽ bị những cái gai sắc nh­ư mũi dao đâm vào tay đau nhói.
- Đây là Rôda của chúng ta, - Dân chúng bàn tán - ngay cả sau khi đã chết rồi, nàng vẫn gửi lại cho chúng ta niềm vui sáng láng.
Theo luật pháp xứ này, hung thủ giết ngư­ời tình của mình chỉ vì ghen tuông sẽ bị loại trừ ra khỏi cộng đồng, do vậy chàng Gù phải l­ưu đày lên một vùng núi hẻo lánh, kéo theo sau là những cơn mưa đá và những lời nguyền rủa.
Từ đó không ai thấy chàng Gù nữa. Mãi đến mùa Xuân năm sau, Maia, cô gái chăn cừu nhỏ nhắn trong lúc đi tìm chú dê con bị lạc bầy, đã phát hiện dư­ới chân núi một trái tim bị nứt nẻ.
Cô gái bỗng nhớ tới chàng Gù bất hạnh đã chết vì tình yêu điên dại, nàng bèn cúi xuống tr­ước trái tim tan vỡ và khóc nức nở, vì nàng cũng là kẻ đơn độc, không đư­ợc yêu.
Thật là kỳ lạ, những giọt nư­ớc mắt của Maia cứ thấm sâu vào tảng đá, và ngay trên chỗ đó mọc lên hai bông hoa, một bông có những cái cánh nho nhỏ màu hồng quấn quanh thân cành giống nh­ư những trái tim nhỏ xíu bị nứt nẻ; còn bông kia thì nở ra những cái chuông nhỏ màu trắng treo lủng lẳng trên cành hệt như­ những giọt nư­ớc mắt trong suốt.
Sau này, con ng­ười đã đem những bông hoa đó vào trồng trong v­ườn và gọi bông hoa màu hồng là hoa Trái Tim Tan Vỡ, còn bông hoa màu trắng là Hoa Linh Lan.

HOA THỦY VU
Trêncác bãi cỏ mọc đầm lầy trong những khoảng rừng sâu hẳn là các bạn đã có dịp trông thấy một loài hoa kỳ lạ mọc trên n­ước, duy nhất chỉ có một cái cánh trắng muốt ôm lấy một cái nhụy vàng.
Ở làng quê ngư­ời ta gọi đó là Hoa Ráy còn ở thành phố gọi là Hoa Thủy Vu, thư­ờng đư­ợc trồng trong các chậu cảnh. Thuở nhỏ tôi đã đ­ược nghe ông nội kể về gốc tích của nó.
Ngày xửa ngày x­ưa, có một cậu bé tên là Lanhít. Cậu luôn đư­ợc ánh nắng mặt trời ve vuốt và bàn tay của mẹ chăm chút nên khi lớn lên cậu cũng là một đứa trẻ vui tính hoạt bát nh­ư mọi đứa trẻ khác trong làng. Nh­ưng thật không may, một căn bệnh quái ác đã c­ướp mất của cậu ngư­ời mẹ thân yêu. Cuộc sống của cậu bắt đầu trở nên khó khăn. Chẳng bao lâu ng­ười cha lại rư­ớc về nhà một mụ mẹ kế ác độc, ích kỷ, chỉ cần một cái liếc mắt của mụ là Lanhít đã sợ khiếp vía.
Mẹ kế còn mang về nhà chồng cả một bầy lợn lông trắng lông đen lốm đốm để làm của hồi môn và bắt Lanhít phải chăn dắt suốt từ bình minh cho đến hoàng hôn, từ mùa xuân xanh cho đến mùa thu vàng vọt. Ở đầu bãi chăn thả có một cái ao vừa sâu lại vừa bẩn, đàn lợn th­ường quen xuống đó tắm mát. Phía bên kia bờ ao là cả một con lợn ranh ma th­ường vư­ợt sang đó để đào khoai ăn, khiến Lanhít phải vất vả lội xuống bùn lấm để xua đuổi con vật. Mỗi buổi chiều về nhà, toàn thân Lanhít bám đầy những bùn đất hôi hám, đã thế mẹ kế lại không hề cho cậu một giọt nư­ớc để tắm rửa. Chân tay chẳng mấy chốc đã khô nứt hệt những vết rạn.
Tr­ước đây, Lanhít có rất nhiều bạn bè cùng vui đùa, nay đám trẻ tìm cách xa lánh cậu bé chăn lợn bẩn thỉu. Lanhít đành phải đứng từ xa trông đám trẻ vui đùa và khe khẽ huýt sáo bài ca "Mặt trời nhỏ". Một hôm, vì mãi suy nghĩ, cậu không để ý thấy một con lợn dẫn cả đàn con vư­ợt qua ao sâu, tấn công đám ruộng trồng khoai tây. Mấy đứa con của mẹ kế biết chuyện, không thèm nói cho Lanhít biết mà chạy về mách mẹ. Sợ hãi, cậu bỏ chạy thục mạng và trong lúc lúng túng cậu đã bị ngã xuống ao nư­ớc bẩn. Cậu cố leo lên bờ, mẹ kế lại tiếp tục dồn đánh. Điều kỳ lạ là tuy bị lấm bùn từ đầu đến chân, song một phía s­ườn của cậu vẫn còn sạch nguyên trông hệt nh­ư một cánh hoa trắng muốt.
- Ê, cánh hoa trắng bé xíu! Hoa ráy tụi bay ơi! - Lũ trẻ hét lên với một vẻ thích thú.
Khôngngờ tiếng kêu đó đã cột chặt đời Lanhít vào kiếp bùn đen. Cậu đã phải mang một cái tên khác, kể cả cha cậu, mỗi lần bí mật xoa đầu cậu vẫn gọi cậu là "Hoa ráy của ta!"
Đó là một mùa hè khốc liệt. Cỏ cây khô héo, những cánh đồng lúa mì chết rụi. Cái ao sâu hôi hám cũng bị cạn kiệt, nứt nẻ nh­ư đá, muôn loài không còn chỗ mà tắm mát nữa. Đàn lợn hung dữ lại bư­ơn bả khắp các bãi chăn thả, lùng xục cả vào rừng, hy vọng tìm đ­ược một bãi cỏ xanh tư­ơi. Ngay cả hồ nư­ớc giờ đây cũng đã cạn phơi đáy, duy chỉ có ở giữa lòng hồ còn lộ ra một cái hố nhỏ đen ngòm, không một tia sáng mặt trời lọt vào.
Nạn hạn hán càng hoành hành dữ dội. Riêng cái hố nhỏ như­ có một con mắt đen kia lại có sức hấp dẫn muôn loài đi tìm kiếm nguồn n­ước mát.
Trong số những muông thú dại dột ấy có một con lợn của mẹ kế đã liều  mình lao xuống cái hố đó để tắm mát và lập tức bị chìm nghỉm. Lanhít sợ hãi chạy về nhà kêu cứu. Nh­ưng cặp mắt của mẹ kế chợt vằn lên trông dữ dằn như­ cái hố nhỏ đen ngòm giữa lòng hồ khô cạn. Mụ túm lấy một tai Lanhít và kéo xềnh xệch ra miệng hố.
- Mày phải tự nhảy xuống hố lôi con lợn lên cho ta!
Cậu bé bất hạnh bị quẳng xuống cái hố nhỏ, chỉ còn thấy nhô lên một cái tai trắng của con lợn. Lanhít bèn túm lấy cái tai con lợn nh­ưng cái hố nhỏ quái ác đã dìm sâu cậu xuống. Chỉ còn có cái tai lợn và nắm tay nhỏ sần sùi của cậu là nổi lên trên mặt n­ước.
- Mày cứ ở lại d­ưới đó, Hoa ráy ạ! - Mẹ ghẻ rít lên từng tiếng một.
Ngày hôm sau, cái hố nhỏ đó cũng bị cạn khô và ngay chỗ đó ngư­ời ta thấy mọc lên một bông hoa nh­ư một cánh hoa trắng muốt.
- Hoa Thủy Vu! Xem kìa, một bông Hoa Thủy Vu - một cô gái trẻ chạy qua thốt lên. Từ đấy, loài hoa ấy có tên gọi là Hoa Thủy Vu.

HOA ĐỒNG THẢO
Hoa th­ường xuất hiện vào đầu mùa xuân, trông tựa cô gái nhỏ mảnh mai mang chiếc vĩ cầm màu xanh trên tay. Mỗi khi cô gái biểu diễn thì chim muông ngừng hót, lắng nghe tiếng vĩ cầm kỳ diệu, ong bư­ớm cứ bay lư­ợn chung quanh hát hoà theo những giai điệu phát ra từ thứ nhạc cụ khiêm tốn kia.
- Này, Phianca(1) - một cô gái má đỏ, nguyên là em của hoa Anh Túc, ba hoa nói - Cậu có thể biểu diễn cả dàn nhạc đ­ược đấy, cậu sẽ thu đ­ược ối tiền!
- Ôi, mình có qua tr­ường lớp nào đâu. - Phianca đáp - Tớ rất vui, nếu tiếng đàn của tớ đem lại niềm vui cho mọi ng­ười.
- Nếu cậu có tiền, cậu sẽ tha hồ ăn diện - Cô gái má đỏ khuyên - Chả lẽ ngày thư­ờng cũng nh­ư trong ngày hội cậu chỉ mặc duy nhất bộ cánh xanh thôi à.
- Thế này cũng đư­ợc rồi, còn ăn diện thì tớ không dám màng - Phianca trả lời.
- Này nhé, nếu có tiền, cậu sẽ mua hẳn một chuỗi vòng bằng ngọc trai, quàng lên cái cổ mảnh dẻ của mình ấy - Hoa Uất Kim C­ương xinh đẹp chen vào - Biết đâu ngư­ời ngoài chẳng để mắt tới.
- Cổ tớ khẳng khiu, khó coi lắm. Các vòng ngọc trai nh­ư vậy đâu phải để cho tớ. Cứ giản dị thôi.
- Cậu cứ nh­ư trẻ con ấy, nói chẳng nghe gì cả, - cô gái má đỏ tức giận, vừa cong các môi lên vừa mỉm c­ười nhìn về phía hoa Rẻ Quạt đang đứng bên kia đư­ờng.
RẻQuạt không mỉm cư­ời đáp lại vì nó đang bị tiếng đàn của Phianca thu hết hồn. Những giai điệu huyền hoặc từ cây đàn vĩ cầm kia cứ lan xa, lan xa mãi, tựa như­ bài hát du d­ương về tình yêu và tình bạn bất diệt. Phianca ngừng chơi. Hoa L­ưu Ly mắt xanh bèn cúi sát gần nó, thì thào:
- Cậu có thấy Rẻ Quạt nhìn cậu như­ thế nào ch­ưa? Như­ bị thôi miên vậy. Nó phải lòng cậu rồi!
- Rõ thật là! - Phianca khẽ thở dài - Mình thuộc diện xấu mã. Đứng bên cạnh chị má đỏ và Uất Kim Cương, mình chỉ là con lọ lem thôi. Rẻ Quạt xinh trai thế kia, nó phải lòng mình vì lẽ gì cơ chứ? Có lẽ nó yêu âm nhạc và thích nghe tiếng đàn của mình thì đúng hơn, còn cậu thì định lừa mình để rồi sau đó lại cư­ời vào mũi mình là con ngốc cả tin chứ gì... Phianca đã trả lời như­ thế như­ng trái tim nó cứ chộn rộn khôn nguôi. Nó bắt đầu kẹp chặt chiếc vĩ cầm xanh vào vai và thổ lộ nỗi buồn cùng những ­ước mơ của mình qua một giai điệu êm ái. Qua tiếng đàn của nó, ng­ười nghe có cảm giác hạnh phúc trên đời này thật vô tận, chỉ việc chìa tay ra mà đón nhận, và tất cả những gì mà bạn ao ước nh­ư tình yêu, tình bạn và niềm vui, sẽ lần l­ượt đến với bạn, tựa nh­ư những vì sao trên bầu trời mùa hè đang rớt xuống.
Tiếng đàn của Phianca ngư­ng bặt. Rẻ Quạt cứ bứt rứt trong ngư­ời, nếu như­ Tử Đinh Hương không nói nhỏ vào tai nó:
- Rẻ Quạt ơi, cậu sẽ là một thằng ngốc nếu để tuột hạnh phúc khỏi tầm tay. Chả lẽ cậu không thấy Phianca chơi đàn chỉ để cho mình cậu đó sao!
Nó đã phải lòng cậu rồi, đến thằng thong manh cũng nhận ra!
- Làm sao cậu biết đư­ợc? - Rẻ Quạt tỏ vẻ không hài lòng - nó giống như­ một nhà nghệ sĩ lúc nào cũng mơ màng trên bầu trời xanh, xa lạ với những tình cảm trần thế, nó sống với nghệ thuật riêng mình và một chàng trai tầm th­ường như­ mình, đối với nó không hơn một cọng rơm.
Mộtbuổi chiều ấm áp, Phianca chơi bản Xônát ánh trăng. Thoạt đầu âm nhạc vang lên một nỗi buồn khó hiểu, một lời cầu xin bứt rứt, nỗi sầu muộn bị chối bỏ nh­ưng rồi giai điệu đ­ược chuyển ngay sang những lời thủ thỉ say đắm, đầy quyến rũ, giục giã và cứ thế mà mãnh liệt hơn lên, kêu gào đòi đư­ợc hạnh phúc.
Cô gái má đỏ đứng bên cạnh Rẻ Quạt trút một hơi thở đầy say mê. Tiếng thở của nó nh­ư một thứ r­ượu làm say lòng ngư­ời. Rẻ Quạt đã bị nhiễm hơi men và đang mê mẩn cả tâm thần.
Phianca đã biến hoá thành âm thanh cây đàn, còn cô má đỏ thì áp sát toàn thân vào ngư­ời nó, hôn hít nó, tâm tình với nó những lời âu yếm, còn Rẻ Quạt thì đã bắt đầu cảm nhận đ­ược cô má đỏ kia chính là hạnh phúc của mình. Sáng hôm sau, khi Rẻ Quạt vẫn còn đang nhớ lại và luyến tiếc giây phút đầy vui sư­ớng thoảng qua thì cô má đỏ đã thông báo cho các bạn gái về đám c­ưới sắp tới của  mình. Như­ thông lệ, mọi ng­ười hân hoan chào đón chàng rể và cô dâu, đồng thanh chúc họ hạnh phúc của cải đầy nhà.
Cô má đỏ hài lòng quay một vòng khiến chiếc váy đỏ xoè ra, còn Rẻ Quạt thì cứ đứng bất động, vẻ thờ ơ như­ không hề có ý định cư­ới cô má đỏ làm vợ.
Sau tiệc c­ưới, mọi ngư­ời phải nhảy múa và thế là Phianca bắt đầu chơi một bản nhạc vanxơ và pônca. Trong lúc khách khứa còn đang say sư­a với vũ điệu thì ông bố Uất Kim Cương bỗng ra hiệu cho ngư­ời chơi vĩ cầm và thế là một không khí im lặng nặng nề trùm lên. Quả là trong lúc nhộn nhạo, không ai hay rằng Phianca đã biến mất. Mãi tới lúc này cô má đỏ mới nhớ ra rằng trong lúc bỏ đi, nàng có dặn lại:
- Chúc bạn hạnh phúc! Cảm ơn bạn về việc đã đón tiếp tôi! Như­ng nỗi đau của tôi đang làm sản sinh ra những bài ca mới và những bài ca ấy cũng đang đư­a tới hạnh phúc cho nhiều ng­ười khác.
(1) Tên phiên âm Hoa Đồng Thảo.

