
Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch
DI
TÍCH LỊCH SỬ
Nam Trung Bộ đã ghi lại biết bao sự tích anh hùng là một vùng
đất đã trải qua bao mất mát cho độc lập dân tộc, nơi có rất nhiều Bà mẹ Việt
Nam anh hùng. Nơi đây đã tạo nên khí phách kiên cường, ý chí cách mạng, truyền
thống hiếu học...
*Đình
Quá Giáng, Đà Nẵng
Đình Quá Giáng tọa lạc ở thôn Quá Giáng, xã Hòa Phước, huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Tại đây thờ Quan Thánh và các vị tiền hiền của bốn
tộc Đinh, Lê, Trần, Nguyễn - những người có công theo
Chúa Nguyễn vào Nam khai phá đất đai lập nên làng Quá Giáng xưa bao gồm vùng
Quá Giáng, Giáng Nam, Trà Kiểm, An Lưu và xóm Cồn Mong.,,Nhà thờ được chia làm hai phần: phần tiền đường và phần chính điện.
Nối nhà tiền đường và chính điện là hai dãy hành lang có mái che tạo nên một kiến
trúc khép kín kiểu chữ nhật.
Tiền đường xây theo lối chồng rường giả thủ, chân thủ đều
trang trí hình quả bí, phía trên được trang trí hình đài hoa sen.Hai dãy cột
chính mỗi dãy bốn cột cao 5m chống đỡ hai vì kèo và hai dãy cột quân thấp hơn
chống đỡ hai mái phụ Trên các thanh xà, kèo đều được trang trí cỏ cây, hoa lá
muông thú, bát bửu và các đường trang trí khác. Đuôi kèo được chạm khắc hình
tượng cá chép hoá rồng. Phần nhà thờ chính được xây dựng theo lối kéo tam đoạn
(kéo chuyền) với ba gian bốn mái. Bốn cột chính cao 5m cùng 8 cột quân cao 3m
và 16 cột con chống đỡ vì kèo. Đầu các thanh chính được khắc hình đầu rồng,
giữa được trang trí chữ thọ và các đường nét trang trí hoa lá khác. Bộ cửa thượng
song hạ bản cùng với bộ mắt cửa thể hiện rõ phong cách kiến trúc của Hội An với
bàn tay tài hoa khéo léo của người thợ làng Kim Bồng nổi tiếng. Mái nhà thờ lợp
ngói âm dương với hình ảnh loạn phụng hòa minh trên nóc. Hai bên là hai con
rồng ngoái đầu lại nhìn nhau. Các con vật trong “tứ linh” cũng được đưa lên mái
trước của tiền đường. Hàng năm dân làng có hai kỳ Xuân Thu tế lễ vào các ngày
20 tháng 2 và 12 tháng 7 âm lịch để tưởng nhớ lại các vị tiền hiền đã mở mang
vùng đất này. Đình Quá Giáng được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích
quốc gia năm 2000.
“Đình Nại Nam, Đà Nẵng
Đình làng Nại Nam nay thuộc khối phố Nam Sơn, phường Hòa
Cường, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Đình được xây dựng năm Ất Tỵ (1905) từ
công sức đóng góp của dân địa phương, thơ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ
thổ thần và các vị tiền nhân của làng. Đình ghi đậm dấu ấn văn hóa thời Nguyễn,
mái lợp ngói âm dương, tường gạch, trên mái đình là lưỡng long chầu nguyệt,
loan phụng hòa vinh, dơi ngậm đào, thể hiện qua nghệ thuật đắp ghép sành sứ
công phu, đẹp mắt. Bên trong chia làm 3 gian, 2 chái, phần chính diện dài
11,7m,rộng 7,9m, hậu tẩm rộng 3,9m, dài 4,1m. Có 4 hàng cột bằng gỗ mít, gồm 20
cột, có chiều cao từ 2,5m - 4,5m. Kết cấu kèo theo “chồng rường - giả thủ”. Phần
đầu hồi chạm trổ khéo léo và tinh xảo qua bàn tay tài hoa của thợ chạm Kim Bồng
(Hội An), thể hiện các đề tài: cá chép hóa long, bát bảo đạo nho, cùng các họa
tiết hoa văn cây cỏ, hoa lá. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình là cơ sở,
địa điểm để hoạt động cách mạng, có nhiều sự kiện lịch sử diễn ra ở đây như lễ
kết nạp đảng viên, triển khai lực lượng chính trị và quân sự đánh vào thành
phố, nhiều người con ưu tú của địa phương đã sống, chiến đấu và hy sinh anh
dũng tại đình. Di tích đình Nại Nam, ngoài giá trị của một di tích kiến trúc -
nghệ thuật còn là một trong những đình làng cổ tiêu biểu còn lại khá nguyên vẹn
trong nội thành Đà Nẵng. Đình làng Nại Nam được Bộ Văn hóa - Thông tin công
nhận là Di tích quốc gia năm 1999.
