CLB HDV Đồng Hành Việt - Trao Trọn Niềm Tin!

Giới thiệu về CLB

Ảnh của tôi
Hồ Chí Minh, Vietnam
CLB Hướng Dẫn Viên Đồng Hành Việt được thành lập năm 2006 chuyên đào tạo hướng dẫn viên, sales tour, điều hành tour và cung cấp hướng dẫn viên, MC gala

Dịch trang

Người Đi Tìm Hình Của Nước - Chế Lan Viên

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Tài liệu thuyết minh Miền Trung Phần 2

 

 Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch Miền Trung (Phần 1)


Tuy nhiên, do điều kiện xã hội ở mỗi thời kỳ, do sở thích và cá tính của mỗi vị vua và do tài nghệ của từng lớp người, mỗi lăng vua lại được tạo nên theo một phong cách riêng.

Lăng Gia Long nằm trên một trục ngang, không có la thành.

Lăng Minh Mạng bố cục đăng đối theo một trục dọc.

Lăng Thiệu Trị vừa ngang vừa dọc.

Lăng Tự Đức ba trục dọc song song linh hoạt và phóng khoáng.

Lăng Khải Định cố tạo tầm cao mà thu hẹp mặt bằng...

Tất cả như những bài thơ có tứ, có hình khác nhau mà ý, tình vẫn thế.

Kiến trúc là chân dung đích thực của một giai đoạn lịch sử - nếu có thể nói như vậy - bởi vì chỉ ở những tác phẩm kiến trúc mới tập trung đầy đủ nhất trí tuệ, tài năng, điều kiện và sự thừa nhận của xã hội đã sản sinh ra chính nó.

 

a- Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng)

Lăng Gia Long nằm giữa vùng núi đồi hùng vĩ bên bờ bắc dòng Tả Trạch (một thượng lưu của sông Hương) cách trung tâm thành phố Huế hiện thời 19km đường sông, 16km đường bộ. Đây là một hợp thể của nhiều lăng mộ có lịch sử xây dựng khác nhau được quy hoạch thành một vùng quan phòng rộng 2875 ha.

·         Lăng Quang Hưng của bà Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Thứ Hậu, vợ thứ hai của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620 - 1687), thân mẫu chúa Nguyễn Phúc Trăn.

·         Lăng Vĩnh Mậu của bà Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng Hậu (1653 - 1696) vợ chúa Ngãi Vương Nguyễn Phúc Trăn (1650 - 1691), thân mẫu chúa Tộ Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725).

·         Lăng Trường Phong của Túc tôn Hiếu Ninh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Chú (1697 - 1738).

·         Lăng Thoại Thánh của bà Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng Hậu (1738 - 1811) vợ thứ của Nguyễn Phúc Luân và là thân mẫu của Gia Long.

·         Lăng Hoàng Cô của Thái Trưởng Công chúa Long Thành (chị ruột vua Gia Long).

Trong hợp thể lăng này, Thiên Thọ và Thiên Thọ Hữu là hai khu vực chủ yếu.

Thiên Thọ Lăng có mộ “Càn Khôn Hiệp Đức” của Gia Long và vợ chính là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu. Bên trái có nhà bia, bên phải có điện Minh Thành được xây dựng từ năm 1814 và hoàn tất vào năm 1820.

Thiên Thọ Hữu và điện Gia Thành của bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (1769 - 1846) vợ thứ của vua Gia Long và là thân mẫu vua Minh Mạng nằm bên phải điện Minh Thành.

Những công trình kiến trúc lăng mộ và cung điện ấy trải rộng trên một vùng đồi núi bao la với hàng vạn cây thông được con người đầu thế kỷ XIX lập nên tạo thành bức tranh hoành tráng khoáng đạt. Do bom đạn của chiến tranh cộng với mối mọt và mưa bão khắc nghiệt khu lăng đã bị tàn phá nhiều. Tuy vậy, với cảnh non nước hữu tình lăng Gia Long vẫn có sắc thái riêng quyến rũ du khách mười phương.

Lên thăm lăng này mọi người có thể đi thuyền máy dọc sông Hương đến bến lăng trước làng Định Môn hoặc đi xe hơi lên bến đò Kim Ngọc, rồi qua sông đi bộ thêm vài cây số.

Nếu gặp thời tiết tốt và thời gian không hạn hẹp du khách có thể đi bằng xe đạp giữa cảnh sắc nước mây trời của một vùng duyên hải vừa trung du mà tận hưởng âm thanh của chim của gió, vẻ đẹp của lá của hoa tưởng cũng lý thú lắm thay.

 

b- Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng)

Lăng Minh Mạng nằm bên bờ bắc ở ngã ba Bằng Lãng (đối diện với chợ Tuần) cách Huế 16 km đường sông, 12km đường bộ. Du khách có thể lên thăm lăng này bằng xe hơi theo đường tả ngạn sông Hương, (trước chùa Thiên Mụ) hoặc qua đường Điện Biên Phủ - Đàn Nam Giao - chợ Tuần. Đi thuyền thì chậm hơn đôi chút lại có nhiều lẽ vui hơn, nhất là lúc trở về kết hợp nghe ca Huế trên sông Hương.

Dải đất đẹp gối đầu lên ngọn núi Cẩm Kê dưới chân núi chủ Kim Phụng (thời trước gọi là Thượng Sơn) thuộc đất làng An Bằng, nay là xã Hương Thọ, huyện Hương Trà xa xưa vốn là một vùng núi rừng hoang vắng. Từ năm 1826 (bảy năm sau ngày Minh Mạng lên ngôi) Lê Văn Đức là một trong số những vị quan được sai đi chọn đất xây sơn lăng đã tìm ra nơi này. Phía trước có sông Hương, phía sau có dãy Kim Phụng, bên trái có núi Ngọc Trản, bên phải có ngọn Tôn Sơn. Vua Minh Mạng đắc ý địa thế này và cho đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu Sơn từ đó.

Đến năm Minh Mạng thứ 20 (1840) mọi việc trù liệu và chuẩn bị xong, công tác xây lăng mới thực sự bắt đầu. Minh Mạng chết đột ngột, Thiệu Trị lên nối ngôi lại tiếp tục và có phần khẩn trương hoàn tất, các công trình thuộc Hiếu Lăng như đào hồ, đắp núi, xẻ đá, xây thành. Một khu rừng hoang rậm, qua sức lao động của con người đã trở thành công viên hoa lệ với nào đình, nào tạ, nào điện, nào cung...

Trên cái nền đất được giới hạn bởi một vòng La Thành có hình bầu dục chu vi 1.750m đã trở thành một tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh. Khác với các lăng vua ở Huế, những công trình chủ yếu ở đây đều được bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường thần đạo chặt chẽ mà thâm nghiêm. Từ Đại Hồng Môn (cửa chính) hai bên có Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn (cửa phụ) đến sân chầu (bái đình), nhà bia (bi đình), Hiển Đức Môn (cửa vào điện Sùng Ân); điện Sùng Ân hai bên có Tả, Hữu tùng tự (trước) và Tả, Hữu tùng viện (sau). Hoàng Trạch Môn, cầu Trung Đạo (hai bên có Tả Phù, Hữu Bật); Minh Lâu (hai bên có trụ biểu trên đồi Bình Sơn (trái) Thành Sơn (phải) cầu “Thông Minh Chính Trực” mà đầu và cuối có hai cửa Nghi Môn bằng đồng rồi mới đến Bửu Thành, hình tròn. Đó là nơi đặt thi hài vua Minh Mạng. Từ thấp lên cao, từ vuông sang tròn, các công trình kiến trúc như thế dẫn dắt du khách theo hàm ý từ hữu hạn (đất) đến vô biên (trời). Các công trình phụ như Tả, Hữu tùng phòng, Phương Linh các, Tuần Lộc Hiên, Nghinh Lương quán, Điếu Ngư Đình, Hư Hoài Tạ... nằm rải rác bên bờ hồ Trừng Minh như là các hành tinh xoay quanh Phụng Thần Sơn nằm ở trung tâm khuôn viên lăng Minh Mạng.

Một điều lý thú ở đây là hai nửa hồ Trừng Minh, xét về mặt ngữ nghĩa là lắng trong, sáng lạn và về hình tượng lại giống như chữ nhật và chữ nguyệt được ghép lại để làm nên chữ minh. Suy thêm về dạng, mặt bằng la thành trên thon dưới nở, giữa đình có một khối đá nhô lên trông giống như chữ (nhân) viết theo kiểu chữ lệ để trùm lên hồ Tân Nguyệt nằm ngang và hai nửa hồ Trừng Minh nằm dọc tạo thành chữ “mạng”.

Cũng chỉ là suy diễn nhưng không ai lại không nghĩ rằng các phương tiện của kiến trúc chính là kết quả “vật chất hóa” các tư tưởng lớn của một giai đoạn lịch sử Lăng Minh Mạng với lượng thông tin về nhiều lĩnh vực, càng nhìn ngắm, càng suy ngẫm chúng ta càng phát hiện ra nhiều điều lý thú. Riêng gần 600 ô chữ chạm khắc trên Bi Đình, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân và Minh Lâu hẳn là một tuyển tập văn thơ chọn lọc của bốn thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, cũng đã nói lên khá đầy đủ tri thức người xưa.

Liên tỷ hủng nhan diễm Tiêu phương lục duệ dương Lâm phong tình bất tận Cố ảnh ý hà trường (Bờ nóc trước điện Sùng Ân)

Tạm dịch: Hoa sen đẹp sánh với người đẹp Cây chuối non lá màu lục Gió mát tình cảm cũng lai láng Nhìn lại ảnh, ý thơ dồi dào.

Hùng văn mê Trản Lĩnh Mật vũ bố phương điền Ngư Câu hạ âm trưởng Thượng uyển liễu sinh yên (Cổ diềm trước điện Hồng Ân)

Tạm dịch: Đám mây dày làm mờ ngọn Ngọc Trản Mưa đầy rải khắp các đám ruộng thơm Trên ngòi ngự, sóng dập dờn Trong vườn thượng uyển liễu tỏa khói mờ

Địa tác cao phì tỷ Nhân hưng liêm nhượng khoa Lư diêm mưu đoạt thiếu Quyền mẫu lực cần đa (Dải cột 1 điện Sùng Ân)

Tạm dịch: (Đất tạo ra màu mỡ) Người dân khá lên nhờ thuế má thấp và thu đúng Trong xóm làng ít mưu mô tranh đoạt Nơi đồng ruộng đem sức làm lụng siêng năng)

 

c- Lăng Thiệu Trị (Xương Lăng)

Vua Thiệu Trị mới giữ ngôi được 7 năm (1841 - 1847) thì chết nên chưa kịp xây lăng cho mình. Lúc hấp hối ông chỉ dặn xây sơn lăng sao cho “cận tiện” và “kiệm ước” mà thôi. Vua Tự Đức lên ngôi thì hài vua cha vẫn phải quàn tại điện Long An trong cung Bảo Định 8 tháng mới đưa lên Xương Lăng.

Xương Lăng được xây dựng trong năm 1848, nằm trên vùng đồi thấp thuộc làng Cư Chánh nay là xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy cách trung tâm thành phố Huế 7km về phía tây - nam. Đi xe đạp, xe gắn máy hoặc xe hơi đều tiện hơn đi thuyền.

Nhìn chung về bố cục kiến trúc, hình dáng và phong cách các công trình cho ta một cảm giác là những người xây dựng lăng Minh Mạng đã lại có mặt ở lăng này. Lăng Minh Mạng có la thành và tất cả các công trình kiến trúc chính đều nằm trên trục thần đạo. Lăng Thiệu Trị cũng từng đó công trình chủ yếu lại được ngắt ra làm hai. Sân chầu, nhà bia, lầu Đức Hinh, cầu Chánh Trung với hai “nghi môn” bằng đồng và khu mộ táng hình tròn nằm trên đường “thần đạo” lấy núi Chầm nằm ở hướng tây bắc làm tiền án. Các công trình phụ gồm có cầu Đông Hòa, cầu Tây Định, gác Hiển Quang, hồ Nhuận trạch, Hồ Ngưng Thúy. Tất cả đều nằm phóng khoáng giữa một khu đồi bán Sơn địa không có la thành vây quanh. Có lẽ do địa thế đất đai không thể kéo dài theo một đội hình hàng dọc nên khu điện Biểu Đức mới đứng riêng sang bên trái cách lầu Đức Hinh 100m. Cụm kiến trúc này giống như điện Sùng ân của lăng Minh Mạng vậy. Điện Biểu Đức ở giữa, trước có Hồng Trạch Môn (cổng chính) đều hướng về phía tây - bắc lấy hòn Bàu Hồ làm bình phong. Tả, Hữu phối điện (trước) Tả, Hữu tùng viện (sau) đều được vây bởi một khung thành hình vuông bằng gạch.

Phải chăng Xương Lăng lại là một thử nghiệm kết hợp giữa hai lăng có trước để rồi chuyển tiếp cho Khiêm Lăng sau đó 16 năm mới có sự khoáng... vật và trữ tình đến thế.

Thăm lăng Thiệu Trị (của một hoàng đế thơ) càng rạo rực trong ta những dòng cảm xúc mãnh liệt. Cái đẹp như mặc nhiên cái vui như chim hót, nụ cười như hoa nở, Xương Lăng là vậy. Đã xa nhưng lại rất gần. Hơn 450 ô chữ được khắc khảm công phu và nhiều bức tranh gương lớn ở đây là một kho lưu trữ có ý nghĩa về nhiều lĩnh vực.