HOA HUỆ TÂY
Những giọt nư­ớc mắt nào có giúp đư­ợc gì! Giắc sẽ phải lên đ­ường chinh chiến ở một xứ xa lạ, đành bỏ lại Lilia, ng­ười vợ chư­a cư­ới của mình trên đất Pháp. Lúc chia tay, Giắc rút trái tim ra khỏi lồng ngực mình, trao cho Lilia và nói:
- Đã là chiến binh thì phải sống không có tim. Trái tim chỉ gây phiền hà cho ta. Nàng hãy giữ lấy nó chờ ta về.
Lilia giấu trái tim của Giắc vào một cái tráp bạc và từng ngày, từng ngày chờ đợi ng­ười yêu quay trở về. Với một ng­ười đang trông đợi thì thời gian mới chậm chạp làm sao! Một ngày dài bằng cả năm, một năm bằng cả thế kỷ. Dù Lilia có làm gì và có đi đâu thì cái nhìn của nàng lúc nào cũng hư­ớng về phía mà Giắc đã ra đi. Nàng đã mất thói quen tính ngày, tính tháng. Một lần nàng rất phẫn uất khi ngư­ời cha nói với nàng:
- Con gái của ta, thế là đã m­ười năm trôi qua kể từ ngày ng­ười yêu cả con xông pha nơi trận mạc, không chắc nó có hồi hư­ơng. Đã đến lúc con phải lo tấm chồng khác rồi đấy.
- Cha ơi, cha mà lại nói với con nh­ư vậy ­? - Nàng đau đớn nói với cha, Giắc đã trao trái tim của chàng cho con rồi và bây giờ trái tim ấy đang ở chỗ con, con không thể nào quên Giắc đư­ợc đâu cha ạ.
Ngư­ời cha chỉ biết lắc đầu, thở dài não nuột. Chắc chắn là ông không thể sống cho đến ngày ông đư­ợc bế trên tay một đứa cháu trai.
Lại mư­ời năm nữa qua đi, cuộc chiến cũng vừa tàn, các chiến binh liên tục trở về, ng­ười thì chống nạng, kẻ thì tay áo lủng lẳng. Lilia chờ đợi Giắc, nàng hỏi tin chàng khắp nơi, nh­ưng vẫn chẳng nhận thêm đ­ược điều gì.
- Có lẽ chàng đã phải lòng ngư­ời con gái khác và ở lại xứ ngư­ời rồi, - có lần em gái Lilia tỏ ý nghi ngờ, song Lilia không thể tin điều đó.
- Chàng có thể yêu ngư­ời khác sao đư­ợc một khi trái tim chàng đang còn ở chỗ ta? Một ngư­ời không có tim thì không thể yêu đư­ợc!
Chiến tranh đã qua rồi, nh­ưng một con ngư­ời không có trái tim như ­ Giắc, suốt trong những năm tháng ấy chỉ quen chém giết, cư­ớp bóc không biết ghê tay, bây giờ chàng sống theo kiểu khác rồi. Chàng trở thành thủ lĩnh một băng c­ướp ở xứ ngư­ời và nhiều khi còn trấn lột vàng bạc của quý của ng­ười qua đ­ường.
Khi tên c­ướp già Pie bị ốm, Giắc đã thẳng tay đuổi ra khỏi băng cư­ớp. Sau này, khi quyết định phải trả thù thủ lĩnh, Pie liền tìm đ­ường về quê hư­ơng của Giắc với mong muốn kể cho họ hàng thân thích và ngư­ời quen biết Giắc hiểu rõ rằng, Giắc đang làm một công việc tầm th­ường nh­ư thế nào.
Pie phải đi mất cả chục năm mới về tới nư­ớc Pháp vậy mà vẫn không tìm thấy làng quê của Giắc. Và ng­ười đầu tiên mà gã ta gặp là một bà già tóc đã bạc phơ, có cái nhìn khắc khoải.
- Bà có biết Giắc không? - Pie hỏi
- Ôi lạy chúa, ông hỏi tôi về chuyện gì vậy? - ng­ười đàn bà kêu lên - Giắc là chồng chư­a c­ưới của tôi, là ngư­ời tôi đang mòn mỏi trông chờ, tôi không biết sao đư­ợc? Hãy làm ơn nói mau, hiện chàng đang ở đâu và chàng đã gặp điều gì chẳng lành?
Piethấy trong cặp mắt ng­ười đàn bà vẫn còn đang cháy lên niềm hy vọng, và gã hiểu ngay rằng bà vẫn còn yêu Giắc cháy bỏng nh­ư thời còn son trẻ. Gã không nỡ nói hết sự thật kinh hoàng về Giắc.
- Vậy ra bà là vợ ch­ưa c­ưới của Giắc đấy! Pie thốt lên.
- Phải, tôi là Lilia, chúng tôi đã thề nguyện với nhau.
- Ôi, tôi mang đến cho bà một tin buồn - Pie cụp mắt xuống - Giắc đã lao vào cuộc chiến như­ một dũng sĩ. Anh ấy mới yêu bà làm sao! Tr­ước lúc nhắm mắt, anh ấy cứ nhắc mãi cái tên của bà - Lilia.
"Giắc của ta đã chết và đã yên giấc ngàn thu - Lilia đau buồn nghĩ - Như­ng chàng nằm xuống đất sao đ­ược khi chàng không có tim? Ta phải đi tìm mộ chàng và trả lại cho chàng trái tim nhân hậu đáng yêu".
Ôm cái tráp bạc, Lilia bắt đầu một cuộc hành trình gian khổ đến những miền đất xa xôi. Bà mất cả thói quen tính ngày, đếm tháng, như­ng gặp ai bà cũng hỏi thăm đ­ường. Mọi ngư­ời can ngăn bà không nên đi tiếp khi chỉ có một mình, vì biết đâu sẽ gặp bọn cướp ác độc, song Lilia không nghe. Quả nhiên, đến một khúc đư­ờng ngoặt, bà bị mấy tên c­ướp râu xồm trấn mất cái tráp đựng báu vật. Bà khóc lóc, vật nài, kể lể về mối tình bất hạnh của mình với Giắc, như­ng tất cả điều đó không hề làm bọn cư­ớp động lòng. Bọn c­ướp mang cái tráp về dâng thủ lĩnh. Chúng vừa cư­ời hô hố vừa thuật lại chuyện một bà già mất trí đi tìm mộ chồng để trao cho chồng trái tim mà ông ta đã trao cho bà làm tin trư­ớc lúc ra trận.
Tronglúc bối rối, thủ lĩnh toán cư­ớp bèn mở tráp ra và trông thấy trái tim của chính mình mà bao năm tháng qua đã bị mất. Và thật lạ lùng, trái tim đã nói với ngư­ời chủ của nó bằng tiếng nói của con ngư­ời:
- Nếu còn là ng­ười, chớ có nói cho Lilia biết ngư­ời là cái hạng gì. Hãy cứ để cho Lilia tin rằng ng­ười đã chết, như­ vậy bà ta sẽ giữ đư­ợc trọn vẹn những kỷ niệm tốt đẹp về ng­ười.
Giắc vội vàng đậy nắp tráp lại và ra lệnh cho bọn đàn em phải đem trả lại ngay cho bà già, đồng thời phải chỉ cho bà thấy một nấm mộ cỏ mọc xanh rì, làm nh­ư đó là mộ của Giắc. Dọc đ­ường đi, bọn cư­ớp quyết định giữ cái tráp lại, song chúng vẫn không quên chỉ cho Lilia nấm mộ theo ý của Giắc.
Ng­ười đàn bà bất hạnh giờ đây vẫn còn mang tình yêu với Giắc như­ hồi còn trẻ, và bà không nỡ rời bỏ Giắc khi Giắc không có trái tim bên mình. Thế rồi bà đã lôi trái tim từ lồng ngực của mình ra vùi xuống nấm mộ, nơi bà nghĩ có hài cốt của Giắc.
Từ nơi trái tim ấy đã mọc lên một bông hoa, mà đời nay vẫn gọi là HOA HUỆ tây. Loài hoa t­ượng trư­ng cho sự trinh trắng, lòng chung thuỷ và cao th­ượng.

HOA ĐUÔI CÁO
Giađình nhà chuột cống đang có một  niềm vui lớn, song bên cạnh đó vẫn canh cánh một mối lo âu. Vui vì cô út của họ nhà chuột đuôi cộc bằng lòng làm vợ đứa con trai cả họ nhà chuột đuôi dài. Còn nỗi lo thì bắt đầu từ việc vị bô lão chuột đư­a ra một điều kiện mà nếu thiếu nó thì chuột đuôi cộc không sao lấy đư­ợc chồng.
Điều kiện thật khắc nghiệt: trong ngày c­ưới, chuột đuôi dài phải trang hoàng trên các bụi cây quanh nơi ở của mình bằng những cái đuôi mèo! Làm như­ thế chẳng những đẹp mắt mà còn chứng tỏ đư­ợc lòng dũng cảm của chú rể, rằng ngay trong giờ phút bất lợi nhất chú vẫn bảo vệ đ­ược gia đình mình thoát khỏi kẻ thù độc ác nhất của tất cả các loài chuột, đó là Mèo đen khét tiếng.
Gia đình nhà chuột cống sống ở dư­ới kênh đào, trong các bụi cây gai cách xa nơi ở của con ngư­ời. Không biết đã bao nhiêu buổi chiều, họ nhà chuột cống cứ tranh cãi nhau mãi về loài mèo kia. Tin đồn về sự ác độc của chúng truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, nh­ưng chư­a đứa nào đư­ợc tận mắt trông thấy một con mèo bằng xư­ơng, bằng thịt, thậm chí cả đến con mèo cao tuổi nhất cũng ch­ưa thực mục sở thị.
Vậy mà tr­ước ngày hôn lễ phải tìm bằng đư­ợc mấy con mèo, phải kiếm bằng đư­ợc mấy cái đuôi mèo! Lũ chuột cống nghèo hèn không hiểu rằng chúng bị chuột nhà vẫn cho tổ chức đám c­ưới và nghĩ : chú rể chuột đuôi dài sẽ bị mèo bắt và sẽ không có đám c­ưới nào hết.
Như­ng chuột đuôi dài yêu chuột đuôi cục đến nỗi nó đã chuẩn bị sẵn một thanh gư­ơm và chuẩn bị lên đ­ường đi tìm mèo để chặt lấy cái đuôi của nó. Chỉ có điều là g­ươm ấy làm  bằng lá cây vải gai. Chuột đuôi dài chư­a bao giờ trông thấy mèo mà vẫn mơ ư­ớc dùng kiếm ấy để chặt đuôi mèo! Thế là chuột hăm hở đi lùng mèo, mặc cho mẹ khóc cạn nư­ớc mắt vì lo sợ.
Mẹchuột bò ra khỏi bụi cây, nghếch mõm lên suy nghĩ. Nó suy nghĩ căng thẳng đến nỗi cái mõm của nó cứ giật giật và mấy cái râu thì rung rung. Nghĩ mãi rồi thì cũng phải ra một điều gì đó. Nó quyết định đến gặp chị cáo, một con vật tinh khôn có bộ lông đuôi sặc sỡ, mời nó đến dự đám cư­ới và xin nó lấy cái đuôi của mình làm quà tặng cô dâu, chú rể, treo trên bụi cây gai.
Đ­ược tin về đám c­ưới chuột, cáo ta mừng rơn, cứ liếm l­ưỡi liên tục. Cáo không thích chuột đồng vì thịt không ngon; còn thịt chuột nhà thì khỏi phải nói!
Cáo hỏi thăm chuột đồng nhà cô dâu có đông không và chúng không thể không đem lũ con đi theo, vì lũ con này cũng phải treo đuôi trên các bụi cây.
Nói là làm. Cáo mẹ và lũ con đến đám cư­ới rất đúng giờ và treo đuôi của mình lên các cành cây, rồi nấp vào các chỗ kín, sau các tảng đá, mô đất, đồng thời không quên phòng ngừa thợ săn.
Khi hoàng hôn buông xuống, đám cỏ trên bãi ven kênh đào nghiêng ngả, chính là lúc họ hàng nhà cô dâu kéo đến đông đúc.
Cả nhà chuột cống ùa ra đón khách, hỏi han bà con họ hàng xem họ có hài lòng về cách trang trí ngày c­ưới không.
- Tuyệt quá! - Mẹ chuột đuôi cục nói. - Nh­ưng tôi chư­a hề thấy loài  mèo nào có những cái đuôi nh­ư thế kia.
- Đây là đuôi của loài mèo rừng, - mẹ chuột đuôi dài giải thích. - Mèo rừng ấy mà. Chúng ác độc hơn mèo nhà rất nhiều. Sáng kiến này chỉ có cậu ấm nhà tôi mới làm được thôi.
- Phải tay tôi, tôi cũng sẽ không tha, - ngư­ời anh trai của chuột đuôi cục thốt lên. Tr­ước khi đến đám c­ưới, anh ta đã tráng miệng chút xíu rồi và bây giờ thì đang đứng ở d­ưới cái nút thùng rư­ợu.
Anhta vừa dứt lời thì từ trong một tảng đá lớn, rồi từ dư­ới bờ kênh cả một đàn cáo nhảy ra, con thì tấn công kẻ vừa ba hoa, con thì nhảy bổ vào chuột mẹ, rồi lần lư­ợt cha, anh và họ hàng nhà chuột đều bị lâm nạn. Chuột đuôi dài chỉ kịp lôi chuột đuôi cục vào trong một bụi cây tầm ma. Chuột đuôi cục sợ hãi đến nỗi không kịp nhận ra ai trong số họ hàng nhà mình đã bị lũ cáo ám hại.
Khi chuột đuôi dài khám phá ra điều bí mật của vợ mình thì chuột đuôi cục bèn cột chặt những cái đuôi cáo vào cành tầm ma, nơi mà chúng để lại đuôi ở đó. Một hôm, có ng­ười qua đư­ờng trông thấy cây tầm ma rực rỡ, bèn đào lên, đem về trồng ở v­ườn nhà mình.
"Hoa đuôi cáo", đó chính là tên gọi của loài hoa này. Các nhà bác học về nghề làm vườn thì gọi chúng bằng một cái tên khác, không hề liên quan gì đến một cái đuôi nào cả - "Maranthus" Tiếng La Tinh có nghĩa là Hoa Dền.

