CLB HDV Đồng Hành Việt - Trao Trọn Niềm Tin!

Dịch trang

Người Đi Tìm Hình Của Nước - Chế Lan Viên

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Tài Liệu Thuyết Minh 5 Địa Điểm Du Lịch Ở Điện Bàn

 


5 địa điểm du lịch Điện Bàn (Quảng Nam)

 

Điện Bàn là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam. Cùng khám phá 5 địa điểm du lịch Điện Bàn hấp dẫn, đẹp, nổi tiếng.

 

Tổng quan về Điện Bàn

Điện Bàn là một huyện đồng bằng ven biển thuộc phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, nằm cách trung tâm thành phố Tam Kỳ 48km và cách thành phố Đà Nẵng 25km. Huyện Điện Bàn giáp Hòa Vang và thành phố Đà Nẵng ở phía Bắc, Duy Xuyên ở phía Nam, biển Đông và đô thị cổ Hội An ở phía Đông, cùng với huyện Đại Lộc ở phía Tây.

Mảnh đất này có lịch sử hình thành và phát triển liên quan chặt chẽ đến quá trình khai hoang và mở rộng đất của dân tộc Việt khi di cư về phía Nam. Qua nhiều thế kỷ, ranh giới đã trải qua nhiều thay đổi, nhưng tên gọi Điện Bàn vẫn được duy trì, mang theo những truyền thống văn hóa lịch sử và cách mạng tuyệt vời của dân tộc Việt Nam. Trong đó, Điện Bàn có các làng nghề nổi tiếng thu hút nhiều khách du lịch khi đến và du lịch Quảng Nam. Còn chần chờ gì

 

Làng đúc đồng Phước Kiều

Làng đúc đồng Phước KiềuLàng đúc đồng Phước Kiều

 

Thăm quan các làng nghề truyền thống là một trải nghiệm thú vị đối với nhiều du khách khi đến du lịch Quảng Nam. Trong số đó, làng đúc đồng Phước Kiều nổi tiếng là một trong những làng nghề truyền thống lâu đời tại Quảng Nam với sự tồn tại hơn 400 năm. Khi đến tham quan làng Phước Kiều, du khách không chỉ có cơ hội được chiêm ngưỡng các công đoạn đúc đồng từ đầu đến cuối mà còn có thể khám phá về văn hóa của người dân địa phương, mua sắm các sản phẩm đồng làm quà lưu niệm.

Biển Hà My

Biển Hà My Biển Hà My

Bãi biển Hà My không chỉ nổi tiếng là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam, mà còn được 1 tạp chí nổi tiếng của Mỹ bình chọn là 1 trong những bãi biển quyến rũ và đẹp nhất thế giới 2020. Nơi đây đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của người dân Điện Bàn nói chung. Du khách có thể tận hưởng bình minh khi dạo biển, mua hải sản tươi sống, tắm biển, lướt ván, chèo thuyền, tham gia các hoạt động như nhảy dù và bóng chuyền trên bờ. Bãi tắm ở Hà My với làn nước trong veo, ấm áp và an toàn nên thu hút đông đảo du khách đến tham quan và tắm biển vào các dịp hè nắng nóng.

Cơ sở chạm khắc gỗ Nguyễn Văn Tiếp

Cơ sở chạm khắc gỗ Nguyễn Văn TiếpCơ sở chạm khắc gỗ Nguyễn Văn Tiếp

Ông Nguyễn Văn Tiếp là hậu duệ thứ 5 của gia đình có truyền thống làm nghề mộc chạm khắc gỗ. Được biết, ông Tiếp đã tiếp thu và được dạy học nghề từ ông nội từ khi mới hơn mười tuổi. Trong những năm gặp khó khăn về kinh tế, ông luôn quan tâm đến việc khôi phục làng nghề của gia đình, quê hương và xây dựng sự nghiệp bền vững không chỉ cho ông nói riêng mà các công nhân yêu mến nghề mộc này nói chung. Vào đầu năm 1980, ông quyết định thành lập xưởng làm nghề mộc. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng ông vẫn cố gắng, kiên trì và đã vượt qua, duy trì ngành nghề truyền thống của gia đình đến tận ngày nay.

Cơ sở Gốm đỏ Lê Đức Hạ

Cơ sở Gốm đỏ Lê Đức HạCơ sở Gốm đỏ Lê Đức Hạ

 

Lê Đức Hạ là một nghệ nhân nổi tiếng ở Hội An, dành cả thanh xuân, cuộc đời làm việc với đất. Sau khi sống sót trở về từ chiến trường bom đạn ở Campuchia, ông tiếp tục theo nghề làm gốm. Mặc dù nghề gốm không còn được ưa chuộng mạnh mẽ như trước, nhưng ông vẫn kiên trì theo đuổi nghề này đến tận ngày nay.

Tháp Bằng An

Tháp Bằng AnTháp Bằng An

Tháp Bằng An ở Quảng Nam với bề dày lịch sử phong phú được truyền miệng qua nhiều câu chuyện dân gian. Một trong số những truyền thuyết dân gian nói rằng tháp này được xây dựng bởi cuộc thi của người Chăm và người Việt để thể hiện tài năng xây dựng tháp cao. Dù tháp của người Việt cao hơn nhưng lại bị sụp đổ nhanh chóng bởi gió bão, trong khi tháp gạch của người Chăm vẫn bền và tồn tại đến ngày nay. Du khách khi đến tham quan tháp Bằng An sẽ hiểu và biết nhiều hơn về văn hóa Chăm Pa qua các hình ảnh điêu khắc trên gạch, đá và gốm. Dù đã bị tàn phá trong quá khứ, nhưng nó vẫn mang giá trị lịch sử, văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng đặc sắc của người Chăm Pa lúc bấy giờ.

Tài Liệu Thuyết Minh Làng Rau Trà Quế

 


Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch

Làng Rau Trà Quế

Làng rau Trà Quế thuộc làng Trà Quế, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nơi đây có khí hậu mát mẻ, dễ chịu quanh năm, rất thích hợp cho các hoạt động vui chơi, khám phá.

Theo người dân nơi đây kể lại, làng rau Trà Quế Hội An trước kia có tên là Nhự Quế, trồng các loại rau có mùi hương như cây quế. Đến thế kỉ 18, có một vị vua triều Nguyễn ghé qua, nghe đến loại rau lạ có vị cay nồng như quế, mùi thơm dễ chịu như hoa trà cho nên đã đổi tên làng thành Trà Quế.

 

Làng rau Trà Quế trước kia có tên là Nhự Quế, trồng các loại rau có mùi thơm như cây quế (Nguồn: Sưu tầm) 

Làng rau Trà Quế Hội An hiện tại vẫn còn duy trì phương pháp trồng rau hữu cơ từ xa xưa. Để xứng với tên vua triều Nguyễn ban tặng, làng rau Trà Quế chỉ trồng các loại rau gia vị như hành, húng, tía tô, ngò… Cách thức chăm sóc rau xanh ở đây cũng rất tỉ mỉ. Nước tưới rau là nguồn nước sạch trong lòng đất và được bón bởi lượng rong vớt từ đầm. Đó cũng chính là nguyên nhân khiến rau ở đây luôn xanh tốt. 

Làng nghề được hình thành từ thế kỷ XVI, nằm cách khu phố cổ Hội An 3km về hướng Đông Bắc. Với nét đặc thù của một đảo sông gần biển, được bao bọc bởi sông Cổ Cò và đầm Trà Quế, nơi đây có khí hậu ôn hòa, thổ nhưỡng tốt, tạo điều kiện thuận lợi để người dân sáng tạo và phát triển nghề trồng rau theo phương thức hữu cơ lâu đời. Hiện nay, làng Trà Quế có 202 hộ dân tham gia hoạt động trồng rau (với 326 lao động trực tiếp) trên diện tích 18ha đất canh tác, mang lại nguồn thu nhập ổn định. Tháng 4/2022, nghề trồng rau tại Trà Quế đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, thuộc loại hình tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống.

Tại làng Trà Quế, các di tích mang tính lịch sử như: giếng đá Chăm, miếu Thổ thần, miếu Ngũ hành, mộ ông Nguyễn Văn Điển… hay Lễ cúng Cầu Bông cùng các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, văn hóa ẩm thực đang được bảo tồn và phát huy một cách hiệu quả, là minh chứng cho quá trình phát triển lâu đời của làng.