Ô số 1

Hà xứ xuân quang hảo Xuân quang vũ hậu phong

Ô số 2

Khinh khinh từ quá hạm Phất phất sạ xuyên lung

Ô số 3

Phiên vật hư hòa khí Sanh lương mãn thái không

Ô số 4

Trợ lâm thi tế hạn Tạc xuất tự thiên đông (4 trong số 56 ô chữ ở nhà bia, hợp lại thành một bài thơ)

(Nơi nào ánh sáng mùa xuân tốt Ánh sáng mùa xuân tốt trong ngọn gió sau mưa Gió thổi nhè nhẹ qua mái hiên Và chợt lùa qua cửa sổ Quạt vào vạn vật luồng khí ôn hòa Làm cho cả bầu trời mát mẻ Trợ giúp vào đó là trận mưa cứu hạn Hôm qua xuất phát từ phía đông)

Hữu viễn tự sơ chung

Ẩn phục cương loan cách lĩnh đông Xuyên lâm cổ sát dật hương chung Tăng hoàng nhàn hạ nham khê lý Liễu lượng vu dao dạ vũ trung Tăng lại nhị canh không xử tế Kinh tàn cạnh hướng dữ phong tùng Trầm tiềm bát bách chung nan biện Phạm ý huyền vi thế mạc thông (Hàng cột 3 điện Biểu Đức)

Đại ý:

Chuông sớm chùa xa

Phía đông ngọn núi là dãy đồi nhấp nhô Nơi đó, ngôi chùa xưa ở trong rừng tràn trề tiếng chuông trong sương. Thật là nhàn hạ thong dong khoảng núi khe. Rền rĩ từ xa giữa cơn mưa đêm Ông sư mới canh hai mà nhịp chiếc dùi suông nho nhỏ Hết tiếng kinh, âm hưởng tiếng chuông vương theo gió Lắng đọng 108 tiếng, cuối cùng khó phân biệt Ý nhà phật huyền vi, cõi thế tục khó mà hiểu thấu.


d- Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng)

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Miên Tông (Thiệu Trị) lên nối ngôi năm 1848 trong một tình thế không bình thường. Nguyễn Phúc Hồng Bảo anh trai ông tưởng sẽ được đứng ở vị trí đó. Từ sự không bình thường ấy làm nội bộ hoàng gia lục đục, đội ngũ quần thần phân liệt chống đối lẫn nhau. Tự Đức tuy thắng thế, củng cố được ngôi báu của mình nhưng không đẹp được sự oán trách của một số người. Nguyễn Hàm Ninh với bài “Xi giao thiệt” (răng cắn lưỡi) xướng họa với Tự Đức đã bao hàm những lời chua chát sâu cay.

Sinh ngã chi sơ nhứt vị sinh Nhứt sinh vi hậu ngã vi huynh Nhứt đường cộng hưởng trân cam vị Hà nhẫn tương thương cốt nhục tình?

(Tôi sinh ra trước chú sinh sau Vậy là chú làm em, tôi làm anh Trong một nhà chúng ta chung hưởng ngon ngọt Cớ sao lại sát hại tình xương thịt đó?)

Đã thế, trên toàn cuộc, đất nước một thời được coi là tạm yên ổn đến lúc này lại rộ lên đây đó những cuộc nổi dậy chống triều đình. Quân xâm lược đánh phá Đà Nẵng, Gia Định và chiếm đóng ba tỉnh miền đông Nam bộ. Một Tự Đức vô tâm và đơn giản, một triều đình có nhiều người xu nịnh và a dua làm sao có thể gỡ được rối rắm của đất nước. Muốn đánh thắng quân thù nhưng không có phương sách. Biết nhìn về quá khứ lại thiếu tiên liệu về tương lai. Tất cả những bế tắc đó đã dẫn ông trốn chạy vào một khu lăng trước hết để chôn chính sự bất lực của mình. Trong ba năm (1864 - 1867) với công việc xây dựng “Vạn Niên cơ” càng làm cho sự phẫn uất tích tụ và bùng lên. Khởi nghĩa “chày vôi” năm 1866, lực lượng chủ yếu là những người lao động xây dựng lăng Tự Đức. Một vị hoàng đế muốn củng cố quyền lực lại bất lực trước quyền lực đã có. Trốn chạy một thực trạng phũ phàng lại sợ mất địa vị độc tôn. Xây lăng để tìm một cái chết cho thoát nợ đời nhưng lại tham sống để tận hưởng mọi lạc thú, là sự giằng xé con người vừa có máu nghệ sĩ lại vừa bạc nhược trong ông.

Lăng Tự Đức như một tâm trạng vừa bi quan vừa mãn nguyện. Lãng mạn, trữ tình cũng từ đó mà nên. Nhưng dù gì mặc dầu khuôn viên điện Hòa Khiêm vẫn vuông (đất) mà mặt bằng của sân chầu, nhà bia, khu mộ táng lại có hình “thái cực” ta thường gặp trên các nóc cung điện Huế (trời). Trời đất, âm dương là tư tưởng nhất quán trong các lăng vua Nguyễn.

Những nhà kiến trúc sư, nghệ nhân và thợ thủ công sau 60 năm tác nghiệp đến lúc này mới thật điêu luyện, lành nghề và nghệ thuật kiến trúc “cảnh vật hóa” đã vươn đến tầm hoàn thiện thì “kiến trúc thượng tầng” của xã hội một thời cưu mang và dung nạp nó lại đang bước vào thế suy tàn. Lăng Tự Đức là bản luận án xuất sắc cuối cùng về sự thành đạt của kiến trúc Nguyễn.

“Tứ bề núi phủ mây phong Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên”

Lên thăm lăng Tự Đức du khách có thể đi theo đường Lê Lợi - Điện Biên Phủ - Nam Giao qua trước cửa chùa Từ Hiếu hoặc có thể từ ga Huế lên đường Bùi Thị Xuân (Phường Đúc) qua Thành Lồi là đến xã Thủy Xuân. Khiêm Lăng nằm ở thôn Thượng Ba xã ấy.

“Trên Dương Xuân chừ, chỉ có nhà của ta Núi thấp, đất hẹp chừ, hình dung ý ta khiêm tốn Ta tự trách ta rồi. Ai cùng ta một lòng? Hoàn thành chí ta chừ. Mong cầu mà chưa được Chỉ có trời xét chừ. Lòng ta như đá này (Nội dung bài minh được khắc cuối “Khiêm cung ký” chính Tự Đức soạn).

 

Bia Khiêm Cung Ký - Khiêm Lăng (lăng Hoàng đế Tự Đức)

Bia Khiêm Cung Ký là tấm bia khắc bài văn bia do chính hoàng đế Tự Đức (1848-1883) soạn thảo năm 1871.

Bia hình chữ nhật. Hai mặt bia trang trí giống nhau nhưng bản khắc văn tự khác nhau. Trán bia hình khánh, chạm nổi đồ án “long vân” với hình mặt rồng chính diện ở phía trên và chòm đuôi xoắn ở phía dưới, xung quanh là hình mây và các đao lửa. Bốn tai bia chạm bốn hình rồng, trong đó hai tai bia phía trên chạm nổi đồ án “long thăng”; bốn tai bia phía dưới chạm nổi đồ án “hồi long”. Đường viền bia chạm nổi các đồ án “lưỡng long triều nhật”, “long thăng”, “long giáng”. Bệ bia tạo dáng chân quỳ, chạm trổ công phu: mặt ngoài chạm nổi và chạm lộng các đồ án rồng, mây, mặt hổ phù và hồi văn chữ S gấp khúc. Toàn bộ bia và bệ bia được đặt trên một nền đá thanh hai tầng, bốn phía có hệ thống bậc cấp.

Tất cả bia tại các lăng hoàng đế thời Nguyễn đều do vị hoàng đế kế nghiệp sáng tác với nội dung đề cao công lao, đức hạnh của vị hoàng đế đã mất, thường gọi là Thánh đức thần công bi ký. Riêng bia Khiêm Cung Ký do hoàng đế Tự Đức soạn thảo và nội dung bia ghi lại quá trình xây dựng lăng, mô tả cảnh quan lăng, đồng thời bày tỏ nỗi lòng của ông đối với đất nước cùng những việc riêng tư. Chính vì vậy, bia Khiêm Cung Ký là tấm bia độc bản, không trùng với bất cứ nội dung bia nào khác.

Đây là tấm bia có số lượng văn tự nhiều nhất ở Việt Nam với 4.935 chữ Hán khắc trên cả hai mặt bia, cũng là tấm bia có kích thước đồ sộ, trọng lượng lớn nhất trong các bia cùng loại ở lăng hoàng đế thời Nguyễn.

Hội đủ các đặc trưng của phong cách bia ký thời Nguyễn (bia hình chữ nhật, trán bia hình khánh, bốn góc có tai bia…), nhưng bia Khiêm Cung Ký là một tấm bia có kích thước đồ sộ, trọng lượng lớn nhất trong các bia cùng loại ở lăng hoàng đế thời Nguyễn. Đặt biệt, bia Khiêm Cung Ký được đặt trong một nhà bia khá cao, giới hạn xung quanh bởi 04 trụ biểu lớn, tạo sự tương xứng toàn diện trong tổng thể kỳ vĩ của Khiêm lăng.

Với 4.935 chữ Hán khắc trên hai mặt bia, bia Khiêm Cung Ký là tấm bia có số lượng văn tự khắc trên đá nhiều nhất. Đặc biệt bia Khiêm Cung Ký cũng là tấm bia duy nhât lưu giữ nét bút của chính tác giả văn bia - hoàng đế Tự Đức. Vì vậy, xét cả về nghệ thuật tạo hình, trang trí mỹ thuật và kỹ thuật chạm khắc, bia Khiêm Cung Ký có hình thức độc đáo nhất trong các bia lăng hoàng đế thời Nguyễn.

Nội dung văn bia không chỉ ghi lại tâm tư của một vị hoàng đế đang trong tình trạng “lực bất tòng tâm” trước nhiều thử thách và sự đổi thay của vận mệnh đất nước, mà còn cung cấp những thông tin cụ thể về hình thế cảnh quan phong thủy xung quanh khu vực lăng mộ của nhà vua: “Những núi đưa mạch đất từ xa đến gần, gọi là Dẫn Khiêm, Lao Khiêm, Đạo Khiêm, Long Khiêm, Cư Khiêm, Lý Khiêm…”. Theo đó, vị trí của lăng hoàng đế Tự Đức được lựa chọn trong mối quan hệ chặt chẽ với các di tích khác theo nguyện vọng của chủ nhân: “Lên cao mà nhìn bốn phía thì trước mặt là đàn Nam Giao, sau lưng là chùa Linh Mụ đã đủ rõ chí hướng bình sinh của ta rồi. Lúc sống chưa thể bày tỏ hết lòng thành thì khi chết lại được mãi mãi chầu hầu. Bên phải gần Xương Lăng, bên trái đối diện Văn Miếu đủ để an ủi niềm yêu mến ngưỡng mộ thành thực của ta, để ngày kia hồn phách ta có nơi nương tựa dài lâu thủy chung như nhất” (Khiêm Cung Ký).

Xét cả về nghệ thuật tạo hình, trang trí mỹ thuật và nội dung bi ký, bia Khiêm Cung Ký có hình thức và nội dung độc đáo nhất trong các bia đá cùng loại ở Việt Nam.

Năm 2015, Bia Khiêm Cung Ký được công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam. 

Ghi chú:

Riêng văn bia ở Tư Lăng của hoàng đế Đồng Khánh thì do hoàng đế Khải Định soạn và cho khắc vào năm 1917, sau khi hoàng đế Khải Định lên ngôi, còn trước đó chưa có bia. 

d- Lăng Dục Đức (An Lăng)

Nguyễn Phúc Ưng Chân, con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Hường Y (tức Thoại Thái Vương) là một trong ba người con nuôi của vua Tự Đức (*), được lập làm thái tử năm 1869. Tư Thất được gọi là Dục Đức đường. Ông được truyền ngôi vào ngày 19/7/1883, chưa kịp chọn niên hiệu thì đã bị phế truất và chết tại ngục thất vào ngày 6/10/1883. Tương truyền rằng sau khi chết xác vị vua bất hạnh này được bó chiếu và hai người khiêng đi chôn, đến bãi đất hoang thuộc Tứ Tây (nay thuộc phường An Cựu - Huế) thì đứt dây nên bị lấp tạm ở đó. Sáu năm sau, Nguyễn Phúc Bửu Lân con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Ưng Chân (Dục Đức) lên ngôi (Thành Thái) đã để nguyên chỗ “thiên táng” ấy và xây An Lăng cho cha mình (1890).

Thành Thái làm vua được 18 năm (1889 - 1907) do có xu hướng chống Pháp nên đã bị đày sang châu Phi đến năm 1953 mới được về nước và chết tại Vũng Tàu. Sau khi chết thì hài ông được “thân bằng cố hữu” rước về an táng tại An Lăng.

Vua Duy Tân tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh San con trai thứ 5 của Nguyễn Phúc Bửu Lân lên thế chỗ ở ngai vàng vào đầu năm 1908 làm vua được 8 năm (1908 - 1916). Tuy nhỏ tuổi nhưng Vĩnh San sớm hấp thụ tinh thần yêu nước của vua cha nên ôm ấp hoài bão đánh đuổi quân cướp nước ra ngoài bờ cõi. Mưu sự không thành, các đồng chí của nhà vua như Trần Cao Vân, Thái Phiên đã bị Pháp xử chém còn vị vua vừa tròn 16 tuổi, lại phải xuống tàu cùng với vua cha sang sống trong sự quản thúc ở đất người. Năm 1945 cựu Hoàng đế Duy Tân đã bị tai nạn máy bay ở Trung Phi, mãi đến năm 1987 thì hài ông mới được rước về an táng bên cạnh vua cha.

An Lăng của Dục Đức có hai khu vực là lăng mộ và điện Long Ân, sau khi an táng vua Thành Thái và vua Duy Tân lại trở thành khu mộ gia đình. Trong đó hai ngôi mộ của hai vị vua yêu nước dám dấn thân vào cuộc đấu tranh mất còn thật đơn sơ, giản dị càng làm cho du khách trân trọng, biết ơn.