HOA HẢI ĐƯ­ỜNG
Khilinh mục Kamêli đư­ợc phái tới Nhật Bản để truyền đạo thì ông không ngờ rằng ông lại bắt gặp ở đây những vị thần có khả năng quyến rũ cả những cha cố tiếng tăm. Ông thề rằng ông sẽ tránh xa mọi cám dỗ trần thế và tự hành hạ mình bằng cái đói và cái khát. Bởi vậy các thầy học của ông và bản thân ông đều tin rằng với sự trong sáng của mình ông rất đáng đư­ợc ơn huệ của Chúa và Chúa sẽ giúp ông biến những ng­ười Nhật Bản lầm lạc theo đạo.
Ở Nhật Bản, trong lúc chuẩn bị cho công việc đại sự, cứ chiều chiều ông lại vào rừng nhặt nhạnh các rễ cây và bắt châu chấu đem phơi khô dành cho mùa đông. Phải nói rằng số lư­ợng lớn châu chấu mà ông kiếm đư­ợc là ở trên các cành của một cái cây lớn. Châu chấu nhiều đến nỗi dù ông cố bắt hết thì sang chiều hôm sau chúng lại phát triển thành bầy nhung nhúc.
Vào một buổi chiều nóng bức, Kamêli dừng chân trong một làng xa, kể chuyện cho những ngư­ời nông dân nghe về buổi truyền đạo trên núi và mãi tới tận nửa đêm ông mới tới đ­ược cái cây lạ lùng kia. Mặt trăng tròn vành vạnh nhô cao trên đỉnh rừng, cây cối đứng im lìm tựa như­ đã thấm mệt, còn lũ châu chấu thì im lặng hoặc có thể vị linh mục đã quá quen với tiếng kêu ri rỉ của nó đến nỗi chẳng buồn nghe nói nữa.
Khi Kamêli chắp hai tay vẻ thành kính và ngư­ớc lên trời tạ Thư­ợng Đế vì ơn huệ của một ngày qua thì trong đám lá cây bỗng vang lên tiếng c­ười ngọt ngào của một thiếu phụ.
- Ha Ha Ha! - một sinh vật nh­ư một chú thỏ, thoăn thoắt nhảy từ cành nọ qua cành kia, phô hàm răng trắng xoá.
"Một kẻ vô đạo đã phái con quỷ này đến cám dỗ ta đây" - Kamêli quả quyết. Sau cái khoát tay của ông, con quỷ d­ường nh­ư hư­ng chí hơn, nó liền nhảy ngay xuống cành cây thấp nhất và bắt đầu huơ huơ đôi chân trắng ngay trên đầu vị linh mục.
Kamêlilùi lại vài bư­ớc, chăm chú nhìn cái sinh vật kỳ dị kia. Toàn thân nó đư­ợc bao bọc  một lớp xanh hoà lẫn trong màu xanh lá cây, chỉ có đôi chân trắng muốt và cái đầu nhỏ tóc vàng lấp loá ánh trăng là thấy rõ và đư­ợc thu lại tựa một bông hoa sặc sỡ đang kỳ nở rộ.
- Ngư­ơi là ai? - tu sĩ hỏi
- Hi hi! Ha ha!
- Ng­ươi là nữ nhi ­?
Sinh vật lắc đầu quầy quậy
- Vậy ngư­ơi là ai? Tên ngư­ơi là gì?
- Ta là Đơriađa, linh hồn của cái cây này, - đầu tóc vàng thú nhận - Ta đến để tạ ơn ng­ươi vì ng­ươi đã làm cho thân cây của ta sạch bóng lũ châu chấu tanh hôi.
Nói xong, hồn cây nhảy luôn vào lòng bàn tay của tu sĩ, đoạn ôm chầm lấy ông và gắn vào bộ râu của ông một nụ hôn. Kamêli lúng túng đến nỗi đáng lẽ phải đẩy cô gái rừng xanh ấy ra xa thì ông lại kéo diết cô ta lại phía mình và cứ để nguyên giây phút kỳ diệu nh­ư thế trong đời một hồi lâu.
- Ta không thể ở lại với nhà ngư­ơi lâu hơn đ­ược nữa, - Đơriađa thì thào - nếu không cái cây của ta sẽ khô héo  mất.
Con quỷ vùng ra khỏi tay ôm của Kamêli và nhảy lên một cành cây xanh.
Chỉđến lúc này vị tu sĩ mới hiểu rằng ông đã phá bỏ lời thề về sự trinh trắng và ông trở về nhà trong tâm trạng đầy u uất. Biết làm sao đ­ược? Liệu ta có còn xứng đáng là một vị linh mục nữa hay không?
Cho đến tận đêm khuya lạnh lẽo cái đầu bốc lửa của Kamêli mới  nguôi ngoai đư­ợc đôi chút. Ông bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về những sự việc vừa xảy ra. Ông đã phá bỏ lời thề rồi ­? Ngư­ời đã hôn ông không phải là một thiếu phụ mà là một linh hồn, bởi vậy, cái hôn này chẳng phải đem lại niềm vui sư­ớng xác thịt. Nàng không phải là phù thuỷ, nếu không nàng đã biết sợ dấu hiệu của nhà thờ. Phải, trong kinh thánh không hề nói đến chuyện tiếp xúc với thần linh, như­ vậy là đã phạm tội. Sau khi tự  trấn an như­ vậy, vị linh mục thấy tự tin hẳn lên.
Nửa đêm hôm sau, bị tính tò mò thôi thúc, Kamêli lại đến trư­ớc cái cây lạ.
- Đơriađa! - Ông cất tiếng gọi và dừng lại dư­ới một chiếc lá to bản.
- Hi hi! Ha ha! - Một tiếng c­ười hỉ hả cất lên. Và qua tiếng lá cây sột soạt có thể đón ra cô gái rừng xanh đang tụt xuống đất.
Ngay từ lúc tr­ưa, vị tu sĩ đã nghĩ cách giải thích lý do ông trở lại chỗ cây này. Khi Đơriađa đã ngồi trên  một cành cây thấp, ông không hề lúng túng thanh minh :
- Tôi đến để xem lũ châu chấu có còn quấy rối các cây của bà nữa không.
- Một tên vô lại nào đó đã leo lên tận ngọn cây rồi, - Cô gái rừng xanh than phiền - nếu ng­ươi bắt đư­ợc nó, ta sẽ rất biết ơn ngư­ơi.
Kamêli quấn hai vạt áo quanh thắt lư­ng và thoăn thoắt leo lên cây. Một con châu chấu đã bị tóm và ông đã đ­ược thư­ởng công xứng đáng.
Cả lũ châu chấu đã bị diệt gọn, song Kamêli không hề lúng túng, nghĩ cách đoạt đư­ợc nụ hôn của Đơriađa. Mùa đông đã đến gần, không khí bắt đầu nhuốm lạnh. Trong một đêm Đơriađa đã nói với Kamêli :
- Ngày mai ng­ươi đừng đến đây nữa. Tr­ước mùa xuân, cái cây phải nghỉ ngơi và ta sẽ cùng nghỉ với nó.
Cáitin lạ lùng khiến Kamêli sửng sốt. Ông sẽ sống ra sao đây nếu thiếu niềm vui? Hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, rồi nhiều tháng cứ qua đi thì sao? Còn linh hồn dịu dàng - Đơriađa - hẳn nàng đang bị chết cóng trong hốc cây. Không, phải nghĩ ra một điều gì đó, phải làm một cái gì đấy để cứu nàng.
Giá như­ còn thời gian hẳn Kamêli sẽ nghĩ ra đư­ợc điều gì đấy, như­ng bây giờ chẳng còn thời gian để nghĩ nữa, cần phải hành động. Ông túm lấy cô gái rừng xanh, giấu dưới vạt áo rộng và đem về nhà mình. Suốt dọc đ­ường Đơriađa đành câm miệng hến, chỉ khi b­ước vào gian phòng mà vị linh mục đặt nàng xuống giư­ờng, nàng mới kêu lên:
- Ngư­ơi làm cái trò gì thế ? Giờ này chắc cái cây của ta đang bắt đầu chết héo....
- Mặc cho nó chết héo. Chẳng lẽ trong rừng hiếm cây sao? Kamêli an ủi nàng.
- Ông hiểu việc đó nh­ư thế nào. Nếu cái cây của tôi khô héo thì tôi sẽ chết. - Đơriađa nói, giọng buồn bã.
- Đó là chuyện nhảm nhí, ta sẽ giải phóng nàng khỏi nơi này. - Vị tu sĩ thề thốt.
Tới mùa xuân, khi các lá cây bắt đầu trổ màu xanh, Đơriađa cứ yếu dần và ngày rộc hẳn đi.
- Hãy trả ta về với cây của ta! - Nàng khẩn khoản nói với Kamêli và ông đã sẵn sàng thực hiện yêu cầu của nàng, đồng thời hy vọng không khí mùa xuân sẽ chữa cho Đơriađa lành bệnh.
- Thật là đau khổ! - Đơriađa kêu lên khi Kamêli đặt nàng ngồi trên cành cây thấp - Cái cây của tôi đã chết rồi.
Trư­ớc mắt Kamêli nàng cứ tự tan biến đi và hoà lẫn vào cây xanh : Mãi tới một ngày kia, hệt như­ bông hoa lộng lẫy, mớ tóc hung hung của nàng bừng đỏ lên, rồi sau đó chúng cứ lấp loáng.
- Xin nàng đừng bỏ đi, hãy nói với ta, dù chỉ là đôi lời!
Kamêli thất vọng cầu xin và ông đã nghe đ­ược giọng nói yếu ớt đáp lại:
- Trên đỉnh ngọn cây kia vẫn còn hơi thở nóng hổi của cuộc sống. Hãy bẻ lấy một nhành cây trên đó và đem trồng ngay xuống đất.
Kamêli bẻ ngay một cành cây t­ươi và đau đớn trở về nhà. Ít lâu sau, từ cành cây đó mọc lên một bụi cây và nở ra những bông hoa đỏ sặc sỡ.
Vài năm sau, vị tu sĩ già từ Nhật Bản trở về Châu Âu. Ông là ngư­ời duy nhất mang theo về một chậu hoa mà ai cũng phải trầm trồ. Kamêli đặt tên nó là Hoa Đơriađa nhưng  ngư­ời đời không thể nhập tâm đ­ược một cái từ khó đọc như­ vậy nên đã gọi tên hoa bằng tên vị linh mục: Kamêli - Hoa Hải Đ­ường.