Hoạt động du lịch tại làng rau Trà Quế bắt đầu nổi lên từ năm 2003 với tour trải nghiệm “Một ngày làm nông dân làng rau Trà Quế”. Du khách được hóa thân thành những nông dân thực thụ với dép lê, nón lá cùng bà con Trà Quế tự tay cuốc đất, trồng rau, bón phân, bắt sâu, tưới nước cho rau... Sau những giờ lao động, du khách được thưởng thức một ly nước é mát lạnh, ngâm chân bằng nước thảo mộc, cùng người dân nấu và thưởng thức các món đặc sản ăn kèm với các loại rau xanh của làng như bánh đập, bánh vạc, hến trộn, tôm hữu, cao lầu, mì Quảng… Từ đó đến nay, tiếng lành đồn xa, lượng du khách đến tham quan làng rau Trà Quế ngày càng tăng, đặc biệt là du khách nước ngoài thích khám phá, trải nghiệm văn hóa Việt Nam.

Để đẩy mạnh du lịch tại làng rau Trà Quế, thành phố Hội An đã tiến hành các cuộc điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động và xây dựng kế hoạch khai thác tốt hơn lợi thế của làng rau, tạo không gian sinh thái phù hợp với xu hướng du lịch cộng đồng, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao ý thức cũng như vai trò của người dân trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ cảnh quan làng rau. Ngoài các hoạt động tham quan làng rau, giờ đây du khách có thể lựa chọn lưu trú tại các homestay để cùng ăn, cùng ở và cùng lao động với người dân; tham gia tour thưởng thức cà phê sáng “Bình minh trên làng rau”, “Một ngày làm nông dân Trà Quế”, “Khám phá các làng nghề truyền thống Hội An”, “Lớp học nấu ăn và thưởng thức đặc sản địa phương”, “Trải nghiệm thực tế” dành cho học sinh, sinh viên…

Nhằm tạo thuận tiện cho các đoàn khách, đặc biệt là vào mùa cao điểm, thành phố Hội An đã đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, bãi đỗ xe, đường giao thông trong thôn (bê tông hóa 100%), xây dựng khu vực vệ sinh hiện đại, sạch sẽ. Tất cả các đường nội bộ trong vườn rau đều được lát gạch nên du khách tham quan làng rau bằng xe đạp rất dễ dàng. Chính quyền đã vận động người dân địa phương không sử dụng phương tiện cơ giới trên các tuyến đường lót gạch. Ven các tuyến đường gạch nội bộ trong làng được trồng hoa, đu đủ, các loài cây bụi (xuyến chi), hoa mào gà, hoa bướm... Điều thú vị là các tuyến đường này đều được đặt tên bằng các loại rau địa phương như đường mồng tơi, đường đu đủ, đường húng quế, đường hoa cải...

Thời gian qua, tỉnh Quảng Nam luôn xác định phát triển du lịch xanh là chiến lược phát triển bền vững, hướng tới định vị thương hiệu du lịch của địa phương. Từ năm 2019, Quảng Nam đã bắt đầu đưa ra thông điệp nhất quán về phát triển du lịch xanh và trở thành địa phương đầu tiên của cả nước ban hành Bộ tiêu chí du lịch xanh cấp tỉnh. Tính đến cuối năm 2024, tỉnh Quảng Nam đã cấp chứng nhận du lịch xanh cho 32 đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

 Giải thưởng Làng du lịch tốt nhất do Tổ chức Du lịch Liên Hợp quốc dành cho làng rau Trà Quế là sự ghi nhận những nỗ lực trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa bản địa; nghề thủ công truyền thống; nếp sống, nếp sinh hoạt lâu đời; sự sáng tạo và chú trọng phát triển các loại hình du lịch - dịch vụ mang tính cộng đồng, bền vững. Giải thưởng danh giá này là cơ hội để Trà Quế vững tin bước ra thế giới và từng bước trở thành điểm sáng của Du lịch Quảng Nam nói riêng, Du lịch Việt Nam nói chung. 

Tài Liệu Thuyết Minh Làng Đá Mỹ Nghệ Non Nước

 


Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch

Làng đá mỹ nghệ non nước

Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng là làng nghề truyền thống có tuổi đời lâu nhất Đà Nẵng. Sống qua hơn 400 năm từ lúc bắt đầu hình thành, làng đá Non Nước ngày một phát triển và vươn tầm ra với Thế giới. Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn còn là một địa điểm du lịch nức tiếng đối với du khách mỗi khi ghé thăm Đà Nẵng. Đá Mỹ nghệ Phan Thiên xin giới thiệu đến các bạn bài Thuyết minh về Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng:

1. Lịch sử tổng quan Làng nghề đá

 Ngũ Hành Sơn là một danh thắng nổi tiếng của Thành phố Đà Nẵng và một khi du khách đã đến với Ngũ Hành Sơn chắc chắn không thể bỏ qua Làng đá Non Nước. Với cấu tạo là núi đá cẩm thạch, Ngũ Hành Sơn đã vô tình tạo ra nghề cho những người đầu tiên đi khai phá vùng đất này: nghề điêu khắc đá. Không hòa mình cùng với sự phát triển náo nhiệt của Đà Nẵng. Làng nghề đá nổi danh im ắng dưới chân núi quá đỗi truyền thống và bình lặng.

Vào khoảng thế kỷ XVII, đã có một truyền thống đá mỹ nghệ nằm dưới chân nút Ngũ Hành Sơn, người có công đầu khai sáng làng nghề nổi tiếng này là ông Huỳnh Bá Quát - vị cao tổ nhiều đời của quan Đô ngự sử Huỳnh Bá Chánh, Tán tương quân vụ Nghĩa hội Quảng Nam. Ông là một trong những người con trong một gia đình với truyền thống làm nghề chế tác các tượng đá nên Huỳnh Bá Quát có sự am hiểu tường tận chọn vân đá cũng như điêu khắc.

Nghề đục đẽo đá này phát triển khá nhanh đến nỗi dưới triều nhà Nguyễn, nhằm ngăn chặn việc khai thác đá quy mô làm mất đi danh thắng Ngũ Hành Sơn, các đời vua Gia Long, Minh Mạng và Tự Đức đều có sắc chỉ cấm cư dân làng Quán Khái khai thác đá làm thủ công điêu khắc bán ra ngoài tỉnh và xuất khẩu sang các nước khác, chỉ được phép khai thác đá làm bia mộ nhỏ lẻ cung cấp trong vùng. Quán Khái là tên làng dưới chân núi Non Nước, lúc đó thuộc huyện Hòa Vang, xứ Quảng Nam. Làng đá Non nước nằm trong Danh thắng Ngũ Hành Sơn - nhìn từ hướng đường ven biển Trường Sa. Vì vậy mà ngày nay làng nghề đá được người ta nhắc tới cái tên Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng. Du khách có thể dễ dàng tìm được Làng nghề tại dưới chân núi Thủy Sơn (danh thắng Ngũ Hành Sơn). Nay làng nghề tọa lạc tại địa chỉ 207 Huyền Trân Công Chúa, Hoà Hải, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.

Làng nghề đá ngày một vươn tới đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc. Tại đây, nghệ nhân không chỉ điêu khắc văn bia, tượng đài mà còn tạo tác các nhân vật lịch sử, các danh nhân văn hóa, hay những biểu tượng mang tính tín ngưỡng của mỗi dân tộc, tín ngưỡng tâm linh tại các chùa, đền, lăng, miếu,… Sản phẩm của làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn đã trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Không chỉ đẹp về nghệ thuật, Làng nghề còn có giá trị to lớn về lịch sử truyền thống nước ta.

2. Nét đặc biệt vốn dĩ chỉ Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng mới có

Mỗi năm vào ngày mùng 6 âm lịch, Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn tổ chức ngày giỗ tổ để tưởng nhớ đến người sáng lập ra tên tuổi làng nghề cũng như các thế hệ nghệ nhân đi trước. Đây cũng là dịp để các gia đình nghệ nhân, các thợ điêu khắc cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh hay cả khách du lịch đến tại Đà Nẵng có cơ hội tìm hiểu về truyền thống làng nghề, cùng trao đổi những kiến thức về mỹ nghệ và những tinh hoa của làng nghề đá.

 

Đã 400 năm tuổi nghề, Làng đá trải qua bao nhiêu thăng trầm để đến được với hôm nay chính là những là những cống hiến không ngừng nghỉ của bao thế hệ nghệ nhân. Đi theo dòng chảy thời gian, đã có không ít các làng nghề truyền thống dần mai một, thế nhưng Làng nghề đá Non Nước vẫn nguyên vẹn và luôn không ngừng phát triển. Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng bây giờ không chỉ là làng làm nghề của những nghệ nhân, mà còn Làng đá có vườn tượng – nơi trưng bày toàn bộ sản phẩm, toàn bộ tinh hoa đến từ đôi tay của người Làng đá. Đến với khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, du khách sẽ gặp ngay hai bên đường Huyền Trân Công Chúa và Lê Văn Hiến những gian hàng kề cạnh nhau, trưng bày rất nhiều những sản phẩm bằng đá có qui mô lớn. Một vài gian hàng đá đã biết tận dụng cảnh quan tự nhiên để tạo nên một không gian vườn tượng vừa dung dị vừa đầy sức hấp dẫn.