*Đình Hải Châu, Đà Nẵng
Đình làng Hải Châu nằm trên đường Phan Chu Trinh, thuộc Tổ 6,
phường Hải Châu 1, thành phố Đà Nẵng. Phía trước đình Hải Châu có hồ nước lớn ở
giữa sừng sững hòn non bộ rợp bóng cây bồ đề trên dưới trăm tuổi Phía trước
đình Hai Châu có hồ nước lớn, ở giữa sừng Trên cổng Tam Quan vẫn còn rõ tên Hải
Châu Chánh Xã bằng chữ Hán. Qua khoảng sân rộng là một quần thể kiến trúc chính
gồm: Đình Hải Châu, Nhà thờ Tiền Hiền, nằm giữa hai nhà thờ tộc thành hình chữ
“nhất”. Nhà thờ bên trái của tộc Nguyễn Văn mới tách ra, còn nhà thờ bên phải
gọi là Kinh An Tự thờ chung 42 bài vị của 42 tộc họ, 42 tộc họ này đều từ thôn
Hiếu Hiền, xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa, theo vua Lê
Thánh Tôn vào Nam từ năm Tân Mão (1471). Vua Lê đã lập ra ấp Hàn Giang và các tộc
họ ấy đã quần tụ lại thành làng Hải Châu (theo tên xã cũ ở Thanh Hóa, bao gồm
phần nội thành Đà Nẵng hiện nay), được triều Nguyễn phong sắc phong “chánh xã”.
Hơn 500 năm qua các tộc họ đầu tiên ấy đã đặt nền móng và không ngừng đóng góp
công sức cho sự hình thành thành phố Đà Nẵng hiện nay.
Trên gác chuông đình Hải Châu hiện còn 1 chiếc chuông đồng,
thân chuông có bài minh đắp nổi bằng chữ Hán. Tạm dịch: năm Minh Mạng thứ 5
(Giáp Thân - 1824) trùng tu chùa. Năm sau (1825) vua ban chỉ sắc tứ cho mang
tên “Chùa Phước Hải”. Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn - 1832) nhằm ngày tốt, xã
Hải Châu Chánh Đồng tạo lập chuông này. Các nhà sử học xác định Đình Hai Châu
là Chùa Phước Hải, nơi Chúa Nguyễn Phúc Chu hăm Kỷ Hợi - 1719 đã vào Quảng Nam
và nghỉ lại, sau đó lần đã lập bàn thờ ông tại đây.
Đình làng Hải Châu được Bộ Văn hóa - Thông tin công hận là Di
tích lịch sử quốc gia vào năm 2001.
*Đình Bồ Bản, Đà Nẵng
Đình Bồ Bản hiện ở tại thôn Bồ Bản, xã Hòa Phong, huyện Hòa
Vang. Đình được xây dựng vào những năm đầu của thế kỷ XIX bằng tranh tre tại gò
miếu Tam Vị. Năm 1852, đình được dời về trung tâm làng. Tường xây gạch, mái lợp
ngói âm dương. Đình chia làm 3 gian, 2 chái, dài 14,5m, rộng 9,7m. Có 36 cột
bằng gỗ mít và kiền kiền, kết cấu kèo, cột cũng được thể hiện theo lối “chồng
rường - giả thu”, đầu các xà chính chạm đầu rồng, các vì kèo chạm nai, trúc,
tùng, lan. Ngoài ra, còn có các loài chim, thú như chim sẻ, khi (hầu) và các
họa tiết hoa văn, được khắc chạm tinh tế, khéo léo và tỉ mỉ, tạo nên những tác
phẩm điêu khắc độc đáo, giàu tinh nghệ thuật, có giá trị khoa học. Đình Bồ Bản
lập thờ Thành hoàng, các vị tiền hiền của làng và là nơi sinh hoạt lễ hội hàng
năm.Tháng 8 năm 1945, chuẩn bị giành chính quyền, nhân dân địa phương đã tập
trung về đình để tổ chức biểu tình, buộc bọn quan lại, lý hương giao ăn triện,
sổ sách, Đình Bồ Bản là nơi đặt hòm phiếu bầu cử Quốc hội tại địa phương. Đình
còn là nơi hội họp ra chủ trương diệt ác, cướp súng đạn và các kho tàng của
địch ở huyện Hòa Vang trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm. Đình Bồ Bản đã được
Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1999.