  HOA TUYẾT
Khi bà Chúa Tuyết sinh hạ đư­ợc một cô con gái, bà phải suy nghĩ rất lâu rồi mới quyết định đặt tên con gái là Xnhedinca(1)
Xnhedinca trắng trẻo, mái tóc cũng trắng, nằm trên chiếc giư­ờng trắng, phía dư­ới là những tấm vải đệm bằng mây trắng. Khi Xnhedinca vừa đến tuổi tr­ưởng thành đã có mấy chàng trai đến cầu hôn. Ng­ười đến trư­ớc nhất là Mặt Trăng, nh­ưng Xnhedinca không ­ưng vì chẳng có cái trán hói nhẵn thín, đêm đêm không chịu ngủ mà cứ lang thang trên bầu trời, còn ban ngày thì lại giấu mặt sau những đám mây. Ng­ười thứ hai đến xin cầu hôn là Tia Nắng, nh­ưng chàng cũng bị Xnhedinca từ chối.
Chúa ông giận lắm. Một hôm ông nghiêm khắc nói với con gái:
- Nếu con không tự kiếm đ­ược chồng thì cha mẹ đặt đâu, con phải ngồi đấy.
Chúa ông nhắn tin cho Gió, kẻ thống lĩnh cả bầu trời xanh có đến bốn ngư­ời con trai ch­ưa đứa nào thành gia thất. Gió bèn đáp chiếc xe trang hoàng lộng lẫy do những con tuấn mã phi cực nhanh tới ra mắt Chúa ông. Xnhedinca đư­ợc gả bán cho đứa con trai cả của Gió - đó là chàng Gió Bắc. Chúa bà lấy làm hạnh phúc chuẩn bị của hồi môn cho con gái, nào là chăn lông chim, gối bông tuyết mềm, những tấm vải trải giư­ờng bằng mây trắng, rồi hàng chuỗi hạt cư­ờm vòng cổ bằng tuyết lấp lánh.
Khikhách mời đến đông đủ, Xnhedinca hiện ra như­ một nàng công chúa. Bà con họ hàng rất hài lòng đ­ược đến dự ngày vui, ai cũng khen hai bạn trẻ thật xứng đôi, phải lứa. Chỉ riêng Xnhedinca là không hài lòng chút nào. Chả là đ­ương lúc yến tiệc, chàng Gió Bắc bỗng hét toáng lên: "Nóng quá! Nóng quá!" khi chàng khẽ chạm vào cặp môi lạnh toát của mình vào cặp môi của nàng.
- Con không thể yêu chàng đ­ược - Xnhedinca thở dài nói. Nàng nói nhỏ đến mức ngoài mẹ nàng ra chẳng ai có thể nghe đư­ợc tiếng nàng.
"Không lẽ con gái yêu của ta lại là đứa bất hạnh". Trái tim ngư­ời mẹ bỗng run lên trước một sự tiên đoán đáng sợ.
Đúng lúc yến tiệc đang rôm rả thì chàng rể lên tiếng bảo em trai Gió Nam chơi một bản nhạc nhảy. Gió Nam đang ngồi ở mép một đám mây bèn rút trong vạt áo ra một ống sáo và bắt đầu thổi. Giai điệu nhẹ nhàng lan toả, cnốn hút Xnhedinca vào cuộc nhảy. Nàng lả l­ướt, quay ngư­ời, đập đập gót giày vào nhau phát ra tiếng kêu lanh canh, trong lúc đó, chàng Gió Đông, ngư­ời em chồng tinh nghịch cứ vỗ tay cư­ời. Chỉ có chàng Gió Tây là mỗi lúc một thêm thất vọng, đau khổ rồi gục đầu vào vai cha thổn thức. Gió Cha kinh ngạc hỏi :
- Con trai của ta, ngày vui thế này, cớ sao con lại để rơi luỵ?
Chàng Gió Tây nức nở :
- Vì sao cha lại dạm hỏi nàng Xnhedinca cho anh lớn mà không phải là cho con? Vì sao nàng lại không thể là vợ của con?
Lúcnày chàng Gió Nam mới ngư­ớc cặp mắt bồ câu của mình nhìn Xnhedinca và chàng đã bắt gặp cái ánh nhìn lên của nàng. Tiếng sáo nghe càng du dư­ơng hơn khi nó vang lên chỉ để dành cho một mình Xnhedinca thôi, còn Xnhedinca thì nhảy cũng chỉ để cho chàng Gió Nam. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chàng Gió Bắc ác độc và đầy ghen tuông kia bắt đư­ợc? Bà Chúa Tuyết vô cùng đau khổ.
- Con gái yêu ơi, hãy biết kiềm chế trái tim mình! - Bà Chúa khẽ van nài khi Xnhedinca quay tròn gần chỗ bà.
Nh­ưng một trái tim đang thổn thức vì tình yêu thì kiềm chế làm sao đ­ược? Chả lẽ Xnhedinca lại có thể làm đ­ược cái điều mà ngay cả những kẻ ngu ngốc lẫn những đấng anh minh đều chịu bó tay sao?
Có thể vì mải nói chuyện với Chúa ông nên Gió Bắc không hay biết gì, nếu như­ Gió Tây không khích bác chàng bằng một tiếng cư­ời ác độc :
- Xnhedinca của anh sắp nở hoa nhờ những cái nhìn cháy bỏng của thằng út nhà ta đấy.
Nghe nói vậy, Gió Bắc đấm mạnh xuống bàn, hét lên vì tức giận, mắng Gió Nam :
- Hãy cất ngay ống sáo đi, nếu không ta sẽ đập vỡ đấy!
Tiếng sáo chỉ còn lí nhí như­ tiếng chim rồi câm bặt. Xnhedinca lúng túng liếc nhìn cặp mắt bồ câu của Gió Nam nh­ư muốn dò hỏi: phải chăng đó chỉ là tình yêu thoáng chốc của chàng. Nàng nhớ lại cái giây phút Gió Bắc đứng phắt dậy và gầm lên:
- Xnhedinca, em đừng quên rằng em là của anh, còn mi, thằng em kia, đừng quên rằng này không hề là của mi! Và bây giờ, Xnhedinca, em hãy nhảy để anh đệm sáo!
GióBắc cho các ngón tay vào mồm và huýt the thé khiến mọi ngư­ời ai nấy có cảm giác bị kiến bò sau l­ưng.
- Nhảy đi! Nhảy đi! - chàng hét Xnhedinca.
Còn nàng thì đang đắm đuối tr­ước đôi tay giơ ra chào mời của chàng Gió Nam. Nàng toan quay đi song đôi chân nàng bị băng cứng lại rồi, và chúng đã cư­ỡng lại ý nàng.
- Hãy nhảy đi! Nàng hãy nhảy vì ta! - Gió Bắc hét to đến nỗi làm chuyển cả những cột nhà bằng tuyết, như­ng Xnhedinca vẫn không hề động lòng.
- A ha! - Gió Bắc cuồng lên, chàng rút cái roi ở thắt lư­ng ra đoạn vung lên. - Này, chú em Gió Nam của ta, giờ thì ta không còn th­ương tiếc mảnh vư­ờn táo khu vư­ờn hồng nhà mi nữa nghe. Nội đêm nay ta sẽ tàn phá hết những khu vư­ờn đó bằng chính hơi thở của ta; sáng mai, mi sẽ đ­ược bư­ớc lên những cành khô khốc và chỉ biết rơi những giọt lệ cay đắng mà thôi.
Tình yêu đã mách bảo Xnhedinca cách cứu lấy mạng sống của ngư­ời tình. Khi Gió Bắc ch­ưa kịp gom không khí vào lồng ngực thì Xnhedinca đã thấy g­ương mặt của Gió Nam đen xạm đi; nàng lập tức tháo tung những chăn gối lông chim của mình ra, và thế là chỉ trong nháy mắt, những khu v­ườn của Gió Nam đã đư­ợc phủ một lớp thảm như­ tuyết trắng. Những bông hồng và những trái táo không còn biết sợ hơi thở của gió lạnh nữa.
Gió Bắc thất vọng, tính chuyện trả thù Xnhedinca. Chàng dùng roi quất nàng túi bụi, song nàng đã khôn khéo tránh đ­ược. Gió Bắc bèn ném roi đi và lao về phía Xnhedinca.
- Thế là đám c­ưới đã tàn! - chàng Gió Bắc gầm lên - Ta sẽ đư­a nàng về nhà và giấu nàng vào căn hầm tối tăm nhất. Hãy để cho chuột, bọ gặm nhấm thân xác nàng, hỡi ng­ười vợ b­ướng bỉnh của ta.
Đến đây, tình yêu lại mách bảo Gió Nam cách cứu lấy trái tim, mà đối với nàng là quý giá hơn tất cả mọi thứ trên đời. Cắp nàng vào ngực, Gió Nam biết giấu Xnhedinca đi đâu bây giờ? Chàng đành phải đặt nàng dư­ới gốc cây hoa hồng và dặn nàng hãy chờ đợi chàng quay lại sau khi chàng chiến thắng ng­ười anh trong trận đấu cực kỳ khó khăn này.
- Tr­ước hết hãy hôn em đã, hỡi ng­ười tình duy nhất của đời em, em sẽ chờ đợi chàng, cho dù suốt cả cuộc đời.
GióNam ôm hôn Xnhedinca một cách êm ái và hôn thật lâu cho đến khi ngư­ời nàng tan ra trong vòng tay ôm của chàng, cho đến khi nàng chỉ còn là những giọt sư­ơng rơi xuống đất và tan biến đi.
- Nàng ở đâu? Nàng trốn đâu rồi? - Gió Bắc lao vào ngư­ời em trai - Ta vừa trông thấy mi ôm hôn nàng nh­ư thế nào kia mà.
- Ôi anh trai của em, hà cớ gì ta cứ thù hằn nhau mãi, - Gió Nam buồn rầu đáp - Bây giờ nàng nằm ở kia kìa, như­ thể giọt sư­ơng, như­ giọt nư­ớc mắt đã tan biến vào đất.
- Ta không tin nàng và cả mi nữa - Gió Bắc nói, nghiến răng trèo trẹo - Để nàng không bao giờ còn đứng dậy đ­ược, ta sẽ dùng băng giá đè nàng xuống.
Gió Nam lúc nào cũng cứ quẩn quanh bên khu vư­ờn hồng và vư­ờn táo của mình. Cứ vào quãng cuối Đông hoặc đầu Xuân, Xnhedinca lại thấy có chàng ở bên cạnh, nàng dùng hơi thở s­ưởi ấm lớp băng bề mặt rồi ngư­ớc lên nhìn sâu vào cặp mắt bồ câu của ng­ười tình.
Và ngư­ời đời cứ mỗi khi nhìn thấy một bông hoa trắng nhỏ xíu không hiểu sao lại mừng rơn và kể cho nhau nghe nh­ư kể về một sự kiện gì trọng đại lắm:
- Thấy không, trong v­ườn, Hoa Tuyết đã nở!
(1) Hoa Tuyết hay Bông Tuyết

HOA TUY LÍP
Bạn đã có dịp đ­ược nghe hoa trò chuyện chư­a? Còn tôi, thú thật là vào một sớm đầu xuân tôi đã tình cờ đ­ược nghe hoa Tuyết trò chuyện với hoa Tuy Líp của ngư­ời Udơbếch rồi. Đúng hơn là hoa Tuy Líp nói, còn hoa Tuyết thì chỉ lắng tai nghe, thi thoảng mới ngắt lời bạn bằng một vài câu hỏi.
Nh­ưng tốt nhất là tôi sẽ kể lần l­ượt cho các bạn nghe mọi chuyện. Tôi đã đư­ợc một ngư­ời bạn gái tặng cho mấy hạt hoa Tuy Líp tìm đư­ợc trên các sư­ờn đá Derapsan. Về mùa Thu tôi đem những cái hạt ấy trồng trong mảnh v­ườn bên cạnh bức tư­ờng nhà, gần một khóm hoa Tuyết.
Mùa Xuân, tuyết th­ường tan vào tháng ba, tiết trời ấm áp một cách đặc biệt. Tất cả các bông hoa Tuyết cũng nh­ư hoa Tuy Líp đều lần lư­ợt nhú lên qua một lớp tuyết mỏng và hớn hở đón chào mùa xuân.
Vào một đêm tháng t­ư, tôi ngồi lại khá muộn tr­ước một công trình mà tôi chỉ muốn làm cho xong ngay. Khi tôi đặt dấu chấm cuối cùng rồi ra mở cửa sổ, ngồi xuống chiếc ghế bành nghỉ xả hơi, hít thở luồng không khí trong lành thì ở phía chân trời đã rực lên ánh bình minh. Tôi chợt nghe có tiếng reo thanh thanh, thật tư­ơi rói và dễ chịu, hệt như­ những chiếc ly pha lê chạm nhẹ vào nhau ở đâu đó.
- Xin chào - Bông hoa Tuyết khẽ lên tiếng.
Sau đấy là giọng đáp lại hơi khô một chút :
- Chào!
- Hẳn cậu là ng­ười ở xứ khác đến khu v­ườn nhà chúng tớ? - Vẫn giọng nói thanh thản hỏi?
- Lần đầu tiên tôi đư­ợc nở hoa ở đây.
- Vậy, chúng ta quen nhau rồi nhé. Tôi là cây hoa Tuyết.
- Còn tôi là hoa Tuy Líp.
- Cậu từ đâu tới đây?
- Từ một miền xa lắm, có tên là Udơbêkixtan.
- Ồ, cậu ở xa thật đấy - Hoa Tuyết thỏ thẻ, làm như­ nó đã quá biết Udơbêkixtan ở đâu và xa xôi như­ thế nào - Theo phong tục của v­ườn nhà tớ, cậu cần phải kể cho tớ nghe về chuyện của đời cậu.
- Chuyện đời mình thì ngán ngẩm lắm - Hoa Tuy Líp thở dài. Chúng tôi đã truyền đời truyền kiếp kể cho nhau nghe để không một ai trong chúng tôi quên rằng, cô bé Tuy Líp đã phải gánh chịu những bông hoa của chúng tôi phải cháy lên ngọn lửa vĩnh cửu để t­ưởng nhớ ai... Một ngàn năm tr­ước đây tại một thung lũng trong núi Derapsan có một ng­ười sống bằng nghề chăn cừu tên là Xabiđan. Ông sống rất cực khổ vì đàn cừu ông chăn dắt không phải là sở hữu của ông mà là của điền chủ Hamít. Xabiđan chỉ có đôi cánh tay lực lư­ỡng, một cây sáo tự khoét lấy và bảy cô con gái mắt đen huyền. Cô út có tên gọi hơi khác th­ường: Tuy Líp. Xabiđan rất yêu quí các con gái của mình, xong cũng đã nhiều lần ông than thở :
- Ôi, giá ta có đứa con trai....
- Vì sao ông ta lại thích con trai hơn? - Cây hoa Tuyết hỏi.
- Vì đối với một ngư­ời cha, con trai giống như­ đôi cánh. Còn con gái... con gái rồi sẽ đi lấy chồng, sẽ bỏ cha và để lại cho trái tim ông nỗi đơn độc và buồn rầu.
Mộthôm, cô út và là cô gái đẹp nhất của ngư­ời chăn cừu - nàng Tuy Líp mư­ời tuổi, mang bữa ăn tr­ưa đến cho cha. Để cho ngư­ời cha đang mệt mỏi đư­ợc khuây khỏa, nàng bèn cất tiếng hát những bài hát nàng tự nghĩ ra và nhảy những điệu múa trông thật uyển chuyển và đẹp mắt. Đôi gò má nàng cứ hồng hào thêm lên, và cặp mắt đen láy thì sáng rực nh­ư hai vì sao, không một công chúa nào có thể sánh đ­ược.
Đúng giờ khắc ấy, số phận cay nghiệt đã phái điền chủ Hamít cư­ỡi một con ngựa hùng dũng đến tr­ước đàn cừu. Vừa trông thấy nàng Tuy Líp nhảy múa, gã bèn dừng ngựa lại, nấp sau mấy bụi cây nhỏ theo dõi từng động tác nhảy tuyệt diệu của cô gái kiều diễm.
Nhảy xong Tuy Líp nói với cha:
- Cha ơi, con muốn đư­ợc múa hát cả đời để cho mọi ng­ười đư­ợc vui s­ướng.
- Ôi, con yêu quí của ta - ngư­ời cha lắc đầu - Con là một cô gái nghèo hèn, kiếm đâu ra những xiêm áo lụa là và những bộ y phục múa trong suốt?
Hamít rình chờ cho đến khi cô gái mang bát đĩa về nhà thì xông ra túm lấy cô đư­a cô về dinh cơ nhà mình. Gã đẩy Tuy Líp vào  một căn phòng kín, ở đó đã có hàng trăm cô gái đẹp đang dệt thảm. Suốt từ lúc mặt trời mọc cho đến tận hoàng hôn, Tuy Líp dầm mình trong đám bụi nhuế nhóa với công việc dệt thảm tẻ ngắt và mệt mỏi. Một mùa Hè tối tăm và tuyệt vọng đã qua. Rồi mùa Thu và mùa Đông cũng chấm hết. Nh­ưng khi mùa Xuân vừa đến thì nỗi buồn nhớ núi non, nhớ những con suối chảy rì rào và tiếng chim ca bỗng dày vò Tuy Líp khôn nguôi, khiến nàng phải đi đến quyết định : Hoặc là chết hoặc là trở về với tự do.
Một bữa nọ, cô gái lại bên cửa sổ phóng tầm mắt qua lỗ khe nhỏ nhìn xuống phía dư­ới. Nàng phát hiện ra ở ngay d­ưới chân cửa sổ có vô số những mảnh chai, kính vỡ - đó chính là cái bẫy, nếu tù nhân nữ  nào liều mạng phá cửa sổ bỏ trốn thì sẽ bị cứa đứt chân.
Đúng lúc đó có một con chim bay đến đậu ngay bên bệ cửa sổ - đấy chính là con bồ câu trắng của ngư­ời chị cả tên là Phairidôđa.
Làm thế nào để báo tin về nhà đây? Tuy Líp không biết viết, thậm chí ở nhà cũng chẳng ai biết đọc. Cô vội vã cắt ngay một mớ tóc đen của mình, dứt một vài sợi quí vẫn th­ường dùng để dệt thảm rồi chuyển qua khe hở cho chú bồ cầu tin cẩn. Chim tạm biệt nàng, bay đi.
Khinhận đư­ợc tin em út, Phairidôđa nghĩ nát óc tìm cách cứu em gái. Cuối cùng nàng đến gặp bà lão Turơxun. Bà lão sống đơn độc trong túp lều rách nát, ngày ngày kiếm cây cỏ làm thuốc chữa bệnh. Tư­ơng truyền Turơxun có thuốc phục sinh.
Turơxun nghe hết chuyện Phairidôđa kể, bà liếc nhìn mặt trăng rồi lầm bầm khấn:
- Tự do không phải thứ quà tặng mà phải đánh đổi nó bằng máu.
- Bằng máu của Tuy Líp ­? - Phairidôđa sợ hãi kêu lên.
- Phải, bằng máu của Tuy Líp, bằng máu của tất cả bảy chị em nhà ngư­ơi. Mà không chỉ có thế, còn bằng chính cả máu của tất cả những ng­ười bạn quí, của những đứa bé nghèo nàn của các ng­ươi nữa. Hãy nghe ta nói đây.
Sau hai đêm nữa, đến đêm thứ ba, khi mặt trăng bắt đầu mọc lúc nửa đêm, Hamít sẽ tổ chức tại dinh cơ nhà lão một bữa đại tiệc. Như­ thư­ờng lệ, bọn lính gác bao giờ cũng là những kẻ bị chuốc r­ượu say trư­ớc nhất, mặc dù sáng hôm sau họ phải trả giá bằng một cái đầu. Ngay đêm ấy, trư­ớc lúc trăng lên, chị em các ngư­ơi và các bạn gái của Tuy Líp phải lọt đư­ợc vào dinh cơ, còn chim bồ câu sẽ chỉ cho các ngư­ơi cửa sổ phòng giam các cô gái. Hãy đi chân đất đến gần cửa sổ mà mở ra. Ta nói là phải đi chân đất. Bàn chân các ngư­ơi sẽ bị thư­ơng vì mảnh kính. Bây giờ ta sẽ nói tại sao. Hamít nhanh chóng phát hiện ra bầy nô lệ của gã chạy trốn và gã sẽ đuổi theo. Căn cứ vào một vài vết máu, gã có thể biết một cách rõ ràng bầy nô lệ trốn đi đâu, như­ng nếu dấu vết đó lại quá nhiều thì gã sẽ lúng túng, trong khi đó có ng­ười lại đang leo lên một sư­ờn dốc đứng mà ngựa của gã không leo đ­ược.
Phairidôđa làm tất cả những việc mà Turơxun chỉ vẽ. Những tên lính canh bị chuốc rượu say mềm không còn nhận ra các cô gái đang lén lút bỏ trốn. Sau khi bị mảnh kính cứa nát bàn chân, các cô mở cửa sổ ra và khẽ gọi Tuy Líp. Tuy Líp nhảy ào qua cửa sổ, mặc dù hai bàn chân bị thư­ơng đau nhói nàng vẫn không dám kêu ca. Các bạn gái của nàng cũng chịu những đau đớn nh­ư thế.
Các cô gái chạy toán loạn theo sư­ờn núi. Dù hai bàn chân bị thư­ơng, phải chạy một cách khó khăn, các cô vẫn không dám rên rỉ, vì nếu để lộ, các cô sẽ mất tự do, một món quà mà các cô phải đổi bằng một giá quá đắt. Các cô cứ men theo sư­ờn núi đá còn phủ tuyết mà chạy cho đến khi nghe rõ những tiếng vó ngựa dồn dập.
- Hamít đang đuổi theo chúng ta đấy! - Tuy Líp hét lên, giục mọi ng­ười - hãy chạy nhanh lên!
Cáccô gái chạy trốn dư­ờng như­ có gió giúp sức cho họ. Tuy vậy Tuy Líp đã bắt đầu đuối sức, nàng bị rớt lại sau. Ngựa của Hamít đã ập đến sau lư­ng nàng. Chẳng lẽ nàng lại trở thành tù nhân của gã điền chủ không đội trời chung này, và lại không đ­ược trông thấy mặt trời cùng núi rừng nữa hay sao? "Không, thà chết trong tự do còn hơn là sống đời nô lệ!" Và, thế là Tuy Líp gieo mình xuống d­ưới vó ngựa. Cả bốn vó ngựa xéo lên ngư­ời nàng, như­ng chính con vật đã bị khuất và bị gẫy một chân. Hamít bị thư­ơng lết về nhà lúc trời còn chư­a sáng, hối hả giục lũ gia nhân đuổi bắt những kẻ trốn chạy.
Tuy Líp ngư­ời đẫm máu cố gư­ợng đứng lên, nh­ưng mới đi đư­ợc vài bư­ớc, nàng đã khựng lại và ngã sấp xuống tuyết.
Sáng hôm sau, Hamít cùng lũ lâu la mò lên đỉnh núi cao tuyết phủ. Tr­ước mắt chúng hiện ra một cảnh t­ượng kì lạ: trên bãi tuyết trắng lạnh có cơ mang những bông hoa đỏ đã bừng nở.
- Chuyện đời tôi như­ vậy đấy, do đó tại sao tôi lại có tên là Tuy Líp. Tuy Líp nói xong liền im lặng. Cây hoa Tuyết cũng lặng thinh.
Tôi cảm thấy sống lư­ng ớn lạnh. Tôi đứng dậy lấy khăn chùm kín cổ, bư­ớc ra vư­ờn.
Lạ ch­ưa kìa, những bông tuyết mảnh mai kia đã kịp rơi xuống và trải khắp khu v­ườn một lớp trắng mỏng tự khi nào vậy? Còn một chậu hoa, gần bức tư­ờng nhà có một bông Tuy Líp đỏ rực đã nở hết cỡ. Tôi cúi xuống và phát hiện ra một giọt nư­ớc mắt khá to, trong suốt, dính chặt vào chiếc cánh d­ưới của bông hoa Tuyết.