Làng đá Non Nước là nơi tham quan khó lòng bỏ qua của rất nhiều du khách mỗi khi đến du lịch Đà Nẵng. Khung cảnh ở đây qủa không hổ danh là danh thắng, được thiên nhiên dành tặng cho cảnh sắc yên bình, thoáng mát và trong lành khiến cho du khách không chỉ mãi trải nghiệm, khám phá những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc kỳ công mà còn có thể thả mình vào không gian đầy thư giãn. Giữa sự náo nhiệt, ồn ào và vội vã của thành phố, Làng nghề vẫn giữ cho mình một khoảng lặng khiến ai ghé đến cũng khó có thể rời đi ngay.

 

3. Làng đá Non nước Ngũ Hành Sơn – nơi tuyệt tác mang tâm hồn của nghệ nhân

 

Đến thăm Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng, du khách không khỏi ngạc nhiên về tính đa dạng của các loại sản phẩm được chạm trổ hoa văn rất đẹp. Khách tham quan từ nhiều nước đến đây đều ngưỡng mộ tài năng của các nghệ nhân điêu khắc và những sản phẩm độc đáo sáng tạo của họ.  Không những bằng cả kinh nghiệm, tay nghề chuyên sâu, họ còn thổi hồn vào những tuyệt tác văn hóa này, đánh thức những phiến đá vô tri để tạo nên những tác phẩm đầy vẻ hoài niệm. Mỗi tác phẩm điêu khắc đều chứa một ý nghĩa lịch sử, một nét văn hóa riêng. Mỗi tác phẩm đều là sự kỳ công đến từng chi tiết. Đến tham quan Làng nghề bạn sẽ được tận mắt nhìn thấy những sản phẩm đá được đã tạo ra cầu kỳ và cẩn thận như thế nào, để hiểu được những cái khó cái khổ cũng như nhiệt huyết và tình yêu nghề của nghệ nhân tạo ra chúng.

 Làng đá Non Nước đã sản sinh ra rất nhiều nghệ nhân thành danh và cả các thế hệ gia đình của họ cũng được truyền thụ nghề đá và được học hỏi rất bài bản để đến với nghề.  Nghệ nhân điêu khắc vốn dĩ có tâm hồn như nghệ sĩ, bay bổng và tài hoa. Từng sản phẩm được làm ra đều là thành quả lao động công phu của những nghệ nhân tài hoa làng nghề. Nhìn những nét chạm khắc vô cùng tỉ mỉ trên các tác phẩm, có thể cảm nhận được tình yêu nghề của họ dành cho những bức tượng là vô cùng lớn lao. Qua nhiều thế hệ, Làng đá Non Nước giờ đây vẫn luôn được gìn giữ và phát huy nét đẹp của một làng nghề truyền thống của Việt Nam.

 

4. Đá Non Nước – món quà lưu niệm ý nghĩa từ Làng nghề

 

Tượng đá – sự kết tinh từ cuộc sống và văn hóa tâm linh. Không chỉ làm sản phẩm trưng bày mà mỗi tượng đá đều có ý nghĩa phong thủy, ý nghĩa tâm linh riêng của nó. Mỗi ý nghĩa của mỗi tượng đá đều không giống nhau tùy vào màu sắc, kích cỡ và hình dạng của nó. Cc tượng hay vật phẩm bằng đá thường sẽ có ý nghĩa phong thủy tốt nhất trong tất cả các chất liệu. Sản phẩm làm từ nguyên vật liệu tự nhiên sẽ tồn tại lâu và có nghĩa lâu dài đối với gia chủ. 

Các sản phẩm đặc biệt được khách du lịch quan tâm nhất và thường mua về làm quà lưu niệm phải kể đến là các vòng đá, vòng ngọc, tượng đá nhỏ, các tượng đá tỳ hưu, sư tử nhỏ được gắn làm móc khóa hay dây chuyền, nhẫn, chuỗi hạt bằng đá bích vân xanh đẹp mắt, bằng đá cẩm thạch hồng hoặc thủy mặc…, những tượng đá đại bàng sải rộng cánh… Những món quà lưu niệm này thường có giá dao động từ vài chục đến vài trăm nghìn đồng Việt Nam. 

Lượng du khách đến với khu danh thắng Ngũ Hành Sơn ngày càng nhiều và mang tới những yêu cầu khác nhau về phong cách tượng đá các loại, cũng như hình tượng các phiến đá cũng hay đổi theo thời đại. Điều này buộc những người nghệ nhân không những khéo léo về tay nghề mà còn phải có trình độ thẩm mỹ và việc chăm chỉ cập nhật xu hướng thiết kế hiện đại. Hầu hết du khách đều bị thu hút từ những sản phẩm đá nhỏ gọn hoặc đồ trang sức đá, dễ mang đi. Bạn sẽ dễ dàng chọn được những món quà lưu niệm có giá trị nghệ thuật cao, được các nghệ nhân tài hoa nơi đây mài dũa rất tỉ mỉ. Lớp bóng mịn của đá cẩm thạch chỉ có ở Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng điểm thu hút đối với du khách, từng cây trâm cài tóc với đủ loại kích thước và hình dáng khác nhau gợi lại những hình ảnh cung tần phi nữ ngày xưa, hay những chiếc vòng tay nhỏ được chạm khắc tinh tế. Mọi sản phẩm đá độc đáo bạn đều có thể tìm thấy tại Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng.

 

5. Làng đá - Điểm giao nhau giữa các nền văn hóa dân tộc

Do ảnh hưởng của văn hóa Champa từ Thánh Địa Mỹ Sơn. Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn như một điểm giao thoa giữa nền văn hóa Việt Cồ và văn hóa Champa. Điểm thu hút đặc biệt này đã tạp nên một Làng nghề đá với những sự sáng tạo vượt bật đến từ nghệ thuật điêu khắc. Các sản phẩm ở Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng rất đa dạng với nhiều hình thù từ cổ xưa đến hiện đại như những đồ dùng trong nhà giản dị hay những linh vật như Long, Ly, Quy, Phượng. Ngoài ra, sản phẩm ở đây còn có tượng khắc các vị Phật, Bồ Tát; các bức tượng khắc họa văn hóa Chăm; cả những con vật đáng yêu, đồ lưu niệm nhỏ cho du khách ở các nơi khác ghé thăm… Tất cả đều được chạm khắc rất khéo léo và vô cùng tinh xảo.

Hiện nay Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng ngày một khẳng định vị thế, vươn tầm ra khỏi biên giới quốc gia. Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, là nơi gìn giữ bản sắc truyền thống của một vùng miền lâu đời. Với sức hút đặc biệt cùng với khả năng tạo ra nguồn kinh tế lớn,  UBND thành phố Đà Nẵng đã có quyết định mở rộng Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng và xây dựng khu phố du lịch An Thượng nhằm tạo ra không gian thoáng hơn cho Làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước - Ngũ Hành Sơn, đồng thời đổi mới để thu hút nhiều hơn khách du lịch tựu về khi ghé thăm Đà Nẵng.

 

6. Bạn cần lưu ý gì khi dừng chân tại Làng nghề đá?

 

Ấn tượng đầu tiên khi đặt chân đến làng nghề là những tiếng đục đẽo lớp chồng lớp, tiếng máy xẻ đá chát chúa xé tan bầu không khí. Con đường dẫn vào làng đá khá chật chội nên có thể thích hợp để bạn di chuyển bằng xe máy. Vì là làng nghề đá nên việc khói bụi, vụn đá vãi ra đường bộ là không thể tránh khỏi, bạn nên che chắn kĩ cho mình khi vào làng đá thăm quan, nhất vào thời điểm du lịch rơi vào mùa nóng của Thành phố Đà Nẵng.

 

Làng đá Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng đã được cộng nhận là Làng nghề vươn tầm Thế giới, tại sao bạn không thử đặt chân đến đây một lần để tự mình cảm nhận và chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật đầy kỳ công này?

 

Tài Liệu Thuyết Minh Di Tích Lịch Sử Ở Đà Nẵng

 

Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch

DI TÍCH LỊCH SỬ

Nam Trung Bộ đã ghi lại biết bao sự tích anh hùng là một vùng đất đã trải qua bao mất mát cho độc lập dân tộc, nơi có rất nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nơi đây đã tạo nên khí phách kiên cường, ý chí cách mạng, truyền thống hiếu học...

*Đình Quá Giáng, Đà Nẵng

Đình Quá Giáng tọa lạc ở thôn Quá Giáng, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Tại đây thờ Quan Thánh và các vị tiền hiền của bốn tộc Đinh, Lê, Trần, Nguyễn - những người có công theo Chúa Nguyễn vào Nam khai phá đất đai lập nên làng Quá Giáng xưa bao gồm vùng Quá Giáng, Giáng Nam, Trà Kiểm, An Lưu và xóm Cồn Mong.,,Nhà thờ được chia làm hai phần: phần tiền đường và phần chính điện. Nối nhà tiền đường và chính điện là hai dãy hành lang có mái che tạo nên một kiến trúc khép kín kiểu chữ nhật.