*Di tích K20, Đà Nẵng
Khu Di tích lịch sử cách mạng K20 là tên gọi do Quận ủy quận
III đặt để làm mật hiệu liên lạc thời chống Mỹ, Khu di tích nằm trên địa bàn Khối
phố Đa Mặn, phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn; trên tuyến đường từ trung tâm
thành phố đến khu di tích Ngũ Hành Sơn và Đô thị cổ Hội An.
K20 là một trong những căn cứ cách mạng quan trọng của thành
phố Đà Nẵng trong chiến tranh; rộng 3km, với hơn 3 nghìn dân. Sau khi chiếm giữ
Đà Nẵng năm 1954, Mỹ ngụy đã xây dựng nhiều đồn bót quanh Đa Mặn, hình thành bộ
máy kìm kẹp nhân dân, ngăn cản lực lượng cách mạng ngay từ bên ngoài vào thành
phố. Chính trong điều kiện đó chủ nghĩa anh hùng cách của quân dân Đa Mặn đã
được phát huy cao độ, trở thành bãi học quý báu cho phong cách mạng địa phương.
Trong đó, nhiều sự kiện, cột mốc lịch sử vẫn còn được lưu truyền sinh động
trong nhân dân và đi vào sử sách. Năm 1962, nơi đây đã tổ chức được lực lượng
du kích mạnh, làm nhiệm vụ “diệt ác phá kim”; đến năm 1964 phát triển tới 27
đội viên, tiêu diệt 12 tên ác ôn, phá hủy nhiều ấp chiến lược... Hầu hết các
gia đình ở Đa Mặn thời đó đều có hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ.
Nhà truyền thống được xây dựng khang trang, hiện đang lưu giữ
tương đối đầy đủ các hiện vật của một thời đấu tranh ngoan cường, bất khuất.
Những địa chỉ đỏ, hầm bí mật, chiến hào xưa đang được đưa vào các chương trình
tham quan, giáo dục truyền thống. Mỗi hiện vật, mỗi sự tích đều gắn liền những
con người có thật, trong đó có người đang còn sống, đang xây dựng cuộc sống mới
ngay tại mảnh đất lịch sử này.
“Bia chùa An Long (Long
Thủ), Đà Nẵng
Bia chùa Long Thủ được dựng trong khuôn viên chùa Long Thủ nay
đổi tên là chùa An Long. Chùa tọa lạc trênmột khu đất nằm phía sau Bảo tàng
Điêu khắc Chăm, thuộc địa bàn phường Bình Hiên, quận Hải Châu, thành phố Đà
Nẵng. Bia chùa Long Thủ được dựng vào năm Thịnh Đức thứ 5, triều vua Lê Thần
Tông (1658). Bia do ông Lê Gia Phước, pháp danh Pháp Giám, người làng Hải Châu viết.
Nội dung bia nói về nguyên nhân xây dựng và tên gọi của chùa Long Thủ, tên họ
những người đã đông góp tiền của, đất đai để xây dựng chùa cùng danh sách những
mảnh đất được cúng.
Theo nội dung bia thì ngày xưa ở vùng Nại Hiên, đức Phật
thường cứu giúp những người bị hoạn nạn và hiện thân với đầu rồng, vì vậy các
tín đồ Phật từ thường đến đây để cầu nguyện. Ông Trần Hữu Lễ là người trong
làng đã dâng cúng một khu vườn để xây dựng ngôi chùa làm nơi thờ Phật, các tín
đồ trong vùng đã đóng góp tiền của, ruộng đất để xây dựng ngôi chùa và đúc
chuông, tạc tượng vào năm 1653 Theo lời kể của một số người gia ở địa phương
thì trước kia chùa có hai chiếc chuông lớn và nhiều tượng đẹp nhưng đã mất, và
ngôi chùa cũng đã bị phá hủy trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh. Còn
tấm bia bị chôn vùi dưới đất. mãi đến năm 1903 mới tìm thấy và dựng lại bên
cạnh cổng chùa. Năm 1961 giáo hội và tín đồ trong vùng đã xây dựng lại ngôi
chùa như ngày nay theo kiểu dáng như những ngôi chùa cùng thời ở miền Nam, về
mặt kiến trúc không có gì đại sắc ngoại trừ cổng tam quan tương đối cũ (1903).