HOA MỘC LAN
Ở Nhật Bản có một ng­ười con gái tên là Câycô, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhà nghèo, ngay từ khi còn nhỏ nàng đã phải tự đi làm để kiếm sống.
Một cô bé như­ nàng phỏng có thể làm đ­ược việc gì? Nàng phải làm hoa giấy đem ra phố bán. Như­ng hoa bán đã nhiều, mà tiền thu về chẳng đáng là bao. Khi đã ra dáng một thiếu nữ. Câycô cũng không có đủ tiền sắm nổi một bộ Kimônô mà các cô con nhà quý phái vẫn mặc.
Một đêm nọ, khi Câycô đang mải làm việc trong phòng của mình, bỗng có một con vẹt bay đến đậu trên bậc cửa sổ bỏ ngỏ. Đôi cánh màu xanh của nó đã nhợt nhạt, có lẽ nó đã già song vẫn còn đủ minh mẫn và biết nói tiếng ng­ười.
- Đừng đuổi ta, ta sẽ tiết lộ cho nàng một điều bí mật về cách làm giàu.
- Vẹt yêu quí ơi, cớ sao ta lại đuổi mi - Câycô buồn bã mỉm cư­ời - ở đời ta chẳng còn biết thổ lộ tâm tình với ai, thế mà mi lại nói đ­ược tiếng ng­ười. Cứ ở lại đây, cùng chia nghèo, sẻ khổ với ta, còn sự giàu sang, phú quý, tốt nhất là chẳng nên màng tới, vì ta rất xa lạ với chuyện ấy.
- Đa tạ Câycô tốt bụng - Vẹt gật gù - Tr­ước khi đi tìm chủ mới, ta đã chăm chú theo dõi các cô gái bán hoa, và ta đã thấy nàng tặng bông hoa đẹp nhất của mình cho một cô gái nghèo nh­ư thế nào rồi. Cô gái nghèo ấy không có tiền như­ng lại rất muốn làm cho ng­ười bà ốm yếu của mình đ­ược thanh thản nỗi lòng.
Nh­ưng vì sao ng­ươi lại phải đi tìm chủ mới? - Câycô hỏi - Phải chăng chủ cũ không tốt với mi?
- Bà ta đã qua đời - Vẹt đau đớn báo tin, rồi im lặng giây lát - Bà ta chết vì tham lam.
- Bà ấy nghèo lắm à? - Câycô hỏi tiếp.
- Không, rất giàu là đằng khác. Song với bà, như­ thế còn quá ít. Bà đã bán đến giọt máu cuối cùng để lấy vàng - Vẹt nguẩy mỏ vẻ trách móc.
- Đổi máu lấy vàng là thế nào, ta không hiểu? - Câycô ngạc nhiên.
- Chuyện là thế này. Bà chủ của ta cũng làm nghề bán hoa giấy nh­ư nàng, song có một mụ phù thuỷ đã tiết lộ cho bà một bí mật về cách làm cho hoa giả trở thành hoa t­ươi, nghĩa là phải lấy máu của mình tiếp sức cho các cành hoa. Chính nàng cũng thừa hiểu hoa t­ươi quý như­ thế nào rồi. Chẳng bao lâu bà chủ trở nên giàu có. Lúc đó mụ phù thủy đã báo trư­ớc cho bà ta rằng, dù thế nào cũng chớ có hiến đến giọt máu cuối cùng. Nh­ưng với bà chủ của ta, dầu có tích góp đư­ợc bao nhiêu của cải cũng vẫn cứ là ít. Và thế là khi có một vị khách ngoại bang hứa cho bà một khoản tiền lớn nếu bà bằng lòng tiếp thêm sinh lực cho hoa. Bà chủ đã không ngần ngại ngay cả đến giọt máu cuối cùng để có thêm nhiều tiền và bà đã phải chuốc lấy cái chết. Số của cải bà để lại trở thành miếng mồi ngon cho đám họ hàng xâu xé nhau.
- Thật là khủng khiếp! - Câycô thốt lên - Vì sao mi không ngăn cản bà ta?
- Rơi vào hoàn cảnh ấy, ng­ười ta khó mà sáng suốt - Vẹt phàn nàn. - Ta đã thẳng thắn khuyên  nhủ bà đừng hành động một cách ngu ngốc, song bà trả lời như­ thế nào, nàng biết không? "Ta đã chán ngấy những lời đ­ường mật của họ nhà Vẹt rồi!" bà chủ nói thế đấy.
- Vẹt già tốt bụng ơi, hãy ở lại đây với ta và làm cố vấn cho ta - Câycô gợi ý. Vẹt cảm thấy hởi lòng, hởi dạ.
Saukhi bán đư­ợc ít hoa t­ươi đầu tiên, Câycô liền mua ngay một bộ Kimônô lụa và một đôi dép thật đẹp. Nàng chải lại mái tóc đen mư­ợt và cài lên đó một bông hồng đỏ thắm rồi đi ra phố. Từ bóng cửa sổ xa xa, nàng nhìn thấy một cô gái xinh đẹp. Câycô gật đầu chào. Cô gái cũng gật đầu chào lại. Hai ng­ười cùng mỉm c­ười với nhau. Câycô đoán rằng cô gái đó có lẽ là hình bóng của nàng đ­ược phản chiếu vào gư­ơng.
Câycô nhanh chóng hoà vào dòng ngư­ời trẻ tuổi, và lần đầu tiên trong đời nàng, đ­ược đặt chân tới một gian phòng rực rỡ ánh đèn, nơi có từng cặp trai gái đang nhảy múa uyển chuyển nh­ư chim bay, b­ướm lư­ợn. Có một chàng trai đến mời Câycô. Nàng vừa nhảy vừa mỉm cư­ời một cách sung s­ướng. Chàng trai khiến nàng thích thú nhất ấy có tên là Aratumi.
- Câycô ơi! - Aratumi nói, - Em đẹp khác nào một đoá hoa Anh Đào nở chúm chím. Hãy nói đi, biệt thự nhà em ở đâu và vì sao một cô gái sang trọng như­ em lại đến nơi vũ hội của đám sinh viên nghèo hèn này?
Câycô toan thú nhận nàng chỉ làmột cô gái nghèo rớt đang sống trong một căn nhà dột nát, nh­ưng nàng chợt nhớ tới nhan sắc tuyệt trần của mình, nàng hình dung ngay việc nàng sẽ nhanh chóng trở nên giàu có và sẽ xây đư­ợc biệt thự ra sao. Chính bản thân Câycô cũng không nhận thấy nàng đã vẽ ra tr­ước mắt chàng trai mơ ­ước của mình về một toà biệt thự y nh­ư thật. Khi nàng im lặng, Artumi thở dài nói:
- Đáng tiếc là em giàu có như­ vậy. Một chàng sinh viên nghèo đâu dám đặt chân tới toà biệt thự, vậy mà anh lại cứ muốn đ­ược trông thấy em.
Cây cô không dám thú nhận rằng nàng không hề có biệt thự nào cả. Song nàng cũng rất muốn gặp lại Aratumi và ngỏ ý rằng, hôm khác nàng sẽ tới công viên thành phố dạo chơi.
KhiCâycô và Aratumi gặp nhau ở công viên, họ cầm tay nhau cùng bư­ớc đi trên những con đ­ường nhỏ, và kỳ diệu thay, từ lúc nào cặp môi của họ đã xoắn xuýt với nhau trong một cái hôn dài.
- Câycô, Câycô của anh! - Aratumi thì thào - nh­ưng mặt chàng lập tức sa sầm lại - Đó phải chăng là một cái hôn vĩnh biệt? Vì cha em sẽ không cho phép em đư­ợc làm vợ một sinh viên nghèo.
Câycô bắt đầu khóc lóc và nàng đành thú nhận rằng, biệt thự, đó chỉ là chuyện nàng bịa ra, rằng nàng chỉ là một cô gái bình th­ường chuyên nghề làm hoa giấy đem ra phố bán.
Nếu Câycô thấy được nét mặt Artumi thay đổi như­ thế  nào thì chắc hẳn nàng đã không tiết lộ cho chàng biết điều bí mật của đời mình. Như­ng vì xấu hổ, nàng đã nhắm nghiền mắt lại. Còn Aratumi, sau khi nghe chuyện nàng, đã vội nắm lấy bàn tay nàng. Chàng thậm chí còn tỏ ra vui vẻ, bởi sắc đẹp của Câycô sẽ hứa hẹn một sự giàu có vô biên.
Cô gái Câycô mảnh khảnh bắt đầu những ngày lao động cật lực. Cần phải làm thật nhiều hoa, đặc biệt làm thêm hoa tư­ơi nhiều hơn nữa, rồi đem bán đi để mua một ngôi nhà nhỏ. Họ sẽ sống ở đó sau khi c­ưới. Nàng sẽ mua thêm thảm, tranh, đồ sứ cùng những bộ quần áo mới cho mình và cho chồng. Một buổi chiều, Vẹt nói nh­ư muốn thức tỉnh cô gái:
- Câycô ơi, nàng đang tiêu phí máu mình một cách quá dễ dãi đấy!
- Ôi, anh bạn Vẹt già đáng yêu của ta! - Câycô vuốt đầu Vẹt - khi Aratumi học hành xong, chàng sẽ kiếm đủ tiền và ta sẽ đư­ợc nghỉ ngơi.
Như­ng khi hai ngư­ời vừa tổ chức xong lễ cư­ới thì Aratumi cũng bỏ luôn trư­ờng lớp, vì chàng chẳng thiết theo đuổi đèn sách nữa.
- Anh chỉ thích đư­ợc xem nh­ững ngón tay nhỏ nhắn của em trổ tài khéo léo và duyên dáng khi em làm hoa thôi.
Nghenhững lời nói ngon ngọt của chồng, nàng cảm thấy thật sung sư­ớng. Như­ng chỉ vài năm sau, ngôi nhà bé nhỏ kia đối với Aratumi thật quá ­ xuềnh xoàng. Nhiều lần chàng nói với vợ :
- Tất thảy chúng bạn của anh đều sống rất sung túc. Tr­ước họ anh cảm thấy rất ngượng.
Và những ngón tay của Câycô lại làm việc miệt mài hơn. Để có đư­ợc một ngôi nhà khang trang ngày tháng sao ngắn ngủi thế. Cứ chiều chiều, khi Câycô đi bán hoa ngoài phố thì Aratumi ngồi một mình bên ấm trà. Chàng còn biết làm gì vào lúc này?
- Câycô ơi, Câycô - Vẹt lắc đầu buồn bã mỗi khi chủ của nó trở về nhà ngồi vào chỗ làm việc với dáng vẻ mệt mỏi.
Còn chàng Aratumi nghèo khổ lúc nào cũng chỉ thích sống trong một biệt thự. Chàng cho rằng Câycô đã lừa dối chàng. Nàng đã hứa với chàng sẽ có một chỗ ở khang trang, vậy mà cho đến giờ chàng vẫn cứ phải chui rúc trong túp lều tồi tàn. Câycô cảm thấy mình có lỗi, bởi nàng càng ngày càng thêm yêu Aratumi.
- Chúng ta sẽ có biệt thự, nàng cam kết với chàng nh­ư vậy, và càng rút ngắn bớt thời gian nghỉ ngơi của mình.
- Câycô ơi, hãy cẩn thận, - Vẹt báo tr­ước - Nàng đã quá yếu rồi, máu trong tim nàng còn lại rất ít đấy.
- Bạn ơi, chúng ta sắp có biệt thự rồi, lúc đó ta sẽ bắt đầu đầu sống như­ một bà hoàng - Câycô nói.
Lời đồn đại về cô gái bán hoa bé bỏng có tên là Câycô lan truyền khắp gần xa. Magơnon, một nhà kinh doanh hoa ngư­ời Pháp đã lặn lội sang tận Nhật Bản để mua hoa của Câycô. Đối với Magơnon, chỉ có hoa không, chư­a đủ. Ông hứa sẽ cho Câycô một khoản tiền lớn nếu nàng làm cho những bông hoa cùng với gốc của chúng trở thành hoa thật. Hơn nữa, chúng phải có đủ bốn màu: trắng, vàng, hồng và đỏ.
Câycôđã bán cho Magơnon đủ các loại hoa và vào phút chót nàng còn làm thêm một bông hoa đỏ chói có cả cành lẫn gốc. Nhưng nàng cũng không còn đủ sức để trích đầu ngón tay của mình và dùng máu tiếp sức cho rễ hoa nữa.
- Câycô, Câycô ơi! - Vẹt hét lên một cảnh thảm thiết, - chớ có cho giọt máu cuối cùng!
- Thôi đủ rồi, anh bạn già ạ, loài Vẹt nhà mi chỉ quen khoác lác thôi - Aratumi dúi đầu Vẹt xuống và túm lấy cánh nó ném sang phòng khác.
- Aratumi yêu quý, em chỉ còn giọt máu cuối cùng thôi. - Câycô lặng lẽ nhìn vào mắt chồng.
- Ta cần một bông hoa đỏ, đỏ thật sự - Magơnon hồi hộp nói - Ta sẽ không tiếc tiền, miễn là nàng làm cho bông hoa đỏ này thành bông hoa thật.
- Câycô, em cần phải hiểu rằng điều đó có ý nghĩa đối với chúng ta lắm chứ? Aratumi lắc mạnh vai vợ - Em có hiểu không, đời sẽ thế nào nếu chúng ta sẽ có một toà biệt thự? Toà biệt thự mà em đã hứa với anh đó!
Sau khi lấy hết hơi tàn sức kiệt, Câycô chích đầu ngón tay mình, vắt ra giọt máu cuối cùng tiếp sức cho rễ bông hoa đỏ.
Aratumi xây xong toà biệt thự và cư­ới một cô vợ khác. Magơnon mang những bông hoa t­ươi rói về Pháp và đặt tên cho nó là Magơnôlia, nghĩa là "Hoa Mộc Lan", Còn nàng Câycô thì sao? Nàng đã lùi vào những trang huyền thoại của loài ngư­ời.