 

e- Lăng Đồng Khánh (Tư Lăng)

Đồng Khánh tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Đường, con trai của Nguyễn Phúc Hường Cai* (Kiên Thái Vương), là một trong ba người con nuôi của vua Tự Đức. Nhưng ông lại không được nối ngôi ngay sau khi người anh thúc bá (Dục Đức) chết mà phải nuốt hận đắng cay vì còn có chú ruột Nguyễn Phúc Hường Dật và hai người em ruột của chính ông là Nguyễn Phúc Ưng Đăng (Kiến Phúc); Nguyễn Phúc Ưng Lịch (Hàm Nghi) lần lượt được đưa lên ngôi trước. Đến ngày 14/9/1885 trong khi vua Hàm Nghi đang lặn lội nơi rừng sâu núi thẳm tập hợp lực lượng “Cần Vương” để giành lại độc lập cho đất nước thì người anh trai (Ưng Đường) lại lo cầu cúng chạy vạy mới được người Pháp ban cho áo hoàng bào và vào thế chỗ trống của ngai vàng. Cái vui của một người mong được làm vua và cái vui của kẻ xâm lược tìm ra một người vừa ý nên mới có niên hiệu Đồng Khánh (cùng vui). Đó là những ngày sau khi kinh đô Huế thất thủ (1885). Tuy được bảo hộ, Đồng Khánh cũng chỉ làm vua cho Pháp được 3 năm và chết vào ngày 2/1/1889 lúc đó mới có 24 tuổi. Nguyễn Phúc Bửu Đảo con trai ông còn quá bé nên Nguyễn Phúc Bửu Lân, con trai ông Nguyễn Phúc Ưng Chân (Dục Đức) được đặt lên ngôi, tức vua Thành Thái. Trong bối cảnh rối ren trong triều ngoài nội ấy, Thành Thái không thể có đủ sức chi dụng kinh phí và tập trung lực lượng xây lăng cho vị vua xấu số vừa qua đời, phải dùng điện Truy Tư do Đồng Khánh dựng nên để thờ cha làm nơi đặt quan tài và thờ chính ông. Truy Tư được đổi thành Ngưng Hy từ đó. Các công trình lăng mộ khác đều tạm thời cho đến năm 1916, khi Khải Định lên ngôi mới xây dựng lại.

Thăm lăng Đồng Khánh, du khách có thể tìm lại những nét chuyển tiếp của phong cách kiến trúc lăng tẩm Nguyễn trong một giai đoạn lịch sử phức tạp chuẩn bị cho một sự nhập ngoại nền văn minh châu Âu. Với 24 bức tranh minh họa “nhị thập tứ hiếu của Trung Hoa cổ đại trên các bản đồ lụa bên vách gỗ, hàng trăm tấm kính đủ màu trước cửa ra vào, những tác phẩm hội họa Pháp và những nhóm phù điêu đất nung đã như phản ánh sự rối rắm đương thời. Sự rạn nứt và sự sụp đổ của một thứ quyền uy nhập ngoại đang thoi thóp kêu gọi “trai thời trung hiếu làm đầu” may ra còn giữ được cái gì đó giống như ngai vua. Tư Lăng chính là cuộc đời đầy sự nuối tiếc của Đồng Khánh vậy.

Đi qua trước cửa Vụ Khiêm, cách lăng Tự Đức 500m, quý khách đã đến điện Ngưng Hy và khu lăng mộ của ông vua Nguyễn thứ 9, lẽ nào chúng ta lại không tìm được điều gì đó lý thú để bổ sung vào một cái nhìn chung về những khu lăng vua.

 

g- Lăng Khải Định (Ứng Lăng)*

Lăng Khải Định nằm trên triền phía tây nhóm núi Châu Chữ thuộc địa phận xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy giống như lâu đài nào đó bên Âu Tây. Từ dáng dấp, vật liệu xây dựng đến màu sắc và sự đồ sộ nặng nề của nó không ăn nhập được với cảnh quan thiên nhiên của núi rừng. Cái ngoại diện ấy gợi cho người ta một sự liên tưởng giống như một ông Tây bận complét màu xám đội bérêt lệch đứng giữa cánh đồng lúa Việt Nam đang thì con gái. Khối beton ấy như đang đè gãy một mái núi càng đối lập với màu xanh bao la. Không dung nạp mà là chấp nhận khiên cưỡng, để cả hai cùng tồn tại. Một tầm cao cần thiết cho một ngôi lăng vua không còn thế lực thực tế, đã đẩy Ứng Lăng lên 127 bậc cấp buộc mọi người cứ phải ngửa mặt lên mới quan sát được. Bốn con rồng lớn, thiếu sự mảnh mai linh hoạt được đắp nổi ở bậc cấp thứ nhất ngăn làm ba lối lên, càng gây thêm cảm giác về chiều cao của lăng này. Ba bộ cửa sắt thửa riêng tại Pháp đứng chắn ngang trước sân thứ nhất càng gây nên sự xa lạ khó gần. Cả ba tầng sân đều chói chang ánh sáng với những hình khối khô cứng của béton ít gây nên thiện cảm cho du khách.

Nếu như Nguyễn Phúc Bửu Đảo đã từng thèm khát đến chua cay bởi một cái ngai vua đã có người ngồi cho đến khi trở thành hoàng đế đích thực lại không còn chủ quyền thì điều mong cho lăng mình cao hơn, to lớn hơn cũng là một lẽ đương nhiên mà thôi. Và, trước áp lực văn hóa Âu Tây đang ở thế tấn công, nghệ nhân và thợ thủ công Việt Nam thuở đó như đang rút lui vào cố thủ ở một điểm cuối cùng. Đề kháng mà kiêu hãnh. Vì vậy, nội thất Thiên Định cung như là sự nở rộ của một dòng nghệ thuật ghép mảnh vừa sống động vừa tinh tế.

Thăm lăng Khải Định, gặp lại cha ông mình, những nghệ nhân tài ba trong các tác phẩm, nghệ thuật xuất sắc, chúng ta càng nhận ra bi kịch của một giai đoạn lịch sử của đất nước và của mỗi con người.


Ghi chú: “Tứ diện hiển kỳ quan phong cảnh biệt khai vũ trụ. Ức niên chung vượng khí, giang sơn trường hộ trừ tư” (Bốn mặt đều là kỳ quan, phong cảnh ở đây mở ra một vũ trụ biệt lập. Muôn năm hun đúc nên vượng khí, núi sông giúp đỡ mãi hoài).

 

A- Thế thứ các chúa Nguyễn.

1 - Nguyễn Hoàng (16/9/1525 - 21/5/1613) là con thứ hai của Nguyễn Kim (*) tức chúa Tiên (1558 - 1613). Thụy hiệu: Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế (1558 – 1613).

2 - Nguyễn Phúc Nguyên (16/8/1563 - 19/11/1635), con trai thứ sáu của Nguyễn Hoàng tức Chúa Sãi (1613- 1635). Thụy hiệu: Hi tôn Hiếu văn Hoàng đế.

3 - Nguyễn Phúc Lan (13/8/1601 - 19/3/1648), con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Nguyên tức chúa Thượng (1636 - 1648). Thụy hiệu: Thần tôn Hiếu chiêu Hoàng đế.

4 - Nguyễn Phúc Tần (18/7/1620 - 30/4/1687), con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Lan, Chúa Hiền (1648 - 1687). Thụy hiệu: Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng đế.

5 - Nguyễn Phúc Trăn (29/1/1650 - 7/2/1691) là con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Tần, Chúa Ngãi (1687 - 1691). Thụy hiệu: Anh tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế.

6 - Nguyễn Phúc Chu (11/6/1675 - 1/6/1725) con trai đầu của Nguyễn Phúc Trăn, Quốc Chúa (1691 - 1725). Thụy hiệu: Hiển tôn Hiếu Minh Hoàng đế.

7 - Nguyễn Phúc Chú (14/1/1697 - 7/6/1738) con trai đầu của Nguyễn Phúc Chu, Ninh Vương (1725 - 1738). Thụy hiệu: Túc Tôn Hiếu Ninh Hoàng đế.

8 - Nguyễn Phúc Khoát (26/9/1714 - 7/6/1765) là con đầu của Nguyễn Phúc Chú, danh hiệu Võ Vương (1738 - 1765). Thụy hiệu: Thế Tôn Hiếu Vũ Hoàng đế.

9 - Nguyễn Phúc Thuần (31/12/1753 - 18/10/1776) con trai thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát,

Định Vương (1765 - 1774) Thụy hiệu: Duệ Tôn Hiếu định Hoàng đế.

 

B - Thế thứ các vua Nguyễn.

1 - Nguyễn Phúc Ánh (8/2/1762 - 3/2/1820) (*) Niên hiệu: Gia Long (1802 - 1819) Thụy hiệu: Thế Tổ Cao Hoàng đế.

2 - Nguyễn Phúc Đảm (25/5/1791 - 11/1/1841) ()** Niên hiệu: Minh Mạng (1820 - 1840) Thụy hiệu: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế.

3 - Nguyễn Phúc Miên Tông (16/6/1807 - 4/11/1847) Niên hiệu: Thiệu Trị (1841 - 1847) Thụy hiệu: Hiến Tổ Chương Hoàng đế.

4 - Nguyễn Phúc Hường Nhậm (22/9/1829 - 19/7/1883) Niên hiệu: Tự Đức (1848 - 1883) Thụy hiệu: Dực Tôn Anh Hoàng đế.

5 - Nguyễn Phúc Ưng Chân (23/2/1852 - 6/10/1883) (*) Niên hiệu: Dục Đức (3 ngày) Thụy hiệu: Cung Tôn Huệ Hoàng đế.

6 - Nguyễn Phúc Hường Dật (1/11/1847 - 29/11/1883) ()** Niên hiệu: Hiệp Hòa (4 tháng 30/7 - 30/11/1883)

·         Phế đế do thân Pháp.

7 - Nguyễn Phúc Ưng Đăng (12/2/1869 - 31/7/1884) ()* Niên hiệu: Kiến Phúc (29/11/1883 - 31/7/1884) Thụy hiệu: Giản Tôn Nghị Hoàng đế.

8 - Nguyễn Phúc Ưng Lịch (*) Niên hiệu: Hàm Nghi (1884 - 1885) (Xuất bôn)

9 - Nguyễn Phúc Ưng Đường (19/2/1864 - 28/1/1889) ()** Niên hiệu: Đồng Khánh (1885 - 1888) Thụy hiệu: Cảnh Tôn Thuần Hoàng đế.

10 - Nguyễn Phúc Bửu Lân ()* Niên hiệu: Thành Thái (1889 - 1907) (Phế đế do chống Pháp)

11 - Nguyễn Phúc Vĩnh San (1800 - 1845) (*) Niên hiệu: Duy Tân (1908 - 1916) (Phế đế do chống Pháp)

12 - Nguyễn Phúc Bửu Đảo (1885 - 1925) ()** Niên hiệu: Khải Định (1917 - 1925) Thụy hiệu: Hoằng Tôn Tuyên hoàng đế.

13 - Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (1910 - ) Niên hiệu: Bảo Đại (1926 - 1945) (Hiện sống lưu vong tại Pháp)


Hệ thống chú thích trong ảnh:

Trang 1:

·         (*) Nguyễn Phúc Ánh là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân. Nguyễn Phúc Luân là con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Khoát, bị Trương Phúc Loan hãm hại nên người em thứ 16 của ông là Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi được lập lên ngôi chúa.

·         (**) Nguyễn Phúc Đảm là con trai thứ tư của Nguyễn Phúc Ánh (con bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, vợ thứ hai của Gia Long).

Trang 2:

·         (*) Nguyễn Phúc Ưng Chân là con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Hường Y - Thoại Thái Vương, cháu gọi Nguyễn Phúc Hường Nhậm bằng bác.

·         (**) Nguyễn Phúc Hường Dật là con trai thứ 29 của Nguyễn Phúc Miên Tông.

·         (***) Nguyễn Phúc Ưng Đăng, em ruột của Nguyễn Phúc Ưng Đường, là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Hường Cai - Kiên Thái Vương; Nguyễn Phúc Hường Cai là con trai thứ 26 của Nguyễn Phúc Miên Tông.

Trang 3:

·         (*) Nguyễn Phúc Ưng Lịch là em ruột của Nguyễn Phúc Ưng Đăng, cháu gọi Tự Đức là bác.

·         (**) Nguyễn Phúc Ưng Đường, anh ruột của Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là con trai cả của Nguyễn Phúc Hường Cai - Kiên Thái Vương, được lên ngôi sau hai em là Kiến Phúc và Hàm Nghi. "Một nhà sinh đặng ba vua: Vua còn (Đồng Khánh), vua mất (Kiến Phúc), vua thua chạy dài (Hàm Nghi)".

·         (***) Nguyễn Phúc Bửu Lân con trai thứ 7 của Nguyễn Phúc Ưng Chân (Dục Đức).

Trang 4:

·         (*) Nguyễn Phúc Vĩnh San con trai thứ 5 của Nguyễn Phúc Bửu Lân (Thành Thái).

·         (**) Nguyễn Phúc Bửu Đảo, con trai cả của Nguyễn Phúc Ưng Đường (Đồng Khánh).

Dòng Minh Mạng được đặt thêm tên đệm theo thứ tự như sau (Đế hệ thi):

Miên - Hường - Ưng - Bửu - Vĩnh Bảo - Quý - Định - Long - Trường Hiền - Năng - Khâm - Kế - Thuật Thế - Thoại - Quốc - Gia - Xương

Thế thứ này vẫn còn được dùng nghiêm ngặt cho mãi đến ngày nay đã sang thế hệ thứ tám: Định. Những dòng anh và em Minh Mạng cũng có từng "phiên hệ thi" khác nhau và đang được dùng nghiêm túc giúp dòng họ dễ phân biệt thế thứ của nhau.