Tiền đường xây theo lối chồng rường giả thủ, chân thủ đều trang trí hình quả bí, phía trên được trang trí hình đài hoa sen.Hai dãy cột chính mỗi dãy bốn cột cao 5m chống đỡ hai vì kèo và hai dãy cột quân thấp hơn chống đỡ hai mái phụ Trên các thanh xà, kèo đều được trang trí cỏ cây, hoa lá muông thú, bát bửu và các đường trang trí khác. Đuôi kèo được chạm khắc hình tượng cá chép hoá rồng. Phần nhà thờ chính được xây dựng theo lối kéo tam đoạn (kéo chuyền) với ba gian bốn mái. Bốn cột chính cao 5m cùng 8 cột quân cao 3m và 16 cột con chống đỡ vì kèo. Đầu các thanh chính được khắc hình đầu rồng, giữa được trang trí chữ thọ và các đường nét trang trí hoa lá khác. Bộ cửa thượng song hạ bản cùng với bộ mắt cửa thể hiện rõ phong cách kiến trúc của Hội An với bàn tay tài hoa khéo léo của người thợ làng Kim Bồng nổi tiếng. Mái nhà thờ lợp ngói âm dương với hình ảnh loạn phụng hòa minh trên nóc. Hai bên là hai con rồng ngoái đầu lại nhìn nhau. Các con vật trong “tứ linh” cũng được đưa lên mái trước của tiền đường. Hàng năm dân làng có hai kỳ Xuân Thu tế lễ vào các ngày 20 tháng 2 và 12 tháng 7 âm lịch để tưởng nhớ lại các vị tiền hiền đã mở mang vùng đất này. Đình Quá Giáng được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích quốc gia năm 2000.

 

“Đình Nại Nam, Đà Nẵng

Đình làng Nại Nam nay thuộc khối phố Nam Sơn, phường Hòa Cường, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Đình được xây dựng năm Ất Tỵ (1905) từ công sức đóng góp của dân địa phương, thơ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng. Đình ghi đậm dấu ấn văn hóa thời Nguyễn, mái lợp ngói âm dương, tường gạch, trên mái đình là lưỡng long chầu nguyệt, loan phụng hòa vinh, dơi ngậm đào, thể hiện qua nghệ thuật đắp ghép sành sứ công phu, đẹp mắt. Bên trong chia làm 3 gian, 2 chái, phần chính diện dài 11,7m,rộng 7,9m, hậu tẩm rộng 3,9m, dài 4,1m. Có 4 hàng cột bằng gỗ mít, gồm 20 cột, có chiều cao từ 2,5m - 4,5m. Kết cấu kèo theo “chồng rường - giả thủ”. Phần đầu hồi chạm trổ khéo léo và tinh xảo qua bàn tay tài hoa của thợ chạm Kim Bồng (Hội An), thể hiện các đề tài: cá chép hóa long, bát bảo đạo nho, cùng các họa tiết hoa văn cây cỏ, hoa lá. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình là cơ sở, địa điểm để hoạt động cách mạng, có nhiều sự kiện lịch sử diễn ra ở đây như lễ kết nạp đảng viên, triển khai lực lượng chính trị và quân sự đánh vào thành phố, nhiều người con ưu tú của địa phương đã sống, chiến đấu và hy sinh anh dũng tại đình. Di tích đình Nại Nam, ngoài giá trị của một di tích kiến trúc - nghệ thuật còn là một trong những đình làng cổ tiêu biểu còn lại khá nguyên vẹn trong nội thành Đà Nẵng. Đình làng Nại Nam được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích quốc gia năm 1999.

 

*Đình Hải Châu, Đà Nẵng

Đình làng Hải Châu nằm trên đường Phan Chu Trinh, thuộc Tổ 6, phường Hải Châu 1, thành phố Đà Nẵng. Phía trước đình Hải Châu có hồ nước lớn ở giữa sừng sững hòn non bộ rợp bóng cây bồ đề trên dưới trăm tuổi Phía trước đình Hai Châu có hồ nước lớn, ở giữa sừng Trên cổng Tam Quan vẫn còn rõ tên Hải Châu Chánh Xã bằng chữ Hán. Qua khoảng sân rộng là một quần thể kiến trúc chính gồm: Đình Hải Châu, Nhà thờ Tiền Hiền, nằm giữa hai nhà thờ tộc thành hình chữ “nhất”. Nhà thờ bên trái của tộc Nguyễn Văn mới tách ra, còn nhà thờ bên phải gọi là Kinh An Tự thờ chung 42 bài vị của 42 tộc họ, 42 tộc họ này đều từ thôn Hiếu Hiền, xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa, theo vua Lê Thánh Tôn vào Nam từ năm Tân Mão (1471). Vua Lê đã lập ra ấp Hàn Giang và các tộc họ ấy đã quần tụ lại thành làng Hải Châu (theo tên xã cũ ở Thanh Hóa, bao gồm phần nội thành Đà Nẵng hiện nay), được triều Nguyễn phong sắc phong “chánh xã”. Hơn 500 năm qua các tộc họ đầu tiên ấy đã đặt nền móng và không ngừng đóng góp công sức cho sự hình thành thành phố Đà Nẵng hiện nay.

Trên gác chuông đình Hải Châu hiện còn 1 chiếc chuông đồng, thân chuông có bài minh đắp nổi bằng chữ Hán. Tạm dịch: năm Minh Mạng thứ 5 (Giáp Thân - 1824) trùng tu chùa. Năm sau (1825) vua ban chỉ sắc tứ cho mang tên “Chùa Phước Hải”. Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn - 1832) nhằm ngày tốt, xã Hải Châu Chánh Đồng tạo lập chuông này. Các nhà sử học xác định Đình Hai Châu là Chùa Phước Hải, nơi Chúa Nguyễn Phúc Chu hăm Kỷ Hợi - 1719 đã vào Quảng Nam và nghỉ lại, sau đó lần đã lập bàn thờ ông tại đây.

Đình làng Hải Châu được Bộ Văn hóa - Thông tin công hận là Di tích lịch sử quốc gia vào năm 2001.

 

*Đình Bồ Bản, Đà Nẵng

Đình Bồ Bản hiện ở tại thôn Bồ Bản, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang. Đình được xây dựng vào những năm đầu của thế kỷ XIX bằng tranh tre tại gò miếu Tam Vị. Năm 1852, đình được dời về trung tâm làng. Tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương. Đình chia làm 3 gian, 2 chái, dài 14,5m, rộng 9,7m. Có 36 cột bằng gỗ mít và kiền kiền, kết cấu kèo, cột cũng được thể hiện theo lối “chồng rường - giả thu”, đầu các xà chính chạm đầu rồng, các vì kèo chạm nai, trúc, tùng, lan. Ngoài ra, còn có các loài chim, thú như chim sẻ, khi (hầu) và các họa tiết hoa văn, được khắc chạm tinh tế, khéo léo và tỉ mỉ, tạo nên những tác phẩm điêu khắc độc đáo, giàu tinh nghệ thuật, có giá trị khoa học. Đình Bồ Bản lập thờ Thành hoàng, các vị tiền hiền của làng và là nơi sinh hoạt lễ hội hàng năm.Tháng 8 năm 1945, chuẩn bị giành chính quyền, nhân dân địa phương đã tập trung về đình để tổ chức biểu tình, buộc bọn quan lại, lý hương giao ăn triện, sổ sách, Đình Bồ Bản là nơi đặt hòm phiếu bầu cử Quốc hội tại địa phương. Đình còn là nơi hội họp ra chủ trương diệt ác, cướp súng đạn và các kho tàng của địch ở huyện Hòa Vang trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm. Đình Bồ Bản đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1999.

 

*Di tích K20, Đà Nẵng

Khu Di tích lịch sử cách mạng K20 là tên gọi do Quận ủy quận III đặt để làm mật hiệu liên lạc thời chống Mỹ, Khu di tích nằm trên địa bàn Khối phố Đa Mặn, phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn; trên tuyến đường từ trung tâm thành phố đến khu di tích Ngũ Hành Sơn và Đô thị cổ Hội An.