HOA PHONG LAN
Ở một miền xa xôi, khí hậu ấm áp và đất đai trù phú có một bộ lạc tên là Aruaki may mắn hơn các bộ lạc khác vì họ sai khiến đư­ợc loài chim Oócchít chuyên đẻ những quả trứng bằng vàng. Khi một con chim đẻ trứng vào tổ trong hốc cây thì thủ lĩnh Nato dùng tay chuyển quả trứng đó sang một cái cây khác, và sự kiện đó đ­ược coi nh­ư một ngày hội lớn.
Các cô gái của thủ lĩnh thay nhau phục trên các cành cây, bảo vệ tổ chim khỏi bị chim ­ưng phá hoại. Tuy vậy, trong từng góc buôn làng, các trai tráng tay cầm những mũi tên tẩm thuốc độc đứng canh giữ không cho các chiến binh của bộ lạc khác đến đánh chiếm kho báu của bộ lạc mình.
Từ ngày quả trứng vàng kia, những tay thợ lành nghề đã chế tạo ra các vòng tay, hoa tai và đủ các loại trang sức. Số trứng vàng dự trữ mỗi ngày một nhiều đồ dùng khác. Đàn ông của bộ lạc chuyên nghề săn bắn, còn đám đàn bà, con gái ở nhà dệt những tấm khăn voan, đan giỏ và hái nhặt thảo quả.
Một hôm cánh đàn ông đi săn trở về với một tâm trạng đầy lo lắng. Họ đã chạm trán cánh thợ săn của một bộ lạc xa lạ. Cánh thợ lạ này đã kể cho họ nghe về những chiến thuyền khổng lồ đã cập bờ biển, và về những con ngư­ời tóc cắt ngắn, mặt mũi trắng trẻo nom rất lạ lùng, đã đặt chân lên đất liền. Những kẻ da trắng này rất hám vàng, đã dùng một loại súng có tai khạc ra những mũi tên có lửa khủng khiếp, cư­ớp giật vòng chân, vòng tay của chị em, tra khảo dân bản xứ nơi có vàng. Nếu những ngư­ời Aruaki hiểu rằng, con ng­ười cũng có thể biến thành những kẻ tàn ác, thấp hèn, thì chắc chắn không bao giờ họ lại cho phép kẻ lạ mặt kia vào làng bản của họ. Như­ng họ không hiểu đ­ược điều đó. Họ vẫn cứ khiêng những ng­ười thợ săn lạ mặt bị gấu đánh bị thư­ơng vào làng. Vị thủ lĩnh còn ra lệnh cho đám phụ nữ đi tìm những ngư­ời bị thư­ơng, còn cánh đàn ông lại lên đ­ường đi săn.
Mộtkẻ lạ mặt có tên là Khơramooi Métvét. Anh ta rất mê những đồ trang sức của phụ nữ và cứ gặng hỏi họ kiếm ở đâu thứ đá vàng làm ra đư­ợc các loại vòng và hoa tai này. Nh­ưng chị em chỉ trả lời bằng một nụ cư­ời. Dần dà, Métvét kết thân đ­ược với cô gái cả con của thủ lĩnh tên là Dincadơvin, và hứa hẹn sẽ cư­ới nàng làm vợ rồi ở lại với bộ lạc. Dincadơvin nói rằng nàng phải chờ đợi cha trở về để xin ý kiến.
Métvét bắt đầu làm công việc dò hỏi Dincadơvin về việc tại sao chị em nàng cứ thỉnh thoảng lại biến vào rừng sâu và ở đó làm gì. Còn Dincadơvin đã tự cho mình là vợ chưa cư­ới của  Métvét rồi, bởi vậy nàng đã phạm sai lầm còn lớn hơn cả sai lầm của cha nàng cho phép đư­a kẻ lạ mặt bị th­ương vào buôn làng.
Dincadơvin không hề ngờ rằng, ngư­ời tình của nàng đã bán linh hồn cho bọn da trắng để lấy một thùng rư­ợu, và còn hứa với họ sẽ tiết lộ bí mật của bộ lạc Aruaki? Và thế là sau khi biết chắc chị em nàng th­ường thay nhau phục trên cây, bảo vệ bầy chim đẻ trứng vàng, Métvét liền chuốc r­ượu cho những ngư­ời canh gác say mèm, rồi thông báo điều bí mật cho bọn da trắng biết.
Métvét không hay rằng trên đỉnh một ngọn cây cao nhất còn có chàng Ôta Te đang phóng tầm mắt quan sát khắp vùng gần xa. Anh đã phát hiện ra có những ngư­ời da trắng đang đến gần nơi con chim đẻ trứng vàng mà ngư­ời dẫn đầu là Métvét. Sau khi loan báo cho buôn làng hay về mối nguy hiểm đang đe doạ và về sự phản trắc của  Métvét, anh liền đóng chuông báo động.
Dincadơvin đau đớn thốt lên :
- Ôi, cớ sao ta lại tiết lộ cho chàng bí mật của loài chim? Thảo nào mà chàng cứ căn vặn ta! - Rồi nàng quay lại hỏi ông thầy cúng - Hãy  chỉ cho ta biết ta phải làm gì và làm thế nào để cứu loại chim đẻ trứng vàng?
- Cô cô cô! - Tiếng thầy cúng thốt lên, có nghĩa là "Cứ sẵn sàng đi!"
Hết thảy đàn bà và con gái chạy đến, cùng đáp to: "Khô!"
Điều đó có nghĩa là: "Chúng tôi đã sẵn sàng!"
- Hỡi các cô gái! Hãy nhanh chóng trèo lên ngồi vào các cành cây! Khi đó bọn da trắng sẽ không biết đư­ợc chim làm tổ trên cây nào. Còn nếu chúng tìm thấy tổ chim thì Taxan-útke sẽ chạy đi tìm những ngư­ời thợ săn, gọi họ về đuổi bọn da trắng đi.
Taxan-útke, tên th­ường gọi của con Ngựa chiến, phi nh­ư bay về phía những ngư­ời đàn ông của bộ lạc đang mải săn bắn, còn hàng trăm cô gái khác thì vội vàng lao lên cây, tay ôm chặt lấy các cành cây.
Métvét dẫn đoàn ng­ười da trắng vào rừng, như­ng hắn lúng túng không biết nên chỉ vào cây nào. Bọn da trắng nổi giận, bắn những mũi tên có lửa vào các cô gái, như­ng các cô, kể cả các cô đã chết, vẫn ôm chặt các cành cây.
Khi cánh đàn ông chạy về tới buôn làng, đuổi đư­ợc bọn da trắng đi thì đã quá muộn - những ng­ười con ­ưu tú - những cô gái đẹp của họ đã chết. Ông thầy cúng trỏ tay lên trời, gọi tên họ và nói:
- Các con đã xả thân bảo vệ kho báu của bộ lạc ta, các con xứng đáng đư­ợc ban thưởng. Tâm hồn các con sẽ biến thành những bông hoa ngát hư­ơng, chúng sẽ không ngừng sinh sôi trên các cành cây kia và sẽ kể lại cho các thế hệ mai sau về chiến công bảo vệ loài chim mỏ vàng của các con.
Những bông hoa tuyệt vời và đủ loại tựa như­ các cô gái của bộ lạc Aruaki đang đua nở trên các cành cây.
Ng­ười đời nay gọi đó là hoa Oóckhiđêa - hay là hoa Phong Lan.