Bia được làm bằng sa thạch màu xám, kích thước 1,25n x 1,20m x
0,21m hình thang cân đỉnh tròn. Bia được điề khắc cả hai mặt. Ở mặt trước có
một bài khắc chữ Hán đưa đóng khung bằng các dải hoa văn trang trí, trên trán
bia,ở giữa chạm hình mặt trời có mây vờn quanh, hai bên trang trí hoa văn hình
hoa dây buông thõng xuống, bên dưới là nghề. Bài khắc gồm có 368 chữ Hán, 6 chữ
lớn khắc theo một dài hoa sen, ở hai đầu mút phía dưới có hình hai con đường
ngang ở trên, đóng khung riêng từng chữ: “Lập Thạch Bi Thủ Long Tự”, ở hai đầu
có hai chữ Vạn nhỏ hơn, còn 360 chữ nhỏ ở giữa lòng bia được khắc lõm theo 18
hàng dọc từ phải sang trái, ở mặt sau tấm bia cũng trang trí hoa văn thành một
khung bao quanh bia như mặt trước nhưng không có chữ và ở bên dưới thay dải hoa
sen bằng một dải cúc dây, ở hai đầu mút không có hai con nghê,
Ngày nay, tuy
ngôi chùa cũ không còn nữa, nhưng tấm bia này là một di tích quan trọng, minh
chứng cho sự hiện hữu của ngôi chùa ngày xưa, đồng thời đây cũng là một trong
những tấm bia cổ nhất ở Đà Nẵng, góp thêm tư liệu cho
việc nghiên cứu lịch sử địa phương.
Bộ Văn hóa -
Thông tin đã công nhận bia chùa Long Thủ là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm
1992.
*Đình
Tuý Loan, Đà Nẵng
Đình Tuý Loan hiện
ở tại thôn Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Được xây
dựng vào những năm cuối thế kỷ XVIII. Cũng như đình Nại Nam và Bồ Bản, đình Túy
Loan thờ Thành hoàng bổn xứ và các vị tiền hiền, hậu hiền của làng.
Ngày xưa, hàng
năm nhân dân tổ chức lễ tế Xuân vào 14 - 15 tháng 2 âm lịch và tế Thu vào 14 -
15 tháng 8 âm lịch tại đình. Hiện nay, đình Túy Loan là ngôi đình duy nhất còn
giữ được 15 sắc phong từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại.
Đình có diện
tích 110m, nằm trong khuôn viên rộng hơn 8.000m, thoáng đãng, hướng quay ra
sông, nhìn về thế núi, sát đường lớn, dưới bóng cây đa cổ thụ cành lá xum xuê.
Mái đình lợp ngói âm dương, tường xây bằng gạch, trên mái trang trí lưỡng long
chầu nguyệt, hai đầu mái đắp hình rồng uốn lượn được ghép bằng sành sứ. Trong
đình chia làm
3 gian, 2 chái,
phần hậu tẩm rộng 2,4m, dài 2,7m gồm 4 hàng cột bằng gỗ mít, mỗi hàng có 6 cột
cao từ 2,5 đến 4,5m. Kết cấu các vĩ kèo, cột theo kiểu “chồng rường giả thủ”.
Các giả thủ chạm khắc hình hoa lá cách điệu, chân giả thủ trang trí hình quả
bí. Hai đầu các thanh chính chạm đầu rồng, cột kèo ở hai đầu hồi chạm đầu rồng
và hoa văn mây cuộn, hoa cúc, hoa mẫu đơn... được thể hiện qua tài năng thợ Kim
Bồng, có giá trị nghệ thuật.
Trong kháng chiến
chống Pháp, đình Túy Loan là nơi nhân dân địa phương tập trung tổ chức biểu
tình, phối hợp cùng nhân dân hai làng Bồ Bản và Cẩm Toại kéo về huyện đường Hòa
Vang cướp chính quyền tháng 8 năm 1945.
Thời kỳ chống Mỹ
(1957 - 1959) chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm lấy đình Túy Loan làm nơi cải
huấn “tố cộng”, “diệt cộng” vì thế cũng là nơi diễn ra nhiều cuộc đấu tranh của
nhân dân địa phương chống Mỹ - Diệm.