K20 là một trong những căn cứ cách mạng quan trọng của thành phố Đà Nẵng trong chiến tranh; rộng 3km, với hơn 3 nghìn dân. Sau khi chiếm giữ Đà Nẵng năm 1954, Mỹ ngụy đã xây dựng nhiều đồn bót quanh Đa Mặn, hình thành bộ máy kìm kẹp nhân dân, ngăn cản lực lượng cách mạng ngay từ bên ngoài vào thành phố. Chính trong điều kiện đó chủ nghĩa anh hùng cách của quân dân Đa Mặn đã được phát huy cao độ, trở thành bãi học quý báu cho phong cách mạng địa phương. Trong đó, nhiều sự kiện, cột mốc lịch sử vẫn còn được lưu truyền sinh động trong nhân dân và đi vào sử sách. Năm 1962, nơi đây đã tổ chức được lực lượng du kích mạnh, làm nhiệm vụ “diệt ác phá kim”; đến năm 1964 phát triển tới 27 đội viên, tiêu diệt 12 tên ác ôn, phá hủy nhiều ấp chiến lược... Hầu hết các gia đình ở Đa Mặn thời đó đều có hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ.

Nhà truyền thống được xây dựng khang trang, hiện đang lưu giữ tương đối đầy đủ các hiện vật của một thời đấu tranh ngoan cường, bất khuất. Những địa chỉ đỏ, hầm bí mật, chiến hào xưa đang được đưa vào các chương trình tham quan, giáo dục truyền thống. Mỗi hiện vật, mỗi sự tích đều gắn liền những con người có thật, trong đó có người đang còn sống, đang xây dựng cuộc sống mới ngay tại mảnh đất lịch sử này.

 

“Bia chùa An Long (Long Thủ), Đà Nẵng

Bia chùa Long Thủ được dựng trong khuôn viên chùa Long Thủ nay đổi tên là chùa An Long. Chùa tọa lạc trênmột khu đất nằm phía sau Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thuộc địa bàn phường Bình Hiên, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bia chùa Long Thủ được dựng vào năm Thịnh Đức thứ 5, triều vua Lê Thần Tông (1658). Bia do ông Lê Gia Phước, pháp danh Pháp Giám, người làng Hải Châu viết. Nội dung bia nói về nguyên nhân xây dựng và tên gọi của chùa Long Thủ, tên họ những người đã đông góp tiền của, đất đai để xây dựng chùa cùng danh sách những mảnh đất được cúng.

Theo nội dung bia thì ngày xưa ở vùng Nại Hiên, đức Phật thường cứu giúp những người bị hoạn nạn và hiện thân với đầu rồng, vì vậy các tín đồ Phật từ thường đến đây để cầu nguyện. Ông Trần Hữu Lễ là người trong làng đã dâng cúng một khu vườn để xây dựng ngôi chùa làm nơi thờ Phật, các tín đồ trong vùng đã đóng góp tiền của, ruộng đất để xây dựng ngôi chùa và đúc chuông, tạc tượng vào năm 1653 Theo lời kể của một số người gia ở địa phương thì trước kia chùa có hai chiếc chuông lớn và nhiều tượng đẹp nhưng đã mất, và ngôi chùa cũng đã bị phá hủy trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh. Còn tấm bia bị chôn vùi dưới đất. mãi đến năm 1903 mới tìm thấy và dựng lại bên cạnh cổng chùa. Năm 1961 giáo hội và tín đồ trong vùng đã xây dựng lại ngôi chùa như ngày nay theo kiểu dáng như những ngôi chùa cùng thời ở miền Nam, về mặt kiến trúc không có gì đại sắc ngoại trừ cổng tam quan tương đối cũ (1903).

Bia được làm bằng sa thạch màu xám, kích thước 1,25n x 1,20m x 0,21m hình thang cân đỉnh tròn. Bia được điề khắc cả hai mặt. Ở mặt trước có một bài khắc chữ Hán đưa đóng khung bằng các dải hoa văn trang trí, trên trán bia,ở giữa chạm hình mặt trời có mây vờn quanh, hai bên trang trí hoa văn hình hoa dây buông thõng xuống, bên dưới là nghề. Bài khắc gồm có 368 chữ Hán, 6 chữ lớn khắc theo một dài hoa sen, ở hai đầu mút phía dưới có hình hai con đường ngang ở trên, đóng khung riêng từng chữ: “Lập Thạch Bi Thủ Long Tự”, ở hai đầu có hai chữ Vạn nhỏ hơn, còn 360 chữ nhỏ ở giữa lòng bia được khắc lõm theo 18 hàng dọc từ phải sang trái, ở mặt sau tấm bia cũng trang trí hoa văn thành một khung bao quanh bia như mặt trước nhưng không có chữ và ở bên dưới thay dải hoa sen bằng một dải cúc dây, ở hai đầu mút không có hai con nghê,

Ngày nay, tuy ngôi chùa cũ không còn nữa, nhưng tấm bia này là một di tích quan trọng, minh chứng cho sự hiện hữu của ngôi chùa ngày xưa, đồng thời đây cũng là một trong những tấm bia cổ nhất ở Đà Nẵng, góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương.

Bộ Văn hóa - Thông tin đã công nhận bia chùa Long Thủ là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992.

 

*Đình Tuý Loan, Đà Nẵng

Đình Tuý Loan hiện ở tại thôn Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Được xây dựng vào những năm cuối thế kỷ XVIII. Cũng như đình Nại Nam và Bồ Bản, đình Túy Loan thờ Thành hoàng bổn xứ và các vị tiền hiền, hậu hiền của làng.

Ngày xưa, hàng năm nhân dân tổ chức lễ tế Xuân vào 14 - 15 tháng 2 âm lịch và tế Thu vào 14 - 15 tháng 8 âm lịch tại đình. Hiện nay, đình Túy Loan là ngôi đình duy nhất còn giữ được 15 sắc phong từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại.

Đình có diện tích 110m, nằm trong khuôn viên rộng hơn 8.000m, thoáng đãng, hướng quay ra sông, nhìn về thế núi, sát đường lớn, dưới bóng cây đa cổ thụ cành lá xum xuê. Mái đình lợp ngói âm dương, tường xây bằng gạch, trên mái trang trí lưỡng long chầu nguyệt, hai đầu mái đắp hình rồng uốn lượn được ghép bằng sành sứ. Trong đình chia làm

3 gian, 2 chái, phần hậu tẩm rộng 2,4m, dài 2,7m gồm 4 hàng cột bằng gỗ mít, mỗi hàng có 6 cột cao từ 2,5 đến 4,5m. Kết cấu các vĩ kèo, cột theo kiểu “chồng rường giả thủ”. Các giả thủ chạm khắc hình hoa lá cách điệu, chân giả thủ trang trí hình quả bí. Hai đầu các thanh chính chạm đầu rồng, cột kèo ở hai đầu hồi chạm đầu rồng và hoa văn mây cuộn, hoa cúc, hoa mẫu đơn... được thể hiện qua tài năng thợ Kim Bồng, có giá trị nghệ thuật.

Trong kháng chiến chống Pháp, đình Túy Loan là nơi nhân dân địa phương tập trung tổ chức biểu tình, phối hợp cùng nhân dân hai làng Bồ Bản và Cẩm Toại kéo về huyện đường Hòa Vang cướp chính quyền tháng 8 năm 1945.

Thời kỳ chống Mỹ (1957 - 1959) chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm lấy đình Túy Loan làm nơi cải huấn “tố cộng”, “diệt cộng” vì thế cũng là nơi diễn ra nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân địa phương chống Mỹ - Diệm.

Đình đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1999.

 

*Mộ Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng

Lăng mộ danh nhân Ông Ích Khiêm hiện tọa lạc tại nghĩa trang xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Ông Ích Khiêm, tự là Mục Chi. Ông sinh ngày 21

Quyết định số : .....147.

Ngày .10.... tháng 11... năm 2008..

tháng 12 năm Mậu Tý (1829) tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là làng Phong Lệ Bắc, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang. Ông thi đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) và minh, chính trực, là một vị tướng khẳng khái và mưu lược, làm quan dưới triều vua Tự Đức. Nổi tiếng là người thông dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, xâm lược nước ta vào ông có công trong việc cầm quân bảo vệ Đà Nẵng khi thực chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, ông đã lo củng cố các đồn ngày 01 tháng 9 năm 1858. Thời kỳ này ông ở dưới quyền trại như đồn Nhất ở đèo Hải Vân, đồn Liên Trì, Phong Lệ

và đắp lũy từ Hải Châu đến Phước Ninh...

Ông Ích Khiêm mất ngày 19 tháng 7 năm 1884 tại Bình Thuận. Con trai ông là Ông Ích Thiện đã đưa thi hài ông về quê và mai táng tại làng Phong Lệ. Đến năm Bảo Đại thứ 13 (1938) thi hài ông được cải táng về Gò Mô hiện nay.