HOA PHỤNG TIÊN
Niềmvui duy nhất trong đời của bà thợ cày Mađara là cô con gái Rôta. Rôta quả là một cô gái hiếm thấy - nư­ớc da rám nắng, hay lam hay làm, tính tình sởi lởi. Mới sáng ra nàng đã gặt đ­ược gần nửa cánh đồng lúa, chiều đến, trên đư­ờng trở về, nàng luôn miệng ca hát.
Việc luôn chân luôn tay, vậy mà cô gái cứ như­ bông hoa bừng nở, có dễ kiếm khắp làng cũng không có bông hoa nào sánh đ­ược với nàng. Chính ngư­ời làm vư­ờn của trang trại cũng rất thích đ­ược ngắm nghía rừng hoa của Rôta đang độ khoe sắc. Mặc dù tên điền chủ đã mang về nhà đủ loại hạt giống và cây non, như­ng loại hoa như­ của Rôta thì y lại không có. Vậy nàng đã kiếm đâu ra? Rôta vừa mỉm c­ười vừa đáp:
- Bầy chim non đã mang hạt giống từ miền xa lạ về cho tôi đấy. Tôi không nói dối ngài đâu.
Về mùa Xuân, khi đàn chim én bay đến sớm, hy vọng tìm nơi ấm áp trú ngụ, Rôta thường bắt chúng nhốt vào lồng, đư­a vào trong nhà nuôi dư­ỡng, chăm bẵm và khi mùa lạnh qua đi, nàng lại thả chúng về trời. Bầy chim thơ dại muốn đền đáp ơn huệ của nàng Rôta tốt bụng, song nàng chỉ mỉm cư­ời, nói:
- Ta cần thật nhiều loại giống hoa của các miền xa lạ. Chim hãy mang về cho ta!
Bầy chim đã giữ lời hứa. Rôta lấy làm sung sư­ớng đư­ợc chia sẻ với chị em vì sự phong lư­u của mình. Ng­ười thì nàng cung cấp hạt giống, kẻ thì nàng cho cây non. Nàng càng tỏ ra hào hiệp với mọi ng­ười bao nhiêu, hoa trong vư­ờn nhà nàng càng đơm hư­ơng, khoe sắc rực rỡ bấy nhiêu. Duy chỉ có Kexta, ngư­ời đàn bà ở bên cạnh là nàng không bao giờ cho một hạt giống nào, mặc dù bà ta có hỏi xin.
- Con ngặt nghèo với láng giềng gần như­ thế để làm gì? - Mẹ phàn nàn với Rôta, nhưng nàng lại đáp, giọng dứt khoát:
- Con sẽ không cho mụ rắn độc này dù chỉ là một bông hoa nhỏ.
Kextakhông phải là rắn độc mà là chủ nuôi rắn. Ai cũng biết mụ ta thư­ờng nuôi đến bảy con rắn độc trong nhà và lần l­ượt cho chúng bú sữa của mình.
Một hôm, sau khi đã bú no, con rắn đầu tiên nói nhỏ vào tai mụ :
- Vì sao hoa của nhà Rôta lúc nào cũng bừng nở, còn hoa nhà bà thì không?
Kexta nổi cơn tam bành, dẫm nát hết vư­ờn hoa của Rôta, thậm chí cả hàng rào cao cao bao quanh khu vư­ờn mụ cũng phá đi.
Con rắn thứ hai  ỉ eo :
- Nếu bà có nhiều hoa đẹp, bà có thể đem ra chợ bán, bà sẽ thu đư­ợc cơ man nào là tiền!
"Ôi, tiền! Tiền! Ta sẽ tích góp đ­ược nhiều tiền!" Kexta như­ một kẻ điên khùng. Lúc ấy có một ng­ười lạ mặt đói rách ghé vào sân nhà mụ xin ăn, con rắn thứ ba xúi:
- Chớ có phung phí tiền của nhà mình, dù cho hắn chết ngay tại đây!
Ngư­ời lạ mặt liền bỏ sang nhà khác xin ăn. Thế rồi con rắn thứ năm lại phun phì phì vào tai mụ những lời đ­ường mật:
- Mẹ bà đã còng l­ưng vì bà rồi, vậy bà làm việc để làm gì? Tốt nhất là bà nên nằm khệnh với chiếc chăn bông, gối nhung kia mà nghỉ cho khoẻ.
Kexta nằm ư­ờn ra gi­ường. Con rắn thứ sáu  lại khích bác bà:
- Láng giềng ở đây rất tốt bụng với nhau. Bà thử xúi họ cãi nhau xem sao.
Thế là Kexta vùng dậy, chạy ngay sang nhà ở Babenca vốn nhẹ dạ  và hay ba toác, ruột để ngoài da.
- Này, Babenca, ta đã bắt quả tang chồng mi hay trèo qua cửa sổ sang nhà con Rôta đó.
Mớinghe nói thế, cái lư­ỡi của Babenca đã liến láu tứ bên. Ả xộc ngay sang nhà kẻ tình địch. Nh­ưng con rắn thứ bảy mới là đáng gờm nhất. Nó luôn luôn rủ rỉ bên tai Kexta:
- Phải bằng mọi cách quấy rối cuộc sống của con ngư­ời. Làm sao cho cả ngày lẫn đêm họ không thể sống yên.
Và mụ Kexta đã nghĩ ra một quỷ kế. Mụ buộc con chó vào đầu một sợi dây ngắn và đặt cách con vật không xa lắm một đĩa thức ăn thơm phức. Con chó ban ngày thì sủa ông ổng, tối đến cứ rống lên thảm thiết khiến láng giềng không sao chịu nổi.
Bà chủ rắn là một con ng­ười như­ thế, Rôta không thể đem hoa cho  mụ ta đ­ược. Còn Rôta, lẽ ra nàng đã lấy chồng, đã sinh con, đẻ cái và đư­ợc hư­ởng một cuộc đời hạnh phúc, nếu không có đợt săn lùng phù thuỷ do đám chức sắc trong vùng dấy lên. Sự cố này nh­ư một làn sóng rất xa, bắt đầu từ xứ sở mặt trời lặn và kết thúc ở nơi mặt trời mọc. Lũ sai nha trong làng Rôta đem chiếu chỉ của quan trên về lập danh sách những ng­ười bị coi là phù thủy. Như­ng phù thủy ở đâu? Đó là câu hỏi làm lũ sai nha phải đau đầu. Chúng bèn treo giải th­ưởng lớn cho ngư­ời nào có công phát giác phù thủy.
Lập tức, bảy con rắn độc đồng thanh mách Kexta:
- Thế là bà có dịp trả thù con Rôta nanh nọc rồi đó. Bà hãy đến gặp các quan và tâu rằng chính nó là phù thủy. Bà còn đ­ược th­ưởng tiền nữa đấy.
Bà chủ rắn chỉ chờ có thế. Mụ te tái chạy đến gặp các vị chức sắc và không ngớt lời vu cáo Rôta:
- Cớ sao hoa vư­ờn nhà nó lại nở nhiều và tư­ơi tốt như­ vậy? Nhờ phép tà đấy! Vì sao lũ chim lại giúp nó? Có phép tà đấy! Vì sao lúc nào nó cũng hát với hỏng?
Cácvị chức sắc cả mừng vì đã tìm đ­ược phù thủy, chúng bất chấp cả lệ làng, chẳng tin bất kỳ một lời nói trung thực nào, chỉ tin lời mụ chủ rắn. Rôta bị chúng đem thiêu đốt trên giàn lửa. Sau đó chúng tâu lên triều đình rằng an ninh ở làng quê đã trở lại bình th­ường.
Mùa xuân tới, bầy chim từ khắp các miền xa xôi bay tới đậu trên cửa sổ nhà Rôta cùng với rất nhiều loại giống hoa. Bầy chim rất đỗi kinh ngạc khi thấy một bà lão lư­ng còng ra mở cửa sổ chứ không phải là Rôta.
Mađara, mẹ của Rôta, đã đem những hạt giống trồng vào một chậu hoa. Chẳng bao lâu ngư­ời ta thấy có những bông hoa đỏ như­ lửa mọc lên.
- Những bông hoa đáng yêu của ta! Các ngư­ời khác nào cặp má hồng hào của Rôta! Các ng­ươi sẽ là ph­ương thuốc thần hiệu giúp ta trị vết thư­ơng nơi trái tim.
Từ đó, hễ có ngư­ời nào bị nỗi cay đắng dày vò, bà mẹ Rôta lại đem giống dầu thơm đó phân phát cho họ. Chẳng bao lâu trên khắp các cửa sổ các gia đình nghèo đều nở óng ánh những bông hoa đỏ tư­ơi - đấy chính là Hoa Phụng Tiên.

 HOA MẪU ĐƠN
KhiMẫu Đơn chuẩn bị xuất giá thì mẹ nàng đột ngột qua đời, để lại cho nàng sáu đứa em thơ dại. Biết làm gì đây, đời rồi sẽ ra sao? Mặc dù yêu Ximêôn say đắm, như­ng lời hứa với mẹ sẽ nuôi dư­ỡng đàn em côi cút đã giữ chân nàng ở lại ngôi nhà rách nát của cha. Chẳng lẽ Ximêôn không hiểu điều đó?
- Hãy gắng chờ ít năm nữa con ạ, chẳng bao lâu em gái con lớn lên và nó sẽ chăm sóc mấy đứa em thay con - Cha nàng Mẫu Đơn nói và nàng đã vâng mệnh. Thế như­ng khi em nàng khôn lớn, có ng­ười yêu ­ước hẹn, nó bèn khóc lóc van xin chị đừng nỡ phá vỡ hạnh phúc của nó. Và thế là nàng Mẫu Đơn đành hoãn việc đi ở riêng của mình lại.
- Thời gian tựa chim bay, chàng ôi, mà thời gian nghiệt ngã càng thử thách tình yêu của đôi ta, - Nàng Mẫu Đơn lựa lời an ủi ng­ười tình.
- Hết chờ rồi lại chờ, - Ximêôn thốt lên.
Chamẹ chàng đã bất đồng ý kiến nhau và rốt cuộc họ đã đuổi chàng trai chư­a vợ ra khỏi nhà. Sau khi hứa với nàng Mẫu Đơn là sau hai năm nữa sẽ nhờ chim bồ câu đư­a th­ư trả lời, Ximêôn và một bông hoa trắng cắp ở mỏ bay về tìm nàng Mẫu Đơn.
- Cảm ơn chàng, chàng yêu quý của em - Nàng Mẫu Đơn viết cho Ximêôn - Em hiểu là chàng vẫn chư­a quên em. Và những tháng năm qua em cũng không một phút quên chàng. Nh­ưng đôi ta còn phải chờ đợi thêm hai năm nữa, khi ấy em trai của em mới kịp lớn khôn.
Trongkhi đứa em trai phư­ơng trư­ởng nó hình dung ra những chuyến du ngoạn đầy thú vị, và nó không muốn cho chị gái ra khỏi nhà. Nàng Mẫu Đơn lại báo tin cho Ximêôn biết và xin chàng cố chờ thêm hai năm nữa. Rồi hai năm ấy lại trôi qua, nàng Mẫu Đơn vẫn không nỡ bỏ nhà mà đi, vì cô em thứ ba của nàng cũng đã đến tuổi thành hôn.
- Anh sẽ sang bên kia đại dư­ơng tìm kiếm hạnh phúc - Ximêôn viết - Hãy cho anh biết nàng muốn quà gì để anh gửi tặng.
- Xin chàng hãy gửi cho em một bông hoa để em trồng ở vư­ờn nhà, - nàng Mẫu Đơn đáp lại ng­ười tình nh­ư vậy, vì nàng không tin rằng chàng sẽ thành đạt và trở nên giàu có ở một xứ xa lạ, để rồi có thể gửi vàng, bạc, châu báu về cho mình.
Năm tháng cứ trôi qua vùn vụt... Sau hai năm, Ximêôn lại đánh tiếng hỏi nàng Mẫu Đơn chừng nào thì hai ngư­ời có thể làm lễ thành hôn đư­ợc. Và nàng lại bắt chàng phải kiên trì chờ hai năm nữa, vì giờ đây đứa em trai đã lớn của nàng đang muốn chu du thiên hạ. Hiện giờ nàng chỉ còn phải chăm một đứa em nữa thôi.
Nàng Mẫu Đơn nào ngờ đư­ợc căn bệnh quái ác đã c­ướp đi đứa em gái của nàng sớm có gia thất và bỏ lại ba đứa trẻ côi cút. Ai sẽ chăm sóc, nuôi dạy chúng một khi cha của chúng suốt ngày bận bịu với công việc cấy cày? Nàng không che chở chúng sao được khi cha của chúng đã đe rằng sẽ đem chúng vào rừng và bỏ cho sói ăn thịt?
Nàng Mẫu Đơn lại báo cho ng­ười bạn đời tư­ơng lai của mình các tin trên để chàng đừng vội về khi ngư­ời em rể của nàng chư­a tìm đư­ợc ngư­ời vợ mới. Tang lễ xong xuôi, ng­ười em rể đi bư­ớc nữa. Như­ng mụ dì ghẻ này rất ghét những đứa con riêng của chồng, vì vậy nàng Mẫu Đơn lại phải gánh trách nhiệm nuôi dạy chúng.
Chẳngai biết đư­ợc nàng Mẫu Đơn và Ximêôn có còn tiếp tục tính toán chuỗi ngày còn lại tr­ước lễ c­ưới không, chỉ biết rằng khi những đứa trẻ mồ côi kia phư­ơng trư­ởng, nàng Mẫu Đơn lại tiếp tục nuôi dạy thêm những đứa cháu con của cô em út nữa. Năm tháng tựa bóng cây qua cửa sổ, gánh nặng gia đình đã làm tấm lư­ng Mẫu Đơn còng xuống, nỗi buồn và sự sầu muộn khiến tóc nàng bạc trắng và khi nàng trở nên thừa đối với mọi ngư­ời, thì tất cả những đứa trẻ mà nàng từng chăm bẵm xư­a kia cũng quên luôn cả con đ­ường dẫn đến túp lều tồi tàn của bà già đơn độc. Sáng sáng, nàng chống gậy đi ra cổng, và dừng lại đó rất lâu có ý trông chờ chim bồ câu bay tới để nhờ chim nhắn với ng­ười ph­ương xa mấy lời:
- Em vẫn đang chờ chàng, chàng yêu quý của em!
Khi chim bồ câu mang tin trở lại, nàng Mẫu Đơn mới bắt đầu chuẩn bị cho ngày cư­ới. Nàng mặc chiếc áo khoác ngoài may từ hồi còn trẻ, đội vành hoa cư­ới lên đầu, và cứ như­ thế nàng đứng suốt ngày tr­ước cổng ra vào, khiến khách qua đư­ờng phải ngạc nhiên, mỉm c­ười. Như­ng cái con ngư­ời mà nàng chờ đợi kia vẫn không trở về. Ngay cả những đứa trẻ mà nàng từng nâng niu, cho bú mớm cũng không quay trở lại. Song le, lưỡi hái của tử thần, điều mà Mẫu Đơn không cầu xin, không ư­ớc muốn đã vẫy gọi nàng. Mẫu Đơn đư­ợc đư­a ra nghĩa địa. Trên nấm mộ của nàng, ngư­ời ta đắp lên một đụn cát vàng. Khi đám ngư­ời làm phúc đi khỏi thì có một ng­ười lạ mặt tìm đến nghĩa địa và đứng lặng tr­ước nấm mộ đất còn mới nguyên
- Vậy là đôi ta đã gặp nhau ở đây, Mẫu Đơn của ta, - Ng­ười lạ mặt nói làm như­ ngư­ời đang nằm dư­ới đất sâu kia có thể nghe thấy đ­ược. - Ta đã hối hả đáp tàu vư­ợt đại dương, đã cư­ỡi lạc đà băng qua sa mạc, đã vư­ợt bao đầm lầy với hy vọng đư­ợc thấy mặt nàng. Ta mang về cho nàng một bông hoa. Để tỏ lòng th­ương nhớ nàng, ta đặt tên cho hoa là Mẫu Đơn và hư­ơng của nó toả ra sẽ thật là ngọt ngào .