 


Ghi chú:

·         Xây dựng trong thời gian 11 năm (1920 - 1931)

·         Người dấy binh chống lại nhà Mạc, với danh hiệu phò Lê (trung hưng) sau bị chết đột ngột. Nhà Nguyễn truy tặng là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế

 


Ghi chú chân trang:

·         3 người con nuôi: Nguyễn Phúc Ưng Chân, Nguyễn Phúc Ưng Đường, Nguyễn Phúc Ưng Đăng

·         Nguyễn Phúc Hường Cai con trai thứ 26 của vua Thiệu Trị

 

Cửu Đỉnh – Hoàng cung Huế

Mùa xuân, tháng 3 năm 1838 tức năm Minh Mạng thứ 19, Hoàng đế Minh Mạng ban chỉ dụ đổi tên nước là Đại Nam: “…Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong đồ bản, bãi biển xó rừng khắp nơi theo về cả, trước gọi là Việt nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghĩa lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở đó. Kinh Thi có nói: “Nước nhà Chu dẫu cũ, mệnh vận đổi mới!” để cho đúng với tên và sự thực. Chuẩn cho từ nay trở đi, quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô, phải chiếu theo đó tuân hành, gián hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam, về lẽ vẫn phải, quyết không được lại nói 2 chữ Đại Việt, còn hiệp kỷ lịch năm nay, trót đã ban hành, không phải thay đổi hết thảy, nhưng nên in lại 3.000 tờ nhãn lịch trình dâng, chờ ban cho các quan viên ở Kinh và tỉnh ngoài, cho rõ hiệu lớn, còn thì phải lấy năm Minh Mạng thứ 20 làm bắt đầu đổi chép chữ Đại Nam ban hành, để chính tên hiệu và khắp các nơi xa gần”.

Năm 1837 tức Minh Mạng thứ 18, Vua dụ Nội các rằng: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc 9 cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thật to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa; đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế miếu:

- Chính giữa: Cao đỉnh,

- Tả nhất: Nhân đỉnh,

- Hữu nhất: Chương đỉnh,

- Tả nhị: Anh đỉnh,

- Hữu nhị: Nghị đỉnh,

- Tả tam: Thuần đỉnh,

- Hữu tam: Tuyên đỉnh,

- Tả tứ: Dụ đỉnh,

- Hữu tứ: Huyền đỉnh,

Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc”. Rồi phái hai viên khoa đạo và 2 viên quản vệ kiểm soát đôn đốc việc làm; đường quan bộ Công cũng đến xem xét. Lại bảo bộ Công: “Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng sông núi và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét. Đó là cái ý người xưa vẽ hình mọi vật”.

Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 đặt ở trước Hiển Lâm các theo một hàng ngang, đối diện với Thế Miếu, phía nam hoàng thành Huế, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn. Cao đỉnh được đặt ở trên đường thần đạo chạy từ Miếu Môn qua Hiển Lâm Các đến gian giữa của Thế Miếu - nơi đặt án và khám thờ vua Gia Long. Cao đỉnh kê ở chính giữa trong số Cửu Đỉnh và là đỉnh duy nhất được nhích về phía trước 3 mét với hàm ý tôn vinh vị vua sáng lập triều đại. Nhân đỉnh đối diện với án thờ vua Minh Mạng, Chương đỉnh dối diện với án thờ vua Thiệu Trị, Anh đỉnh đối diện với án thờ vua Tự Đức, Nghị đỉnh đối diện với án thờ vua Kiến Phúc, Thuần đỉnh đối diện với án thờ vua Đồng Khánh, Tuyên đỉnh đối diện với án thờ vua Khải Định, Dụ đỉnh đối diện với án thờ vua Hàm Nghi, Huyền đỉnh đối diện với án thờ vua Duy Tân.

Trên mỗi đỉnh, người ta đều chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí,...tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời Nhà Nguyễn.

Đại lễ khánh thành và đặt Cửu Đỉnh diễn ra vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 tức ngày Quý Mão tháng giêng âm lịch năm Đinh Dậu, niên hiệu Minh Mạng thứ 18. Đích thân hoàng đế Minh Mạng đứng ra chủ trì buổi lễ.

“Ngày Quý Mão, đặt 9 cái đỉnh ở trước sân Thế miếu. Trước đây đúc 9 cái đỉnh to (cao hơn 5 thước, đến hơn 6 thước, vòng lưng to 11 thước 6 tấc đến hơn 8 tấc, nặng 4.100 cân hay 4.200 cân có lẻ). Phàm các thứ chim cá, giống thú cây cỏ cùng đồ binh khí, xe, thuyền cho đến thiên văn địa lý trong nước, lớn nhỏ đều đủ, đều theo hình ấy mà đúc.

1. Cao đỉnh, khắc các hình: Mặt Trời, biển Đông, núi Thiên Tôn, sông Ngưu Chử, sông Vĩnh Tế, chim trĩ, con hổ, con ba ba, con rồng, hoa tử vi, quả mít, hạt thóc tẻ, trầm hương, gỗ thiết, cây hành, thuyền nhiều dây, súng lớn.

2. Nhân đỉnh, khắc các hình: Mặt Trăng biển Nam, núi Ngự Bình, sông Hương, sông Phả Lợi, chim công, con báo, con đồi mồi, con cá voi, hoa sen, quả nam trân, hạt thóc nếp, cây kỳ nam, cây ngô đồng, cây hẹ, thuyền nhỏ, súng luân xa.

3. Chương đỉnh, khắc các hình: 5 sao, biển Tây, núi Thương Sơn, sông Linh Giang, sông Lợi Nông, con gà, con tê, con rùa, con cá sấu, hoa nhài, quả xoài, cây đậu xanh, cây đậu khấu, cây gỗ thuận, cây kiệu, thuyền đồng mông, súng điểu thương.

 4. Anh đỉnh, khắc các hình: sao Bắc đẩu, sông Ngân Hán, núi Hồng Sơn, sông Mã, sông Lô, con hạc, con ngựa, con ve, con rắn, hoa văn côi, cây cau, cây dâu, cây tô hợp, cây thị, cây nghệ, lá cờ, đạn bươm bướm.

5. Nghị đỉnh, khắc các hình: sao Nam đẩu, cửa biển Thuận An, cửa quan Quảng Bình, sông Bạch Đằng, sông Cửu An, chim uyên ương, con voi, con bướm bướm, cá hoa xanh, hoa hải đường, cây mai, cây biển đậu, cây quế, cây gỗ đàn, cây vải, thuyền Hải đạo, súng trường.

6. Thuần đỉnh, khắc các hình: gió, cửa biển Cần Giờ, núi Tản Viên, sông Thạch Hãn, sông Vĩnh Định, chim hoàng oanh, con bò lang, con trai, cá rô, hoa quỳ, cây đào, cây đậu vàng, cây túc sa, cây gỗ táu, cây hương nhu, cái thuyền, bài đạo.

7. Tuyên đỉnh, khắc các hình: mây, núi Duệ Sơn, núi Đại Lãnh, sông Lam Giang, sông Nhị Hà, chim yểng, con lợn, con giải, cá hậu ngư, hoa trân châu, quả long nhãn, củ lạc, tổ yến, cây trắc, cây gừng, thuyền Lê, cái nỏ.

8. Dụ đỉnh, khắc các hình: sấm, cửa biển Đà Nẵng, cửa quan Hải Vân, sông Vệ Giang, sông Vĩnh Điện, con vẹt, con dê, con hến, cá lành canh, hoa dâm bụt, quả lê, đậu trắng, lá dầu, cây thông, cây tử tô, thuyền Ô, dao phác.

9. Huyền đỉnh, khắc các hình: mưa, cầu vồng, núi Hoành Sơn, sông Tiền Hậu Giang, sông Thao, núi Thúc Thu, con ngựa, con cà cuống, con trăn, hoa lan 5 lá, quả vải, cây bông, sâm nam, cây sơn, cây tỏi, cái xe, ống phun lửa, đều 17 loại, mỗi loại đều 9 cái.

Hơn một năm đúc xong, sai quan có trách nhiệm chọn ngày tốt đặt đỉnh (dưới đỉnh kê bằng tảng đá). Đến ngày hôm ấy, vua thân đến miếu tế cáo. Lễ xong. Dụ rằng: Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ còn ít, nhà biên chép truyền nói không đúng, chép ra đều là vạc nấu ăn, còn như đỉnh to cao và nặng, không những gần đây không có, dẫu 3 đời (Hạ, Thượng Chu) cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành 9 đỉnh to, sừng sững đứng cao, to lớn nặng vững, không vết mẻ chút nào, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi đến không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và thành Trấn Tây đều biết.”

Cửu Đỉnh có thể coi là một cuộc “triển lãm” những tác phẩm mỹ thuật rất tinh tế của những nghệ nhân tài hoa, là biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất của đất nước Đại Nam và ước mơ triều đại mãi vững bền, hùng mạnh. Tất cả 162 mảng hình trên Cửu Đỉnh là 162 bức chạm độc lập, hoàn chỉnh, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng của Việt Nam, giữa văn hoá dân gian và văn hoá bác học, là bách khoa thư về thiên nhiên, cuộc sống con người Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ XIX. Cửu Đỉnh là di sản văn hóa quý hiếm, có giá trị nhiều mặt của văn hóa Huế nói riêng, Việt Nam nói chung. Ngược dòng về quá khứ nhìn lại hành trình mà Cửu đỉnh Huế được hình thành. Trải qua hơn 180 năm biến động, Cửu Đỉnh vẫn không hề thay đổi vị trí cũng như đã vượt qua mọi thách thức của thời gian và thời cuộc để tồn tại nguyên vẹn cho đến ngày nay. Giá trị của bảo vật quốc gia này đã vượt khỏi tầm vóc của quốc gia, của thời đại, xứng đáng trở thành di sản của nhân loại.

Cửu đỉnh được công nhận bảo vật Quốc gia năm 2012. Hiện nay, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã hoàn thành hồ sơ Cửu đỉnh Huế  - Hoàng cung Huế trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét phê duyệt để đệ trình UNESCO ghi danh công nhận Cửu đỉnh là di sản tư liệu thế giới.

Đại Nam thực lục quyển IV trang 793, 794; quyển V trang 21,22, 276

Hình vẽ Cửu Đỉnh triều Nguyễn trên tập san Bulletin des amis du vieux Hué (BAVH, tạm dịch: "Những người bạn của Cố đô Huế") năm 1914 

Tham khảo thêm

Cửu đỉnh (九鼎) của triều Nguyễn là chín cái đỉnh (vạc) bằng đồng, đặt ở trước sân Thế Miếu trong Hoàng thành Huế. Theo Đại Nam thực lục chính biên, tháng 10 năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Cửu đỉnh được nhà vua ra lệnh cho khởi công: “Bắt đầu đúc 9 cái đỉnh. Vua dụ Nội các rằng:‘Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà Tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam Đại [Hạ, Thương, Chu], lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc 9 cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thật to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa; đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế Miếu: Chính giữa: Cao đỉnh; Tả nhất: Nhân đỉnh; Hữu nhất: Chương đỉnh; Tả nhị: Anh đỉnh; Hữu nhị: Nghị đỉnh; Tả tam: Thuần đỉnh; Hữu tam: Tuyên đỉnh; Tả tứ: Dụ đỉnh; Hữu tứ: Huyền đỉnh. 

Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc’. Rồi phái hai viên khoa đạo và 2 viên quản vệ kiểm soát đôn đốc việc làm; đường quan bộ Công cũng đến xem xét.  Lại bảo bộ Công: ‘Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng sông, núi và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét. Đó là cái ý người xưa vẽ hình mọi vật’.

Bấy giờ, vua Minh Mạng cho dựng lên một công trường chế tác, đúc đồng ở khu vực thuộc Sở Võ khố và rất đông người tham gia thực hiện công trình. Ngoài những viên quan am tường dịch lý, kỹ thuật, mỹ thuật trực tiếp chịu lệnh vua, những quân binh cơ khí chuyên nghiệp của Bộ Công, những thợ khéo tay của phường nghề đúc đồng Kinh Nhơn của phủ Thừa Thiên được trưng dụng, triều đình ban bố lệnh chiêu mộ nhân tài, vật lực, tập trung công sức trí tuệ của cả nước, triệu về Kinh đô Huế để phục vụ cho việc đúc Cửu đỉnh.

Cũng như Cửu đỉnh của triều đại nhà Hạ, để đúc nên những vật phẩm bằng đồng theo mẫu tạo, người thợ đúc của triều Nguyễn phải làm ra những chiếc khuôn; tùy theo kích cỡ, mẫu mã, ký tự, hoa lá, chim muông, cảnh vật…của từng hình và từng chủ đề. Trước tiên các nghệ nhân phải họa ra giấy những hình ảnh, hoặc đắp thành hình tượng mẫu với những hoa văn cần thiết có độ chuẩn xác về đường nét của từng hình tượng sẽ được đúc tạo. Mỗi hình vẽ được tính toán và bố cục hài hòa theo một tỷ lệ chuẩn nhất định. Tiếp đó người thợ phải dựa vào đó mà làm ra những chiếc khuôn, chuyển tải đầy đủ nội dung, hình thức của hình tượng. Công việc này tốn rất nhiều thời gian và công sức.

Trên mỗi đỉnh, người ta đều chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí...tập hợp thành bức tranh toàn cảnh đặc sắc của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn. Những chi tiết này đều được hoàng đế đích thân tuyển chọn hết sức cẩn thận.

Sử sách không ghi rõ về quá trình thiết kế, vẽ kiểu Cửu đỉnh nhà Nguyễn nên rất khó để xác định xem hình dáng của Cửu đỉnh bây giờ có phải được giữ nguyên như thiết kế ban đầu hay đã bị sửa đổi trong quá trình chế tạo.

Nhìn chung, cả chín chiếc đỉnh đều có dáng chung giống nhau: bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới bầu có ba chân. Ở phần cổ đỉnh, bên phải ghi năm đúc đều là “Minh Mạng thập lục niên Ất Mùi” có nghĩa là năm Minh Mạng thứ 16 (1835).