Ngôi mộ ông được xây theo hình bát giác, có chiều dài từ cổng vào là 13,8m, chiều rộng 6,1m, tường bao xung quanh mộ cao 0,72m. Nấm mộ có chiều dài 4,75m, rộng 3,5m, cao 0,35m. Phía trước mộ có nhà bia, bên trong đặt một tấm bia bằng đá cẩm thạch, cao 0,83m, rộng 0,54m được trang trí hình rồng, phụng và hoa lá. Nội dung bia ghi: “Hoàng Triều - Hiển tổ Binh bộ tả thị lang, tấn phong Kiên trung Nam linh mộ. Bảo Đại thập tam niên, tử nguyệt, kiết nhật”. Nghĩa là: “Triều Nguyễn - ông cha chức là Tả thị lang Binh bộ, tước là Kiên trung Nam. Năm Bảo Đại thứ 13, tháng 4 ngày tốt”.

Lăng mộ danh nhân Ông Ích Khiêm được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích quốc gia năm 2001.

 

*Nghĩa trang Khuê Trung, Đà Nẵng

li Nghĩa trang Khuê Trung (còn gọi là Nghĩa trang Hòa Vang) - mộ lớn của nghĩa sĩ lập tại Khuê Trung - Hòa Vang, theo sắc tứ vua ban để quy tụ hài cốt tướng sĩ vị quốc vong thân trong cuộc kháng chiến chống quân Pháp xâm lược năm 1858. Hòa Vang Nghĩa trang đầu tiên được lập ở trang bò làng Nghỉ An (Phước Tường). Khoảng năm 1920 Pháp mở sân bay Đà Nẵng, phải dời nghĩa trang về vườn Bá Khuê Trung. Đến 1962, quân đội Mỹ mở rộng sân bay về phía Nam, lại phải dời nghĩa trang đến chỗ hiện nay, khu vực Bình Hòa 1, phường Khuê Trung, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Nghĩa trang nằm quay mặt về hướng đông, được bài thiết theo mô hình tam ban: chính diện và tả hữu. Ngay cổng vào chính diện có tấm bia bằng đá sa thạch khắc 4 chữ Hán "Hòa Vang Nghĩa Trang" cùng với năm lập bia: Tự Đức Thập Cửu Niên (1866); và hai trụ đá cao khoảng 2m ghi câu đối: "Âm triêm thập cốt di truyền cổ Thạch cập tàn hồn tái kiến kim" (Vua ban nhặt cốt truyền dấu cũ Giữ được tàn hồn lợi thấy nay).

Sau tấm bia là tượng đài Chiến sĩ bằng xi măng cao khoảng 3m. Trung tâm nghĩa trang có một ngôi mộ lớn, trên bia xi măng cẩn hàng chữ tiền triều đại tướng quy công mộ. Có người cho rằng đây là mộ của ông Nguyễn Trọng Ân tướng trấn giữa Đồn Tuyên Hóa (phường Hòa Cường hiện nay). Lại có người nói đó là mộ ông Lê Đình Lý, cũng là mộ tướng lĩnh tài ba dưới quyền chỉ huy của khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương.

Phía cuối nghĩa trang nhìn từ ngoài vào là các am thờ các bản hương án dùng cho việc cúng tế lễ. Hai bên tả hữu nghĩa trang có hơn 1000 ngôi mộ cần phân ngày tháng Ngay sau lưng nghĩa trang là nhà thờ Tiền Hiền và miêu Bà. Hàng năm đến ngày 16 tháng 3 âm lịch người dân Khuê Trung thiết lễ tế tiền hiền để tưởng nhớ công đức hai vị tiền hiền Trần Kim Tương và Trần Kim Bảng, Nhà thờ làm theo lối kiến trúc xưa, hình chữ quốc, trên dòn đồng có ghi năm trùng tu là Bảo Đại thứ 16 (1941).

Nghĩa trang Khuê Trung được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích quốc gia năm 1999.

“Nghĩa trong Phước Ninh, Đà Nẵng

Nghĩa trang Phước Ninh là nơi quy tụ thi hài các chiến sĩ và đồng bào Quảng Nam - Đà Nẵng và các tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định chiến đấu ở mặt trận Đà Nẵng đã hi sinh trong buổi đầu chống Pháp (1858-1860).

loa.

Trong chiến đấu việc mai táng chỉ tạm thời, qua sau này ông Nguyễn Quý Linh, làm chức Sung chính thương biện Hải Phòng đã khởi xướng lập nên nghĩa trang này. Nhân dân địa phương đã hưởng ứng nhiệt tình quy tập hơn 1.500 nấm mộ, táng theo hướng đông nam tây - bắc, có tấm bia bằng đá sa thạch, cao 1,20m, rộng 0,8m ghi công ơn của các anh hùng liệt sĩ, ngoài ra còn có 2 ngôi mộ của hai vị tướng. Chung quanh nghĩa trang xây

thành đất bao bọc.

Di tích này được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận

năm 1998.

 

*Thành Điện Hải, Đà Nẵng

Thành Điện Hải trước là đồn Điện Hải, xây dựng năm 1813 (Gia Long thứ 12) gần cửa biển Đà Nẵng. Năm 1823 (Minh Mạng thứ 4) cho dời đồn Điện Hải vào bên trong đất liền, trên một gò đất cao. Đốn được xây bằng gạch. Năm 1835 (Minh Mạng thứ 16) đồn đổi tên là thành Điện Hải

Năm 1840, Tham tri Bộ công Nguyễn Công Trứ vào xem xét hệ thống phòng thủ ở Đà Nẵng, sau đó có đề nghị tăng cường phòng thủ các thành Điện Hải, An Hải

Năm 1847 (Thiệu Trị thứ 7), thành Điện Hải được mở rộng có chu vi 556m, thành cao hơn 5m, chung quanh là hào sâu 3m. Thành có 2 cửa, một cửa mở về phía Nam (cửa chính), một cửa mở về phía Đông. Trong thành có hành cung, có kỳ dài, các cơ sở chứa lương thực, đạn dược, thuốc súng và được trang bị 30 ụ súng đại bác cỡ lớn. Thành xây bằng gạch theo đề án thiết kế kiểu Vauban, hình vuông.

Hiện nay, di tích thành Điện Hải tọa lạc tại phương Thạch Thang, quận Hải Châu. Tưởng thành phía Tây, Đông và các góc tương đối còn nguyên vẹn. Cửa thành phía Nam đã mất và phía Bắc đã hư hại. Gần đây, di tích thành Điện Hải được trùng tu, gia cố, phục hồi lại nguyên trạng

Thành Điện Hải là một dấu ấn ghi nhớ truyền thống đấu tranh chống Pháp của nhân dân Đà Nẵng và nhân dân cả nước, quyết tâm giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ lãnh thổ. Đây cũng là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858 - 1860. Một tượng đài uy nghi của Tưởng quân Nguyễn Tri Phương đã được dựng tại đây, để ghi nhớ một giai đoạn lịch sử hào hùng của thành phố.

Thành Điẹn Hải đã được Bộ Văn  Hóa Thông Tin xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia năm 1998.

Tài Liệu Thuyết Minh Chùa Bồ

 


Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch

 1. Giới thiệu chùa Bồ Đề Đà Nẵng 

  • Địa chỉ: Đường Hoàng Thị Loan, phường Hòa Khánh, TP Đà Nẵng. 

Nhắc đến các địa điểm du lịch Đà Nẵng, chùa Thiền Viện Bồ Đề Đà Nẵng sẽ được nhiều du khách biết đến với vẻ đẹp nên thơ của thiên nhiên cùng với nét đẹp tâm linh, cổ kính của các công trình kiến trúc bên trong. 

Đây là ngôi chùa được Hòa Thượng Thích Minh Tuấn khai sơn và trụ trì. Ngôi chùa được tiến hành xây dựng từ năm 1995, vì vậy không gian bên trong chùa vẫn còn rất mới mẻ. Du khách đến tham quan có thể đi qua 3 khu vực chính: Bảo tháp 12 tầng, tượng Quan Âm Bồ Tát và khu vực chính diện.  Đây đều là những điểm du lịch tâm linh thanh tịnh, bạn vừa thư giãn, vừa có thể ghi lại những tấm hình check-in. 

 

2. Bảo tháp chùa Bồ Đề Đà Nẵng với hơn 10 ngàn tượng phật 

Một trong những điểm nhấn của Thiền Viện Bồ Đề Đà Nẵng đó là bảo tháp với hơn 10 ngàn tượng phật. Cụ thể, ngôi bảo tháp này được hoàn thiện vào năm 2010 với 12 tầng. Chiều cao của tháp lên tới 65m. Tòa tháp này thờ phụng 10 ngàn tượng Đức Phật A Di Đà. 

Ngôi chùa Bồ Đề Đà Nẵng mang đến cho du khách sự uy nghiêm, thiêng liêng khi đến tham quan tại đây. Bước vào bên trong, bạn như lạc vào một chốn thần thiên, khi tâm hồn được thư giãn, an yên với đất trời. 

 

3. Tượng phật cao nhất Việt Nam tại chùa Bồ Đề Đà Nẵng 

Tượng quan âm Bồ Tát tại chùa Bồ Đề Đà Nẵng là ngôi tượng phật cao nhất tại Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại. Trước tượng phật, nhà chùa thường tổ chức các khóa tu thu hút một lượng lớn Phật tử tham gia. 