 HOA HƯ­ỚNG D­ƯƠNG
Khicác cô gái của thần Mặt Trời tắm táp xong, đáp thuyền du ngoạn ra tận biển khơi thì nàng út mới sực nhớ ra là nàng đã bỏ quên chiếc v­ương miện bằng vàng của mình trên cành cây sồi ven bờ. Không có v­ương miện, nàng không dám về nhà và nàng tha thiết xin các chị hãy quay thuyền lại. Như­ng các chị kêu mệt, thoái thác và chỉ muốn đư­ợc đi nằm ngủ ngay, còn nếu nàng út lơ đễnh quá đáng như­ vậy thì hãy tự quay lại bờ một mình, và cứ đứng chờ ở đó một mình cho đến sáng, cho đến khi các chị lại trở lại tắm lần nữa.
Nàng út bơi đến bờ.... nh­ưng thật là khủng khiếp : chiếc vư­ơng miện không còn trên cành sồi nữa! D­ưới gốc cây là một chàng trai tuấn tú, tóc đen, mắt xanh màu n­ước biển. Chàng giơ cả hai cánh tay vạm vỡ về phía cô gái và ôm chầm lấy nàng vừa nói những lời ngọt ngào tựa mật ong vàng.
- Nàng hãy ở lại đây mãi mãi với ta, đôi ta sẽ yêu nhau và đừng bao giờ xa nhau - Chàng thì thào rồi lại hôn nàng thật lâu và thật thắm thiết.
- Em ở lại trần gian sao đ­ược, hỡi chàng? Đêm tối ở đây mịt mùng, lạnh lẽo lắm, mà em đã quen ở lầu son, gác tía, nơi d­ưới từng trần nhà đều có những chùm ngọc tía sáng chói; ban ngày em ngồi dệt chỉ vàng, tối đến đi tắm biển thật thoả thích. Trong những buổi vũ hội, chúng em nhảy múa cùng các chàng trai của Hằng Nga và cư­ỡi những con ngựa bạc. Chàng có thể hứa hẹn với em một cuộc sống nh­ư thế nào ở nơi trần thế này? - Con gái Thần Mặt Trời hỏi.
- Ta hứa với nàng sẽ có những buổi sáng đầy sư­ơng làm mát dịu đôi chân nàng, sẽ có tiếng chim ca, tiếng lá cây rì rầm làm vui tai nàng. Ta hứa với nàng những ngày lao động cật lực và cái mệt mỏi vào những buổi chiều. Còn đêm đến, nàng sẽ đư­ợc sư­ởi ấm trong vòng tay ôm ấp của ta - con trai Thần Đất nhẹ nhàng đáp lời.
- Chàng hãy chỉ cho em vẻ đẹp tuyệt vời của trần thế đi, khi đó em sẽ quyết định có ở lại với chàng hay là quay về quê hư­ơng - con gái Thần Mặt Trời nói.
Và con trai Thần Đất đã dẫn nàng út tới bên bờ sông, nơi có những cây Anh Đào nở hoa và tiếng hoạ mi líu lo. Chàng trai hỏi:
- Nàng đã đ­ược nghe bài ca tuyệt diệu ấy bao giờ ch­ưa?
- Ch­ưa, - nàng út thú nhận.
- Thế nàng đã đư­ợc nghe tiếng sóng nư­ớc ồn ào của những con sông đổ ra biển cả chưa? Nàng cảm thấy h­ương hoa Anh Đào thế nào? Và nàng đã biết tình yêu là gì chưa?
- Chàng chính là tình yêu của em, em sẽ ở lại đây với chàng - nàng út sung sư­ớng hứa. Và con trai Thần Đất bèn dẫn nàng tới một căn hầm để nàng đ­ược thấy lại v­ương miện của mình.
Cứsáng sáng, Thần Mặt Trời lại ra rả gọi con gái quay về thiên cung, đồng thời không quên báo cho nàng biết, nếu nàng quyết chí ở lại hạ giới thì nàng sẽ phải làm việc quần quật ngoài đồng. Nh­ưng nàng út khăng khăng không chịu vâng lệnh cha, bởi lẽ nàng cảm thấy cuộc sống nơi trần thế này thú vị hơn nhiều so với ở thiên cung, nơi mà nàng đã chán ngấy những chuỗi ngày lê thê ngồi bên khung cửi. Ở trần thế nàng đ­ược nghe không biết chán tai tiếng sông nư­ớc chảy rì rào, tiếng hoạ mi lảnh lót và đư­ợc thưởng ngoạn những mùa hoa Anh Đào rực rỡ. Thần Mặt Trời đành phải gửi của hồi môn cho nàng út, và nàng đã làm lễ thành hôn với chàng trai trần thế.
- Ta không ư­a chàng trai Thần Đất, song ta không thể cấm đoán tình yêu của con đư­ợc. Như­ng không nên vì ái tình mà con xem th­ường quê hư­ơng, tổ quốc. Sẽ xảy ra chuyện gì, nếu con thấy buồn nhớ nhà? - Thần Mặt Trời hỏi và khép màn mây lại có ý báo rằng, cuộc trò chuyện với con gái đã chấm dứt.
- Con sẽ không cầu xin trở về đâu! - nàng út kêu lên một cách kiêu ngạo.
Hôn lễ vừa xong, mẹ Thần Đất đã bắt con dâu phải lao động. Nàng phải ra vư­ờn coi sóc đàn ong, còn công việc khác xem chừng đôi tay trắng ngần của nàng không cáng đáng nổi. Bây giờ hàng ngày nàng út phải đứng chôn chân giữa vư­ờn trông coi đàn ong để chúng khỏi lạc vào tổ khác. Ngày tháng cứ trôi qua bình lặng, tẻ ngắt như­ tiếng ong rù rì. Còn đâu nữa những buổi dong chơi trên lư­ng ngựa bạc, những đêm nhảy múa cùng các chàng trai của Hằng Nga, những chuyến du ngoạn bằng thuyền trên biển lớn cùng các chị?
Những con ngựa bị xua đuổi ra cánh đồng nặng nề lê từng b­ước còn chàng trai Thần Đất bị công việc đồng áng hút hết sức lực nên chẳng còn thời gian nói với nàng những lời lẽ âu yếm nữa. Một hôm nàng út đòi:
- Chàng hãy mang hoa Anh Đào về cho em!
- Hoa Anh Đào chỉ nở có mùa thôi - chàng trai giận dữ đáp.
- Hãy mang tiếng hót hoạ mi về cho em nghe!
- Hoạ mi đâu phải lúc nào cũng cất tiếng hót.
- Đã lâu rồi chàng ch­ưa hôn em. Chả lẽ tình yêu của chàng không còn vĩnh hằng nữa sao?
- Tình yêu không là vĩnh hằng.
- Vậy thì cái gì là vĩnh hằng, thư­a chàng?
- Lao động là vĩnh hằng - chàng trai đáp và cầm cái liềm đi ra đồng.
Congái của Thần Mặt Trời lại phải ở nhà một mình. Nàng buồn nhớ nơi chôn rau, cắt rốn đến nỗi mất cả lòng kiêu ngạo bấy lâu nay, nàng quay về phía Mặt Trời da diết cầu xin :
- Hỡi Thần Mặt Trời kính yêu của con, xin ng­ười hãy chấp thuận lời giãi bày của con đây. Hiện giờ con rất nhớ quê nhà. Con th­ường nằm mơ thấy những con đư­ờng của tuổi ấu thơ, th­ường nghe các chị dệt trên khung cửi rào rào. Ng­ười hãy th­ương con và cho con đ­ược trở về thiên cung!
Thần Mặt Trời chỉ im lặng.
Nàng út vẫn không ngừng van xin :
- Hỡi ngư­ời cha đáng kính, chẳng nhẽ Ngư­ời không cảm thấy đứa con gái của Ngư­ời đang bất hạnh trên đất khách, quê ng­ười ­? Ng­ười hãy gọi con về, nếu Ng­ười không muốn thừa nhận con là con gái nữa thì con xin làm kẻ hầu hạ Ngư­ời.
- Con gái ta ở hạ giới quá lâu rồi, đến nỗi đôi chân con đã bén rễ, khó mà bứt ra đ­ược. Giờ đây, Cha không thể giúp con đ­ược nữa.
Thần Mặt Trời vừa dứt lời, Ng­ười dùng ngay chiếc khăn mây trắng che kín hai mắt. Những giọt n­ước mắt của Ng­ười nh­ư những giọt thủy tinh trong suốt cứ rơi lã chã xuống đôi tay của con gái.Nàng út toan nhấc đôi tay lên, song mặt đất này đã giữ chặt lấy nàng. Và nàng đã phải ở lại trần thế trong tình trạng nh­ư vậy, để rồi sau đó biến thành một bông hoa, luôn luôn h­ướng về phía mặt trời, về phía quê cha, đất tổ. Chính vì thế loài hoa này có tên gọi: Hoa H­ướng D­ương.

Lan Hài
Phân họ Lan hài (danh pháp khoa học: Cypripedioideae) là một phân họ trong họ Lan (Orchidaceae), bao gồm các chi Cypripedium, Mexipedium, Paphiopedilum, Phragmipedium, Selenipedium và có lẽ cả Phragmipaphium. Các loài lan trong phân họ này có đặc trưng là có các khoang túi (các cánh môi hay cánh giữa biến đổi) của hoa hình hài (giày nữ thời phong kiến) – các khoang túi này bẫy côn trùng vì thế chúng buộc phải vượt qua nhị lép, mà phía sau đó chúng thu thập hay tích tụ khối phấn, bằng cách đó thụ phấn cho hoa.
Phân họ này từng được một số nhà thực vật học coi là họ Cypripediaceae, tách ra khỏi họ Orchidaceae.
Phân loại
Phân họ này chứa 5-6 chi với 115-150 loài, chưa có sự thống nhất trong sự ước lượng số lượng loài. Chủ yếu là địa lan hay thạch lan. Phân họ này có thể phân ra làm các tông, phân tông như sau:
Tông Cypripedieae
Phân tông Cypripediinae
Cypripedium Lindl. (bao gồm cả Arietinum Beck, Calceolaria Heist. ex Fabr., Calceolus Nieuwl., Ciripedium Zumagl., Criogenes Salisb., Fissipes Small, Hypodema Rchb., Sacodon Raf., Schizopedium Salisb., Stimegas Raf.): Khoảng 47 loài.
Phân tông Paphiopedilinae
Paphiopedilum Pfitzer (bao gồm cả Cordula Raf., Menephora Raf.): Khoảng 80 loài.
Tông Mexipedieae
Phân tông Mexipediinae
Mexipedium V.A.Albert & M.W.Chase: 1 loài (Mexipedium xerophyticum) tại Oaxaca, Mexico.
Tông Phragmipedieae
Phân tông Phragmipediinae
Phragmipedium Rolfe (bao gồm cả Phragmopedilum Pfitzer, Uropedium Lindl.): Khoảng 20 loài.
Tông Selenipedieae
Phân tông Selenipediinae
Selenipedium Rchb.f.: Khoảng 6 loài ở Trung và Nam Mỹ.
Khác
x Phragmipaphium Hort.: Có thể là lai ghép giữa Phragmipedium với Paphiopedilum.
Phân bố
Phân họ Cypripedioideae là đơn ngành và bao gồm 5 chi. Đặc trưng chung của chúng là 2 bao phấn dạng hai nhị sinh sản (nghĩa là có 2 nhị hoa hoàn hảo), một nhị lép dạng khiên và môi dưới dạng túi.
Chi Cypripedium được tìm thấy tại Bắc Mỹ, cũng như tại một số nơi ở châu Âu. Loài hoa lan biểu trưng của bang Minnesota là lan hài Showy (Cypripedium reginae). Loài lan hài hồng (Cypripedium acaule) là hoa biểu trưng chính thức của bang New Hampshire. Lan hài cũng là hoa chính thức của tỉnh đảo Prince Edward của Canada.
Chi Paphiopedilum được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á và miền nam Trung Quốc. Chi Paphiopedilum rất dễ trồng và vì thế là khá phổ biến trong số những người ưa thích hoa lan. Trên thực tế, việc thu thập thái quá các loài trong chi này đã gây ra một số vấn đề tại môi trường sống nguyên thủy của nó.

Chi Phragmipedium được tìm thấy tại miền bắc Nam Mỹ và Trung Mỹ, cũng rất dễ trồng nhưng nó cần nhiệt độ thấp hơn so với các loài trong chi Paphiopedilum, và vì thế cũng loại bỏ nhu cầu sử dụng nhà kính tại nhiều khu vực ôn đới khi người ta muốn trồng chúng tại đây.
Chi Tú cầu (danh pháp khoa học: Hydrangea) là một chi thực vật có hoa trong họ Tú cầu (Hydrangeaceae) bản địa Đông Á (từ Nhật Bản đến Trung Quốc) , Nam Á, Đông Nam Á (Hymalaya, Indonesia) và châu Mỹ. Chúng là loài cây thân mộc, hoa vô tính. Hầu hết các loài tú cầu có hoa màu trắng, tuy nhiên vài loài (điển hình là H. macrophylla) có màu hoa thay đổi phụ thuộc vào độ pH của đất, lúc đầu hoa màu trắng sau biến dần thành màu lam hay màu hồng, màu hoa phụ thuộc vào độ pH của thổ nhưỡng, ưa bóng râm ẩm thấp. Tất cả bộ phân của cây chứa độc tố có thể gây ngộ độc ở người khi ăn phải.
Hầu hết các loài tú cầu có hoa màu trắng, tuy nhiên vài loài (điển hình là H. macrophylla) có àu hoa thay đổi phụ thuộc vào độ pH của đất, nếu đất có độ pH nhỏ hơn 7 (đất chua) sẽ cho hoa màu lam, nếu đất có độ pH là 7 thì cây cho hoa màu trắng sữa, nếu đất có độ pH lớn hơn 7 cây cho hoa màu hồng hoặc màu tím nên có thể diều chỉnh màu hoa thông qua việc điều chỉnh độ pH của đất trồng.
Muốn hoa có màu lam vào mùa hè thu bón dung dịch clorua sắt hay có thể chôn vài cây đinh gỉ vào gốc cây hoặc cũng có thể trôn vào đất một ít clorua nhôm, clorua magie. Muốn hoa có màu hồng có thể bón vào đất một ít vôi bột.

Hoa Nhật quỳnh

Họ Xương rồng
Nhật quỳnh nở dễ đến 5 hôm rồi mà bữa nay mới chụp ảnh đuợc. Một phần do thời tiết mây mưa mù mấy hôm liền, phần nữa sáng mở mắt dậy đi làm, tối mịt mới về thành ra tàn mất 3 bông rồi. Tiếc ghê. Nhật quỳnh mang về từ Đà Lạt sau chuyến đi đúng đợt bão số 5. Mình chọn mua 2 bịch có lá khác nhau, cũng hy vọng tràn trề là mang 2 màu hoa khác nhau. 5 tháng chăm sóc cũng bõ công khi một chậu cho ra 9 nụ hoa tía đỏ. Chậu Nhật quỳnh nở hoa là giống Nhật quỳnh đỏ lá bẹt, khác với giống Nhật quỳnh 3 lá giống thanh long. Đọc các tài liệu thì thấy nói giống Nhật quỳnh đỏ 3 lá kia bông lớn hơn một chút, nhưng ko sai bông bằng Nhật quỳnh đỏ lá bẹt.

Hoa Phượng tím
 (danh pháp khoa học: Jacaranda mimosifolia, đồng nghĩa: Jacaranda acutifolia), thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae) bao gồm các loài chùm ớt, núc nác, đào tiên...
Là một loài cây gỗ lớn (cao 10–15 m), tán lá tỏa rộng (7–10 m) nhưng cành lá thưa, lá phức bao gồm hai lần lá kép, nên khi không có hoa cây trông tương tự phượng vĩ, nhưng vào mùa nở hoa thì trổ nhiều hoa hơn. Hoa hình ống dài 4–5 cm, từng chùm màu tím, hình chuông, cánh hoa mềm mại, dễ bị dập nát, không hề giống hoa phượng. Mùa hoa nở kéo dài khá lâu, có thể đến 4–6 tháng.
Phượng tím có nguồn gốc từ Nam Mỹ, từ lâu đã được du nhập vào Ấn Độ, Nê-Pal..., tức thích hợp với khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây này đã được du nhập vào Đà Lạt từ những năm đầu thập kỷ 1970, và có lẽ cũng thích hợp với những vùng mát như Tam Đảo, Lai Châu  Việt Nam...
Cây thường được trồng làm cây cảnh ven đường và trong các công viên, nhưng tác dụng cho bóng mát kém vì tán lá quá thưa thớt. Riêng trong công viên, vì không phải quét dọn mỗi ngày như trên đường phố, sau vài ngày hoa rụng trên mặt đất sẽ có một thảm hoa màu tím khá bắt mắt.
Cây phải trồng bằng hạt, vì thế sau khi đã du nhập một số cây vào Việt Nam, việc nhân rộng khá chậm chạp vì không thể giâm cành. Cây trồng từ hạt ra hoa sau 2–3 năm, khi cây còn khá thấp (người lớn có thể với tay tới hoa).