Đình đã được Bộ
Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1999.
*Mộ
Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng
Lăng mộ danh
nhân Ông Ích Khiêm hiện tọa lạc tại nghĩa trang xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng. Ông Ích Khiêm, tự là Mục Chi. Ông sinh ngày 21
Quyết định số : .....147.
Ngày .10.... tháng 11... năm 2008..
tháng 12 năm Mậu Tý (1829) tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, huyện Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là làng Phong Lệ Bắc, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang. Ông
thi đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) và minh, chính trực, là một vị tướng
khẳng khái và mưu lược, làm quan dưới triều vua Tự Đức. Nổi tiếng là người
thông dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, xâm lược nước ta vào ông có công trong
việc cầm quân bảo vệ Đà Nẵng khi thực chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, ông đã lo
củng cố các đồn ngày 01 tháng 9 năm 1858. Thời kỳ này ông ở dưới quyền trại như
đồn Nhất ở đèo Hải Vân, đồn Liên Trì, Phong Lệ
và đắp lũy từ Hải Châu đến Phước Ninh...
Ông Ích Khiêm mất ngày 19 tháng 7 năm 1884 tại Bình Thuận. Con trai ông là
Ông Ích Thiện đã đưa thi hài ông về quê và mai táng tại làng Phong Lệ. Đến năm
Bảo Đại thứ 13 (1938) thi hài ông được cải táng về Gò Mô hiện nay.
Ngôi mộ ông được xây theo hình bát giác, có chiều dài từ cổng vào là 13,8m,
chiều rộng 6,1m, tường bao xung quanh mộ cao 0,72m. Nấm mộ có chiều dài 4,75m,
rộng 3,5m, cao 0,35m. Phía trước mộ có nhà bia, bên trong đặt một tấm bia bằng
đá cẩm thạch, cao 0,83m, rộng 0,54m được trang trí hình rồng, phụng và hoa lá.
Nội dung bia ghi: “Hoàng Triều - Hiển tổ Binh bộ tả thị lang, tấn phong Kiên
trung Nam linh mộ. Bảo Đại thập tam niên, tử nguyệt, kiết nhật”. Nghĩa là: “Triều
Nguyễn - ông cha chức là Tả thị lang Binh bộ, tước là Kiên trung Nam. Năm Bảo Đại
thứ 13, tháng 4 ngày tốt”.
Lăng mộ danh nhân Ông Ích Khiêm được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di
tích quốc gia năm 2001.
*Nghĩa trang Khuê Trung, Đà Nẵng
li Nghĩa trang Khuê Trung (còn gọi là Nghĩa trang Hòa Vang) - mộ lớn của
nghĩa sĩ lập tại Khuê Trung - Hòa Vang, theo sắc tứ vua ban để quy tụ hài cốt
tướng sĩ vị quốc vong thân trong cuộc kháng chiến chống quân Pháp xâm lược năm
1858. Hòa Vang Nghĩa trang đầu tiên được lập ở trang bò làng Nghỉ An (Phước Tường).
Khoảng năm 1920 Pháp mở sân bay Đà Nẵng, phải dời nghĩa trang về vườn Bá Khuê
Trung. Đến 1962, quân đội Mỹ mở rộng sân bay về phía Nam, lại phải dời nghĩa
trang đến chỗ hiện nay, khu vực Bình Hòa 1, phường Khuê Trung, quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng.
Nghĩa trang nằm quay mặt về hướng đông, được bài thiết theo mô hình tam
ban: chính diện và tả hữu. Ngay cổng vào chính diện có tấm bia bằng đá sa thạch
khắc 4 chữ Hán "Hòa Vang Nghĩa Trang" cùng với năm lập bia: Tự Đức Thập
Cửu Niên (1866); và hai trụ đá cao khoảng 2m ghi câu đối: "Âm triêm thập cốt
di truyền cổ Thạch cập tàn hồn tái kiến kim" (Vua ban nhặt cốt truyền dấu
cũ Giữ được tàn hồn lợi thấy nay).
Sau tấm bia là tượng đài Chiến sĩ bằng xi măng cao khoảng 3m. Trung tâm
nghĩa trang có một ngôi mộ lớn, trên bia xi măng cẩn hàng chữ tiền triều đại tướng
quy công mộ. Có người cho rằng đây là mộ của ông Nguyễn Trọng Ân tướng trấn giữa
Đồn Tuyên Hóa (phường Hòa Cường hiện nay). Lại có người nói đó là mộ ông Lê Đình
Lý, cũng là mộ tướng lĩnh tài ba dưới quyền chỉ huy của khâm sai đại thần Nguyễn
Tri Phương.