Nhưng, bên cạnh nét tương đồng thể hiện sự đồng điệu về phong cách thể hiện thống nhất của vương triều Nguyễn do vua Minh Mạng sắc lệnh thi hành, thì mỗi đỉnh cũng có nét riêng, tạo ra các điểm nhấn thú vị.

Chẳng hạn như: cũng là quai đỉnh hình chữ U úp, nhưng góc đáy của nó ở các đỉnh Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Dụ đỉnh và Huyền đỉnh thì vuông góc, còn ở các đỉnh khác lại uốn cong. Mặt quai thì tùy đỉnh mà bện thừng, cong vỏ măng, cong lòng máng, phẳng bẹt hay có gờ, triện hoặc để trơn. Phần lớn cổ các đỉnh có hình lòng máng, nhưng ở Cao đỉnh, Dụ đỉnh lại để thẳng. Vành miệng của Thuần đỉnh, Dụ đỉnh và Huyền đỉnh đều cong nửa vỏ măng, còn ở các đỉnh khác thì thẳng đứng với gờ vuông. Vai nhiều đỉnh có gờ đơn hoặc gờ kép, nhưng một số đỉnh để trơn. Đáy bầu đỉnh phần lớn cong một phần của khối cầu, nhưng ở một số đỉnh khác lại bằng và hơi lõm lên. Chỉ có chân Dụ đỉnh là được tạo đáy thẳng hơi chếch, còn ở các đỉnh khác đều cong dạng chân quỳ. Các mảng hình được chạm trên bầu của đỉnh, mỗi đỉnh có 18 mảng hình.

Nguyên liệu đúc Cửu đỉnh do triều đình cung cấp, gồm hai nguyên liệu chính là đồng và kẽm, có thể thêm chì, thiếc… lấy từ trong kho hoặc các phế khí hay những vật phẩm bằng đồng không cần dùng nữa. Tổng khối lượng đồng để đúc Cửu đỉnh là 22.473 kg nhưng cũng có tài liệu ghi số liệu là 22.088 kg.

Tháng 5 (âm lịch) năm Bính Thân niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836), phần thô của chín đỉnh đúc xong, vua xuống lệnh chọn thợ khéo chạm khắc các hình trang trí chạm nổi vào mỗi đỉnh. Nhân đó, nhà vua thưởng cho người Đốc biện và binh lính trông coi một tháng tiền lương, thợ và người làm thưởng chung cho 300 quan tiền. Đồng thời, vua cũng sai bộ Lễ sắm sửa lễ vật tạ ơn thần linh giúp đỡ cho việc đúc Cửu đỉnh được thành công. Sách Đại Nam thực lục chép: “Đúc xong chín cái đỉnh. Sai chọn thợ khéo chạm khắc hình tượng vào đỉnh. Trước hãy thưởng từ Đốc biện đến biền binh 1 tháng tiền lương. Thợ và người làm, thưởng chung cho 300 quan tiền. Vua bảo Nội các rằng: “Việc đúc, cố nhiên là ở nhân công, nhưng đồ quý trọng mà làm được, không phải không có thần giúp sức”. Vậy sai bộ Lễ sửa lễ tạ”.[3]

Tuy vậy, công việc gắn hình chạm nổi mất khá nhiều thời gian. Nhưng phải mất gần 8 tháng sau, Cửu đỉnh mới được chính thức hoàn thành.

Việc đúc các hình ảnh trên Cửu đỉnh được ghi chép lại rất tỉ mỉ trong Châu bản triều Nguyễn về cách nung đồng đỏ và về việc luyện tay nghề cho các thợ, cách pha chế đồng để đúc ra từng tấm đúng với khối lượng quy định đối với các hình ảnh.

"Bề tôi ở Đốc Công thuộc Vũ Khố kính dâng tờ Phiến: 莊烈 

Việc là, ngày tốt tháng 4 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Nha (Đốc công) của thần lược trình về việc trước đây, thợ đúc tài năng là Lương Đức Tựu, Dương Hữu Đản, Võ Công Lượng - Ba người đến dạy dỗ hướng dẫn phương pháp luyện đúc đồng đỏ cho các thợ đúc Nguyễn Văn Bành, thợ Mậu Tài là Trần Văn Nhiêu – tất thảy là 12 người học tập cho thuần thục cách đúc đồng ấy. Bọn Lương Đức Tựu ba người xin Bộ được cấp bằng trở về quê cũ, lại tuần tự ứng theo đó. Tiếp đó, lãnh hội 6 khối đồng để xử trí, nấu thành đồng đỏ. Nhân đó, ghi chép đầy đủ. Phụng chỉ, trong đó có 1 khoản: Lương Đức Tựu, Dương Hữu Đản, Võ Công Lượng 3 người vẫn cho trở về quê cũ, Thợ đúc đồng Nguyễn Văn Bành cho đến Trần Văn Đệ gồm 12 người vẫn chuẩn cho tiếp tục lĩnh làm theo phương pháp đúc đồng đỏ. Khâm thử!

Đến tháng 6 năm này (1836), phụng chỉ dụ của Thánh thượng rằng: phát ra 6 khối đồng đỏ từ trong kho, sức cho đốc công nấu chảy thành đồng đỏ đẹp. Lại nấu chảy thành từng miếng, đợi theo tính toán trước đây cho đủ 10 vạn cân , vẫn giao 1 phái viên đúc đỉnh xem xét. Nếu có tiến trình hạn định, chẳng được nhận lãnh việc đúc đồng gây trì hoãn kéo dài. Khâm thử! Khâm tuân (kính tuân theo lời vua) các việc đã xét rõ. Nha của thần lần lượt lãnh việc xuất ra các khối đồng, sức cho thợ đúc nấu chảy đẹp đồng đỏ, lại đúc thành từng miếng. Hiện số là 99734 cân 8 lạng, nhận lãnh đầy đủ. Đưa vào lời tâu, nay chúng thần trộm chiếu xét từ các khối đồng đã lưu trữ, trong đó đa số đã được ứng vậy. Tiếp đó, lãnh việc nấu chảy thành đồng đỏ, vẫn đúc thành 215 cân 8 lạng. Trình tâu đầy đủ các loại đồng là khoảng 10 vạn, lại sức cho bọn thợ đúc y theo phép luyện đồng để đúc đồng đỏ cho đẹp, đưa vào vũ khố để đủ cần cho sử dụng. Chúng thần ngu muội chẳng dám tự tiện suất biện, kính phụng mệnh dâng phiến đầy đủ, chờ lĩnh thánh chỉ. Kính tâu!

Ngày tháng này (tháng 06 năm 1836), Đương trực, thần, Lê Đăng Doanh, Nội các thần Lâm Duy Nghĩa kính duyệt!

Ngày 28 tháng Giêng năm Minh Mạng thứ 19 (1838) đề.

Châu phê: nên đầy đủ 10 vạn cân (Ấn: ngự tiền chi bảo)

Thần: Nguyễn Văn Nghi ký”.

Sau hơn 1 năm dốc công thực hiện việc chú tạo Cửu đỉnh, vào ngày Quý Mão, tháng Giêng năm Minh Mạng thứ 18 (1837), Cửu đỉnh được hoàn thành và vua Minh Mạng đích thân chủ trì đại lễ khánh thành và đặt Cửu đỉnh ở sân Thế Miếu. Sách Đại Nam thực lục (Chính biên, Đệ nhị kỷ, Thực lục về Thánh tổ Nhân hoàng đế) chép rằng: “Đinh Dậu, Minh Mệnh năm thứ 18 [1837] (Thanh, Đạo Quang năm thứ 17). Mùa xuân, tháng Giêng...ngày Quý Mão, đặt 9 cái đỉnh ở trước sân Thế Miếu. Trước đây đúc 9 cái đỉnh to (cao hơn 5 thước, đến hơn 6 thước, vòng lưng to 11 thước 6 tấc đến hơn 8 tấc, nặng 4.100 cân hay 4.200 cân có lẻ). Phàm các thứ chim cá, giống thú cây cỏ cùng đồ binh khí, xe, thuyền cho đến thiên văn địa lý trong nước, lớn nhỏ đều đủ, đều theo hình ấy mà đúc.

Sau một năm đúc xong cửu đỉnh, vua Minh Mạng ra lệnh cho quan Bộ Lễ chọn ngày tốt để đặt đỉnh và dưới được kê bằng tảng đá thanh. Bắt đầu buổi lễ, nhà vua cùng quần thần đến miếu tế cáo. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng: “Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ truyền lại còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là hình dạng của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam Đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và thành Trấn Tây đều được biết”].

Hôm sau, đúng vào ngày Bính Ngọ, vua Minh Mạng ngự điện Thái Hòa làm lễ lạy mừng và ban yến tiệc: "Ban yến cho quần thần, văn tự tứ phẩm và ngũ phẩm trở lên, không cứ dưới tên có bị xử phân hay không, đều được dự. Thường hậu cho các viên đốc biện, giám tu, chuyên biện cùng các thợ đúc cấp, kỳ, áo quần và tiền. Các quan địa phương đều dâng biểu chúc mừng".

Trái với Cửu đỉnh của Trung Quốc được vua Vũ nhà Hạ đúc tượng trưng cho chín châu của vùng lãnh thổ của Trung Nguyên lúc ban đầu (mỗi đỉnh mang tên mỗi châu gồm Ký Châu, Duyệt Châu, Thanh Châu, Từ Châu, Dương Châu, Kinh Châu, Dự Châu, Nhiễm Châu và Ung Châu) thì Cửu đỉnh nhà Nguyễn đúc để biểu hiện sự trường tồn và uy quyền của triều đại. Cửu đỉnh triều Nguyễn lại có tên riêng trùng với một số thụy hiệu của các vị hoàng đế triều Nguyễn gồm: Cao đỉnh (Thế tổ Cao Hoàng đế - vua Gia Long), Nhân đỉnh (Thánh tổ Nhân Hoàng đế - vua Minh Mạng), Chương đỉnh (Hiến tổ Chương Hoàng đế - vua Thiệu Trị), Anh đỉnh (Dực Tông Anh Hoàng đế - vua Tự Đức), Nghị đỉnh (Giản Tông Nghị Hoàng đế - vua Kiến Phúc), Thuần đỉnh (Cảnh Tông Thuần Hoàng đế - vua Đồng Khánh), Tuyên đỉnh (Hoằng Tông Tuyên Hoàng đế - vua Khải Định), Dụ đỉnh và Huyền đỉnh.

Về vấn đề này, xem xét ý nghĩa cụ thể về cách sắp đặt ứng với thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế là đỉnh hiệu (tên đỉnh) ở mỗi đỉnh đồng thuộc Cửu đỉnh, thì sử sách triều Nguyễn (như Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí…) đều không đề cập trực tiếp. Đó hẳn nhiên là điều hợp lý, bởi lẽ Cửu đỉnh được chính hoàng đế Minh Mạng đích thân đặt tên, cho đúc và hoàn thành vào triều vua Minh Mạng, tên của 9 đỉnh (hay còn gọi là đỉnh hiệu) là do vua Minh Mạng bấy giờ ngự ban. Vì thế, ngoài Cao đỉnh [ứng với thụy hiệu Cao hoàng đế của vị Thế tổ - vua Gia Long khai sáng vương triều Nguyễn], những đỉnh hiệu còn lại chắc chắn chưa thể xác định có sự gắn liền với thụy hiệu của các vị vua triều Nguyễn về sau hay không (mà thực tế, không phải đỉnh hiệu nào cũng ứng với thụy hiệu của các vị hoàng đế triều Nguyễn, như Dụ đỉnh và Huyền đỉnh là chứng lý cụ thể).

So với sách Đại Nam thực lục thì Minh Mạng Ngự chế văn (Dụ văn) khi ghi chép bản Thánh dụ cho bộ Lễ nhân dịp khánh thành Cửu đỉnh vào ngày 25 tháng Giêng năm Minh Mạng thứ 18 (1837), đã có thêm phần ý nghĩa cụ thể, bổ sung hơn. Tại đây, Thánh tổ Nhân Hoàng đế của nhà Nguyễn đã bảo rằng: “Dụ: Trẫm nghiên cứu hình tứ linh (lân, phượng, rùa, rồng) trên các đỉnh đúc thời thượng cổ, nhưng cổ vật nay còn rất ít, mà các nhà làm sách truyền lại cũng sai lạc sự thật. Phần lớn các ghi chép đều là đỉnh nấu ăn, còn như các đỉnh cao, to, nặng không những các đời gần đây không có mà của đời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) cũng ít thấy. Nay trẫm tự thêm bớt theo ý cổ cho đúc thành 9 đỉnh lớn lấy tên là: Đỉnh Cao, Đỉnh Nhân, Đỉnh Chương, Đỉnh Anh, Đỉnh Nghị, Đỉnh Thuần, Đỉnh Tuyên, Đỉnh Dụ và Đỉnh Huyền. Đo bằng thước ngày nay thì đỉnh có chiều cao từ trên 5 thước, đến trên 6 thước, bụng đỉnh to từ 11 thước 6 tấc tới trên 8 tấc. So với trước thời Chu thì đã cao to hơn tầm hơn trượng. Đỉnh nặng từ 4100 đến 4200 cân khác nhau. Lại đúc vào đó hình các động thực vật trên cạn dưới nước, các đồ binh khí, xe thuyền mà bản triều có, cho đến các hiện tượng thiên văn địa lý, các vật lớn nhỏ đều đầy đủ. Công việc đúc được khởi công vào tháng 12 năm Minh Mệnh [Mạng] 16, Ất Mùi. Qua 1 năm sau, đến tháng 12 năm Minh Mệnh [Mạng] 17 thì đúc xong. Năm nay vào ngày 25 tháng Giêng đã đặt vào trước sân Thế Miếu. Trẫm cung kính tới làm lễ, lễ xong lại đích thân xem xét kỹ, thấy 9 đỉnh sừng sững, nguy nga, to nặng, vững chắc, hoàn hảo không chút khiếm khuyết, đáng là vật báu truyền đời để con con cháu cháu giữ gìn mãi mãi. Trong lòng trẫm rất vui mừng. Vậy với các viên chuyên trách trông coi và các thợ thuyền đều truyền gia ân, giao cho bộ Lại đặc cách bàn xét ban thưởng ưu đãi. Còn các quan và binh lính vận chuyển đỉnh báu ngày hôm trước như Đô thống Phạm Hữu Tâm, truyền thưởng cho 3 cuộn sa và kỷ lục 1 lần, thưởng cho các viên quản vệ mỗi người 1 cuộn sa; hơn 2000 người từ suất đội đến binh lính, trừ vệ Cẩm Y đã có thưởng riêng ra, còn lại truyền thưởng cho 1000 quan tiền, giao cho Phạm Hữu Tâm công tâm phân loại ban phát, để tỏ rõ sự ban thưởng ưu hậu. Lại truyền cho bộ Lễ ban truyền đại ý dụ này cho 31 trực tỉnh và thành Trấn Tây để mọi người đều biết và vui mừng. Hãy kính theo dụ này. Ngày 25 tháng 01 năm Minh Mệnh 18.”

