Đồng Hành Việt - Đặt Trọn Niềm Tin!

Dịch trang

Người Đi Tìm Hình Của Nước - Chế Lan Viên

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2025

Tài liệu thuyết minh Phú Quốc

 Thuyết minh PHÚ QUỐC

Phú quốc còn được gọi là “Đảo ngọc” do nơi đây có đầy đủ hệ sinh thái của rừng, núi, biển,…đặc biệt là khí hậu tương đối mát, không khí trong lành, biển trong xanh, cát trắn, vàng trải dài.Nhiều loại động thực vật, hải sản phong phú, nhiều danh thắng nổi tiếng,..thích hợp cho nghĩ dưỡng du lịch.

Phú Quốc là một huyện đảo trực thuộc tỉnh Kiên Giang, cách thành phố Rạch Giá khoảng 120km, cách thị xã Hà Tiên khoảng 45km –đảo Phú Quốc nằm trong Vịnh Thái Lan gồm 22 đảo, trong đó Phú quốc là lớn nhất với diện tích khoảng 600km vuông, dài 50km – dân số 100.000 người (2010).

Năm 1671, Mạc Cửu – một thương nhân thời nhà Minh, ông buôn bán trên các tuyến đường biển từ Trung Quốc – đến Philipin, là người Quảng Đông, sống dưới thời nhà Minh–Trung Quốc.Năm 1645 do nhà Thanh lật đổ nhà Minh và do không chịu khuất phục nhà Thanh, nên ông mang cả gia đình và hơn 500 binh sĩ, sĩ phu lênh đênh trên biển, rồi cuối cùng đổ bộ lên vùng đất hoang vu trong vịnh Thái Lan, lúc bấy giờ vùng đất này thuộc nước Chân Lạp.Mạc Cửu tìm đến Nặc Ông Thu (người đứng đầu vùng đất này)- hai người thương lượng và cuối cùng hợp tác xây làng, lập ấp và cùng phát triển đến 1681.

Năm 1680, Mạc Cửu cho lập nhiều sòng bạc ở ven biển như: Mang Khảm (cảng của người Mang-Khơme), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kampong Som), đảo KohTrai,…sau đó Mán Khảm đổi thành Căn Khẩu Quốc, và đảo KohTrai đổi thành đảo Phú Quốc (tức vùng giàu có).

Trong thời gian đó, quân Xiêm La cứ quấy nhiễu, Mạc Cửu và gia đình có lần bị bắt qua Xiêm, do mưu trí nên Mạc Cửu trốn thóat, ông về lại quê nhà, tập trung sản xuất ở vùng Mang Khảm.

Sau này, Mạc Cửu dâng đất quy phục cho nhà Nguyễn, đổi tên Mang Khảm thành Hà Tiên, chúa Nguyễn Phúc Chu phong Mạc Cửu tổng binh coi giữ vùng đất Hà Tiên.

Từ đó, cư dân người Việt và con trai Mạc Cửu-Mạc Thiên Tứ cùng cư dân người Hoa ở vùng Hà Tiên tập trung sản xuất, buôn bán và phát triển cho đến ngày nay. 

Phú quốc ngày nay gồm 2 thị trấn : Dương Đông và An Thới, và 8 xã:Dương Tơ, Cửa Cạn, Gành Dầu, Cửa Dương, Bãi Thơm, Hòn Thơm, Hàm Ninh, và Thổ Châu.Tổng số dân khoảng 100.000 người.Nơi tập trung đông dân cư: Thị trấn Dương Đông- 30.000 người, thị trấn An Thới- 17.000 người, làng chài Hàm Ninh, làng chài Cửa Cạn, xã đảo Hòn Thơm.

Mã vùng điện thoại : 077          Biển số xe : 68

Về giao thông, để đến Phú Quốc ta có thể đi bằng tàu cao tốc Rạch giá – Phú Quốc, Hà Tiên – Phú Quốc…và đường hàng không là sân bây Phú Quốc, xây dựng cuối 2008 – hoàn thành cuối 2012, thuộc xã Dương Tơ, với tổng diện tích khoảng 905ha – chuyên phục vụ các tuyến bay nội địa.Các tuyến từ TpHcm-Phú Quốc, Hà Nội-Phú Quốc.

Trước 2014, Phú Quốc rất tăm tối khi đêm về, nhưng từ 2/2/2014 huyện đảo Phú Quốc chính thức khai sáng sau 2 tháng rưỡi thi công tuyến cáp điện ngầm xuyên biển dài nhất ĐNÁ, do tổng công ty điên lực miền Nam(EVN) thực hiện với công suất 110kV xuyên biển Hà Tiên đến Phú Quốc

Đặc sản

Nước mắm Phú Quốc

Do vùng biển Phú Quốc sạch, tạo điều kiện sinh sống cho nhiều loại rong biển, sinh vật phù du,…và đây là nguồn thức ăn cho các loại cá cơm như: cá cơm sọc than, sọc tiêu, cơm đỏ, cơm than,… đặc biệt ở Phú Quốc là loại cá cơm sọc tiêu – một loại cá cơm dùng làm nước mắm rất ngon, và lượng cá cơm ở khu vực biển Phú Quốc rất lớn.Bất cứ loại cá nào cũng có thể làm nước mắm, nhưng Phú Quốc chỉ sử dụng là cá cơm, nên nước mắm Phú Quốc nổi tiếng là nhờ đó.

