Đồng Hành Việt - Đặt Trọn Niềm Tin!

Dịch trang

Người Đi Tìm Hình Của Nước - Chế Lan Viên

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Quần thể di tích Cố đô Huế - Di sản văn hoá thế giới

 Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, Việt Nam, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993.

Đại Nội Huế về đêm (Ảnh: Thanh Toàn)

Ngày nay, Quần thể di tích cố đô Huế đã được Thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 95 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Quần thể di tích Cố đô Huế được phân chia thành 2 cụm: cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và trong Kinh thành Huế.

Cụm công trình trong Kinh thành Huế:

Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng, kéo dài suốt 27 năm.

Các di tích trong kinh thành gồm:

1. Kỳ Đài

Kỳ Đài  Huế (Ảnh: Ngọc Bích)

Còn gọi là Cột cờ, nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình. Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời gian xây dựng kinh thành Huế. Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840. Trong lịch sử, kỳ đài thường là nơi đánh dấu các sự kiện quan trọng và sự thay đổi thể chế chính quyền ở Huế.

2. Trường Quốc Tử Giám


Năm 1803 vua Gia Long xây dựng Đốc Học Đường tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương. Đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay).

Với vai trò trường kinh sư, tồn tại đến cuối triều Nguyễn, mặc dù bị chi phối do những biến động về mặt xã hội... nhưng Văn Miếu - Quốc Tử Giám Huế là một tổ chức giáo dục tương đối kỷ cương, là nơi đã đào tạo cho đất nước nhiều hiền tài (293 tiến sĩ) với những tên tuổi như: Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Phan Thúc Trực, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền...

3. Điện Long An


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Điện Long An là cung điện đẹp nhất trong kinh thành Huế đã tồn tại gần 150 năm nay. Tên tuổi của điện Long An được gắn liền với Bảo Định Cung, hành cung của vua Thiệu Trị được xây dựng năm 1845.

Điện được xây dựng vào năm 1845, thời vua Thiệu Trị với tên gọi là Điện Long An trong cung Bảo Định, phường Tây Lộc (Huế) làm nơi nghỉ của vua sau khi tiến hành lễ Tịch điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân. Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, ngâm vịnh.

4. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế


Tọa lạc tại số 3, Lê Trực, thành phố Huế, Tòa nhà chính của viện bảo tàng chính là điện Long An xây năm 1845 dưới thời vua Thiệu Trị. Hiện bảo tàng trưng bày hơn 300 hiện vật bằng vàng, sành, sứ, pháp lam Huế, ngự y và ngự dụng, trang phục của hoàng thất nhà Nguyễn. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế giúp người tham quan một cái nhìn tổng thể về cuộc sống cung đình Huế.

5. Đình Phú Xuân


Đình Phú Xuân được xây dựng nửa đầu thế kỷ XIX ở tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế; nay thuộc phường Tây Lộc, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố 2 km về phía Bắc.

6. Hồ Tịnh Tâm


Hồ Tịnh Tâm là một di tích cảnh quan được kiến tạo dưới triều Nguyễn. Trước đây, hồ nguyên là vết tích của đoạn sông Kim Long chảy qua Huế. Đầu thời Gia Long, triều đình cho cải tạo một số đoạn sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Hai bãi nổi trong hồ này được dùng làm nơi xây dựng kho chứa thuốc súng và diêm tiêu. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính tham gia vào việc cải tạo hồ. Năm 1838, vua Minh Mạng cho di dời hai kho sang phía đông, tái thiết nơi này thành chốn tiêu dao, giải trí và gọi là hồ Tịnh Tâm. Dưới thời vua Thiệu Trị đây được xem là một trong 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh.

7. Tàng thư lâu


Tàng thư lâu là được xây dựng năm 1825 trên hồ Học Hải trong kinh thành Huế, dùng làm nơi lưu các công văn cũ của cơ quan và lục bộ triều đình nhà Nguyễn. Đây có thể coi là một Tàng Kinh Các của Việt Nam dưới triều Nguyễn lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều đình và biến đổi của đất nước. Chỉ riêng số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến 12.000 tập. Có thể nói Tàng thư lâu rất quan trọng trong việc chứa các tài liệu và địa bạ, giấy tờ quan trọng lúc bấy giờ.

8. Viện Cơ Mật - Tam Tòa


Là cơ quan tư vấn của nhà vua gồm bốn vị đại thần từ Tam Phẩm trở lên, là Đại Học Sĩ của các điện Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển và Cần Chánh. Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng vùng với toà Giám Sát (của người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà. Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc phường Thuận Thành, ở góc Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

9. Cửu vị thần công


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, khi lên ngôi, vua Gia Long liền cho các nghệ nhân đương thời tập trung tất cả chiến lợi phẩm là binh khí và vật dụng bằng đồng để đúc thành 9 khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. Công việc đúc chính thức từ năm 1803 và hoàn thành vào năm 1804.

10. Hoàng thành Huế


Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành thường được gọi chung là Đại Nội.  

Các di tích trong Hoàng Thành gồm:

• Ngọ Môn




Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng Thành Huế được xây dựng vào năm Minh Mạng 14 (1833). Ngọ Môn có nghĩa đen là Cổng giữa trưa hay Cổng xoay về hướng Ngọ, là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế. Về mặt từ nguyên học, "Ngọ Môn" có nghĩa là chiếc cổng xoay mặt về hướng Ngọ, cũng là hướng Nam, theo Dịch học là hướng dành cho bậc vua Chúa.

• Điện Thái Hoà và sân Đại Triều Nghi


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Điện Thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế. Điện cùng với sân chầu là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm của đất nước. Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn.