Phía cuối nghĩa trang nhìn từ ngoài vào là các am thờ các bản hương án dùng
cho việc cúng tế lễ. Hai bên tả hữu nghĩa trang có hơn 1000 ngôi mộ cần phân
ngày tháng Ngay sau lưng nghĩa trang là nhà thờ Tiền Hiền và miêu Bà. Hàng năm
đến ngày 16 tháng 3 âm lịch người dân Khuê Trung thiết lễ tế tiền hiền để tưởng
nhớ công đức hai vị tiền hiền Trần Kim Tương và Trần Kim Bảng, Nhà thờ làm theo
lối kiến trúc xưa, hình chữ quốc, trên dòn đồng có ghi năm trùng tu là Bảo Đại
thứ 16 (1941).
Nghĩa trang Khuê Trung được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích quốc
gia năm 1999.
“Nghĩa trong Phước Ninh, Đà Nẵng
Nghĩa trang Phước Ninh là nơi quy tụ thi hài các chiến sĩ và đồng bào Quảng
Nam - Đà Nẵng và các tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định chiến đấu ở mặt
trận Đà Nẵng đã hi sinh trong buổi đầu chống Pháp (1858-1860).
loa.
Trong chiến đấu việc mai táng chỉ tạm thời, qua sau này ông Nguyễn Quý
Linh, làm chức Sung chính thương biện Hải Phòng đã khởi xướng lập nên nghĩa
trang này. Nhân dân địa phương đã hưởng ứng nhiệt tình quy tập hơn 1.500 nấm mộ,
táng theo hướng đông nam tây - bắc, có tấm bia bằng đá sa thạch, cao 1,20m, rộng
0,8m ghi công ơn của các anh hùng liệt sĩ, ngoài ra còn có 2 ngôi mộ của hai vị
tướng. Chung quanh nghĩa trang xây
thành đất bao bọc.
Di tích này được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận
năm 1998.
*Thành Điện Hải, Đà Nẵng
Thành Điện Hải trước là đồn Điện Hải, xây dựng năm 1813 (Gia Long thứ 12) gần
cửa biển Đà Nẵng. Năm 1823 (Minh Mạng thứ 4) cho dời đồn Điện Hải vào bên trong
đất liền, trên một gò đất cao. Đốn được xây bằng gạch. Năm 1835 (Minh Mạng thứ
16) đồn đổi tên là thành Điện Hải
Năm 1840, Tham tri Bộ công Nguyễn Công Trứ vào xem xét hệ thống phòng thủ ở
Đà Nẵng, sau đó có đề nghị tăng cường phòng thủ các thành Điện Hải, An Hải
Năm 1847 (Thiệu Trị thứ 7), thành Điện Hải được mở rộng có chu vi 556m,
thành cao hơn 5m, chung quanh là hào sâu 3m. Thành có 2 cửa, một cửa mở về phía
Nam (cửa chính), một cửa mở về phía Đông. Trong thành có hành cung, có kỳ dài,
các cơ sở chứa lương thực, đạn dược, thuốc súng và được trang bị 30 ụ súng đại
bác cỡ lớn. Thành xây bằng gạch theo đề án thiết kế kiểu Vauban, hình vuông.
Hiện nay, di tích thành Điện Hải tọa lạc tại phương Thạch Thang, quận Hải
Châu. Tưởng thành phía Tây, Đông và các góc tương đối còn nguyên vẹn. Cửa thành
phía Nam đã mất và phía Bắc đã hư hại. Gần đây, di tích thành Điện Hải được
trùng tu, gia cố, phục hồi lại nguyên trạng
Thành Điện Hải là một dấu ấn ghi nhớ truyền thống đấu tranh chống Pháp của
nhân dân Đà Nẵng và nhân dân cả nước, quyết tâm giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo
vệ lãnh thổ. Đây cũng là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của
thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858 - 1860. Một tượng đài uy nghi của Tưởng
quân Nguyễn Tri Phương đã được dựng tại đây, để ghi nhớ một giai đoạn lịch sử
hào hùng của thành phố.
Thành Điẹn Hải đã được Bộ Văn Hóa
Thông Tin xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia năm 1998.