Công trình được xây dựng từ những ngày đầu chùa Bồ Đề Đà Nẵng thành lập, dưới kinh phí tích lũy từ sự đóng góp của các tăng ni, phật tử, các mạnh thường quân. Dưới chân tượng phật, các khóa tu được diễn ra theo định kỳ, nơi các tăng ni, phật tử và du khách có thể nghe thuyết giảng về cuộc sống để tâm thanh tịnh, có được cuộc sống lành mạnh hơn. 

Tài Liệu Thuyết Minh Tượng Nhà Mồ Tây Nguyên

 


Tài Liệu Thuyết Minh

Mỗi khi có dịp đến với vùng đất Tây Nguyên, đâu đó chúng ta tình cờ nhìn thấy những tượng gỗ dân gian, tượng nhà mồ với nhiều sắc thái khác nhau được đặt ở cổng làng, khu vực nương rẫy hoặc ở khu nhà mồ của các dân tộc thiểu số bản địa. Tượng nhà mồ thường được thể hiện rất sinh động, mỗi bức đều có ý nghĩa riêng; trong đó, tượng nhà mồ của các dân tộc Bahnar, Jrai, Ê Đê… được tạc khá phong phú và đặc sắc.

Các dân tộc Ê Đê, Jrai, Bahnar ở Tây Nguyên xem tượng nhà mồ là “linh vật” gắn liền với lễ bỏ mả, một trong những lễ hội lớn nhất của bà con xưa kia. Không ai biết việc tạc tượng nhà mồ đã có từ bao giờ, chỉ biết mỗi khi làm lễ bỏ mả là phải tạc tượng, dựng quanh ngôi mộ trước khi diễn ra các nghi lễ khác.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên cũng được tạc rất phong phú và đa dạng. Từ những khúc gỗ vô tri, vô giác, các nghệ nhân đã tạo thành các loại hình dáng từ những con vật như: khỉ, đại bàng, chim công… đến hình tượng con người như: mẹ cõng con, ông già ngồi chống cằm, chàng trai múa trống…; thậm chí họ có thể tạc hình liên tưởng đến cuộc sống của người đã khuất trải qua.

Độc đáo, thú vị, đầy tính nghệ thuật và nhân văn nhưng người Ê Đê, Jrai, Bahnar và một số dân tộc ít người khác ở Tây Nguyên không xem tạc tượng là “nghề” mà chỉ thực hiện nó khi có việc cần. Bởi vậy, chỉ có những người đam mê, yêu thích tạc tượng mới dành thời gian tìm đến, học hỏi và tạc theo. Nghệ nhân tạc tượng Ksor Krôh (làng Mrông Ngó 1, xã Ia Ka, huyện Chư Păh) là một ví dụ điển hình. Ông cho hay: “Tôi biết tạc tượng từ khi còn nhỏ. Hồi đó, tôi lén lút người lớn nghỉ ăn cơm trưa để xem tạc tượng rồi thử tạc theo. Đến giờ, người Jrai Arap chúng tôi vẫn gìn giữ, duy trì việc tạc tượng nhà mồ. Trước khi bỏ mả phải có các loại tượng mới được”.

Tượng ông già ngồi chống cằm. Ảnh: A Dơng

Tượng ông già ngồi chống cằm. Ảnh: A Dơng

Trong khi các dân tộc Jrai và Bahnar xem tượng nhà mồ là linh vật hiển nhiên phải có khi làm lễ bỏ mả thì tượng nhà mồ người Ê Đê lại thể hiện sự phúc thọ, giàu sang, quyền quý của người đã khuất và gia đình làm lễ bỏ mả với cộng đồng. Bởi vậy, không phải ngôi mộ người Ê Đê nào khi làm lễ bỏ mả cũng được tạc, dựng tượng xung quanh.

Ông Êa Yôn (buôn Weo A, thị trấn Krông Năng, huyện Krông Năng, tỉnh Đak Lak) cho biết: “Người Ê Đê xưa kia sau khi trông nom mồ mả người chết 3-4 năm, có khi tới 5 năm mới làm lễ bỏ mả. Khi làm lễ bỏ mả, người chết dưới 60 tuổi thì chưa được tạc tượng nhà mồ (làm gơng kút, gơng klao). Những người già, giàu có, người có uy tín thì mới được tạc tượng nhà mồ khi làm lễ bỏ mả. Tổ chức lễ bỏ mả phải có trâu, bò, heo, gà… để cúng Yàng, thực hiện các nghi thức bỏ mả”.

Với dân tộc Xê Đăng ở tỉnh Kon Tum, MNông ở tỉnh Đak Nông hay Cơ Ho ở tỉnh Lâm Đồng…, bà con không tổ chức lễ bỏ mả cho nên việc tạc tượng và mục đích sử dụng nó cũng khác hơn. Chẳng hạn, với người MNông, người Cơ Ho, tượng gỗ thường tạc và đặt ở nương rẫy để xua đuổi thú rừng, bảo vệ mùa màng. Người Xê Đăng tạc tượng để trang trí hoặc để xua đuổi tà ma và tượng gỗ của người Xê Đăng được đặt ngay cổng làng. Dù sử dụng vào mục đích gì nhưng tượng gỗ dân gian của các dân tộc Cơ Ho, M'Nông hay Xê Đăng cũng rất phong phú, mỗi bức tượng đều có ý nghĩa riêng, thể hiện sinh động cuộc sống ở buôn làng.

Cụ thể như tượng gỗ để trang trí của người Xê Đăng, họ thường tạc người phụ nữ vì cho rằng “Phụ nữ chịu nhiều vất vả hơn đàn ông”. Tượng người phụ nữ đeo tấm địu như nói lên sự vất vả, chịu khó của họ, từ việc sinh con, đẻ cái đến việc bếp núc, làm nương rẫy, họ là người đảm đang, lo toan mọi việc của gia đình... Còn tượng cô gái đang yêu thì có khăn trùm đầu, kẹp tóc, nếu tượng không có khăn trùm, không kẹp tóc thì được cho rằng tượng đó tạc về người phụ nữ không đoan trang.

Riêng về tượng xua đuổi tà ma của người Xê Đăng, thì họ tạc cho thật xấu, thật kỳ dị để “ma sợ” không dám vào làng quấy phá. Ông A Đoan-nghệ nhân tạc tượng có tiếng ở xã Đak Hà, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum-cho biết: “Dân tộc Xê Đăng không có lễ bỏ mả, đánh cồng chiêng, múa xoang, uống rượu ở nghĩa địa như bà con người Ê Đê, Jrai, Bahnar. Bà con trong làng tạc tượng chỉ để đặt, trang trí ở cổng làng, tượng gỗ càng dị dạng thì càng tốt để ma quỷ sợ hãi, không dám vào làng quấy rầy, gieo rắc tai họa cho người dân. Ví dụ năm đó, làng có nhiều người chết vì bệnh tật thì bà con sẽ tạc 2 bức tượng đặt ở cổng làng để xua quỷ, trừ ma”.

Với các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, tượng gỗ dân gian, tượng nhà mồ rất gần gũi và mang ý nghĩa tâm linh, tinh thần rất lớn trong cuộc sống cộng đồng. Những hình ảnh thân quen của bức tượng là niềm tự hào riêng của các dân tộc, gợi nhớ về cội nguồn, nhớ về cuộc sống mộc mạc xưa kia của ông bà tổ tiên… Chính điều này đã thu hút nhiều thế hệ tìm đến nghệ thuật điêu khắc đặc sắc của cha ông để tiếp tục duy trì, lưu giữ.

Anh Đinh Plih (xã Tơ Tung, huyện Kbang) chia sẻ: “Mỗi dịp xuống buôn làng tình cờ nhìn thấy tượng nhà mồ, mình cảm thấy rất vui. Những ai đi làm xa, rời xa quê mà thấy tượng nhà mồ thì cảm giác nơi đó rất gần gũi, nó làm mình nhớ làng quê, nhớ về đời sống ông bà xưa kia, nhớ đến mọi người trong nhà, những người thân quý mến của mình. Bởi vậy nên mình cố gắng tạc nhiều tượng để lưu giữ cho mai sau”.

Một nghệ nhân đang thi triển tài năng và niềm đam mê tạc tượng của mình. Ảnh: A Dơng

Một nghệ nhân đang thi triển tài năng và niềm đam mê tạc tượng của mình. Ảnh: A Dơng

Hiện nay, môi trường sống thay đổi, cây rừng không được tự do chặt phá như trước, điều kiện để làm lễ bỏ mả... lại tốn kém cho nên nhiều vùng ở Tây Nguyên đã không còn tổ chức lễ bỏ mả, đồng nghĩa với việc tượng nhà mồ ngày càng ít đi. Tuy nhiên, trong cuộc sống mới ngày nay, tượng gỗ dân gian, tượng nhà mồ Tây Nguyên không còn bó hẹp trong không gian nhà mồ, khu nương rẫy hay cổng làng nữa mà được tạc, đặt ở nhiều nơi khác nhau, như: khu du lịch, những quán ăn truyền thống… Đây là cách hay để nghệ thuật điêu khắc truyền thống của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên luôn được gìn giữ, bảo tồn. 