• Triệu Tổ Miếu



Triệu Tổ miếu còn gọi là Triệu Miếu, được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804). Miếu này nằm ở phía bắc của Thái Miếu trong hoàng thành Huế, là miếu thờ Nguyễn Kim, thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

• Hưng Tổ Miếu

Hưng Tổ Miếu còn gọi là Hưng Miếu là ngôi miếu thờ cha mẹ vua Gia Long (ông Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn) và bà Nguyễn Thị Hoàn), vị trí ở Tây Nam Hoàng thành Huế|hoàng thành (cách Thế Miếu chừng 50 mét về phía Bắc).

• Thế Tổ Miếu


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Thế Tổ Miếu thường gọi là Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn. Đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới trong triều (kể cả hoàng hậu) không được đến tham dự các cuộc lễ này.

• Thái Tổ Miếu


Thái Tổ Miếu còn gọi là Thái Miếu là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc Đông Nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía Tây Nam.

• Cung Diên Thọ


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Cung Diên Thọ tên ban đầu là cung Trường Thọ, các tên khác là Từ Thọ, Gia Thọ, Ninh Thọ; được bắt đầu xây dựng năm 1803 để làm nơi sinh hoạt của Hoàng Thái Hậu của triều Nguyễn.

• Cung Trường Sanh


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Cung Trường Sanh hay Cung Trường Sinh (còn có tên gọi khác là Cung Trường Ninh), được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ nhất (1821) ở phía Tây Bắc Hoàng thành với vai trò ban đầu là hoa viên, nơi các vua triều Nguyễn mời mẹ mình đến thăm thú ngoạn cảnh. Về sau cung được được chuyển thành nơi ăn ở sinh hoạt của một số bà hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu. Trong thời kỳ rực rỡ nhất, kiến trúc cảnh quan của Cung Trường Sanh được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ bảy của thắng cảnh đất Thần Kinh.

• Hiển Lâm Các


 

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Hiển Lâm Các được xây dựng vào năm 1821 và hoàn thành vào năm 1822 thời vua Minh Mạng nằm trong khu vực miếu thờ trong hoàng thành Huế, cao 17m và là công trình kiến trúc cao nhất trong Hoàng Thành. Đây được xem là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích của các vua nhà Nguyễn và các quan đại thần có công lớn của triều đại.

• Cửu Đỉnh


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

 Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng đặt ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu, phía Tây Nam Hoàng hành Huế. Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.

• Điện Phụng Tiên


Điện Phụng Tiên là một ngôi điện nằm ở gần cửa Chương Đức, phía trước Cung Diên Thọ, cửa tây của Hoàng Thành được vua Gia Long và vua Minh Mạng xây dựng dùng để thờ cúng các vua triều Nguyễn. Khác với Thế Miếu, điện này tuy cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà Nguyễn nhưng nữ giới trong triều được phép đến đây cúng tế. Ngoài ra, nó còn là nơi lưu trữ nhiều bảo vật của nhiều đời vua nhà Nguyễn. Tháng 2 năm 1947, toàn bộ điện bị đốt cháy, hiện nay chỉ còn lại cửa Tam Quan và vòng tường thành còn tương đối nguyên vẹn.

• Tử Cấm thành
 

Tử Cấm Thành nguyên gọi là Cung Thành là vòng tường thành thứ 3 của Kinh đô Huế, giới hạn khu vực làm việc, ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia.

Các di tích trong Tử cấm thành gồm:

Tả Vu và Hữu Vu

Tả Vu và Hữu Vu được xây dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo vào năm 1899. Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ; đây là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của cơ mật viện, nơi tổ chức thi đình và yến tiệc.

Vạc đồng

Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời. Trong số đó, 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời Minh Mạng.

Điện Kiến Trung

Điện Kiến Trung trong Tử Cấm thành (Huế) được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923 cùng thời gian với xây lăng để làm nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung. Sau này, vua Bảo Đại cho tu sửa lại điện, tân trang các tiện nghi Tây phương và cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại đây.

• Điện Cần Chánh

Điện Cần Chánh trong Tử Cấm thành (Huế), được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804), sau còn được tu bổ nhiều lần. Điện là nơi vua thiết triều, thường tiếp sứ bộ ngoại giao, tổ chức yến tiệc của hoàng gia và triều đình của triều Nguyễn, hiện nay đã trở thành phế tích do bị phá huỷ từ năm 1947.

Hoàng đế Khải Định làm việc ở Cần Chánh điện. Nguồn: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế lưu trữ

Thái Bình Lâu

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Thái Bình Lâu được vua Khải Định cho xây dựng vào năm 1919, đến năm 1921 thì hoàn thành, là nơi để nhà vua có thể nghĩ ngơi lúc rảnh rỗi, cũng là chỗ để nhà vua đọc sách, viết văn, làm thơ, thư giản.

Duyệt Thị Đường

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Duyệt Thị Đường - theo như các tài liệu và thư tịch cổ hiện còn lại cho biết - là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam. Đây là nhà hát của hoàng cung, nơi dành cho vua và những người trong hoàng tộc thưởng thức các loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật tuồng cổ. Nhà hát Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826). 

Từ năm 2004, Duyệt Thị Đường được Trung tâm bảo tàng di tích cố đô Huế khôi phục và đưa vào hoạt động biểu diễn nhã nhạc cung đình Huế phục vụ khách du lịch.

Các di tích ngoài kinh thành:

1. Lăng Gia Long

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ Lăng bắt đầu được xây dựng từ năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn tất. Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này.

2. Lăng Minh Mạng

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Tháng 2 năm 1820 vua Gia Long băng hà, con trai thứ tư là Phúc Kiểu, húy là Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu Minh Mạng. Minh Mạng là ông vua có nhiều đóng góp vào việc ổn định và xây dựng vương triều Nguyễn, mở mang đất nước, củng cố nền thống nhất quốc gia…Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng. Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km.