Về nguồn gốc nước mắm Phú Quốc: là do vùng biển Phú Quốc trù phú, sản lượng cá dồi dào, cư dân đánh bắt ăn tươi không hết, nên nghĩ ra cách ướp cá với muối để sử dụng lâu dài, và trải qua thời gian dài, cá bắt đầu chín tạo ra nước màu đỏ, độ trong, có vị đậm đà, mùi thơm dịu dùng để ăn sống hay nấu nướng, từ đó nghề nước mắm ra đời.

Nước mắm Phú Quốc có lịch sử trên 200 năm, cuối thế kỷ 19 người dân Phú Quốc đã kinh doanh nước mắm sang Campuchia, Thái Lan,…Thời kỳ 1965-1975 là thời kỳ cực thịnh của nước mắm Phú Quốc, nhưng trong thời kỳ 1975-1986 là thời kỳ bao cấp thì ngành sản xuất này mất dần thị phần, nhiều nhà thùng đóng cửa, chuyển nghề.Tuy nhiên, sau 1990 thì nhu cầu thị trường có chút thay đổi, nước mắm Phú Quốc đã từ đó lấy lại danh hiệu đệ nhất trong ngành nước mắm toàn quốc.

 

Trước 1945, ở Phú Quốc có khoảng 100 hộ kinh doanh sản xuất nhà thùng nước mắm, tập trung chủ yếu ở Dương Đông và Cửa Cạn, nhưng do chiến tranh nên các nhà thùng ở Cửa Cạn bị tàn phá, nên các nhà thùng tập trung chuyển qua vùng Dương Đông và An Thới như hiện nay.

Cách làm nước mắm ở Phú Quốc cũng rất đặc biệt – có lẻ đây là nguyên nhân chính để nước mắm Phú Quốc vang danh trên toàn quốc và thế giới.

Mùa đánh bắt cá, đặc biệt là các loại cá cơm là vào tháng 7- 12 hằng năm.Cá sau khi đánh bắt bằng lưới sẽ vớt lên bằng vợt, bằng cách này sẽ loại bỏ được một phần tạp chất, sau đó sẽ súc rửa bằng nước biển, rồi lập tức trộn chung với muối, với tỷ lệ 3 cá 1 muối, rồi đem xuống hầm tàu – cách trộn cá tươi như vậy sẽ giúp giữ thịt cá không bị phân hủy, nước mắm có lượng đạm cao, và không có mùi hôi.

Muối ướp cá được lấy từ Bà Rịa-Vũng Tàu, là loại muối có hàm lượng tạp chất thấp nhất.Muối sau khi vận chuyển về sẽ được giữ ở kho khoảng 3 tháng, để tạp chất Can-xi và Ma-giê là 2 chất tạo nên vị chát của nước mắm sẽ lắng xuống dưới.Và khi sử dụng muối ướp cá thì phần muối lắng xuống dưới sẽ bị bỏ đi.

Cá cơm được ướp ngay trên tàu gọi là “chượp”, khi tàu cập bến chượp được đưa vào nhà sản xuất rồi bỏ vào thùng. Thùng ủ làm bằng gỗ cây “bời lời” có tại rừng Phú Quốc, hoặc có thể thay bằng cây “vên vên” – là loại cây gỗ khổng lồ, thuộc họ dầu, phân bố ở Việt Nam từ nam đèo Hải Vân – Phú Quốc, thùng cao từ 2-4m, đường kính khoảng 1,5-3m, ủ được từ 7-13 tấn cá.Chượp được ủ theo phương pháp “gài nén”(đặc vĩ và xếp lớp đá trên mặt đã rải 1 lớp muối)

Sau đó ủ 12 tháng, cá biệt thì 15 tháng, sau thời gian đó nước mắm được rút ra: ban đầu gọi là nước mắm cốt có độ đạm trên 30, tiếp đến là người ta lấy xác mắm đem nấu trong chảo lớn, rồi gạn lấy nước mắm lần 2, gọi là nước mắm ngang có độ đạm trên 20.

Thời gian ủ cũng quyết định đến thương hiệu nước mắm Phú Quốc, nếu ủ 12- 15 tháng thì nước mắm có màu vàng cánh gián, và hương vị rất thơm, nếu như ủ quá thời gian đó thì màu sẽ sậm dần, lượng đạm giảm và ít thơm.Tuy nhiên, có nơi người ta chôn nước mắm đến 3 năm, và loại này gọi là “nước mắm lú” dùng để chữa bệnh và uống khi lặn biển.Và nếu dùng cá ươn thì thời gian ủ nhanh hơn, tuy nhiên màu không đẹp, lượng đạm thấp và mùi không thơm.

Mỗi năm, tiêu thụ khoảng 6 triệu lít nước mắm Phú Quốc tại thị trường nội địa và khoảng 400.000 lít xuất khẩu.

Nước mắm là loại đặc sản không thể bỏ qua khi đến với đảo ngọc Phú Quốc. 

Hồ tiêu Phú Quốc

Phú Quốc mệnh danh là “vương quốc tiêu” vì vùng đất này tính đến nay có khoảng 450ha diện tích trồng tiêu.

Tiêu trồng tại Phú Quốc trên 100 năm, người ta cho rằng giống tiêu ở Phú Quốc và Hà Tiên được lấy từ Ấn Độ.Nhưng tiêu Hà Tiên thì không thơm và nồng như tiêu Phú Quốc, tiêu Phú Quốc có vị thơm và cay nồng, do Phú Quốc có thổ nhưỡng là hai nhóm đất chính là đất đỏ và đất pha cát, cộng thêm khí hậu trong sạch, mát mẻ,…và đặc biệt vườn tiêu Phú Quốc không dùng phân hóa học, mà chủ yếu là dùng phân cá, phân tôm, và phân bò,… nên tiêu ở đây đậm vị hơn tiêu của những vùng khác.

Tiêu có 3 giống : giống tiêu xẻ lá nhỏ (giống truyền thống của Phú Quốc), tiêu lá to dài (giống Tô Châu- Hà Tiên), tiêu lá to tròn.

Từ lúc trồng đến khi phủ nọc rồi cho đợt trái đầu là khoảng 24 tháng, mùa thu hoach tiêu từ tháng 12 – tháng 3 hàng năm.

Tiêu đỏ với tiêu sọ là 1 loại, tiêu xanh là hạt tiêu già nhưng chưa chín, trong chùm tiêu hái thì có 1/3 tiêu hạt đỏ(hạt chín), tiêu chín trên đầu cuống chín xuống, khi chín đến 1/3 thì bắt đầu thu hoach, sau đó lựa hạt đỏ(hạt chín) ra, chà cho chóc vỏ, đem đãi (như đậu xanh) để làm tiêu chất lượng cao thường gọi là “tiêu sọ” nhưng đó là “tiêu sọ nhân tạo”, khi tiêu sọ khô thường có màu đen hồng, còn tiêu xanh phơi khô thành tiêu đen (còn gọi là tiêu cội).

Tiêu sọ đúng gọi là tiêu phân chim: chim vô vườn tiêu ăn hạt chín, nhưng chỉ tiêu hóa được lớp vỏ bên ngoài, còn cái sọ quá cứng nên thải ra ngoài,…rồi công nhân chăm sóc tiêu đi nhặt đem về chế biến vệ sinh lại, đây mới đúng là tiêu sọ.Thường rất ít, một nhà vườn trồng 3000 gốc tiêu thì một mùa chỉ nhặt được khoảng 10 lon sữa bò tiêu sọ, nên giá thị trường rất cao, tiêu này có vị thơm và rất nồng.Tác dụng giúp kích thích tiêu hóa, giữ ấm bụng, giảm đau, chữa thổ tả,…

Chùm tiêu tới mùa được hái về, ủ trong ré 2-3 ngày cho chín hẳn, sau đó nhúng vào nước sôi pha muối để cho đẹp hạt và diệt chất men, sau đó phơi 3-4 con nắng để săn hạt lại, rồi đem chà cho chóc lớp vỏ đen, sàng sạch nhiều lần rồi đem đóng gói.

Khoảng năm 1980-2000, tiêu được giá, 1kg tiêu bằng 20-30kg gạo.Ngày nay thì khoảng trên dưới 150k/kg tiêu.

Mặc dù được giá, nhưng nhà vườn cũng gặp khó khăn về nhân công, không có lao động phổ thông, vì 10 năm trở lại đây du lịch Phú Quốc phát triển, nhiều nhà đầu tư vào xây dựng nhà hàng, khách sạn, khu du lịch,…nên hút nhân công vào những công trình ấy, nguồn nhân lực cho nhà vườn giảm đi.Tuy nhiên, nhờ có giải pháp thông minh là tưới tiêu tự động nhỏ giọt, nên tiết kiệm chi phí và nguồn nhân công (1h/1 lít nước).

Rượu sim Phú Quốc

Trái sim được ví như quả vàng của vùng đảo ngọc.Mật sim là nước cốt của trái sim là loại đặc sản ẩm thực nổi tiếng của Phú Quốc.Có tên thuốc nam là Sơn Nhậm hay Đào Kim Nương.

Sim Phú Quốc chín rộ vào dịp tháng Giêng âm lịch, còn sim ở miền bắc VN thì chín vào dịp tháng 7.

Sim có 2 loại: hồng sim và tiểu sim, khi chín có màu đen, có mùi thơm và vị ngọt chát.

Rượu sim là loại rượu đặc sản của Phú Quốc, sản xuất truyền thống lên men tự nhiên từ trái sim rừng và đường cát trắng, ở Phú Quốc rượu sim chủ yếu được làm từ hồng sim.

Sản xuất: trái sim chín rửa sạch, xay dập vỏ và ủ lên men tự nhiên với đường cát theo tỷ lệ nhất định (bí quyết không bật mí).Trong môi trường yếm khí khoảng 40-45 ngày, dưới tác dụng của men vi sinh tự nhiên có trên vỏ trái sim, đường có sẵn trong quả và đường cát trắng đã bổ sung được lên men thành rượu.Sau thời gian lên men sẽ được loại rượu màu hồng, uống có vị cay chua ngọt như rượu vang nho, nồng độ khoảng 10-15%.

Tác dụng: giúp tiêu hóa tốt, ăn không tiêu, nặng bụng,…khi ăn hải sản, ngoài ra trị các bệnh nhức mỏi, bổ máu, khí quyết lưu thông.Pha với nước đá khi uống.

Ngọc trai Phú Quốc

Ngọc trai là một vật hình cầu, cứng do một số loài thân mềm tạo ra như con trai/sò.Ngọc trai dùng làm đồ trang sức và cũng được tán nhuyễn để dùng trong mỹ phẩm.

Ngọc trai Phú Quốc cách đây 10 năm thì hình như chẳng ai biết đến, nhưng từ khi có sự đầu tư của các công ty Ngọc trai thế giới như: Úc, Nhật,..thì ngọc trai Phú Quốc đạt được danh tiếng như hiện nay.

Ngọc trai có 2 loại là: ngọc trai tự nhiên và ngọc trai nuôi(nhân tạo).

Ngọc trai tự nhiên rất hiếm, trung bình đánh bắt 3-4 tấn con trai/sò thì được khoảng 5-10 viên ngọc hoàn chỉnh, nên giá thành rất đắc.

Còn ngọc trai của Phú Quốc hầu hết là ngọc trai nuôi cấy nhân tạo, muốn cấy thì cần 2 loại trai là: “trai kỷ thuật” và “trai nguyên liệu”.Trai kỷ thuật là con trai dùng để cấy nhân vào, còn trai nguyên liệu là con trai dùng để lấy mảnh màng áo (màng áo là lớp sau lớp vỏ trai/sò).

Trai nguyên liệu là loại trai khoảng 1-2 tuổi, trai càng to càng tốt nhưng không quá 5-6 tuổi, trai phải khỏe, không bị dị tật,… việc chọn trai nguyên liệu ảnh hưởng rất lớn đến thời gian tạo ngọc và chất lượng sản phẩm sau này.

Chọn trai kỷ thuật cũng rất quan trọng, còn gọi là trai mẹ, lựa chọn con có kích thước phù hợp, đặc biệt có bộ phận sinh phục khỏe, to, không dị tật,… để cấy vào đó mảnh màng áo và nhân - nhân ở đây là vỏ chai nước ngọt hoặc viên thủy tinh được mài mòn, nhẵn bóng, đường kính khoảng 2-9mm(tùy theo kích thước của trai mẹ).

Người ta sẽ cấy màng áo được lấy từ trai nguyên liệu rồi tiếp tục cấy nhân vào, sau khi cấy trai mẹ sẽ bị tổn thương nên cần phải nuôi “vỗ” để trai phục hồi sức khỏe, nơi nuôi vỗ phải yên tĩnh và môi trường phải ít dao động, sau thời gian 1 tuần thì vết thương ấy được con trai tiết ra chất xà cừ để hồi phục.Sau đó đem thả vào bãi chính để nuôi thành ngọc, bãi nuôi thành ngọc phải có nồng độ muối 25-30%, nhiệt độ 20-30 độ C.

Nuôi trai bằng lồng tre hoặc lưới, thời gian nuôi khoảng 1-4 năm tùy theo yêu cầu ngọc to hay nhỏ.Trong suốt thời gian nuôi lấy ngọc, trai mẹ liên tục thải ra những chất xà cừ và chất ấy bám vào nhân đã cấy, sau thời gian nhất định thì sẽ thành ngọc trai.

Trong quá trình nuôi, phải thường xuyên vệ sinh lồng hoặc lưới, rửa sạch các vật sống bám, đặc biệt là ngay bản lề trai, làm cho trai không mở vỏ được,…nếu môi trường không tốt thì dời nơi khác, vì nơi có nhiều Cua, Sao Biển,…thì không có lợi cho trai.

Thời kỳ thu hoach ngọc trai thường từ tháng 8-10 hằng năm

Khi thu ngọc, công nhân tách vỏ trai ra, mổ ngay phần mà đã cấy nhân và lấy viên ngọc ra khỏi thân trai, sau đó rửa sạch và phân loại.Ngọc không đạt tiêu chuẩn là hạt không tròn, có nhiều vết bẩn.

Để ngọc có nhiều màu thì công nhân để trai nuôi ở những nơi có nước màu thì sau khi thu ngọc sẽ có trai như màu của bãi nuôi.

Ngọc trai đắc nhất hiện nay là ngọc trai đen Tahiti, được đánh giá cao vì rất rất hiếm.

Viên ngọc trai đang đạt kỷ lục thế giới là viên “Trân châu lão tử” nặng 6,4kg, do một người thợ lặn ở Philipin tìm được ở ngoài khơi của đảo Palawan, theo định giá năm 2006 viên “Trân châu lão tử” có giá khoảng 61.850.000 USD.

Để xác định ngọc trai thật, ta lấy 2 hạt cọ sát vào nhau, hạt thật sẽ bị bào mòn và rơi ra chất bột (xà cừ), sau khi lau thì hạt ngọc vẫn sáng và bóng.Ngoài ra có thể thử ngọc bằng lửa như thử vàng, sau khi thử lửa ngọc không bị trầy xước, vẫn sáng bóng là ngọc thật. 

Các điểm du lịch

Làng chài Hàm Ninh

Là ngôi làng năm dưới chân núi Hàm Ninh, thuộc xã Hàm Ninh, huyện Phúc Quốc.

Hàm Ninh là ngôi làng cổ, hoang sơ với những mái nhà tranh, vách tre giản dị. Người dân trong làng sống bằng nghề bắt ngọc trai, hải sâm, và giăng lưới. Hàm Ninh ngày nay còn được biết đến với cầu cảng Bãi Vòng, những bãi biển xinh đẹp và nhiều thứ hải sản độc đáo.

Không ai biết ngôi làng này có tự bao giờ, chỉ biết rằng, khi đảo Phú Quốc còn hoang vắng, một số cư dân từ xa đến đây khai thác hải sản, rồi lập làng sinh sống. Khi cửa biển Dương Ðông vang tiếng sóng thì Hàm Ninh là bến đậu ghe yên tĩnh và an toàn. Các ghe buồm, ghe bầu từ đất liền đến cập bến ở đây để lên hàng hoá rồi chở hải sản đi. 

Biển Hàm Ninh ra xa vài trăm thước mà vẫn còn cạn. Khi nước ròng, bãi cát mênh mông chạy tít ra xa, lúc nước lên, tràn ngập bãi, vào tận mé rừng. Ðứng trên bãi Hàm Ninh, nhìn ra xa có thể thấy quần đảo Hải Tặc, chệch về Ðông Nam, hòn Nghệ mờ mờ trên làn nước biếc, phía Nam là mũi Ông Ðội - mũi đất cuối cùng của đảo.

Thăm Hàm Ninh vào sáng sớm hay vào những đêm trăng thì mới thưởng ngoạn hết vẻ đẹp của vùng biển này. Tại đây du khách sẽ được thưởng thức cảnh nhật nguyệt trôi bồng bềnh trên mặt biển. Ðến đây mà chưa thưởng thức ghẹ luộc thì coi như chưa trọn vẹn. Ghẹ là đặc sản của vùng.

Suối Tranh

Suối Tranh nằm trên dãy Hàm Ninh, phía đông bắc đảo Phú Quốc. Suối Tranh tạo nên từ nhiều dòng suối nhỏ, len lỏi qua rừng cây khe núi. 
Có dịp đến đảo Phú Quốc, ngoài việc đắm mình ở những bờ biển trong xanh với những bãi cát trắng vàng chạy tít tắp tuyệt đẹp hay tham quan các điểm di tích lịch sử... du khách hãy đến điểm du lịch sinh thái Suối Tranh, một tuyệt tác của thiên nhiên ban tặng cho hòn đảo này. 
Từ thị trấn Dương Đông theo tuyến đường Dương Đông - Hàm Ninh khoảng 10km, du khách đã đến được Suối Tranh. Nằm ở phía đông bắc đảo có dãy Hàm Ninh xanh thẳm, từ trong khe núi, nhiều dòng suối nhỏ len lỏi qua rừng cây, gộp đá để rồi hoà mình vào dòng chính tạo nên dòng Suối Tranh chảy hiền hoà, có đoạn chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác nhỏ với màn nước mềm mại, trắng xoá trong màu xanh mượt mà của cỏ cây hoa lá... Khung cảnh tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp (người ta gọi là Suối Tranh). 
Đến với Suối Tranh, du khách có thể tắm suối, đắm mình ở những bờ biển trong vắt, mát lạnh, ngả mình trên những tảng đá bằng phẳng nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim kêu trong bầu không khí thoảng hương hoa rừng bên suối. Du khách có thể cắm trại, câu và nướng cá, thưởng thức tại chỗ rất thú vị. Ở gần suối Tranh còn có nhiều hang động huyền hoặc, kỳ bí. Hang Dơi nằm trên núi cao chừng 200m, sâu đến 50m, có nhiều thạch nhũ đẹp, lạ mắt.

Dinh Cậu

Dinh Cậu còn có tên gọi là Miếu thờ Long Vương. Miếu thờ này được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, kỳ thú được tạo nên từ ghềnh đá và biển, liên quan với đạo thờ Mẫu. Điều này chứng tỏ từ khi mở đất người Việt đã đặt chân lên Phú Quốc và đặt nền móng cho văn hóa Việt bén rễ ở vùng đảo xa này. Dinh Cậu liên quan mật thiết với tục thờ Bà Cậu, tức tục thờ Bà Thủy và Cậu Tai, con trai út cưng của bà. Nếu ở miền Quảng Nam- Đà Nẵng có tục thờ “Cậu Tài”( tài vật, tài sản…), thì trong tiến trình “Nam tiến” khai hoang người ta gọi chệch đi là “Cậu Tai”(tai hoạ, tai nạn…), một đối tượng khách quan mà mình chưa nhận thức hết, chưa chinh phục được.

Mũi đá Dinh Cậu cuốn hút du khách không chỉ bởi vẻ kỳ thú do thiên nhiên ban tặng, mà còn vì sự huyền bí, linh thiêng qua những truyền thuyết xa xưa.

Chuyện kể rằng người dân Phú Quốc sống bằng nghề chài lưới, nhiều ngư dân ra khơi gặp sóng dữ đã mãi mãi không về. Đột nhiên một mõm đá dần dần nổi lên nơi cửa biển, người dân cho rằng đây là điềm tốt nên đến đây thờ cúng và quả nhiên chuyến đi gặp được sóng êm biển lặng. Tin lành đồn xa, dần dần hình thành nên tục thờ cúng tại mỏm đá này và đặt tên là Dinh Cậu

Dinh Cậu ra đời vào khoảng thế kỷ XVII, nằm cách thị trấn Dương Đông 200m về phía tây. Từ bãi cát trắng xóa leo lên 29 bậc đá là đến miếu thờ. Uy nghi trên nóc dinh là hình ảnh “lưỡng long tranh châu”. Bên trong chánh điện thờ Chúa Ngọc nương nương và tượng thờ hai “Cậu” – những cao nhân bảo vệ ngư dân vùng biển đảo. Đứng trên Miếu Dinh Cậu đưa mắt xa nhìn bao quát được cả chợ Dương Đông. Trên đường lên Dinh ta gặp Miếu Thổ Thần nhỏ và một hàng rào bằng bê tông rất vững chãi bao quanh Dinh. Sân được láng bằng xi măng có đặt bàn thờ Ông Thiên. Bên hành lang di tích là hàng cột đúc bằng xi măng với những câu liễn đắp nổi bằng chữ Hán như: “Tọa đại thạch đầu quy danh hiển” (Dinh Cậu nổi tiếng tọa lạc ở đầu của mõm đá giống con rùa). “Vạn cổ anh linh thông tứ hải” (Từ xưa anh linh của Dinh Cậu đã vang khắp bốn biển). “Chấn phong bình lượng bảo lương dân” (Dinh Cậu như tấm bình phong bảo vệ dân lành). “Phong điếu vũ thuận dân an lạc” (Nhờ ơn cậu mà mưa thuận gió hòa dân cư an lạc). Cửa chính được làm bằng gỗ trên vòm cửa có ghi ba chữ Thạch Sơn Điện. Ngày xây dựng 14/7/1937 ngày trùng tu 14/7/1997.

 Trước mỗi chuyến ra khơi hay vào dịp lễ tết, người dân đảo lại đến thắp nhang cầu mong cho những chuyến đi biển được bình an. Hàng năm vào ngày 15, 16-10 âm lịch, nhân dân mở hội lớn, có rất đông người tham dự

Liền kề Dinh Cậu là bãi Dương Đông với bờ biển cát vàng, nước xanh, rực nắng (còn gọi là bãi tắm Dinh Cậu).

Nhà Tù Phú Quốc

Tháng 9/1946 Pháp chiếm lại Phú Quốc và chọn nơi đây để xây dựng nhà tù lớn nhất ĐNÁ, gọi là Căng(trại) Cây Dừa, mục đích của Pháp chọn Phú Quốc để xây dựng nhà tù là vì hòn đảo này có vị trí quân sự chiến lược, xa đất liền, xa các cơ quan báo chí để chúng dễ dàng đàn áp tù binh, nhà tù lúc bấy giờ có diện tích khoảng 40ha, chia làm 4 khu A, B, C, D, để giam cầm hơn 5000 chiến sĩ cách mạng.Mãi đến khi ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ vào tháng 7/1954, Pháp mới trao trả tù binh ở nhà tù Phú Quốc.

Cuối 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm cho lập lại Nhà lao cây Dừa mà chúng gọi là trại huấn luyện cây Dừa, với diện tích khoảng 20.000m vuông, xung quanh có 3 lớp hàng rào kẽm gai cao 2,6m, có 14 tháp canh.

Nhà tù Phú Quốc lúc này vẫn có sự hoạt động cách mạng bí mật của Đảng, ta còn bắt mối được ba nội tuyến nằm sâu trong hàng ngũ địch, nhờ đó mà ta có thể thường xuyên đưa thuốc men, tin tức ra vào trong nhà tù.Từ 1957, địch đưa tù nhân chính trị ra Côn Đảo, còn Phú Quốc chỉ giam giữ tù binh.Sau khởi nghĩa Đồng Khởi 1960, mức độ chiến tranh rất ác liệt, nhà lao Cây Dừa được Mỹ-ngụy chuyển đến xây dựng tại khu vực An Thới kéo dài hơn 5km, và đây mới chính là nơi mà người đời gọi là “Địa ngục trần gian” mà đoàn chuẩn bị tham quan.

Nhà tù Phú Quốc – hay còn gọi “Địa ngục trần gian” nơi chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ.Được xây dựng ở thị trấn An Thới, do phòng quân cảnh quân đội Sài Gòn trực tiếp quản lý.Nhà tù Phú Quốc do 3 tiểu đoàn quân cảnh 7, 8, 12 canh giữ, có tất cả 12 khu, mỗi khu có khả năng chứa 3000 tù binh.

Tại nhà tù Phú Quốc có khi giam hơn 32.000 tù binh, gồm nhiều thành phần như: bộ đội chủ lực, dân quân, du kích, cán bộ chính trị, đến học sinh, sinh viên, nhà văn, giáo viên, nhà báo, công nhân, nông dân ở khắp địa phương trong cả nước.

Âm mưu chính của địch và tay sai là hủy diệt thể xác và tinh thần của những chiến sĩ cách mạng bằng mọi thủ đoạn xảo nguyệt như: dụ dổ, tra tấn, buộc người tù cung khai, đầu hàng, phản bội lại cách mạng hoặc khi được trả về thì Cách mạng không tin dùng, bè bạn và nhân dân oán ghét.Còn người nào anh dũng, giữ được lòng yêu nước thì cũng tàn phế hoặc chết trong tù, và khi trở về không còn đủ sức để hoạt động cách mạng mà còn là gánh nặng cho gia đình, cho cách mạng.

Những hình thức tra tấn: đục răng, chuồng cọp kẽm gai, đánh bằng chày vôi, lấy móng tay móng chân, đóng đinh vào người, đục lấy xương bánh chè, nung sắt đỏ đâm xuyên bắp chuối, trùm bao bố ném người vào chảo nước sôi, nướng người, pha đèn điện cho mù mắt, đổ xà bông vào miệng, đốt miệng, đốt hạ bộ, chôn sống,…

Tổng cộng có 24 đòn tra tấn rất tàn độc, tàn độc đến nỗi như:

Đóng kim: là dùng những cây kim rỉ xét đóng từ từ vào ngón tay, ngón chân tù binh.

Chuồng cọp kẽm gai: chuồng làm bằng dây kẽm gai, phân khu nào cũng có 2-3 cái chuồng, chuồng để ngoài trời, có loại nhốt 1 người, có loại nhốt 3,5,7 người, kích thước đa dạng: nằm dưới đất cát, nằm trên kẽm gai, có loại chỉ ngồi lom khom, đứng lom khom, muốn ngồi phải ngồi lên dây kẽm gai,…tù nhân phải cởi quần áo, chỉ được mặc quần đùi để phơi nắng, phơi sương, dầm mưa suốt ngày đêm.

Lộn vỉ sắt: các tấm vỉ sắt loại có lỗ tròn và đầy mấu để mắc vào nhau và lật ngửa làm "đường băng sân bay" rồi bắt tù binh cởi áo, cởi quần ngoài, chỉ còn chiếc quần đùi. người tù bị bắt cắm đầu xuống vỉ sắt lộn ra sau, sau vài lần là lưng người tù tóe máu, đầu bị bứt tóc, tróc da tơi tả.

Gõ thùng: lấy thùng phuy úp lên tù nhân đang ngồi xổm, rồi gõ vào thùng. Tù nhân sẽ bị đau đầu, sẽ bị điếc vì tiếng gõ mạnh và sức ép không khí. Cũng bằng cách gõ vào thùng phuy đổ đầy nước, bên trong thùng là tù nhân. Kiểu tra tấn này có thể khiến tù nhân bị hộc máu vì sức ép của nước.

Đục răng và bẻ răng: kê đục vào sát chân răng của người tù, dùng búa đóng làm răng gãy văng ra.

Roi cá đuối: giám thị dùng những chiếc roi cá đuối dài, đem phơi để đánh tù nhân. Trước khi bị đánh, tù nhân phải cởi áo để bị đánh vào da thịt trần. Roi cá đuối thường quấn lấy thân nạn nhân, rồi giật ra, làm da thịt bị đứt theo. Giám thị sau đó có thể lấy muối ớt xát vào da thịt nạn nhân.

Đóng đinh: những chiếc đinh 3 phân được dùng để đóng vào các ngón tay của tù binh trong quá trình tra tấn. Mỗi lần bị đóng đinh, xương ngón tay của người tù bị vỡ nát. Ngoài ra còn có loại đinh 7, 8 phân hoặc cả tấc để đóng vào thân người tù ở các vùng: cổ chân, khớp vai, mắt cá, ống quyển, đầu. Có người bị đóng đinh đến chết, sau này khi bốc mộ vẫn còn đinh găm trong hài cốt.

Lấy bao bố trùm lên người tù rồi ném vào chảo nước sôi. Ba người tù ở phân khu C6 đã bị luộc chết.

Dùng bóng đèn công suất lớn để sát mặt người tù trong thời gian dài cho nổ con ngươi.

Dùng lửa đốt miệng, bộ phận sinh dục.

Bắt ăn cơm trộn cát với nước tiểu: không ăn chúng đánh, đang ăn ói ra chúng cũng đánh và bắt hốt lên và ăn tiếp.

Ngoài ra còn rất nhiều hình thức khác hành hạ, tra tấn dã mang không khác gì thời trung cổ.

Mặc dù bị địch tra tấn dã mang, hành hạ mọi kiểu nhưng các chiến sĩ cách mạng ở nhà tù Phú Quốc không nhục chí, luôn cố gắng chống lại kẻ địch và luôn nung nấu ý định vượt ngục. Có những vụ từ trong tự thoát ra. Có những vụ được lực lượng vũ trang bên ngoài hỗ trợ. Các vụ vượt ngục ở nhà tù Phú Quốc có ba dạng là: vượt rào, đánh lính khi áp giải để chạy trốn, và đào hầm thoát ra ngoài.Dụng cụ đào hầm tự chế bằng nắp cà mèn, cán muỗng. Cách đào là phân công ba người một ca, không mặc quần áo và đào vào ban đêm.Việc đào hầm không khó, khó là ở chổ làm sao giữ được bí mật.Vì vậy các đồng chí lên đầy đủ kế hoach như lượng đất phải ép vào hai bên thành của hầm hoặc lợi dụng trời mưa rồi đem đổ đi để xóa hết dấu vết, quan sát nếu có chỉ điểm thì trừ khử ngay.

Theo tổng kết có 42 vụ vượt ngục, trong đó có 16 vụ vượt rào, 15 lần đi riêng lẻ, 7 cuộc đánh quân cảng, 4 lần đào hầm.Hơn 400 người ra đi nhưng chỉ có 239 người về được căn cứ kháng chiến.

Nhà tù Phú Quốc đã tồn tại 20 năm(1953-1973) – thời gian ấy là thời gian ác liệt, cực kỳ gian khổ đối với những chiến sĩ cách mạng bị giam cầm tại đây, nơi đây đã giam cầm hơn 50.000 người và trong số đó đã có hơn 4.000 người đã hy sinh, để lại cho nhân dân ta một sự đau thương và mất mát rất lớn đối với tổ quốc.

Nơi gọi là “Địa ngục trần gian” – nhà tù Phú Quốc chính thức giải tán, khép lại những đau thương, mất mát, những hình thức tra tấn cực kỳ man rợ đã được xóa bỏ vào ngày 27/1/1973, khi hiệp định Paris được ký kết.Chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.Tù binh được trao trả, số bị thương, số bị liệt, có người thì bị rối loạn tâm thần, số thì nữa chết nữa sống, số thì bị những căn bệnh không thuốc cứu chữa…và tất cả là do tội ác của bọn đế quốc, thực dân.

Nhà tù Phú Quốc được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1993.

Nhà tù Phú Quốc thực sự là một bằng chứng xác thực để ghi dấu tội ác vô cùng dã man của bọn đế quốc, thực dân xâm lược, đồng thời nói lên tinh thần bất khuất đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ cách mạng.

Vườn quốc gia Phú Quốc

Khu rừng nguyên sinh với 929 loài thực vật, 144 loài động vật sinh sống trên diện tích 370 km2. Du khách đến đây sẽ trở về với hệ sinh thái tự nhiên nguyên vẹn nhất trong vùng khí hậu ôn hoà từ 24 – 27oC, rất tuyệt vời cho du khảo, nghỉ dưỡng. Từ đỉnh núi Chúa cao 565 m tại Vườn quốc gia, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn rừng núi trùng điệp của đảo Phú Quốc.

Dịch vụ vui chơi – thám hiểm

Lặn ngắm san hô: Hệ thống sinh thái biển đa dạng thuộc quần đảo An Thới ở phía Nam hay hòn Móng Tay và hòn Đồi Mồi ở phía Bắc đảo Phú Quốc là nơi lý tưởng để du khách khám phá thế giới đại dương, đặc biệt hơn cả là các dải san hô nơi dây được xếp vào bậc nhất Việt Nam về mức độ phong phú với 17 loại cứng, mềm và hải qùy khác nhau. Cùng với thủy thủ đoàn, bạn sẽ được khám phá thế giới đại dương ở những nơi heo hút nhất và đổ bộ lên hoang đảo để tận hưởng và trải nghiệm một ngày nghỉ trên biển theo cách riêng của mình

Câu mực đêm: Khi màn đêm buông xuống, toàn đảo Phú Quốc trở nên tĩng lặng nhưng ở phía xa ngoài khơi cuộc sống của các ngư phủ vẫn hối hả với các ngọn đèn lung linh như một thành phố náo nhiệt. Đó chính là lúc để trải nghiệm những gây phút vừa thư giãn vừa thú vị cùng thủy thủ đoàn của chúng tôi cùng hoạt động câu mực đêm. Sẽ không gì bằng khi chính tay bạn câu được những con mực đang săn mồi dưới biển hay vớt được những chú cá kiếm, cá xanh xương đang nổi mình trên mặt biển. Chiến lợi phẩm là mực câu hay cá vốt được sẽ được phục vụ ngay trên tàu.

Tản mạn chợ đêm Dinh Cậu: Sau một ngày khám phá Phú Quốc, chợ đêm Dinh Cậu là điểm không thể bỏ qua. Du khách đến đây không chỉ để thưởng thức các món hải sải tươi sống mà con là dịp để ngắm nhìn và trải nghiệm nét đẹp văn hóa ẩm thực miền biển và mua sắm quà lưu niệm làm quà cho người thân nhân chuyến du lịch Phú Quốc.