Mặc dầu vậy, trong ý tứ sâu xa, cách đặt để vị trí 9 đỉnh ứng với 9 gian thờ chính tại Thế Miếu của Thánh tổ Nhân hoàng đế rõ ràng có dụng ý. Đấy là việc đặt để Cao đỉnh ở trung tâm sân Thế Miếu, chính giữa gian thờ của Thế tổ Cao hoàng đế. Rồi theo đó, với quy luật “tả chiêu hữu mục”, ứng với mỗi án thờ sau này của các hoàng đế triều Nguyễn sẽ là một chiếc đỉnh đồng có đỉnh hiệu tương đối trùng với thụy hiệu của các vị hoàng đế triều Nguyễn (như Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh…).

Ngay từ ngày đầu đúc đỉnh, vua Minh Mạng đã ghi rõ vị trí đặt đỉnh là trước tôn miếu (Thế Tổ Miếu), mục đích của nhà vua là thể hiện quyền uy và sức mạnh của vua chúa và của cả triều đại kế tiếp.

 Bàn về vấn đề này, tác giả L. Sogny trong bài “Những đỉnh triều đại ở Đại Nội Huế” (B.A.V.H, 1914) cho rằng:

“Ngoài nhiều nghĩa khác nhau, các đỉnh ấy, theo chúng tôi nhờ sự khảo cứu của những vị có quyền phép hơn chúng tôi thì chính những đỉnh ấy trước tiên là tượng trưng cho uy quyền vua chúa của một đời vua mới. Do nhiều hình chạm ở hai bên hông để tượng hình các triều đại và do nặng quá không gì lay chuyển hay đem đi nơi khác được và hình thù lớn, các đỉnh ấy tượng trưng cho quyền lực vô hạn và sự bền vững của ngôi báu nhà Nguyễn……

Cần phải lưu ý là những mô típ về trời đều con số 9 và mỗi đỉnh đều đặt một chỗ riêng. Người ta có thể kết luận rằng có những điểm tương đồng giữa chúng cũng như các con vật chạm trên các đỉnh ấy. Như đỉnh thờ vua Gia Long (Cao đỉnh, đỉnh của ngôi cao) có hình mặt trời ý nói vĩ đại. Con cọp cũng đặt ở trên đỉnh ấy để tăng vẻ hùng vĩ của uy quyền. Đỉnh thờ vua Minh Mạng [Nhân đỉnh], đỉnh nhân ái và đức độ) có hình mặt trăng để nói lên uy thế nhưng có vẻ khiêm tốn hơn với thân phụ và tiên đế của vua Minh Mạng. Con báo cũng có vai trò như con hổ của đỉnh trước. Và cứ như vậy cho cả nhóm đỉnh khác. Của Thiệu Trị [Chương đỉnh], có 5 hành tinh và con tê giác. Của Tự Đức [Anh đỉnh] có Đại hùng tinh và con ngựa. Của Kiến Phước [Nghị đỉnh] Tiểu hùng tinh và con voi. Của Đồng Khánh [Thuần đỉnh], gió và con bò rừng. Còn ba đỉnh cuối không có tượng trưng, chỉ có mây, heo, chớp và con dê, mưa và con mê đi lên”.

Trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương rồi chiến tranh Việt Nam, tiếp đó là suy thoái của thời kỳ bao cấp (1945 - 1981), Cửu đỉnh vẫn được đặt ở chỗ cũ không di chuyển và còn nguyên vẹn tới ngày nay.

Chín chiếc đỉnh lần lượt được đặt ở sau Hiển Lâm Các theo một hàng ngang, đối diện với Thế Miếu, phía nam hoàng thành Huế. Cao đỉnh được đặt ở trên đường thần đạo chạy từ Miếu Môn qua Hiển Lâm Các đến gian giữa của Thế Miếu - nơi đặt án và khám thờ vua Gia Long. Cao đỉnh kê ở chính giữa trong số Cửu đỉnh và là đỉnh duy nhất được nhích về phía trước ba mét với hàm ý tôn vinh vị vua sáng lập triều đại.

Lấy Cao đỉnh làm chuẩn, bên trái lần lượt là Nhân đỉnh, Anh đỉnh, Thuần đỉnh, Dụ đỉnh; bên phải lần lượt là Chương đỉnh, Nghị đỉnh, Tuyên đỉnh, Huyền đỉnh. Nhân đỉnh đối diện với án thờ vua Minh Mạng, Chương đỉnh đối diện với án thờ vua Thiệu Trị, Anh đỉnh đối diện với án thờ vua Tự Đức, Nghị đỉnh đối diện với án thờ vua Kiến Phúc, Thuần đỉnh đối diện với án thờ vua Đồng Khánh, Tuyên đỉnh đối diện với án thờ vua Khải Định, Dụ đỉnh đối diện với án thờ vua Hàm Nghi, Huyền đỉnh đối diện với án thờ vua Duy Tân.

Tổng cộng có 162 tấm họa tiết chạm nổi tinh xảo trên bầu của tất cả chín đỉnh, 162 hình tượng đặc trưng này có một số hình ảnh ẩn dụ rất thâm sâu mang đậm yếu tố tâm linh dựa trên nguyên tắc của Dịch học và Ngũ hành thường được dùng nhiều trong việc thờ phụng. Mỗi đỉnh gồm 18 hình, chia làm ba tầng, mỗi tầng có 6 hình xen kẽ với 6 mảng trống, trong đó tầng trên và tầng dưới bố trí lệch đi một khoảng so với tầng giữa. Mảng hình chính ở mặt trước thuộc tầng giữa được khắc tên đỉnh với lối chữ chân phương, từng nét mạch lạc, khối chữ vuông vức.

Có thể thấy, các hình chạm nổi trên Cửu đỉnh được sắp xếp theo trật tự trang trí chặt chẽ. Nhìn chung tầng giữa tập trung những hình quan trọng nhất: lấy tên đỉnh làm nội dung trang trí chính, đối lại phía sau là các mô hình thể hiện vũ trụ như các tinh cầu hay các biểu tượng thiên nhiên mạnh mẽ và thần bí, hai bên trên đỉnh là hình các núi cao hùng vĩ, trập trùng và đối lại bên kia là biển cả mênh mông hay cửa sông rộng mở, rồi tiếp theo cả hai bên là những con sông lớn của Việt Nam. Tầng trên và tầng dưới không có hình ở hai phía trước và sau, mà dàn sang hai bên nhưng vẫn mang tính đăng đối. Ở tầng trên, thứ tự từ trước ra sau là những cây to quý (riêng ở Cao đỉnh thay bằng hình rồng, ở Anh đỉnh là ve sầu và ở Tuyên đỉnh là tổ yến) đối xứng với những cây ăn quả lưu niên. Tiếp theo là hình những con chim đẹp, quý hiếm (riêng ở Nghị đỉnh thay bằng hình con sâu dừa) đối xứng với cây lương thực. Cuối cùng là những loài hoa đăng đối với ngũ cốc.

Tầng dưới đăng đối hai nửa từ trước ra sau là cặp đôi gồm những cây gỗ lớn và cây gia vị với loài thủy hải sản và cây quý (riêng ở Nghị đỉnh thay bằng cặp chim uyên ương). Tiếp đến là những loài hải vật nhỏ đăng đối với thuyền bè, xe cộ (riêng ở Anh đỉnh thay bằng lá cờ). Sau cùng là các linh thú đăng đối với các kiểu vũ khí chiến trận.

Nghệ nhân khi thể hiện hình chạm trên Cửu đỉnh đã không phụ thuộc vào trạng thái tự nhiên của vật thể, cũng như tỷ lệ kích thước của chúng, mà họ sáng tạo bằng sự sắp xếp lại cho vừa một mảng diện tích tương đương nhau trên bầu của đỉnh. Vì thế có những vật thể thu nhỏ nhiều, nhưng lại có những vật thể thu lại không đáng kể; có hình rất khái quát, nhưng lại có hình khá chi tiết, hình nào cũng được nhìn rất động với những chi tiết đặc thù. Có thể xem 162 hình chạm khắc trên Cửu đỉnh như một bộ “Dư địa chí”, bộ bách khoa thư về nước Việt Nam đầu thế kỷ XIX bằng phương pháp tạo hình; tuy không đầy đủ nhưng điển hình, đúng như yêu cầu của vua Minh Mạng:“Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng sông, núi và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét”.

Với chức năng là trọng khí đặt ở trước sân tông miếu của Nhà Nguyễn, là báu vật tượng trưng cho đế nghiệp muôn năm vững bền của triều Nguyễn, tên gọi của mỗi đỉnh đang mang hàm ý của vua Minh Mạng: là thụy hiệu của các vua triều Nguyễn. Chẳng hạn như Cao đỉnh chính là thụy hiệu của vua Gia Long (1802–1819), Nhân đỉnh là thụy hiệu của chính vua Minh Mạng (1820–1841), Chương đỉnh là thụy hiệu của vua Thiệu Trị (1841–1847), Anh đỉnh là thụy hiệu của vua Tự Đức (1847–1883), Nghị đỉnh là thụy hiệu vua Kiến Phúc (1883–1884), Thuần đỉnh là thụy hiệu của vua Đồng Khánh (1885–1889), Tuyên đỉnh là thụy hiệu của vua Khải Định (1916–1925). Tất nhiên các vua Dục Đức, Hiệp Hòa (1883) bị Tôn Thất Thuyết phế truất và giết chết; vua Hàm Nghi  (1884–1885) lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp; hai cha con vua Thành Thái, Duy Tân bị người Pháp phế truất và lưu đày; vua Bảo Đại thoái vị...đều không được đặt tên miếu hiệu và thụy hiệu. Do đó, tên của Dụ đỉnh và Huyền đỉnh không trở thành thụy hiệu của bất kì vị vua nào triều Nguyễn.

Sau khi hoàn thành đúc 9 đỉnh đổng và đặt ở vị trí tôn miếu, vua Minh Mạng cho làm lễ cáo và khánh thành … Vua Minh Mạng đã làm bài thơ ca thất ngôn bát cú đường luật để ngợi ca công lao của các nghệ nhân đúc đỉnh. Đồng thời, qua bài thơ để nói rõ nguyên nhân đúc đỉnh, và cách đặt tên đỉnh, vị trí đặt đỉnh, các hình ảnh trên đỉnh, kích thước và đơn vị để dùng trong đúc đỉnh… tất cả ý nguyện về Cửu đỉnh được nhà vua gói gọn trong tập Minh Mệnh Ngự chế thi tập, nói về việc đúc xong Cửu đỉnh.

Phiên âm:

Phỏng cổ chú thành Cửu đỉnh, an thiết vu Thế Miếu đình tiền, Cung nghệ Tế cáo, lễ thành thi dĩ chí sự:

Viện dụng cống kim phỏng cổ tiên,

Chú thành Cửu đỉnh trí đình tiền.

 (Pháp cổ chú đại đỉnh giả Cửu, phụng an vu, Thế Miếu đình tiền, chính trung Cao đỉnh, tả nhất Nhân đỉnh, hữu nhất Chương đỉnh, tả nhị Anh đỉnh, hữu nhị Nghị đỉnh, tả tam Thuần đỉnh, hữu tam Tuyên đỉnh, tả tứ Dụ đỉnh, hữu tứ Huyền đỉnh.)

Tam tài cự tế giai thành tượng,

Vạn vật hình dung tận thủ yên.

 (Nhật Nguyệt Tinh Vân Phong Lôi Hồng Vũ, danh sơn, cự xuyên, đại hà, thương hải, dĩ chí bản triều sở hữu phi tiềm động thực chi thuộc, cập thương bác, chu xa chi loại giai thủ kỳ hình nhi chú yên. Dụng bản triều xích cao ngũ xích ngũ thốn dư chí lục xích nhất thốn dư, đại nhất trượng nhất xích dư, các hữu sai kỳ nhĩ, phân vi cao nhĩ trực nhĩ, viên nhĩ, cố nhĩ, đại nhĩ, phương nhĩ, kiên nhĩ, bình nhĩ, quảng nhĩ, phàm cửu. Vi trọng tứ thiên nhất nhị bách cân thượng hạ. Khởi công tự Minh Mệnh thập lục niên Ất Mùi, thập nhị nguyệt, chí thập thất niên Bính Thân thập nhị nguyệt cáo thành. Bản niên Đinh Dậu Chính nguyệt, cốc đán, đăng vu, miếu đình cao đại hoàn kiên, vô nhất hà khích. Thử Cửu đỉnh giai nhất chú nhi thành, duy điêu khắc tinh công, cố nhu thời nhật nhĩ. Án bản triều xích giảo Bắc triều, tắc Bắc triều xích đắc bản triều xích thất thốn ngũ phân nhi dĩ. Như thử chu xích tắc bội chi hỹ.)

Ký pháp Hạ hoàng tăng thức khuếch,

Khởi phương Tống chủ phí đào chân.

 (Tuy phỏng Hạ Vũ cống kim chú đỉnh, nhi kim chi giảo cổ tắc kỳ cao đại hậu trọng dĩ du sổ bội hỹ. Chí như Tống Huy Tông sở chú Đế nãi Bửu đỉnh, Mẫu đỉnh, Thương đỉnh, Cương đỉnh, Đồng đỉnh, Phụ đỉnh, Hiểu đỉnh, Khôi đỉnh, cao đại ký hữu hạn. Thả vô thủ vu sự toàn phục phá hoại, tối vi khả bỉ đồ phí công liệu thành bất túc đạo hỹ.)

Nguy nga ngật lập an bàn thái,

Tử tử tôn tôn vĩnh bảo truyền.

(Ngã chi tử tôn nhược năng kính pháp Thiên pháp tổ, thân hiền, ái dân tắc vĩnh bảo vạn niên truyền chi bách thế, thùy cảm vấn ngã đỉnh tai.)

Dịch nghĩa:

Noi xưa cho đúc 9 đỉnh thiết ở trước sân Thế Miếu, đến làm lễ cáo thành, làm thơ để ghi nhớ việc.

Liền lấy kim khí dâng lên mà noi xưa đúc thành 9 đỉnh đặt trước sân. (Noi xưa đúc đỉnh lớn 9 cái kính an trước sân Thế Miếu. Chính giữa là Cao đỉnh, tả nhất là Nhân đỉnh, hữu nhất là Chương đỉnh, tả nhị là Anh đỉnh, hữu nhị là Nghị đỉnh, tả tam là Thuần đỉnh, hữu tam là Tuyên đỉnh, tả tứ là Dụ đỉnh, hữu tứ là Huyền đỉnh.)

Lớn nhỏ đã xong, đều hình dung hết thảy muôn vật. (Có đủ mặt trời, mặt trăng, sao, mây, gió, cầu vồng, mưa, núi nổi tiếng, sông lớn, biển cả cho đến các thú chim chóc, cây cối của bản triều, cùng các loại súng pháo, xe thuyền đều lấy hình ảnh mà đúc. Đều dùng kích thước của bản triều cao hơn 5 thước 5 tấc đến hơn 6 thước 1 tấc, rộng hơn 1 trượng 1 thước. Mỗi cái đều khác nhau. Về quai chia làm cao nhĩ, trực nhĩ, viên nhĩ, cố nhĩ, đại nhĩ, phương nhĩ, kiên nhĩ, bình nhĩ, quảng nhĩ, tất cả có 9 loại. Nặng trên 4 ngàn trên dưới một hai trăm cân. Khởi công từ tháng 12 năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 đến tháng 12 năm Bính Thân, Minh Mệnh thứ 17 thì xong. Tháng giêng ngày tốt năm nay Đinh Dậu, đặt vào sân Thế Miếu, lớn lao chắc chắn không chút tì vết. Chín đỉnh này đều đúc một lúc mà xong, điêu khắc tinh xảo, cho nên là những vật dụng cần thiết cho mọi thời. Theo thước của bản triều so với thước của Bắc triều, thì thước của Bắc triều lớn hơn 7 tất 5 phân mà thôi, vì thế chu vi gấp bội vậy.)

Đã noi vua Hạ, thêm kích thước, Há phỏng Tống vương uổng nung hun. (Tuy noi theo vua Vũ nhà Hạ, lấy cống kim đúc thành đỉnh, mà nay so với xưa cao lớn dày nặng gấp bội. Đến như Tống Huy Tông đúc Đế đỉnh, Bửu đỉnh, Mẫu đỉnh, Thương đỉnh, Cương đỉnh, Đồng đỉnh, Phụ đỉnh, Hiểu đỉnh, Khôi đỉnh, cao lớn cũng có chừng. Mà không chú trọng việc, mà phá hoại khiến hao phí công và vật liệu, thật khỏi phải nói.)

Cao vút nguy nga như bàn thạch, Cháu cháu con con mãi giữ truyền. (Cháu con ta nếu biết kính Trời, noi Tổ, gần người hiền, yêu dân tức giữ mãi muôn năm truyền đến trăm đời. Thử ai dám hỏi đến Đỉnh của ta.).

Cửu đỉnh có niên đại 1835-1837, đánh dấu sự kiện nổi bật của giai đoạn lịch sử cực thịnh của nước Việt Nam thời vua Minh Mạng sau khi triều đình Huế bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định thành (1832), quản lý trực tiếp tất cả các tỉnh trong cả nước và hoàn thành công cuộc xây dựng Kinh thành Huế (1805- 1832). Cửu đỉnh ra đời vào thời điểm triều đình Huế hoàn thành công cuộc lập Địa bạ trên cả nước (1805-1836) và khai thác, xác lập vững chắc chủ quyền biển đảo tại Hoàng Sa và Trường Sa (1803-1836) đã tác động tích cực đến chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. 

Cửu Vị Thần Công thời Nguyễn

Cửu Vị Thần Công là tên gọi chung 9 khẩu đại pháo được đúc năm 1803 dưới triều hoàng đế Gia Long (1802-1820), có kích thước tương tự nhau, mỗi khẩu dài khoảng 5,15m, nặng trên 10 tấn.

Trên mỗi khẩu thần công đều được khắc tên ở đuôi súng theo thứ tự từ 1 đến 9 tương ứng với Tứ thời và Ngũ hành. Bốn khẩu bên trái (sau cửa Thể Nhơn) có thứ tự từ 1 đến 4 được đặt tên theo Tứ thời là Xuân, Hạ, Thu, Đông; năm khẩu bên phải (sau cửa Quảng Đức) có thứ tự từ 5 đến 9 được đặt tên theo Ngũ hành là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Trên thân súng có đúc chữ với nội dung mô tả về cách sử dụng thuốc súng, phương pháp bắn và tên của những người tham gia đúc súng. Vào năm 1816, hoàng đế Gia Long sắc phong cho cả 9 khẩu đại pháo này danh hiệu "Thần Uy Vô Địch Thượng Tướng Quân". Danh hiệu này cùng niên đại sắc phong đều được chạm nổi thêm trên phần đai cuối thân của cả 9 khẩu.

Từ đầu triều Nguyễn, các khẩu thần công này được đặt ở hai bên phía trước Ngọ Môn. Năm 1917, Cửu Vị Thần Công được dời về vị trí hiện nay. Năm 2012, Cửu Vị Thần Công được công nhận là Bảo vật Quốc gia Việt Nam. 

Nguồn:Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 

Thái miếu – Nơi thờ các chúa Nguyễn

Thái miếu có tên đầy đủ là Thái Tổ miếu. Ðây là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu nằm ở góc Đông Nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế miếu ở phía Tây Nam. Vị trí này nay thuộc phường Thuận Thành, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long thứ 3 (1804) và được tu sửa vào các đời vua các vua kế vị sau này. Trong chiến sự đầu năm 1947, khu vực Thái miếu gần như bị thiêu hủy hoàn toàn. Năm 1971 - 1972, Hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc đã quyên góp và dựng lại 1 tòa nhà 5 gian trên nền cũ ngôi điện chính để làm nơi thờ tự các chúa Nguyễn.

 

Thái miếu nằm trong một khu vực riêng trong Đại Nội, bên trái điện Thái Hòa, đối xứng với Thế miếu. Thái miếu ở phía Đông Nam trong Hoàng thành, hướng về phía Nam, dựng từ năm Gia Long thứ 3 (1804). Quy mô và bố trí kiến trúc của Thái miếu gần tương tự như Thế miếu. Chung quanh Thái miếu có thành cao bao bọc, với bốn cửa mở ra ba mặt. Tường bên trái có cửa Hiển Thừa, tường bên phải có cửa Túc Tướng, riêng mặt sau có 2 cửa Nguyên Chỉ (trái) và Trường Hựu (phải).

Miếu gồm 2 toàn nhà lớn, xây theo lối nhà kép trùng thiềm điệp ốc, chính đường 13 gian 2 chái kép, tiền đường 15 gian 2 chái đơn. Bên trong chính đường đặt chín án thờ các vị chúa Nguyễn: Gian chính giữa thờ Nguyễn Hoàng và vợ; Hai bên lần lượt là các chúa: Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Thụ, Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Thuần. Phía Đông điện chính là điện Long Đức, phía Nam có điện Chiêu Kính. Đối diện với điện Chiêu Kính ở phía tây là điện Mục Tư, phía Bắc điện này có tòa nhà vuông. Phía tả tường Thái miếu có cửa Hiển Thừa, phía hữu là cửa Tức Tường. Phía sau Thái miếu có cửa Nguyên Chí và Trường Hựu ở hai bên tả hữu[1].

Mỗi năm, tại Thái miếu tổ chức 5 lần lễ tế gọi là hưởng vào bốn tháng mạnh và tháng quý đông. Đó là Xuân hưởng, Hạ hưởng, Thu hưởng, Đông hưởng và Hạp hưởng. Hạp hưởng là lễ cúng tất niên vào cuối tháng Chạp.

Ngoài ra, Thái miếu còn tổ chức các lễ cúng tập thể, đến ngày húy nhật của mỗi chúa lại có lễ giỗ riêng; Lễ cáo nhân dịp Tứ tuần Đại khánh tiết, Ngũ tuần Đại khánh tiết hay tổ chức lễ tôn thụy cho các chư vị tổ tiên[2].

Những quy định nghi thức tổ chức lễ Thu hưởng tại Thái miếu vào ngày 1 tháng Bảy: “quan văn ngũ phẩm, quan võ tứ phẩm trở lên tất cả đều mặc triều phục, phẩm phục vào xếp 2 ban tả hữu bên trước sân tôn miếu chờ ngự giá đến làm lễ, đồng thời theo quy chế lễ nghi để làm lễ. Các quan văn từ lục phẩm, võ từ ngũ phẩm trở xuống đều mặc phẩm phục quỳ đón rước tại 2 bên đường gạch hồ Thái Dịch” [3].

Trước sân Thái miếu có gác Tuy Thành (tên cũ là gác Mục Thanh), 3 tầng, hình thức tương tự như gác Hiển Lâm ở Thế miếu. Hai bên gác Tuy Thành có tường ngắn, trên có lầu chuông, lầu trống, dưới trổ cửa vòm. Châu bản triều Nguyễn còn ghi chép đồ thờ tại các hương án tầng trên và tầng giữa thuộc gác Tuy Thành: “mỗi hương án nguyên đặt một nghiên bằng đá trắng đựng các thỏi mực đen, 1 nghiên bằng đá cẩm thạch đựng các thỏi mực son. 1 ống đựng bút bằng đồng tây, 1 lọ thuỷ tinh cùng 1 lọ đựng bút bằng pha lê mỗi loại 1 chiếc cùng các thỏi mực đen, mực son, mỗi loại 1 thỏi, 4 cái bút, 3 trang giấy Long Tiên đoạn kim hạng lớn, 100 trang giấy ngũ sắc ấn cách tiên” [4].

Qua khỏi gác này có hai nhà Tả vu và Hữu vu thờ các khai quốc công thần thời các chúa Nguyễn. Đó là những người đã có công giúp các chúa Nguyễn lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong. Các vị khai quốc công thần trong Hoàng tộc và bá tính được thờ ở tả, hữu thuộc Thái miếu: “Tôn Thất Khê, Tôn Thất Hiệp, Tôn Thất Hạo, Tôn Thất Đồng; Nguyền Ư Kỷ, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Cư Trinh”[5].

Châu bản triều Nguyễn – nguồn sử liệu gốc ghi chép lịch trình tu sửa, làm mới một số đồ thờ tại Thái miếu vào các năm 1837, 1838, 1840 (thời Minh Mệnh); 1842 (thời Thiệu Trị); 1857, 1858, 1860, 1867, 1869, 1870, 1871, 1872, 1873, 1877 (thời Tự Đức); 1894, 1897, 1898, 1907 (thời Thành Thái); 1913 (thời Duy Tân); 1916, 1917 (thời Khải Định). Cụ thể, năm Tự Đức 24 (1871), nhà Nguyễn cho tu bổ số gỗ ván hư hại tại Thái miếu, tổng cộng là 1.340 cây, tấm, chiếc cùng ngói lợp bị dột nhiều chỗ [6]. Dù trải qua nhiều lần tu bổ nhưng phong cách kiến trúc, trang trí của các công trình trong cụm di tích này, đặc biệt là tòa Thái Tổ Miếu vẫn giữ phong cách đặc trưng của thời Gia Long.

Trong kháng chiến chống Pháp đầu năm 1947, khu vực Thái miếu bị thiêu hủy gần như hoàn toàn. Năm 1971-1972, Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc đã quyên góp và dựng lại một tòa nhà 5 gian trên nền cũ ngôi điện chính để làm nơi thờ tự các chúa Nguyễn. Việc tu bổ Thái miếu hết sức có ý nghĩa, góp phần thiết lập lại và làm phong phú thêm hoạt động tế tự - thờ cúng tổ tiên của triều Nguyễn. Đồng thời, tăng thêm sức hấp dẫn của điểm đến du lịch Hoàng cung Huế.

Hiện nay, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã lên phương án bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo tổng thể di tích Thái Miếu, dựa trên quan điểm giữ gìn nguyên vẹn, không làm biến đổi các thành phần của di tích được coi là nguyên gốc - dấu tích kiến trúc, cảnh quan của thời vua Gia Long và những bổ sung, thay đổi về mặt trang trí, màu sắc, vật liệu dưới thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái…; loại bỏ các thành phần sai lệch trong các lần sửa chữa cơi nới trước đó; ưu tiên sử dụng vật liệu và quy trình kỹ thuật truyền thống.

 

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, tr. 27-28.

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 76, tờ số 132.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 87, tờ số 189.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 206, tờ số 266.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 137, tờ số 57.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 244, tờ số 305.