3. Lăng Thiệu Trị

Lăng Thiệu Trị nằm ở địa phận làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, cách Kinh thành chừng 8km. Ở ngôi vua được 7 năm, vua Thiệu Trị lâm bệnh mất ngày 4-11-1847 (thọ 41 tuổi). Sinh thời, nhà vua chưa nghĩ đến cái chết của mình và không muốn binh, dân hao tổn quá nhiều sức lực và của cải, nên ông chưa xây cất sơn lăng.

Ảnh: @TrangNguyen

Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy. Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chôn cất vua cha Thiệu Trị. là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị. So với lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn.

4. Lăng Tự Đức

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Lăng Tự Đức được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng. Lăng có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.

5. Lăng Đồng Khánh

Lăng Đồng Khánh được xây dựng trên vùng đất thuộc làng Cư Sĩ, nay là thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Xung quanh lăng này có rất nhiều lăng mộ của bà con quyến thuộc nhà vua.

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Lăng Ðồng Khánh còn gọi là Tư Lăng tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, thành phố Huế). Nguyên trước đây là Ðiện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ cha mình là Kiên Thái Vương. Khi Ðồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời. Vua Thành Thái (1889-1907) kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Ðồng Khánh.

6. Lăng Dục Đức

Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế, là nơi an táng vua Dục Ðức, vị vua thứ 5 của triều đại nhà Nguyễn.Lăng Dục Đức cũng chính là nơi Thiên Táng của vua Dục Đức khi xưa

Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng tọa lạc tại thôn Tây Nhất, làng An Cựu, xưa thuộc huyện Hương Thủy, nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố chưa đầy 2 km; là nơi an táng của 3 vua nhà Nguyễn: Dục Ðức, Thành Thái và Duy Tân. Dục Đức lên ngôi năm 1883 được 3 ngày thì bị phế trất và mất, sau này con ông là vua Thành Thái (lên ngôi năm 1889) cho xây lăng để thờ cha đặt tên là An Lăng. Năm 1954, khi vua Thành Thái mất, thi hài được đưa về chôn tại địa điểm hiện nay trong khu vực An Lăng và được thờ ở ngôi điện Long Ân. Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về an táng cạnh lăng Thành Thái.

7. Lăng Khải Định

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

 Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, tọa lạc tại xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách Tp. Huế 10km.

Lăng Khải Định còn gọi là Ứng Lăng toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định, vị vua thứ 12 của triều Nguyễn. Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi. Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi sự pha trộn kiến trúc Đông Tây Kim Cổ lạ thường, với các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo.

Các di tích khác

8. Trấn Bình đài

Trấn Bình đài nằm ở vị trí Đông Bắc kinh thành Huế bên ngoài cửa Trấn Bình được xây dựng năm Gia Long thứ 4 (1805), lúc đầu gọi là đài Thái Bình, đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) đổi thành Trấn Bình đài, dân gian gọi là đồn Mang Cá. Đây là cái pháo đài thứ 25 của Kinh thành Huế, một thành phụ của Kinh thành, cách thành chính chỉ một đoạn hào chung.

9. Phu Văn Lâu

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Phu Văn Lâu nằm trên trục chính của Hoàng thành Huế phía trước Kỳ Đài, được xây dựng vào năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức. Năm 1829, vua Minh Mạng dùng nơi đây làm địa điểm tổ chức cuộc đấu giữa voi và hổ, năm 1830 ông lại tổ chức cuộc vui chơi yến tiệc suốt 3 ngày để mừng sinh nhật của mình.

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

10. Tòa Thương Bạc


 Tòa Thương Bạc tọa lạc bên bờ Nam sông Hương, bên ngoài cổng Thượng Tứ được vua Tự Đức cho xây dựng năm 1936, tại vị trí hiện nay, cách vị trí Thương Bạc Viện cũ khoảng 100m để ghi nhớ di tích Thương Bạc Viện. Đây là trụ sở để đón tiếp các sứ thần nước ngoài. Công trình này được xây bằng vật liệu mới như xi măng, sắt thép; mặt nền hình bát giác, mái chia 2 tầng lợp ngói lưu ly, cấu trúc thanh nhã, hài hòa với cảnh vật xung quanh.

11. Văn miếu

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Văn Miếu còn gọi là Văn Thánh Miếu là nơi thờ Khổng Tử và dựng bia tiến sĩ. Miếu được chính thức xây dựng vào năm 1808 dưới triều vua Gia Long và có quy mô uy nghi đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành Huế.

12. Võ Miếu

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Võ Miếu hay Võ Thánh miếu tại Huế được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) thời Minh Mạng tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Đây là nơi thờ phụng và ghi danh những danh tướng Việt Nam, những tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới triều Nguyễn, đây còn là nơi thờ một số danh tướng Trung Quốc.

13. Đàn Nam Giao

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Đàn Nam Giao triều Nguyễn được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đây là nơi các vua Nguyễn tế trời.

14. Hổ Quyển

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Hổ Quyền còn đọc là Hổ Khuyên tọa lạc tại địa phận thôn Trường Đá, xã Thủy Biều, thành phố Huế; được xây dựng năm Minh Mạng thứ 11 (1830), là một chuồng nuôi hổ và là một đấu trường độc đáo. Dưới triều Nguyễn đây là đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiển cho vua, quan lại và người dân.

15. Điện Voi Ré

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Điện Voi Ré nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía Tây-Nam, cách Hổ Quyền khoảng 400m, trên địa phận thôn Trường Đá thuộc xã Thủy Biều, thành phố Huế. Tương truyền, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhân dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ cho một con voi của một dũng tướng chết trận, gọi là mộ Voi Ré. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng bên cạnh mộ con voi một ngôi điện thờ với tên gọi là Long Châu Miếu để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Từ truyền thuyết và sự kiện lịch sử như vậy, dân gian quen gọi ngôi miếu này là điện Voi Ré.

16. Điện Hòn Chén


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Điện Hòn Chén tọa lạc trên núi Ngọc Trản, thuộc làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Núi Ngọc Trản xưa có tên là Hương Uyển Sơn, sau mới đổi tên là Ngọc Trản (có nghĩa là chén ngọc), dân gian vẫn quen gọi là Hòn Chén vì nó ngay ngắn tròn trĩnh như hình chén úp. Cũng vì vậy, người ta quen gọi ngôi điện thờ Thánh mẫu tọa lạc giữa lưng chừng núi là điện Hòn Chén. Ðiện Hòn Chén là nơi ngày xưa người Chàm thờ nữ thần PoNagar, sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà dưới xưng Thánh Mẫu Thiên Y A Na.

17. Chùa Thiên Mụ

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía tây. Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong. Đây là ngôi quốc tự dưới thời Nguyễn, cũng là ngôi chùa cổ nhất của Huế.

18. Trấn Hải Thành

Trấn Hải Thành (Thành trấn giữ mặt biển) là một thành lũy dùng để bảo vệ kinh đô triều Nguyễn được xây dựng ở cửa ngỏ Phía Đông kinh thành Huế, cách đó 10 km đường sông và 13 km đường bộ. Cửa biển này người ta gọi là yêu Hải Môn - hay Cửa Eo (Cửa Lấp). Năm 1813, Gia Long cho xây dựng Trấn Hải Đài và đổi tên Cửa Eo thành Cửa Thuận An. Đến năm 1834, vua Minh Mạng cho đổi tên Trấn Hải đài ra Trấn Hải thành.

19. Nghênh Lương Đình

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Nghênh Lương Đình hay Nghênh Lương Tạ là một công trình nằm trên trục dọc từ Kỳ đài ra đến Phu Văn Lâu được xây dựng dưới triều vua Tự Đức thứ 5 (1852), dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát.

20. Cung An Định

Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Cung An Định tọa lạc bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát - Thị xã Huế, nay tại số 97 đường Phan Đình Phùng, Thành phố Huế, là cung điện riêng của vua Khải Định từ khi còn là thái tử đến khi làm vua, sau này được Vĩnh Thuỵ thừa kế và từng sống ở đây sau khi thoái vị.

Giá trị nổi bật

Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới, Colombia từ ngày 6 đến 11/12/1993, UNESCO đã công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá thế giới với tiêu chí (Ciii): là là biểu trưng cho sự nổi bật về uy quyền của một đế chế phong kiến đã mất của Việt Nam vào thời kỳ hưng thịnh nhất của nó đầu thế kỷ 19; và tiêu chí (Civ): là một điển hình nổi bật của một kinh đô phong kiến phương Đông, gồm 16 hạng mục, trong đó đáng chú ý là hệ thống Cung điện trong tử cấm thành, Hoàng Thành, Kinh Thành, các lăng tẩm, đàn Nam Giao, Văn Miếu, Võ Miếu, Chùa Thiên Mụ, Hồ Quyền…

Năm 1993, UNESCO đã công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá thế giới, là biểu trưng cho sự nổi bật về uy quyền của một đế chế phong kiến đã mất của Việt Nam vào thời kỳ hưng thịnh nhất của nó đầu thế kỷ XIX.

Một sự kiện trọng đại trong lịch sử văn hoá Việt Nam, tài sản đầu tiên của Việt Nam được ghi tên vào danh mục Di sản thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế. Theo đánh giá của UNESCO, quần thể di tích Cố đô Huế đã hội đủ các yếu tố:

- Tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng.

- Có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc trong một kế hoạch phát triển đô thị hay một chương trình làm đẹp cảnh quan tại một khu vực văn hoá của thế giới.

- Một quần thể kiến trúc tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử quan trọng.

- Kết hợp chặt chẽ với các sự kiện trọng đại, những tư tưởng hay tín ngưỡng có ảnh hưởng lớn, hay với các danh nhân lịch sử./.

Nguồn: http://khamphahue.com.vn/

Khu di tích Nghĩa Trủng Hòa Vang

Khu di tích Nghĩa Trủng Hòa Vang (hay còn gọi là Nghĩa Trủng Khuê Trung), hiện tọa lạc trên diện tích 4.000m2thuộc phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ. Là nơi an nghỉ của hơn 1000 nghĩa sỹ và đồng bào yêu nước đã ngã xuống trong những ngày đầu kháng Pháp (1858 – 1860) 

Rạng sáng ngày 01/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Với tinh thần quyết xã thân vì nước, quân và dân ta đã đánh trả quyết liệt. Trong suốt gần 19 tháng giao tranh ác liệt, đã có hàng ngàn nghĩa sỹ hy sinh anh dũng, góp phần quan trọng làm thất bại ý đồ nhanh chóng chiếm đóng Đà Nẵng của thực dân Pháp.

Trong điều kiện chiến tranh, việc quy tập, mai táng các nghĩa sỹ hy sinh lúc đó chỉ tạm thời. Khi Đà Nẵng được giải phóng, nhân dân đã lập các nghĩa trủng và quy tập hài cốt, xây đắp mộ cho những chiến sỹ trận vong tại đây.

Nghĩa Trủng Hòa Vang được hình thành vào năm 1866 tại làng Nghi An, thuộc tổng Phước Tường, huyện Hòa Vang. Khi thực dân Pháp xây dựng sân bay Đà Nẵng (1925 – 1926), nhân dân phải dời Nghĩa Trủng về vườn Bá làng Khuê Trung. Năm 1962, sân bay Đà Nẵng tiếp tục mở rộng, Nghĩa trủng được chuyển về vị trí hiện nay.