Tài Liệu Thuyết Minh 3 Ngôi Chùa Linh Ứng tại Đà Nẵng

   


   Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch

Du lịch Đà Nẵng từ lâu đã nổi tiếng với tam giác linh thiêng được gọi là "Tam Linh Ứng Tự", tức ba ngôi chùa Linh Ứng tại Ngũ Hành Sơn, Bà Nà – Núi Chùa và Bãi Bụt – Bán đảo Sơn Trà. Mỗi ngôi chùa đều có một vẻ đẹp riêng, linh thiêng giữa thiên nhiên hùng vĩ và những công trình kiến trúc cổ kính, uy nghiêm.

 1/Chùa Linh Ứng Sơn Trà – “Linh Ứng Tự” lớn nhất tại Đà Nẵng

Địa chỉ: Khu vực Bãi Bụt, đường Hoàng Sa, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng

Thời gian mở cửa: 6h00 – 21h00

Chùa Linh Ứng Sơn Trà hay còn gọi là chùa Linh Ứng Bãi Bụt nằm tựa lưng vào đỉnh núi Sơn Trà, Đà Nẵng. Được xây dựng từ năm 2004, chùa này là một công trình kiến trúc mang giá trị văn hóa – nghệ thuật của Đà Nẵng, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 12 km. Tọa lạc ở độ cao 693 m so với mực nước biển, đây là ngôi chùa lớn nhất ở Đà Nẵng về cả quy mô lẫn kiến trúc nghệ thuật.

 1.1 Kiến trúc tinh xảo, bề thế bậc nhất Đà Nẵng

Chùa Linh Ứng Sơn Trà là ngôi chùa lớn nhất trong ba ngôi chùa cùng tên tại Đà Nẵng. Với diện tích khoảng 20 ha, ngôi chùa này bao gồm nhiều hạng mục lớn như tháp xá lợi, chánh điện, giảng đường, hậu tổ, tăng xá. Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc tinh xảo với chánh điện có mái ngói hình rồng và các cột trụ vững chãi. Các pho tượng trong chùa được chạm khắc sống động, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống Á Đông và kiến trúc hiện đại.

 1.2 Tượng Phật Quan Thế Âm cao nhất Việt Nam

Chùa Linh Ứng Sơn Trà sở hữu bức tượng Quan Thế Âm cao nhất Việt Nam khiến ai cũng phải kinh ngạc với chiều cao 67 m - tương đương một tòa nhà 30 tầng, đường kính tòa sen là 35 m. Tượng hướng ra biển, một tay cầm bình nước cam lồ, một tay bắt ấn tam muội. Bên trong tượng có 17 tầng, mỗi tầng chứa 21 bức tượng Phật với dáng vẻ và tư thế khác nhau, được gọi là "Phật trung hữu Phật". Tượng Phật Quan Thế Âm đứng trên đài sen khổng lồ, tạo nên không khí uy nghiêm và linh thiêng cho ngôi chùa.

 1.3 Cảnh quan thiên nhiên thơ mộng

Khi đến thăm chùa Linh Ứng Sơn Trà, bạn sẽ được tận hưởng không gian yên tĩnh và thanh tịnh. Cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp kết hợp giữa biển cả, núi rừng và chùa chiền mang lại cảm giác thoải mái và mát mẻ. Chùa Linh Ứng Đà Nẵng này tọa lạc ở một vị trí đắc địa, lưng tựa vào bán đảo và mặt hướng ra biển Đông. Sự hòa quyện giữa núi và biển tạo ra vị trí tài lộc, vượng khí trong phong thủy. Từ chùa, bạn có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh núi non, trời xanh, biển cả của thành phố Đà Nẵng xinh đẹp.

 

2/ Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn – Ngôi chùa cổ nhất trong “Tam Linh Ứng Tự”

Địa chỉ: Hòn Thủy Sơn, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng

Thời gian mở cửa: 6h30 – 17h30

Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn là ngôi cổ tự lâu đời nhất trong số ba chùa Linh Ứng tại Đà Nẵng, được xây dựng từ năm 1825. Còn được biết đến với tên gọi Chùa Linh Ứng Non Nước hay Chùa Ngoài, chùa cách trung tâm thành phố khoảng 10 km, tọa lạc trên hòn Thủy Sơn, ngọn núi đẹp và lớn nhất trong số 5 ngọn núi thuộc danh thắng Ngũ Hành Sơn.

Ngôi chùa mang đậm nét cổ kính và đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, với nhiều lần đổi tên và trùng tu. Mặc dù khuôn viên của Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn nhỏ nhất trong số ba chùa Linh Ứng, các công trình kiến trúc tại đây vẫn rất ấn tượng. 

2.1 Linh Ứng tự cổ kính với nhiều tượng Phật

Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng nổi tiếng với nhiều bức tượng Phật cổ kính, trong đó nổi bật là tượng Phật trắng cao 10m đặt ngay trong khuôn viên, đối diện với chùa. Ngoài ra, tháp Xá Lợi cao 30m nằm bên trái chùa là nơi thờ khoảng 200 tượng đá và 40 phù điêu Phật, Bồ Tát, La Hán. Đặc biệt, tượng Đức Phật Thích Ca cao hơn 10m cùng với đài Quan Âm tạo nên một không gian thiêng liêng.

Vào chánh điện, bạn sẽ thấy tượng Phật Thích Ca đầy uy nghiêm, tượng Phật A Di Đà bên trái, tượng Phật Di Lặc bên phải, tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát cùng Quan Thế Âm Bồ Tát hai bên. Gian giữa của chùa là nơi đặt tượng Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền. 

2.2 Không gian thanh tịnh và khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp

Khi đến thăm Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn, bạn sẽ được đắm mình trong không gian tâm linh huyền bí và vô cùng linh thiêng. Ngôi chùa cổ kính này nằm giữa một khu rừng cây xanh mát, tạo nên không khí trong lành và yên bình. Khi tản bộ trong chùa, bạn có thể chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo hình chữ Nhất và cảm nhận vẻ đẹp thanh tịnh, giúp xua tan mọi muộn phiền và mệt mỏi. Đây cũng là nơi nhiều du khách đến để cầu mong bình yên và may mắn. 

 

3/Chùa Linh Ứng Bà Nà - Linh Ứng Tự linh thiêng trên đỉnh núi Chúa

Địa chỉ: Khu du lịch sinh thái Bà Nà Hills, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng

Giờ mở cửa: 8h00 – 17h30 

Chùa Linh Ứng Bà Nà được khánh thành vào năm 2004 và là một phần của khu du lịch sinh thái Bà Nà Hills. Bạn có thể dễ dàng kết hợp tham quan, vui chơi tại Bà Nà Hills và chiêm bái chùa Linh Ứng Bà Nà trong cùng một ngày. 

3.1 Kiến trúc Bắc tông cổ kính

Ngôi chùa được xây dựng theo phong cách Bắc Tông với khu sân trước lát hoàn toàn bằng đá trắng. Mỗi công trình trong khuôn viên chùa đều được thiết kế tỉ mỉ, công phu với mái cong vút hình song long chầu nguyệt. Khu vực thờ có bốn góc mái là hình đầu rồng uy nghiêm và biểu tượng bánh xe chuyển hồi pháp luân.

Bên trong chánh điện có một cỗ trống cao 2.4m - một vật thờ linh thiêng độc đáo. Tiếng chuông từ Lầu Chuông cùng với kiến trúc tinh tế của chùa sẽ giúp bạn tìm thấy sự thanh tịnh trong tâm hồn. 

3.2 Tượng Phật lớn nhất Việt Nam

Trong khuôn viên chùa, bạn sẽ bị choáng ngợp bởi bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hay còn gọi là tượng Phật Đức Bổn Sư Thích Ca. Tượng cao 27m, đường kính 14m, được làm hoàn toàn từ đá trắng với hình ảnh Đức Phật ngồi thiền định trên đài sen. 

3.3 Cảnh sắc thiên nhiên hữu tình

Chùa Linh Ứng Bà Nà nằm trên sườn núi Chúa ở độ cao khoảng 1.400m. Từ đây, bạn có thể ngắm nhìn toàn cảnh thiên nhiên hùng vĩ với núi rừng trùng điệp, vịnh Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà và dãy Ngũ Hành Sơn. Ngay trước chùa có một cây thông ba lá đặc biệt, một loài cây quý hiếm được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam.