CLB HDV Đồng Hành Việt - Trao Trọn Niềm Tin!

Giới thiệu về CLB

Ảnh của tôi
Hồ Chí Minh, Vietnam
CLB Hướng Dẫn Viên Đồng Hành Việt được thành lập năm 2006 chuyên đào tạo hướng dẫn viên, sales tour, điều hành tour và cung cấp hướng dẫn viên, MC gala

Dịch trang

Người Đi Tìm Hình Của Nước - Chế Lan Viên

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Nhà Thờ Ba Chuông

Tài liệu thuyết minh du lịch city tour TP.Hồ Chí Minh


 Nhà thờ Ba Chuông

Nhà thờ Thánh Đa Minh là một trong những công trình kiến trúc tồn tại đã khá lâu đời, người dân nơi đây thường gọi nhà thờ bằng một tên khác là nhà thờ Ba Chuông bởi trên đỉnh của nhà thờ này gắn ba quả chuông. Đầu thế kỷ 21, công trình kiến trúc này được xây dựng lại một cách hoành tráng.

Được kết hợp độc đáo giữa lối kiến trúc với những đường nét ngang thẳng, gãy gọn của phương Tây và sự thanh thoát của kiến trúc phương Đông, toàn thể nhà thờ Ba Chuông là những đường cong nhẹ nhàng, uyển chuyển vươn lên giữa bầu trời xanh ngắt. Cổng tam quan cao vút, điểm trên các góc mái là hình những chú rồng uốn cong tạo nên một quần thể điêu khắc lồng lộng giữa bầu trời trong xanh, phả vào hình khối kiến trúc một tinh thần Việt.



Tọa lạc trên đường Lê Văn Sỹ, quận Phú Nhuận, Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông được xây dựng lại từ nền cũ. Sau 22 tháng xây dựng miệt mài, nhà thờ Ba Chuông được mang một diện mạo mới với nét kiến trúc độc đáo có một không hai ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngoài nhìn vào, toàn bộ quần thể kiến trúc của nhà thờ Ba Chuông mang một màu xanh hoành tráng được gắn kết bởi những tảng đá xanh láng bóng. Lòng thánh đường được mở rộng ra bốn phía, trung tâm thánh đường là hai tầng mái cách điệu với độ cao 30m tạo nên hai tầng không gian mở, vòm mái cao vút tạo độ thông thoáng. Giữa thánh đường là một gian cung thánh hình tròn rộng lớn với bàn thờ bằng gỗ quý trên mặt cẩn đá cẩm thạch. Những bức tranh kính màu với nhiều màu sắc gắn xung quanh thánh đường tạo độ sáng tối huyền ảo. Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông có kiểu kiến trúc hình vuông tượng trưng cho đất; khung mái hình tròn tượng trưng cho trời; các góc mái có rồng bay diễn tả ý muốn vươn cao hơn giữa trời đất. Kiến trúc và mỹ thuật Việt Nam, đặc biệt ba bức tranh gốm hoành tráng đặt giữa lòng thánh đường đã được chọn như một ý tưởng chủ đạo của thánh đường.

Ngay cửa ngõ Sài Gòn có thể nhìn thấy một quần thể kiến trúc với sắc màu men lam làm chủ lực và cấu trúc trang trí mỹ thuật dân tộc qua hình khối, kiểu dáng, đường nét, họa tiết, hoa văn, sắc màu, chất liệu gốm sứ, cây cảnh, non bộ... Toàn bộ công trình được xây cất bằng ximăng cốt sắt, gắn đá quý. Chuông và tháp chuông mang một ý nghĩa quan trọng trong kiến trúc tôn giáo, vì thế ba quả chuông tại nhà thờ Ba Chuông luôn giữ một vị thế trang trọng.

Thánh đường Đa Minh trên nền tảng kiến trúc, mỹ thuật Việt Nam kết hợp với những đường nét hiện đại thực sự là một công trình nghệ thuật độc đáo giữa lòng thành phố .


Danh xưng Giáo xứ Đa Minh - Ba Chuông

“Nhà thờ Ba Chuông”, một tên gọi gần gũi, bình dị nơi cửa miệng dân gian, nhưng đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về nguồn gốc và ý nghĩa lịch sử.
Giáo xứ Đa minh - Ba Chuông ngày nay tọa lạc tại số 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận, do các Linh mục Dòng Đaminh sáng lập. Dòng Đaminh Việt Nam đã đến đây từ năm 1957. Các tu sĩ xây dựng tu viện thánh Albêtô năm 1959 và mở trường trung tiểu học Thánh Thomas.
Sau dịp long trọng mừng “bách chu niên” bốn chân phước Tử Đạo Hải Dương (1861-1961), tu viện đã tiến hành xây dựng một Đền Thánh dâng kính các Ngài, được khánh thành vào ngày 5-10-1962.



Ngày 24.06.1967, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ mới với danh xưng Thánh Đaminh, Đấng sáng lập Dòng của các tu sĩ phục vụ tại đây. Bổn Mạng giáo xứ : Thánh Đaminh, Lễ kính 08.08.

Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ chính là “Đền Thánh” trên, có kiến trúc khá độc đáo, với nhiều nét cong uyển chuyển mềm mại. Nhà thờ hình thánh giá với hành lang rộng và hàng hiên gợn sóng. Nhà thờ dài 50 mét, rộng 18 mét, hai tay thánh giá 25 mét, theo thiết kế của kiến trúc sư Võ Văn Tần. Mặt tiền hình quả chuông úp, với cuốn sách mở trên có chữ Veritas, nghĩa là chân lý, thánh giá và các nhành thiên tuế tử đạo.

Nhưng ấn tượng nhất với mọi người là tháp chuông ba khía mầu đỏ sẫm, cao 14 mét, được xây tách biệt về phía cổng nhà thờ. Dáng tháp chuông thon thả, phía trên nở ra như một bông huệ, khoe cho mọi người thấy ba quả chuông. Phía trên cùng có quả địa cầu cách điệu, gồm những đường kinh tuyến và vĩ tuyến, đôi khi được thắp điện sáng ngời. Có lẽ chính vì thế mà nhà thờ được dân gian đặt cho một tên gọi mới là “Nhà thờ Ba Chuông”.

Cho đến hôm nay đã gần nửa thế kỷ, “Nhà thờ Ba Chuông” trở thành một danh xưng phổ biến và quen thuộc với nhiều người. Có những cuốn Agenda còn giới thiệu với khách du lịch về nhà thờ “Three Bells” như một địa chỉ để tham quan.

Dần dà “Nhà thờ Ba Chuông” bỗng trở thành một tên riêng, dù nhiều nhà thờ khác cũng có đủ ba quả chuông. Ghép tên gọi của giáo xứ và danh xưng dân gian trên ta có Nhà thờ Đaminh - Ba Chuông.


Các nhân tố văn hóa trong Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông
1. Ngoại thất

Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông được xây dựng theo phong cách Á Đông và mang đậm nét văn hóa Việt. Nó vừa mang dáng dấp của một ngôi đình của làng xã Việt Nam : hình vuông, mái cong; vừa xây theo lối kiến trúc hiện đại : bê tông cốt sắt, tường gạch ốp đá. Nhà Chúa vì thế trở nên nguy nga, tráng lệ, nhưng lại rất thanh thoát, nhẹ nhàng.
Bình diện vuông, theo tư duy Việt cổ, họ quan niệm trái đất vuông, được bốn phương neo giữ. Đặc tính này được tác giả khai thác triệt để khi thiết kế Thánh đường. Do đó, Thánh đường hiện diện trong vị thế hòa điệu tự nhiên với khu biệt kính các Thánh và các quảng trường... tạo nên một cảnh quan tổng thể có cả chiều cao lẫn bề rộng vừa thiêng liêng vừa ấm cúng.

a. Cổng tam quan
Cổng Tam quan khiến chúng ta liên tưởng đến ngôi đình làng Việt Nam, một cấu trúc đặc biệt trong một quần thể kiến trúc Việt Nam nói riêng và Đông phương nói chung. Cổng Tam quan thường được xây dựng phía trước các đình, làng, làm cổng đình, cổng làng. Có ba lối đi, một cổng lớn ở chính giữa và hai cổng nhỏ hai bên.
Nói tới cổng là nói tới một lối dẫn vào, một lối đi. Nhưng cổng Tam quan đã trở nên ý nghĩa đặc biệt cho người dân Việt, vì nó là lối dẫn về nguồn, là đường đi vào những nơi sinh hoạt tập thể, dấu chỉ của sự đoàn kết, gắn bó của người dân Việt.
Tùy theo từng loại kiến trúc mà người ta đã thay đổi, cách tân nó cho phù hợp với ý nghĩa và tính chất của công trình. Mô hình Cổng Tam quan của Thánh đường Đa Minh- Ba Chuông được thiết kế nhằm tạo nên sự thân thiện, và gần gũi với tâm thức của người Việt, nhưng không sao chép theo một mẫu kiến trúc cổ nào. Nó cũng mang ý nghĩa “phân cách không gian, làm đẹp công trình như là một tiền đường, một khoảng lặng tạo cảm giác thong dong thư thái và an nhàn, một dấu nghỉ, một bầu khí lặng thầm trang nghiêm trước khi vào chầu lễ với cộng đoàn”.



b. Tháp chuông

Tháp chuông là thành tố không thể thiếu được trong kiến trúc một ngôi nhà thờ Công giáo. Tháp chuông có thể gắn liền với nhà thờ hoặc được xây dựng tách biệt tùy theo ý tưởng và cách thiết kế của mỗi ngôi nhà thờ. Tháp chuông càng cao thì tiếng chuông càng vang xa, nhằm kêu gọi mọi người tề tụ về Thánh Đương để dâng Thánh Lễ.Đặc biệt ở Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông, là phải có đủ ba quả chuông đồng : “một dấu ấn mang tính lịch sử đã trở thành biệt danh của nhà thờ”.Tháp chuông hình trụ vuông gồm ba tầng mái với kiểu dáng mái cong truyền thống, được cách điệu và hiện đại hóa. Mỗi góc mái là một đầu đao hình đầu rồng quy hướng về Thánh giá, vừa thể hiện sự hội nhập văn hóa trong kiến trúc nhà thờ.


c. Mái cong:
Dân Việt mình sống trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình có nhiều đồng bằng với hệ thống sông ngòi dày đặc. Hình ảnh sông nước và con thuyền rất gần gũi với cuộc sống của người dân. Tâm thức đó đã được thể hiện trong quá trình sống, qua các công trình tác phẩm của dân tộc. Từ đó cho thấy hình ảnh ngôi nhà, mái đình chính là phản ảnh sự thích nghi của con người trước môi trường tự nhiên.
Hình ảnh nhà mái cong hình con thuyền trên các trống đồng Đông Sơn cho thấy nhà mái cong đã có từ lâu đời và đã trở thành nét văn hóa truyền thống trong kiến trúc người Việt. Nét uốn cong vút tại mỗi góc tạo thành những “tàu đao” của mái nhà Việt Nam, làm cho các tầng mái kiến trúc dù thấp và nặng nề, được vươn cao, thanh thoát, nhẹ nhàng, cân đối và hài hòa.
Ngoài tính mỹ thuật trang trí và công dụng che mưa nắng của khí hậu miền nhiệt đới, mái cong còn chuyển tải một triết lý sống uyển chuyển, linh động “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” và một tâm hồn mở rộng (tứ hải giai huynh đệ); một khát vọng hướng thượng, giải thoát, sự giao hòa giữa trời cao và đất thấp, giữa con người với thần linh.


d. Tàu đao - linh vật :
Tàu đao được tạo thành do “hai mái bên gặp nhau tạo thành đường bờ giải gẫy khúc, lượn cong nhè nhẹ. Đường diềm giọt nước ở phía dưới uốn cong tinh tế từ điểm giữa rồi lượn vênh lên, từ hai mái ở hai phía kéo ra góc gặp nhau chuyển hướng hất lên đột ngột, còn cuộn lại, có khi tạo thành cái đầu rồng duyên dáng, được xem như “đóa hoa đao đình”.
Đầu đao có thể là hình đầu rồng, đầu chim phụng, chim câu hoặc các hoa văn nhằm tạo tính chất linh liêng cho các công trình kiến trúc. Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông chọn hình đầu Rồng, vốn là một linh vật trong tứ linh. Trong văn hoá Việt Nam, Rồng vốn là một linh vật mang đầy ý nghĩa : Trời đất có rồng để mưa thuận gió hoà ; Đình miếu có rồng để cộng đồng làng xã ấm no ; Minh quân có rồng để quốc thái dân an. Rồng xuất hiện như một điềm lành, đem lại những điều may mắn và tốt đẹp.
Rồng nơi góc mái trang trí của Thánh Đường nhắc nhớ mọi người nhớ về thuỷ tổ của dân Việt, nhớ mình là “con rồng cháu tiên”. Hơn thế nữa tàu đao đầu rồng với dáng dấp rồng bay ngoài ý nghĩa nhắc nhớ cội nguồn, còn khơi gợi con đường con đường giải thoát, và diễn tả ý muốn vươn lên cao hơn, hướng thượng và những khát khao nội tâm trong tâm thức của mỗi người tín hữu khi đến cầu kinh, dâng lễ.
Đặc biệt, nơi Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông có các tàu đao đầu rồng đều hướng về tâm điểm là Thánh giá. Thay vì “long chầu nguyệt”, những con rồng ở đây chầu Thánh giá, thể hiện ý hướng tôn thờ biểu tượng của Đạo Công Giáo.


e. Con Nghê
Con nghe là một trong hai linh vật đặc thù của văn hóa Việt Nam, nhưng lại rất ít được biết đến và người ta cũng không biết rõ xuất xứ ngọn nguồn của nó. Chỉ biết rằng trong kiến trúc đền đài, lăng tẩm, người Việt mình thường chạm khắc những cặp nghê đá, đặt hai bên tam cấp, như là để bảo vệ, hộ phù.
Trong ý nghĩa trên, tượng nghe được đặt trước bốn phía tiền đường Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông ngang hàng với rồng chầu. Vừa gợi lên niềm tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc, vừa làm cho ngôi nhà thờ tăng thêm vẻ uy nghiêm, thiêng thánh.
“Nắng mưa dầu giãi canh thâu,
Hai con nghê đá nằm chầu thiên thu”


1.Thiên nhiên và ngoại cảnh:
Thiên nhiên, ngoại cảnh là yếu tố căn bản trong kiến trúc Việt Nam. Cái triết lý “vạn vật nhất thể” bàng bạc khắp nơi. Qua thiên nhiên và nhờ thiên nhiên, con người cảm thấy gần gũi, nhẹ nhàng, một bước rất gần tới Chân, Thiện, My.
Xung quanh ngôi Thánh đường nguy nga tráng lệ là các quảng trường Thánh Martinô, quảng trường Đức Mẹ La Vang, quảng trường Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trang hoàng bằng những nhân tố văn hóa rất Việt: những cây đèn đá, bờ tre, khóm trúc, cây kiểng, hòn non bộ, hồ cá... tạo nên không gian thờ phượng rất thiên nhiên và cũng rất gần gũi với đời sống của người dân. Những bài trí đó vừa mang nét đẹp của văn hóa Việt, vừa góp phần làm cho ngôi Thánh đường đồ sộ hòa mình với cảnh quan tự nhiên của đất trời, cỏ cây mây nước.


2. Nội thất:
Bước vào trong Thánh đường, ta sẽ thấy rõ chủ ý của tác giả khi thiết kế ngôi Thánh đường này: đưa bản sắc dân tộc vào trong kiến trúc, nghệ thuật thánh. Điều này thể hiện qua việc thiết kế gian cung thánh và các bài trí bên trong lòng của nhà thờ. Một trong những nét văn hóa tiêu biểu đậm nét trong nội thất ngôi Thánh đường chính là biểu tượng Vuông – Tròn : lòng nhà thờ vuông gian cung thánh tròn, chóp đỉnh vuông - tròn, bàn thờ mặt tròn - chân vuông, Nhà Tạm vuông - tròn, .v.v.


Ý nghĩa biểu tượng “Vuông - Tròn” trong văn hóa Việt

Ai trong chúng ta cũng từng một lần nghe câu thành ngữ “Mẹ tròn con vuông”. Mới nghe qua chúng ta thấy có vẻ khá vô lý và đối nghịch nhau, nhưng thành ngữ hàm chứa một ý nghĩa hết sức tốt đẹp, nhằm diễn tả cả hai mẹ con đều khỏe mạnh sau giờ phút mãn nguyệt khai hoa; tức là nói đến một kết quả tốt đẹp đúng như người ta trông đợi. Trong văn hóa Việt nam, hai hình thể “vuông - tròn” trong nhiều trường hợp đi đôi, gắn liền với nhau biểu thị cho một sự kết hợp thuận lẽ trời, và đem đến một kết quả tốt lành, ý nghĩa ấy ta bắt gặp trong sự tích “bánh dày bành chưng” đời vua Hùng.
Nói một cách triết lý, Vuông Tròn chính là khái niệm về Trời Đất, về Càn Khôn, về Âm Dương. Trong kiến trúc Đông phương, hầu hết các đường nét bao giờ cũng là những đường nét pha trộn giữa Âm và Dương. Bên cạnh những đường thẳng cần thiết phải có, người ta không quên đưa những đường cong, những vòng tròn vào, để tạo nên một tổng thể hài hòa giữa Âm và Dương. Cái mái ngói cong cong, cái cửa sổ tròn tròn.
Từ khái niệm vuông tròn biểu trưng của Trời Đất, đến khái niệm vuông tròn của Âm Dương: tròn tượng trưng cho Âm tính, vuông tiêu biểu cho Dương tính. Sự kết hợp hài hòa giữa Âm - Dương bao giờ cũng được xem là một kết hợp thuận tự nhiên. Một kết hợp như thế luôn luôn mang lại kết quả tốt đẹp.
Nhìn chung, Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông với bình đồ hình chữ Quốc. Hình vuông làm nền như khung hình Tế Đàn Nam Giao : tượng trưng cho Đất; khung mái bên trên hình tròn tượng trưng cho Trời. Các góc mái nhà thờ cong vút được trang trí rồng bay tượng trưng con đường giải thoát, hướng thượng.


a. Phù điêu
Được trưng bày ở tiền sảnh ngôi nhà thờ, các bức phù điêu làm nổi bật sự liên kết giữa tinh thần Kitô giáo và truyền thống văn hóa dân tộc.
Bên trái là phù điêu Đức Mẹ Mân Côi có khoảng không gian nền với hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết, nguồn nước tượng trưng cho lòng Mẹ bao la. Tất cả những biểu tượng này đều mang tâm thức Việt.
Bên phải là bức phù điêu Thánh Giuse và Chúa Giêsu trong bối cảnh nền là không gian thuần Việt : ngọn núi, ngôi nhà, bàn mộc - biểu lộ tinh thần vững chãi của người cha lao động; sự công chính và sự cương trực được thể hiện qua hình ảnh khóm tre (trúc), một biểu tượng “tiết trực tâm hư” theo tinh thần Á đông.


b. Hội họa
Ba bộ tranh gốm bao bọc ba mặt tầng lửng bên trong nội thất nhà thờ, gồm 15 bức họa sống động, với tổng chiều dài 60 mét, thể hiện sự hòa hợp giữa các gam màu và họa tiết, kết cấu nên một bộ giáo lý bằng tranh sinh động. Qua đó chúng ta có dịp khắc ghi những biến cố quan trọng trong toàn bộ tiến trình Lịch sử của Đạo Công Giáo.Bên cạnh đó, bộ tranh còn diễn đạt sự hình thành và phát triển của hạt giống Tin Mừng cứu độ trên quê hương Việt Nam từ buổi đầu cho đến nay, như một âm vang thể hiện sự trải rộng của ơn cứu độ, vươn tới mọi thời đại và mọi dân tộc.

Các bức tranh gốm cho thấy một sự đan quyện hài hòa các giá trị nội dung căn bản của Kitô giáo với những giá trị văn hóa dân tộc ẩn chứa trong các họa tiết tiêu biểu : áo dài khăn đống, áo tứ thân, nón lá, bụi chuối, căn nhà Việt và cả con người Việt nữa. Ý nghĩa thiêng liêng của kiến trúc thánh trong Thánh đường thấm sâu vào từng phong cách, khung cảnh và sắc màu làng quê rất Việt.

Nhà thờ Tân Định

 Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch city tour TP.Hồ Chí Minh


Nhà thờ Tân Định là một trong những công trình kiến trúc độc đáo, mang đậm màu sắc Gothic ấn tượng, vô cùng hiếm thấy ở các nhà thờ tại Việt Nam hiện nay. Nhà thờ Tân Định tọa lạc trên đường Hai Bà Trưng thuộc phường 8, quận 3, TP HCM, là một trong những công trình đẹp nhất thành phố, được khởi công năm 1870 và hoàn thành vào ngày 16/12/1876. . Tổng thể công trình mới đầu có màu vàng nhạt, sau nhiều lần tô sửa đã được phủ lên một màu hồng phấn khác biệt. Mặt tiền của nhà thờ gồm một tháp chính kèm với hai tháp phụ.

Nhà thờ Tân Định

Nhà thờ Tân Định nổi bật với sắc hồng độc đáo.@suutam

Chính màu sắc đặc biệt của công trình này đã khiến cho cái tên nhà thờ Tân Định nhanh chóng được chú ý và in sâu vào tiềm thức của những người dân Sài Gòn thuở bấy giờ. Dù mang đậm phong cách kiến trúc Gothic nhưng nhiều chi tiết của nhà thờ vẫn được trang trí theo hướng Roman và Baroque. Đến nay, Nhà thờ Tân Định đã trở thành một địa điểm du lịch nức tiếng Sài Thành, quanh năm đông đúc khách du lịch ghé thăm, nhất là vào các dịp lễ, Tết, Giáng sinh hay những ngày cuối tuần.

Tổng thể công trình mang phong cách Gothic kết hợp Roman, pha chút Baroque ở những nét trang trí. Đến năm 1929, khu nhà thờ được tôn tạo, mở rộng phần giáo đường và xây dựng thêm một tòa tháp cao 52,6 m. Vào tháng 12/1976, nhân dịp kỷ niệm 100 năm, nhà thờ lại được trùng tu, tôn cao hơn nền cung thánh, sơn sửa lại tháp chuông. Màu sơn hồng và những đường nét hoa văn trang trí màu trắng làm cho toàn bộ công trình nổi bật trên nền trời xanh, tạo một vẻ lộng lẫy và tươi mới. Nhìn từ phía mặt tiền, du khách có thể thấy tòa tháp chính và hai tháp phụ. Trên đỉnh tháp là chóp hình bát giác với cây thánh giá đồng cao 3 m. Trong tháp có 5 quả chuông, nặng tổng cộng 5,5 tấn. Hai bên tháp phụ có những tháp đèn, có nhiều lỗ thông gió và những hoa văn tạo vẻ vững chãi nhưng rất duyên dáng. Hai dãy hành lang có mái vòm, lợp ngói vảy cá, những ô cửa tròn với hoa lá trang trí, tượng thiên thần rất tinh xảo.

Nhà thờ Tân Định

Nhà thờ 150 tuổi lung linh mùa Giáng sinh.@vnexpress

Tháp chính

Đây là tòa tháp nổi bật nhất trong tổng thể công trình nhà thờ Tân Định. Cụ thể, phần tháp chính của nhà thờ cao đến tận 52,6m với đỉnh tháp hình chóp bát giác cùng với một cây thánh giá bằng đồng cao 3m - biểu tượng đặc trưng của Công giáo. Đứng từ dưới nhìn lên, người ta sẽ có cảm giác tòa tháp này chạm đến cả mây xanh. Đứng dưới mái vòm, bạn sẽ nhìn thấy từng tia nắng lấp ló xuyên qua tán dừa, phủ lên những bức tường hồng một lớp màu sắc tươi sáng và rực rỡ.

Cùng với đó, ngói nhọn được phủ trên đỉnh tháp chuông kết hợp với cánh cổng chính và bảng tên bằng gỗ sẽ mang đến cho bạn cảm giác như được sống trong thời kỳ Phục Hưng. Không gian kì diệu này giống như thể một xứ sở thần tiên tràn ngập tràn màu sắc cổ tích, rất đáng để khám phá sâu hơn.

Nhà thờ Tân Định

Tòa tháp chính nổi bật trong tổng thể công trình.@giaoxutandinh.net

Tháp phụ

Bên cạnh tòa tháp chính, nhà thờ Tân Định còn có hai tháp phụ cũng không kém phần ấn tượng. Hạng mục này được bố trí nhiều tháp đèn và nhiều cửa thông gió với kiến trúc hoa văn tinh tế, độc đáo vừa cứng cáp vừa duyên dáng. Tòa tháp phụ mang phong cách độc đáo với thiết kế mái vòm tròn ôm lấy nhau tạo nên một khoảng hành lang bí ẩn ngay trước Thánh Đường. Phần mái ngói được lợp theo hình vảy cá, kết hợp với ô cửa tròn và đường xoắn tinh xảo. Cùng với đó là tượng thiên thần và họa tiết hoa lá vô cùng ấn tượng, bắt mắt.

Nhà thờ Tân Định

Phần tháp phụ của nhà thờ.@giaoxutandinh.net

Thánh Đường

Thánh Đường là không gian trang trọng và linh thiêng. Kiến trúc Gothic đặc trưng với hai hàng cột vững chãi đã mang đến cho Thánh Đường của nhà thờ Tân Định một dáng vẻ vô cùng uy nghiêm và bề thế. Đây chính là điểm nhấn tuyệt vời cho công trình đồ sộ bậc nhất Sài Gòn này. Thánh đường bên trong khá bề thế với hai hàng cột gothic, dẫn tới bàn thờ chính. Cùng với mặt tiền, hai hàng cột này được đánh giá là những nét đẹp nhất trong cả công trình kiến trúc. Hàng cột biên bên trái là tượng các thánh nữ, bên phải là các tượng thánh nam. Các bàn thờ trong thánh đường được làm từ đá quý đưa từ Italy sang. Ngoài ra, bên trong tòa tháp còn có một bức tranh được chạm khắc tinh xảo, vô cùng độc đáo cùng với 5 quả chuông nặng khoảng 5,5 tấn. Bước vào Thánh Đường, du khách sẽ có cảm giác như đang lạc vào không gian thơ mộng, cổ điển của thành phố Ý đầy mộng mơ.

Nhà thờ Tân Định

Thánh Đường sang trọng và uy nghiêm của nhà thờ.@giaoxutandinh.net

Nhà thờ Tân Định là một công trình mang đậm giá trị văn hóa và gắn bó sâu sắc với đời sống của người dân Sài Gòn. Người ta đến đây không chỉ để cầu nguyện bình an và mọi điều tốt lành mà còn để tận hưởng bầu không khí bình yên, an lành nơi đất Thánh.

Nhà Thờ Đức Bà

 

 Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch city tour TP.Hồ Chí Minh


NHÀ THỜ ĐỨC BÀ


• Nhà thờ Đức Bà TP HCM (còn gọi là nhà thờ lớn) đồ sộ, đẹp, luôn thu hút nhiều người lui tới trong 124 năm qua. Nhìn từ bên ngoài, toàn bộ nhà thờ từ mái đến tường là một màu đỏ gạch nung. Gạch và ngói giữ nguyên màu đến nay không hề đóng rêu mốc.
Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang - Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, thời gian mà theo linh mục Vương Sĩ Tuấn, có nhiều cửa kính của nhà thờ bị vỡ.
Dài 91 m, rộng 35,5 m và vòm mái chính cao 21 m, hai tháp chuông cao 57 m, tường nhà thờ Đức Bà được xây bằng gạch và cột bằng đá tảng theo đồ án của kiến trúc sư J.Bourard, một chuyên gia về các công trình kiến trúc tôn giáo.
Khởi công từ 7/10/1877 đến 11/4/1880 thì hoàn thành, nhà thờ còn là một nơi yên nghỉ của nhiều giám mục và linh mục của giáo phận, trong đó có giám mục Isidore Colombert - người đặt viên đá đầu tiên và làm lễ khánh thành nhà thờ, mất năm 1894.
Nhà thờ Đức Bà hoàn toàn không có chỗ cho nến (đèn cầy). Toàn bộ đèn - có mặt ngay từ khi xây dựng xong - đều dùng điện.
Bên trong nhà thờ khá rộng, có sức chứa 1.200 người, với hai hàng cột chính hình chữ nhật mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang với khá nhiều khoang có những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo.
Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Rất tiếc trong số cửa kính này hiện chỉ còn hai cửa là nguyên vẹn như xưa.
Đứng từ bàn thờ chính của nhà thờ nhìn về phần trên cao phía cửa chính, sẽ thấy một bức tường gỗ lớn. Đó là nơi được gọi là “gác đàn” và bức tường gỗ ấy chính là cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất nước hiện nay, theo linh mục Vương Sĩ Tuấn. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn.
Ước lượng phần thân đàn cao 3 m, ngang chừng 4 m, dài khoảng 2 m, chứa những ống hơi bằng nhôm đường kính khoảng một tấc. Phần điều khiển đàn nằm riêng nối với thân đàn bằng những trục, có những phím đàn như đàn organ bình thường hiện nay dùng tay gõ và những phím to đặt dưới sàn nhà (dài chừng 3m, ngang khoảng 1m) để người điều khiển đàn đạp lên khi dùng nốt trầm.
Bên trong đàn được thiết kế tương tự đàn piano nhưng phức tạp hơn nhiều. Đàn còn có những thanh gõ lớn để đập vào phần dưới các ống hơi phát ra âm thanh, tương tự kiểu đánh đàn k’lông pút của Tây nguyên. Theo ông Nam Hải, người phụ trách phần nhạc của nhà thờ, để đánh được cây đàn này người đánh phải học riêng vì không có trường lớp nào dạy.
Điều đáng tiếc là cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do thiếu bảo quản (bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay). Hiện nhà thờ còn có một cây đàn tương tự nhưng nhỏ hơn rất nhiều, trị giá khoảng 70.000 USD, còn khá mới, do một cựu lãnh sự Pháp tại TP HCM “gửi”.
Hai bên hông gác đàn là một khoảng trống, đó là gác chuông. Từ khoảng trống này nhìn thẳng lên mái tháp chuông cao hun hút hơn 26m và chỉ có độc một chiếc cầu thang hẹp chừng 4 tấc bề ngang.
Khoảng giữa cầu thang nhỏ ấy ở độ cao chừng 15m, có một khung cửa tò vò nhỏ bằng lưới. Chui vào cánh cửa ấy với khá nhiều bụi bặm và phân dơi, phần chủ yếu của chiếc đồng hồ nhà thờ Đức Bà hiện ra. Bộ máy đồng hồ to như một chiếc tủ chứa quần áo loại lớn, cao khoảng 2,5m, dài khoảng 3m và ngang độ hơn 1m.
Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Theo anh Phan Vĩnh Du, người chịu trách nhiệm đánh chuông và bảo trì đồng hồ, mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe.
Trên gác chuông cao 36,6m kể từ mặt đất, rất tối và sàn được lót sơ sài bằng những miếng gỗ nhỏ cách khoảng, nhìn xuống thấy sâu hút. Gác chuông bên phải (phía bên Trường Hòa Bình) có hai chuông mang tên nốt nhạc la và do. Gác chuông bên trái có bốn quả chuông sol, si, mi và re.
Ba quả chuông to nhất là sol nặng 8.745 kg, si nặng 3.150 kg và re nặng 2.194 kg. Tổng cộng sức nặng của các quả chuông, theo linh mục Vương Sĩ Tuấn, là gần 30 tấn, tất cả đều được đúc ở Pháp vào năm 1879. Đặc điểm của chuông nhà thờ là có âm sắc riêng không thể lẫn vào đâu, vì vậy theo anh Nam Hải, không có nốt fa.
Khi xây nhà thờ, gác chuông không có mái. Năm 1885, kiến trúc sư Gardes đã thêm mái chóp vào để che gác chuông với tổng chiều cao tính từ đất là 57 m. Những chiếc chuông của nhà thờ được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Song riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật rơ-le điện. Khi đổ cùng lúc sáu chuông, tiếng chuông vang xa trong phạm vi chừng 10km.

Bảo Tàng Áo Dài

 


 
  Tài liệu thuyết minh du lịch city tour sài gòn

Bảo tàng Áo Dài 

Địa chỉ: 206/19/30 Long Thuận, P. Long Phước, TP.HCM

Bảo tàng Áo Dài là một trong các bảo tàng ở TPHCM nổi tiếng được rất nhiều du khách ghé đến tham quan. Đây là một trong hai bảo tàng tư nhân thuộc nhóm bảo tàng chuyên đề của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM. Bảo tàng Áo Dài nằm trong quần thể không gian thiên nhiên rộng gần 20.000m2 và được khởi xướng, xây dựng từ ý tưởng của họa sĩ – nhà thiết kế nổi tiếng Sĩ Hoàng. Toàn bộ kiến trúc của bảo tàng là sự kết hợp hài hòa giữa dấu ấn truyền thống của vùng sông nước Nam Bộ và phong cách nhà rường Quảng Nam.

Từ năm 2015, bảo tàng trở thành công trình văn hóa do Công ty CP Dấu Ấn Việt Nam sở hữu, chịu trách nhiệm quản lý và vận hành. Kể từ khi Công ty CP Dấu Ấn sở hữu thì bảo tàng đã phát triển mạnh mẽ hơn, thu hút sự yêu thích của nhiều du khách bốn phương. 

Bảo tàng tập hợp nhiều cụm công trình kiến trúc độc đáo, được làm chủ yếu từ gỗ do nghệ nhân Kim Bồng phục hiện chân thực và khéo léo. Ngoài ra, bảo tàng còn trưng bày nhiều hiện vật quý từ vùng đất Quảng Nam trong kiến trúc nhà rường xưa. Khu vực xung quanh bảo tàng có khuôn viên xanh mát kết hợp với ao hồ, vườn tược, cây si và bến thuyền tạo nên không gian sống động, đậm chất văn hóa Nam Bộ. Đặc biệt, phần sân khấu được xây dựng nổi trên hồ Chân Lạc để tổ chức sự kiện nghệ thuật, tái hiện hình ảnh sân đình làng – nơi lưu giữ vẻ đẹp văn hóa dân gian.

Bảo tàng Áo Dài là nơi lưu giữ, trưng bày hơn 300 mẫu áo dài truyền thống qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Chính vì vậy, đây sẽ là dịp để du khách mục sở thị bộ sưu tập áo dài đặc sắc như:

Áo dài tứ thân

Áo dài Le Mur

Áo dài của nữ tướng – anh hùng Nguyễn Thị Định

Áo dài thổ cẩm

Áo dài hội nhập quốc tế

Áo dài thời Pháp thuộc

Áo dài hở cổ thời bà Trần Lệ Xuân

Không chỉ được mục sở thị bộ sưu tập áo dài đặc sắc, du khách ghé thăm Bảo tàng Áo Dài còn được thưởng thức các triển lãm độc đáo như:

Triển lãm thường xuyên: Đây là triển lãm thu hút rất nhiều du khách bốn phương khi giới thiệu quá trình hình thành và phát triển áo dài Việt Nam qua các thời kỳ đến du khách. Tham gia triển lãm, bạn sẽ được chiêm ngưỡng áo dài di sản văn hóa, nội y áo dài, gốm bàu trúc…

Triển lãm chuyên đề: Triển lãm chuyên đề với nhiều chuyên đề khác nhau như chuyên đề Áo dài “Nối vòng tay lớn”, chuyên đề “Áo dài và cội nguồn”, chuyên đề Áo dài “Quốc kỳ các nước ASEAN”, chuyên đề “Áo dài quốc hoa ASEAN”… Mỗi một chuyên đề sẽ mang đến những trải nghiệm thú vị khác nhau cho du khách.

Triển lãm lưu động: Triển lãm lưu động có nhiều hoạt động giao lưu, chia sẻ về áo dài nhằm mục đích truyền tải, lan tỏa niềm tự hào, tình yêu áo dài với du khách, đặc biệt là các bạn trẻ.

Đến Bảo tàng Áo Dài, du khách còn có dịp trải nghiệm những hoạt động thú vị, có thể kể đến như:

Học may áo dài: Tại bảo tàng, du khách sẽ được hướng dẫn chi tiết về quy trình may áo dài từ cắt vải, vẽ, thêu… cho đến quá trình hoàn thiện áo dài.

Thiết kế áo dài và nón lá giấy: Bạn có thể thỏa sức sáng tạo, thiết kế áo dài giấy hay nón lá tại bảo tàng.

Học làm bánh ít: Một trải nghiệm thú vị với du khách khi đến bảo tàng chính là học làm bánh ít, từ công đoạn nhồi bột, làm nhân, gói bánh…

Học thắt các con vật bằng lá dừa: Du khách sẽ được hướng dẫn thắt lá dừa thành các đồ vật/con vật như hoa hồng, con nai…

Đến bảo tàng bạn có thể mua một số đồ lưu niệm về làm quà cho gia đình, bạn bè như túi xách, móc khóa, nón lá, quạt tay… Đây đều là những đồ lưu niệm được rất nhiều du khách yêu thích và hầu như ai đến bảo tàng cũng mua về làm quà.

Một số dịch vụ tại Bảo tàng giúp du khách có chuyến tham quan trọn vẹn hơn như:

Cho thuê áo dài: Tại bảo tàng có rất nhiều mẫu áo dài khác nhau, du khách có thể lựa chọn theo sở thích của mình để mặc và chụp lại những bức ảnh kỷ niệm thật đẹp.

Dịch vụ ẩm thực: Dịch vụ ẩm thực tại bảo tàng gồm có chợ quê, ăn trưa và dịch vụ đặt tiệc. Du khách có thể thưởng thức những món ăn hương vị Việt Nam dân dã tại bảo tàng như gỏi cuốn, bò lá lốt…

Tổ chức sự kiện: Với không gian rộng, Bảo tàng Áo Dài có cho thuê địa điểm để tổ chức sự kiện như tiệc tất niên, hội thảo…

Không gian cho thuê: Bảo tàng là địa điểm lý tưởng để du khách có thể ghi lại những khoảnh khắc, thước phim đẹp nhất. 

Bảo Tàng Không Quân


 
  Tài liệu thuyết minh du lịch city tour sài gòn

Bảo Tàng Không Quân Phía Nam

Bảo tàng Không quân phía nam tọa lạc tại số 87 Thăng Long, P.4, Q.Tân Bình, gần sân bay Tân Sơn Nhất. Không phải là một địa điểm du lịch quá nổi tiếng ở TP.HCM, nhưng nơi này là điểm đến của nhiều du khách trước khi bay về nước.

Nếu đối với người nước ngoài, bảo tàng như một “hidden gems" (viên ngọc ẩn giấu) nép mình cạnh bên phi trường, chờ du khách đến check-in, thì đối với người Việt Nam, đây sẽ là nơi đáng giá để cung cấp lát cắt lịch sử về lực lượng không quân nhân dân.

Những chiến đấu cơ bên ngoài bảo tàng

Theo ông Lê Duy Giang, Giám đốc Bảo tàng Không quân phía nam, nơi đây được khởi công xây dựng vào năm 1994 và chính thức mở cửa đón khách tham quan vào năm 1995.

Bảo tàng có 2 khu trưng bày: trong nhà và ngoài trời, với 40 hiện vật chính.

Với khu vực ngoài trời, từ cổng vào, du khách đã thấy nhiều chiến đấu cơ và đây cũng là hiện vật chính của bảo tàng, gồm: trực thăng UH-1, máy bay trinh sát U17, MiG-21; MiG-17, Mil Mi-24; Mi-8, tiêm kích ném bom F5. Đây là những loại từng được sử dụng trong các cuộc kháng chiến.

Cụ thể, chiếc UH-1 (số hiệu 0372) còn được gọi là “Huey”, là loại trực thăng đa năng do hãng Bell Helicopter (Mỹ) sản xuất. Với khả năng linh hoạt, UH-1 được sử dụng cho nhiều nhiệm vụ như vận chuyển binh lính, hàng hóa, y tế và cả yểm trợ hỏa lực từ trên không. Trực thăng UH-1 có chiều dài khoảng 17,4 m, cao 4,39 m, tốc độ bay tối đa lên đến 217 km/h và có thể bay xa hơn 500 km.

Sau năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam thu giữ và tiếp tục sử dụng khoảng 50 chiếc UH-1 còn nguyên vẹn. 

Chiếc trực thăng UH-1 thuộc Trung đoàn Không quân 917, từng tham gia nhiều trận chiến quan trọng. Trực thăng này đã phối hợp các lực lượng thuộc Quân khu 5, 7 và 9 để giải phóng các đảo, trấn áp và bắt giữ các phần tử phản động ở Rạch Giá, truy quét tàn quân địch và lực lượng Phunro ở Tây nguyên. Chiếc UH-1 này đã lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần quan trọng vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam

Máy bay trinh sát Cessna U-17A là phiên bản quân sự của dòng Cessna 185 Skywagon, một loại máy bay cánh quạt nhỏ, do Mỹ sản xuất, thường được sử dụng cho nhiệm vụ trinh sát, liên lạc và vận tải nhẹ. Máy bay U-17 có thiết kế gọn nhẹ với chiều dài gần 9 m, sải cánh gần 11 m và tốc độ bay tối đa khoảng 274 km/h.


Nhờ khả năng cất hạ cánh linh hoạt và phạm vi hoạt động rộng, U-17 đặc biệt hiệu quả trong các hoạt động trinh sát ở địa hình phức tạp. Phi công Mai Chí Lưu, Nguyễn Xuân Hiển đã bay trên bầu trời Tây nguyên, tìm kiếm và phát hiện các mục tiêu quan trọng của địch, góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Pol Pot

MiG-21 (số hiệu 4326) là loại máy bay chiến đấu phản lực siêu thanh một chỗ ngồi, do Liên Xô cũ thiết kế và sản xuất từ những năm 1950. MiG-21 đã phục vụ hiệu quả trong lực lượng không quân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến thống nhất đất nước và trở thành biểu tượng cho sức mạnh và lòng quả cảm của không quân Việt Nam thời bấy giờ.

MiG-21 có thiết kế nhỏ gọn, với chiều dài khoảng 15,5 m, sải cánh 7,15 m và tốc độ tối đa lên tới hơn 2.100 km/h. Máy bay có khả năng bay ở độ cao lên tới 19.000 m và được trang bị pháo 23 mm cùng tên lửa không đối không hoặc bom.

Chiếc máy bay này đại diện cho MiG-21 trong cuộc kháng chiến vệ quốc. Cùng đơn vị, nó đã góp phần bắn rơi 137 máy bay địch, trong đó có 2 chiếc B-52. Riêng chiếc MiG-21 số hiệu 4326 đã tham gia bắn rơi 13 máy bay địch

"Xe tăng bay" Mi-24 (số hiệu 7403) là loại trực thăng chiến đấu hạng nặng do Liên Xô cũ phát triển từ cuối thập niên 1960. Nó có thể vừa chở quân vừa yểm trợ hỏa lực, trang bị súng máy, rocket và tên lửa chống tăng.

Mi-24 (bên phải) của phi đội 5, đoàn không quân Ba Vì, từng tham gia các trận đánh chống lại tàn quân Khmer Đỏ trong giai đoạn 1984 - 1986. Trong 2 năm, nó tham chiến 94 trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch, yểm trợ hiệu quả cho bộ đội, góp phần giữ vững biên giới quốc gia


Giá phóng rocket của Mi-24

Chiếc Mi-8 (số hiệu 7812) được xem là một trong những mẫu trực thăng đa năng thành công nhất thế giới, nổi bật với khả năng vận tải, yểm trợ chiến đấu, cứu hộ và nhiều nhiệm vụ khác.


Với thiết kế vững chắc và tính linh hoạt cao, Mi-8 từng đóng vai trò quan trọng trong nhiều chiến dịch quân sự của Việt Nam, đặc biệt là trong việc vận chuyển quân, tiếp tế hậu cần và thực hiện các nhiệm vụ cứu nạn ở địa hình phức tạp

Tiêm kích ném bom F-5, số hiệu 7579, do hãng Northrop (Mỹ) thiết kế và sản xuất từ những năm 1960, là máy bay chiến đấu hạng nhẹ siêu âm, có thiết kế nhỏ gọn, tốc độ cao và khả năng cơ động tốt.

Chiếc máy bay này thuộc biên chế của đoàn không quân tiêm kích ném bom 935, từng thực hiện hàng nghìn phi vụ, ném hơn 2.026 quả bom vào các cứ điểm quan trọng của địch. Phi công Lê Khương, Nguyễn Văn Kháng đã điều khiển nó tham gia vào nhiều trận đánh lịch sử

Những trang sử trên không

Bên trong Bảo tàng Không quân phía nam có hai tầng, trưng bày hình ảnh, tài liệu và hiện vật về các giai đoạn quan trọng của lực lượng không quân.


Hai tầng trưng bày của bảo tàng

Tầng trệt của bảo tàng trưng bày các bức ảnh và hiện vật minh họa vai trò chiến đấu quan trọng của Không quân Việt Nam trong kháng chiến, tình nguyện ở Campuchia và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979.


Các chủ đề được đề cập gồm: sự hình thành Không quân Việt Nam; quá trình phát triển; vai trò của không quân trong bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là các trận không chiến tiêu biểu như tháng 5.1967 và tháng 2, tháng 5.1972


Lịch sử hình thành lực lượng không quân tiêm kích


Một góc trưng bày tại tầng trệt bảo tàng



Khách tham quan có thể tìm hiểu lịch sử ra đời của lực lượng Không quân Việt Nam tại bảo tàng


hiện vật trưng bày tại bảo tàng

Tầng trên tập trung vào sự hình thành và phát triển của Sư đoàn Không quân 370 - lực lượng chủ lực của Không quân phía nam.


Hiện vật giá treo bom của máy bay F.5 được trưng bày tại tầng trên của bảo tàng

Theo thuyết minh viên, phần lớn khách tham quan bảo tàng là học sinh và sinh viên. Đối với du khách quốc tế, bảo tàng luôn cố gắng hỗ trợ tối đa, bao gồm cả việc cung cấp thuyết minh bằng những ngôn ngữ phổ biến để giúp họ dễ dàng tham quan và tìm hiểu.

Hiện nay, do kinh phí còn hạn chế, việc cải tạo và nâng cấp cảnh quan bảo tàng chưa được thực hiện thường xuyên, nhiều hạng mục chưa kịp tu bổ.

Dù vậy, đội ngũ lãnh đạo và nhân viên bảo tàng vẫn luôn có động lực để giữ gìn và phát triển nơi này: đó là tiếp nối truyền thống yêu nước mà các thế hệ cha ông đã để lại.

Chiếc đài bán dẫn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tặng Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy được lưu giữ trong bảo tàng


Một số hiện vật được trưng bày trong tủ kính

Một mẫu tin thông báo chiến thắng của lực lượng Không quân Việt Nam

Trong thời gian tới, Bảo tàng Không quân phía Nam sẽ phối hợp các bảo tàng khác trong khu vực tổ chức triển lãm về lịch sử không quân. Mục tiêu là tái hiện lại những chặng đường lịch sử và đóng góp của lực lượng không quân trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.

Mô hình chiếc Mig-19 trong bảo tàng

Tài Liệu Thuyết Minh Miền Tây