Tuy trải qua nhiều lần di dời nhưng Nghĩa Trủng vẫn lưu giữ được tấm bia cổ khắc 4 chữ “Hòa Vang Nghĩa Trủng” được lập năm Tự Đức thứ 19 (1866) và hai trụ đá có ghi 2 câu đối:

“Ân triêm khô cốt di truyền cổ

Trạch cập tàn hồn tái kiến kim”.

Tạm dịch:

“Vua ban nhặt cốt truyền dấu cũ

Giữ được tàn hồn lại thấy nay”.

        Nghĩa Trủng Hòa Vang là nơi lưu giữ hồn thiêng sông núi, là đài tôn vinh khí phách anh hùng của các nghĩa sỹ vị quốc vong thân. Đồng thời là nơi đánh dấu sự thất bại ngay trận đầu của quân Pháp khi đánh vào Đà Nẵng.

Bên cạnh Nghĩa Trủng với hơn một nghìn ngôi mộ là quần thể di tích văn hóa – lịch sử, gồm: di tích Phế tích tháp Hóa Quê, ngôi miếu Bà, giếng cổ Chăm hình vuông được xây bằng đá sa thạch, phế tích tháp Chăm và Nhà thờ tiền hiền làng Hóa Quê. Đặc biệt, Nhà thờ tiền hiền của làng cùng với miếu Bà là những công trình lịch sử – văn hóa có giá trị, là nơi cán bộ cán bộ cách mạng địa phương dùng làm địa điểm bí mật hoạt động cách mạng.

Để tưởng nhớ các bậc tiền hiền đã có công gây dựng làng và các Nghĩa sĩ đã hy sinh trong những ngày đầu kháng chiến chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha, hằng năm vào tháng 3 âm lịch UBND phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ long trọng tổ chức Lễ tế nghĩa sĩ cùng với Hội làng Khuê Trung tại Khu di tích Nghĩa Trủng.

Khu di tích Nghĩa Trủng Hòa Vang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử quốc gianăm 1999. 

Đặc sản Đà Nẵng

Đặc sản Đà Nẵng luôn hấp dẫn du khách ghé thăm bởi hương vị độc đáo, thơm ngon. Đặc sản Đà Nẵng chia làm 2 loại, một loại là các món ăn Quý khách có thể thưởng  thức tại chỗ, loại thứ 2 mua về làm quà cho người thân và bạn bè.

Loại 1, các món ăn thưởng thức tại chỗ

Mì Quảng Đà Nẵng

Cứ hễ nhắc đến Đà Nẵng thì không thể không nhắc đến món mì Quảng. Món mì Quảng được làm từ sợi mì màu vàng hoặc trắng, to hơn sợi phở và có độ dai mềm riêng biệt. Điểm đặc biệt của món ăn này nằm ở phần nước lèo được nấu từ xương, mang hương vị ngọt thanh tự nhiên.

Để thưởng thức món mì Quảng chuẩn vị, không thể thiếu các nguyên liệu như: Đậu phộng rang, bánh tráng mè, các loại rau sống. Đậu phộng rang thơm béo và giòn ngon, khi kết hợp với miếng bánh tráng sẽ làm tôn lên hương vị đặc biệt của món ăn này. Bên cạnh đó, các loại rau sống như: Cải non, xà lách, giá đỗ, húng, quế, bắp chuối… sẽ làm cho cho người ăn không bị ngấy và thưởng thức vị ngon của sợi mì tròn vị hơn.

Thưởng thức một tô mì nóng hổi, cắn thêm miếng ớt cay và nếm nước lèo béo ngọt, bạn sẽ cảm nhận được hết sự độc đáo của món ăn này. Một lưu ý nhỏ rằng bạn nên ăn mì Quảng khi còn nóng. Nếu để quá lâu, sợi mì có thể bị mềm và rau sống mất đi sự tươi ngon.    

Một số quán mì Quảng ngon ở Đà Nẵng:

·         Mì quảng Bà Vị: Số 166 đường Lê Đình Dương

·         Mì quảng Bà Lữ: Số 78 đường Nguyễn Văn Linh

·         Mì quảng Mến: Số 201 đường Lê Thanh Nghị

·         Mì quảng bà Ngân: Số 108 đường Đống Đa

1.2 Bánh tráng cuốn thịt heo

Một món ngon Đà Nẵng siêu hấp dẫn mà bạn không thể bỏ lỡ khi đến thăm thành phố này đó chính là món bánh tráng cuốn thịt heo. Món ăn này là sự kết hợp độc đáo giữa lớp bánh tráng mỏng mịn, miếng thịt ba chỉ heo mỏng thơm ngon và các loại rau tươi xanh.

Bánh tráng cuốn thịt heo thường được thưởng thức bằng cách lấy một miếng bánh tráng, đặt lên đó là miếng thịt, mì lá, sau đó thêm các loại rau và cuốn lại. Món ăn này thường được kèm theo mắm nêm - loại nước chấm đặc trưng bởi hương vị đậm đà, hòa quyện giữa vị chua, mặn, ngọt, cay và mùi thơm của tỏi.

Một số quán ăn mà bạn có thể thưởng thức bánh tráng cuốn thịt heo như:

o   Quán thịt heo Bà Mua

Địa chỉ: Số 19 – 21 đường Trần Bình Trọng

Thời gian mở cửa: 6h30 – 21h30

·       Quán ăn Đại Lộc Nhỏ

Địa chỉ: Số 27/2 đường Thái Phiên

Thời gian mở cửa: 06h30 – 20h30

 

1.3 Bánh xèo    

Khác với các miền khác, bánh xèo Đà Nẵng mang đậm hương vị đặc biệt của bánh xèo miền Trung. Ở Đà Nẵng, bánh xèo thường có vỏ dày, giòn khi ăn và có hương vị đặc trưng của nước cốt dừa.

Bánh xèo Đà Nẵng thường sử dụng các loại nhân như: Tôm, mực, bò và cá, mang hương vị biển đặc trưng. Bánh xèo ở đây thường được chấm kèm với nước chấm chua ngọt hoặc mắm tương đậu tùy theo sở thích của người ăn.

Một số quán ăn mà bạn có thể thưởng thức món bánh xèo như:

·         Quán bánh xèo bà Dưỡng: K280/23 đường Hoàng Diệu, quận Hải Châu

·         Quán bánh xèo Lipton: Số 280/21 đường Hoàng Diệu, quận Hải Châu

·         Quán bánh xèo cô Ba: Số 248 đường Trưng Nữ Vương

·         Quán bánh xèo bà Ngọc: Số 228 đường Đống Đa, quận Hải Châu

 

1.4 Bún mắm nêm    

Bún mắm nêm là món ăn phổ đặc trưng, rất được yêu thích ở Đà Nẵng. Món ăn này là sự kết hợp độc đáo giữa nhiều nguyên liệu như: Mắm nêm, thịt heo quay hoặc heo luộc, mít non, chả, nem và các loại rau thơm cùng đậu phộng rang.

Mắm nêm là một loại mắm nổi tiếng từ miền Trung, thường được làm từ cá tươi như cá cơm, cá nục hoặc cá trích. Cá được ướp muối và lên men trong khoảng từ 7 đến 9 ngày, cho ra mắm có vị đặc trưng, hơi sền sệt và thơm ngon.

Khi thưởng thức, người bán sẽ xếp rau sống dưới đáy bát, sau đó đặt bún lên trên. Tiếp theo, các nguyên liệu như thịt heo quay, nem chua, chả, dưa leo và đậu phộng rang sẽ được thêm vào tô. Khi ăn, bạn hòa quyện mắm nêm với các thành phần khác để tận hưởng hương vị thơm ngon và độc đáo của món ăn này.

Bạn có thể thưởng thức món bún mắm nêm tại địa chỉ:

·         Bún mắm nêm bà Thuyên

Địa chỉ: K424/03 đường Lê Duẩn

 

1.5 Bún chả cá Đà Nẵng    

Nếu bạn đã từng đến Đà Nẵng mà chưa thử món bún chả cá ở đây thì thực sự là một điều đáng tiếc. Bún chả cá Đà Nẵng thu hút vị giác của mọi người nhờ hương vị dai ngon của miếng chả cá, vị ngọt thanh của nước dùng được ninh từ xương cá.

Dù chỉ được làm từ những nguyên liệu đơn giản và nêm nếm, ăn kèm với cà chua, dứa, bí đỏ, bắp cải và mắm ruốc, nhưng thông qua bàn tay sáng tạo của đầu bếp, món ăn này trở nên độc đáo, thơm ngon lạ thường.

Bún chả cá Đà Nẵng thường được kết hợp với mắm ruốc, một đặc sản không thể thiếu của vùng biển. Khi bạn kết hợp bún, chả cá và mắm ruốc, mùi thơm kích thích mọi giác quan sẽ khiến bạn phải say đắm.

Một số quán ăn mà bạn có thể thưởng thức món bún chả cá Đà Nẵng như:

·         Bún chả cá Hờn:

Địa chỉ: Số 113/3 đường Nguyễn Chí Thanh, quận Hải Châu

Giờ mở cửa: 6h00 - 22h00

·         Bún chả cá đường Nguyễn Chí Thanh

Địa chỉ: Số 109 Nguyễn Chí Thanh, quận Hải Châu

Giờ mở cửa: 6h00 - 22h00

·         Bún bà Lữ:

Địa chỉ: Số 319 Hùng Vương, quận Thanh Khê

Giá: 25.000 - 40.000 VND

Giờ mở cửa tham khảo: 7h00 - 23h00

1.6 Bánh bèo, bánh nậm    

Bánh nậm, bánh lọc và bánh bèo Đà Nẵng là những món ăn nổi tiếng thường xuất hiện trong danh sách các món ngon của thành phố này. Bánh nậm thường có hình chữ nhật và được bọc trong lá rong xanh, còn bánh bột lọc nhỏ xinh thì chứa nhân tôm hấp dẫn. Bánh bèo thì được hấp trong các chén nhỏ riêng biệt.

Các loại bánh này không chỉ ngon mà còn rất bắt mắt. Lá bọc của bánh nậm và bánh lọc luôn tươi xanh, tạo ấn tượng đầu tiên về sự tươi mát. Thông thường, bánh bèo sẽ được ăn cùng mắm ngọt và bánh nậm sẽ chấm chung với ớt cay.

Mặc dù chỉ được làm từ những nguyên liệu đơn giản nhưng những món bánh này luôn mang hương vị thơm ngon và hấp dẫn thực khách. Bên cạnh đó, giá cả của bánh bèo, bánh nậm cũng rất hợp lý, là lựa chọn yêu thích của nhiều người dân và du khách khi đến Đà Nẵng.

Một số quán ăn mà bạn có thể thưởng thức món bánh bèo, bánh nậm như:

·         An Thành Quán

Địa chỉ: Số 104 đường Nguyễn Tri Phương, quận Thanh Khê

Thời gian mở cửa: 6h30 – 20h00

·         Quán Bà Bé

Địa chỉ: Số 100 Hoàng Văn Thụ, quận Hải Châu

Thời gian mở cửa: 06h00 – 18h00

·         Quán Tâm

Địa chỉ: Số 291 đường Nguyễn Chí Thanh, quận Hải Châu

Thời gian mở cửa: 12h00 – 20h00

Giá: 15,000 – 22,000 VND

·  Quán Bà Tiên

Địa chỉ: Số 164/1 đường Hoàng Diệu, quận Hải Châu

Thời gian mở cửa: 6h00 – 20h00

Giá: 10.000 - 30.000 VND

 

2. Đặc sản Đà Nẵng mua về làm quà    

2.1 Mực một nắng Đà Nẵng    

Mực một nắng là một loại đặc sản nổi tiếng của Đà Nẵng. Mực ống sau khi đánh bắt sẽ được tuyển chọn ra những con tươi ngon nhất, đem đi phơi khô qua một nắng. Nhờ vào cách này, mực một nắng vẫn giữ được độ mềm và tươi mà không bị khô như các loại mực khác sau khi phơi khô.

Mực một nắng Đà Nẵng có thể được sử dụng để chế biến thành nhiều món ăn ngon khác nhau. Với giá khoảng từ 480.000 - 500.000 VND/kg, bạn có thể tận hưởng hương vị đặc biệt của mực một nắng và chế biến nhiều món ăn thú vị từ nguyên liệu này.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua món mực một nắng như:

·                Cơ sở đặc sản bà Tâm

Địa chỉ: Đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Hải Châu

Số điện thoại: 0977 939 509

·         Tiệm quà của Lan

Địa chỉ: Số 23 An Thượng 26, quận Ngũ Hành Sơn

Số điện thoại: 0935 122 618

·         Cửa hàng đặc sản Vigift

Địa chỉ: Số 347 đường Nguyễn Văn Linh, quận Thanh Khê

Số điện thoại: 0898 200 123

 

Mực một nắng Đà Nẵng được làm từ loại mực ống tươi ngon (Nguồn ảnh: Internet)

2.2 Mực rim me    

Món mực rim me là một món đặc sản hấp dẫn mà bạn không thể bỏ qua khi đến với Đà Nẵng. Mực sau khi được lựa chọn kỹ càng sẽ đem đi phơi khô và sau đó tẩm ướp cùng một loạt các nguyên liệu như đường, me, ớt và nước mắm. Sau đó, mực được nấu nhẹ lửa để cho tất cả các hương vị kết hợp lại.

Thành quả là món mực rim me có màu vàng nâu hấp dẫn. Khi thưởng thức, bạn sẽ cảm nhận được sự độ dai của mực, vị chua chua và cay cay từ me và ớt, cùng với hương vị đậm đà của nước mắm. Giá của mực rim me thường dao động khoảng 60.000 VND cho một hũ nhỏ 250 gram.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua món mực rim me như:

·         Siêu thị đặc sản Nắng: Số 125 đường Nguyễn Hữu Thọ, quận Hải Châu

·         Cửa hàng mực rim Đà Thành: : Số 32 đường Lê Quang Sung, quận Thanh Khê

·         Siêu thị đặc sản Thiên Phú:

Cơ sở 1:  Số 124 đường 2/9, quận Hải Châu

Cơ sở 2: Số 28 đường Duy Tân, Đà Nẵng

Cơ sở 3: Số 198 đường Hồ Nghinh, Sơn Trà, Đà Nẵng

Cơ sở 4: Lô 1A-A2 đường Nguyễn Tất Thành, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng

2.3 Cá Thiều que Đà Nẵng    

Cá thiều que là một món ngon được làm từ thịt cá thiều, đánh bắt từ vùng biển khu vực giữa Đà Nẵng và Huế. Để làm món này, người ta sẽ chế biến cá bằng cách thêm gia vị, đúc khuôn, sấy khô, và đóng gói kín để bảo quản. Trên thị trường có nhiều loại cá thiều tẩm, nhưng đặc biệt nổi tiếng là cá thiều que ở Đà Nẵng

Món ăn này thường được dùng trong các bữa tiệc hoặc như món khai vị. Hương vị của cá thiều que rất đậm đà, hòa quyện giữa vị ngọt ngon và béo mịn của cá, cùng với gia vị hòa quyện từ nước mắm và đường, chút cay nhẹ từ tiêu khô.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua món cá thiều que như:

·         Cửa hàng đặc sản khô: Số 103 đường Lê Đình Dương, quận Hải Châu

·         Cửa Hàng Đặc Sản Hồ Ngọc Hà: Lô 100, chợ Hàn

·         Cửa hàng đặc sản làm quà

Số 02 Hà Đặc, quận Sơn Trà, Đà Nẵng

Số 103 Hồ Xuân Hương, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

2.4 Nước mắm Nam Ô Đà Nẵng    

Nhờ vào sự kết hợp tinh tế giữa nguyên liệu cá cơm tươi ngon và muối nguyên chất, người dân tại vùng Nam Ô Đà Nẵng đã tạo ra một loại nước mắm thơm ngon nổi tiếng khắp nơi. Nước mắm Nam Ô có một hương thơm đặc biệt, không quá đậm nhưng đủ để bạn cảm nhận hết vị ngon trong từng giọt.

Đặc điểm nổi bật của nước mắm Nam Ô chính là sử dụng cá cơm than tươi ngon và muối nguyên chất.Với hương vị đậm đà và cân đối, nước mắm Nam Ô là lựa chọn hoàn hảo cho nước chấm và các món ăn khác.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua nước mắm Nam Ô như:

·         Làng nghề Nam Ô

Địa chỉ: Đường Trần Phú, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng.

·         Hương Làng Cổ

Địa chỉ: Nam Ô 2, Hòa Hiệp Nam, Liên Chiểu

·         Cơ sở nước mắm Hiệp Hải

Địa chỉ: Tổ 48, Hòa Hiệp Nam, Liên Chiểu

2.5 Chả bò Đà Nẵng    

Chả bò Đà Nẵng có vị ngọt dịu, phù hợp với cả người miền Bắc và miền Nam. Món ăn này được làm từ thịt bò tươi ngon, có màu hồng đỏ. Khi bóc lớp vỏ bên ngoài, bạn sẽ thấy màu sắc tươi sáng của thịt hiện lên.

Điều đặc biệt tạo nên hương vị tuyệt vời của chả bò Đà Nẵng là do những con bò đều được chăn thả tự nhiên, nuôi dưỡng bằng cỏ xanh tươi mọc dọc bờ sông Thu Bồn và sông Vu Gia. Nhờ vào điều này, thịt bò ở đây thơm ngon, mang lại hương vị độc đáo.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua chả bò Đà Nẵng như:

·         Chợ Cồn

Địa chỉ: Gác 3, quận Hải Châu, Đà Nẵng.

Giờ mở cửa: 7h00 – 19h30.

·         Chả bò bà Hường

Địa chỉ: Số 4 đường Hoàng Diệu, quận Hải Châu

Giờ mở cửa: 9h00 – 17h00.

·         Chả bò Lộc

Địa chỉ: Số 4A Trần Bình Trọng, Hải Châu, Đà Nẵng.

Giờ mở cửa: 5h00 – 21h00.

 

2.6 Tré Bà Đệ - đặc sản Đà Nẵng nức tiếng    

Tré Bà Đệ là một món ăn nổi tiếng đối với các khách du lịch khi ghé thăm Đà Nẵng. Tré bà Đệ là sản phẩm thủ công tự nhiên hoàn toàn. Quá trình làm tré bắt đầu bằng việc lựa chọn và xử lý kỹ lưỡng các nguyên liệu. Thịt heo tươi ngon sẽ được luộc thành từng loại giúp đảm bảo độ giòn và ngon miệng sau khi nấu chín.

Sau khi luộc chín, thịt được thái nhỏ và kết hợp với các gia vị. Tré sẽ được gói bằng lá chuối và để lên men tự nhiên trong vòng 2 đến 3 ngày. Quá trình này tạo nên hương vị thơm ngon và hấp dẫn của tré. Bí quyết đặc biệt để món Tré Bà Đệ thêm thơm ngon là lót lớp lá ổi dưới đáy khi gói tré.

Lớp lá ổi này không chỉ tạo thêm hương thơm mà còn mang đến sự giòn dai độc đáo cho món ăn. Đặc biệt, Tré bà Đệ không sử dụng bất kỳ chất phụ gia hoặc chất bảo quản nào trong quá trình sản xuất.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua tré Bà Đệ như:

Số 81 đường Hải Phòng, quận Hải Châu

·         Siêu thị Big C, đường Hùng Vương, quận Thanh Khê

·         Siêu thị Metro, đường Cách mạng tháng 8, quận Cẩm Lệ

·          

2.7 Bánh khô mè Bà Liễu

Bánh khô mè còn được gọi là bánh bảy lửa. Món bánh này là một đặc sản rất nổi tiếng tại thành phố Đà Nẵng. Để làm một chiếc bánh khô mè, người dân ở đây sử dụng những nguyên liệu đơn giản như hỗn gạo, nếp, đường, gừng tươi và bột quế.

Quy trình làm bánh bắt đầu bằng việc trộn bột gạo và bột nếp cho đến khi chúng hoà quyện vào nhau, sau đó bột được tẩm ẩm và đặt vào khuôn để tạo hình. Tiếp theo, bánh được hấp trong nước khoảng 10 phút và sau đó nướng trên lửa than hoa để tạo độ giòn.

Điểm đặc biệt của loại bánh này là phải trải qua hai lần nướng. Lần đầu, bánh sẽ được nướng trên than nóng trong khoảng 10 phút. Lần thứ hai, bánh chỉ cần nướng trên lửa than nóng vừa từ 10-15 phút để có độ giòn hoàn hảo. Sau khi nướng, bánh được nhúng vào lớp đường mía non và sau đó lăn qua mè hoặc nếp rang.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua bánh khô mè Bà Liễu như:

200/1 đường Ông Ích Đường, Cẩm Lệ, Đà Nẵng

Chợ Cồn: Số 318 đường Ông Ích Khiêm

Chợ Hàn: Số 119 đường Trần Phú

Chợ Hòa Khánh: đường  u Cơ, Đà Nẵng

 

Bánh khô mè có mùi thơm lừng đặc trưng (Nguồn ảnh: Internet)

2.8 Bánh dừa nướng    

Bánh dừa nướng là một trong những món đặc sản nổi tiếng của Đà Nẵng. Nguyên liệu của món ăn được làm từ dừa tươi, bột nếp để tạo nên hương vị đặc biệt của món ăn.

Khi thưởng thức, bạn sẽ cảm thấy vị thơm ngon, giòn giòn, béo mềm và ngọt tự nhiên. Điều đặc biệt là bánh được làm hoàn toàn từ nguyên liệu tự nhiên, không sử dụng chất bảo quản. Với thành phần gồm dừa và một chút vani, bánh dừa nướng có hương thơm ngọt của vani kết hợp hài hòa với hương dừa, vị ngọt của đường và độ béo bùi của bột nếp, cơm dừa.

Một số địa chỉ mà bạn có thể mua bánh dừa nướng như:

·         Mỹ Phương Food

Địa chỉ: Tổ 4, Đại La, Hoà Sơn, huyện Hoà Vang

Số điện thoại: 0935 062 199

·         Cửa hàng Quý Thu

Địa chỉ: Phú Mỹ, Quế Xuân 2, Quế Sơn

Số điện thoại: 0706083579 – 0767893579

·         Đặc sản Hương Đà

Cơ sở 1: Ngã tư Võ Văn Kiệt và Hồ Nghinh

Cơ sở 2: Số 04 đường Duy Tân

Cơ sở 3: Số 333 đường Hoàng Văn Thái

Cơ sở 4: Số 0, 32, 34 đường Nguyễn Văn Linh