Thu Thủy – Phòng Phát huy giá trị tài liệu


Thế Miếu (Thế Tổ Miếu) 

Thế Tổ Miếu (thường gọi là Thế Miếu) là miếu thờ chung các vị vua triều Nguyễn. Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành. Nguyên ở nơi này trước kia là tòa Hoàng Khảo Miếu, miếu thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long. Năm Minh Mạng 2 (1821), Hoàng Khảo Miếu được dời lùi về phía bắc khoảng 50m để dành vị trí xây tòa Thế Tổ Miếu thờ vua Gia Long và Hoàng hậu. Miếu được xây dựng trong 2 năm (1821-1822), ban đầu chỉ dành để thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vì thế mới có tên gọi Thế Tổ Miếu) nhưng về sau trở thành nơi thờ tất cả các vị vua của triều Nguyễn.

Khuôn viên của Thế Tổ Miếu hình chữ nhật, diện tích khoảng trên 2ha, chiếm đến 1/18 diện tích toàn bộ các khu vực bên trong Hoàng thành và Tử Cấm thành. Bên trong khuôn viên này, bên cạnh tòa Thế Tổ Miếu là công trình chính còn có thêm các công trình khác như Thổ Công Từ, Cửu Đỉnh, Hiển Lâm Các, Canh Y điện, Tả Vu, Hữu Vu. Tòa Thế Tổ Miếu là một công trình kiến trúc gỗ rất lớn theo lối “trùng thiềm điệp ốc” đặt trên nền cao gần 1m. Bình diện mặt nền hình chữ nhật (54,60m x 27,70m), diện tích đến 1500m2. Nhà chính 9 gian 2 chái kép, nhà trước 11 gian 2 chái đơn, nối liền nhau bằng vì vỏ cua được chạm trổ rất tinh tế. Phần ngói vốn được lợp ngói ống lưu li vàng (nay thay bằng ngói âm - dương) với đỉnh nóc gắn liền thái cực bằng pháp lam rực rỡ.

Bên trong miếu, ngoài án thờ vua Gia Long và 2 Hoàng hậu đặt ở gian giữa, các án thờ của những vị vua còn lại đều theo nguyên tắc “tả chiêu, hữu mục” để sắp đặt. Tuy nhiên, theo gia pháp của họ Nguyễn, các vị vua bị coi là “xuất đế” và “phế đế” đều không được thờ trong tòa miếu này, vì thế, trước năm 1958, bên trong Thế Tổ Miếu chỉ có 7 án thờ của các vị vua dưới đây:

1. Án thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long) và 2 Hoàng hậu Thừa Thiên, Thuận Thiên ở gian chính giữa.

2. Án thờ Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (vua Minh Mạng) và Hoàng hậu ở gian tả nhất (gian thứ nhất bên trái, tính từ gian giữa).

3. Án thờ Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (vua Thiệu Trị) và Hoàng hậu ở gian hữu nhất (gian thứ nhất bên phải, tính từ gian giữa).

4. Án thờ Dực Tông Anh Hoàng Đế (vua Tự Đức) và Hoàng hậu ở gian tả nhị ( gian thứ hai bên trái).

5. Án thờ Giản Tông Nghị Hoàng Đế (vua Kiến Phúc) ở gian hữu nhị (gian thứ hai bên phải).

6. Án thờ Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế (vua Đồng Khánh) và Hoàng hậu ở gian tả tam (gian thứ ba bên trái).

7. Án thờ Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế (vua Khải Định) và Hoàng hậu ở gian hữu tam (gian thứ ba bên phải).

Đến tháng 10 năm 1958, án thờ 3 vị vua yêu nước vốn bị liệt vào hàng xuất đế là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được hội đồng Nguyễn Phúc Tộc rước vào thờ ở Thế Tổ Miếu. Hiện nay án thờ vua Hàm Nghi được đặt ở gian tả tứ (gian thứ tư bên trái). Án thờ vua Thành Thái đặt ở gian tả ngũ (gian thứ năm bên trái), còn án thờ vua Duy Tân đặt ở gian hữu tứ (gian thứ tư bên phải). Còn các án thờ vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Bảo Đại đến nay vẫn chưa có mặt trong Thế Tổ Miếu.

Bên ngoài Thế Tổ Miếu, trước mặt là một chiếc sân rộng lát gạch Bát Tràng. Trên sân đặt 1 hàng 14 chiếc đôn đá, bên trên đặt các chậu sứ trồng hoa. Hai bên sân lại có một đôi kỳ lân bằng đồng đứng trong thiết đình. Cuối sân là chín chiếc đỉnh đồng to lớn (Cửu Đỉnh) đặt thẳng hàng với 9 gian thờ trong miếu. Tiếp theo là gác Hiển Lâm, 3 tầng cao vút, hai bên có lầu chuông, lầu trống nối liền với gác bằng một bờ tường gạch. Bên dưới lầu chuông, lầu trống trổ 2 cửa, Tuấn Liệt (bên trái) và Sùng Công (bên phải). Bên ngoài bờ tường này là Tả Vu và Hữu Vu, thờ các công thần, thân huân thời Nguyễn.

Thổ Công Từ và Canh Y điện đều là những tòa nhà hình vuông nằm đối xứng với nhau theo chiều đông-tây của Thế Tổ Miếu (điện Canh Y nằm ở phía đông đã bị hủy hoại từ lâu), ở sát thần phía tây của miếu còn có một cây thông cổ thụ, có hình dáng uốn lượn rất đẹp, tường truyền được trồng từ khi dựng Thế Tổ Miếu.

Trong 5 ngôi miếu thờ đặt bên trong Hoàng thành: Triệu Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu và miếu Phụng Tiên, Thế Tổ Miếu là khu miếu thờ bề thế và được qui hoạch đẹp nhất. Đây cũng là khu vực thờ tự còn nguyên vẹn nhất của triều Nguyễn. 

Ngọ Môn :

​Khi nói đến Ngọ Môn chúng ta thường liên tưởng đến Thiên An Môn thuộc cố cung Trung Quốc. Cũng phải thôi ! Kiến trúc gỗ trong một vùng Đông Á rộng lớn có quan hệ giao thoa và chịu ảnh hưởng lẫn nhau cũng là một điều tất yếu. Nước ta nhỏ hơn (so với Trung Quốc) và lớn hơn (so với một số quốc gia lân bang). Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta suốt hàng ngàn năm luôn luôn phải đối đầu và phải hòa mục. Không đối đầu thì mất nước ! Không hòa mục thì lắm tai ương. Đánh thì thắng nhưng lại phải khiêm nhường... Kiến trúc là hệ quả của tư tưởng thời đại, là tâm thức và tầm vóc của một lớp người. Ngọ Môn vừa khiêm tốn (bởi không thể nghênh ngang mà đe dọa như Thiên An Môn được) nhưng lại vừa ngạo mạn (chắc gì ai đã hơn ai). Giữ lễ mà tự hào, nhỏ gọn nhưng uy nghi, vững vàng mà thanh tú, tư thế Ngọ Môn như tư thế đất nước Việt Nam vậy.

​Ngọ - trong la bàn địa lý chỉ về hướng nam. Môn là cửa. Ngọ Môn là cửa chính của Hoàng Thành mở đúng trên trục chính của Kinh đô, được kiến tạo vào năm 1833 dưới thời vua Minh Mạng. Trước đó, ở đây là Nam Khuyết đài được xây dựng vào năm 1804, dưới thời vua Gia Long.

​Một lầu vàng

Tám lầu xanh

Ba cửa thẳng

Hai cửa quanh..."

​(ca dao)

​Thiên An Môn đồ sộ mà nặng nề, hình khối cao to, năm cửa lớn nằm trên một đường thẳng bao giờ cũng đóng kín. Còn Ngọ Môn thì tạo nên “Ba cửa thẳng, hai cửa quanh” “một lầu vàng tám lầu xanh”. Thì cũng năm cửa, cũng chín lầu - nghĩa là cũng “cửu ngũ” như ai. Ngọ Môn thanh cao mà chững chạc. Với bộ mái vàng, xanh bằng ngói tráng men óng ánh, với một tầng lầu để trống lồng lộng mà gần gũi tự nhiên hòa nhập vào cây lá, vào mây trời, lầu Ngũ Phụng đứng trên đài Ngọ Môn hình chữ U, đường bệ làm sao. “Năm con phượng hoàng” như mãi mãi bay trên một công trình kiến trúc vừa là lễ đài vừa là cửa của đất nước.

​Ngọ Môn là lối giữa rộng 3,50 m có chiều sâu bằng bề ngang thân đài : 17,90 m. Tả, Hữu giáp môn ở hai bên rộng 2,55 m. Cả ba lối đi song song trên có rầm đồng và trần bằng đồng lá phẳng vàng óng (hai đầu) giữa là vòm cuốn. Khi cả ba lối đi này rộng mở đều gây nên cho con người ấn tượng, điện Thái Hòa cũng không cách xa Ngọ Môn bao nhiêu và bởi vậy nó còn là dáng dấp tam quan trước cổng

làng. Cái ấm cúng nghĩa tình của một đất nước đất không rộng, người không đông là vậy. Hai lối đi cuối được gọi là Tả, Hữu Dực Môn nằm dưới hai càng của nền đài dạng chữ U rộng 2,57 m, sâu 24,90 m. Hai lối này được xây cuốn bằng đá và gạch vồ. Sự tính toán của các nhà toán học, vật lý học đã tạo nên những vòm cuốn tiếp tuyến và liên tục đổi hướng, đẹp, khỏe và tài nghệ làm sao. Những viên đá được người thợ thủ công tạo nên theo đồ án đặt hàng, nằm đúng ở vị trí đã dự kiến, càng làm cho Ngọ Môn có giá trị thẩm mỹ tuyệt vời.

​“Công tượng gia ngôn lặc

Côn Cương danh cửu trì

Âm tiêu, dương trưởng hậu

Thiên đạo thái lai thì”

​(Thơ khắc trên nóc lầu Ngũ Phụng)

 

​Đại ý :

​Công người thợ là lời nói đẹp chạm khắc vào đá.

Như núi Côn Cương danh tiếng lâu nay

Khi mà khí âm suy, khí dương thịnh

Ấy là lúc đạo trời thông suốt.

​Nhìn tổng quát Ngọ Môn vẫn bề thế nhưng không gợi nên sự đồ sộ, nặng nề, đe dọa. Nhìn chi tiết, Ngọ Môn đầy đủ cấu trúc của một cửa triều vẫn giữ nguyên những nét kiều diễm kiêu sa.

​“Vân tế huyền sơ thướng

Ảnh tà thễ vị viên

Hà tu, tam ngũ dạ

Dĩ chiếu mãn sơn xuyên”

​(Thơ khắc trên nóc lầu Ngũ Phụng)

 ​Đại ý :

​Bên áng mây trăng mới mọc

Bóng còn chênh hình chưa tròn

Nhưng chẳng đợi đến đêm khuya

Cũng đã sáng khắp sông núi. 

Về tổng thể, Ngọ Môn được chia làm hai phần chính gồm phần nền đài và lầu Ngũ Phụng. Phần nền đài có bình diện hình chữ U vuông góc, xây bằng gạch, đá kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau. Đài cao gần 5m, diện tích chiếm đất hơn 1.560m2 (kể cả phần trong lòng chữ U). Thân đài trổ 5 cửa, trong đó cửa chính giữa là Ngọ Môn, cửa này chỉ dành cho vua đi. Hai cửa bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, dành cho các quan văn, võ theo cùng trong đoàn ngự đạo. Hai cửa ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U được gọi là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu.

Lầu Ngũ Phụng đặt ở phía trên đài, được tôn cao bởi một hệ thống nền cao 1,15m và cũng chạy suốt thân đài hình chữ U. Lầu có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với 100 cây cột. Phần mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hồi lang. Mái tầng trên chia thành 9 bộ. Trong đó, bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói ống màu vàng, tám bộ còn lại lợp ngói ống màu xanh. Phía trước chính giữa là hệ thống cửa thượng song hạ bản, xung quanh và phía sau nong ván, trên đó trổ nhiều cửa sổ với hình dáng rất phong phú và đa dạng như hình tròn, hình quạt, hình khánh… Các bờ nóc, bờ quyết, hồi mái được trang trí bằng nhiều chi tiết hoa văn tinh xảo.

Chính nhờ sự kết hợp, sắp đặt tài tình cộng với bàn tay khéo léo và đôi mắt thẩm mỹ cao của các nhà kiến trúc thời Nguyễn mà tổng thể Ngọ Môn tuy đồ sộ, nguy nga, nhưng lại không hề thô cứng, đơn điệu mà ngược lại rất mềm mại, tráng lệ.


Phu Văn Lâu, xứ Huế

Du khách gần xa khi đến Huế, ai cũng cố gắng một lần nhìn ngắm di tích lịch sử và văn hoá của cố đô nay đã trở thành di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản Thế giới năm 1993. 

Đến đây ai cũng được nghe câu hò mái nhì man mác, gợi lại tấm lòng yêu nước thiết tha của nhân dân ta, mà tương truyền gắn liền với tâm sự của vua Duy Tân thuở nọ:

Chiều chiều trước bến Văn Lâu (1)

Ai ngồi ai câu, 

Ai sầu ai thảm,

Ai thương ai cảm,

Ai nhớ ai trông,

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Đây là câu ca dân gian có sức sống lâu bền trong nhân dân, nhắc nhở mọi người về sự kiện lịch sử xảy ra năm 1916, khi ông vua trẻ tuổi yêu nước Duy Tân phải đóng giả làm người câu cá trên bến Phu Văn Lâu, để bí mật gặp Trần Cao Vân và Thái Phiên bàn việc khởi nghĩa chống lại sự cai trị của thực dân Pháp. Sự việc chẳng may bất thành, vua Duy Tân bị quân Pháp bắt và đày ra đảo Réunion sau đó (2)

Theo sử sách của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, vào đầu thời Gia Long, khi chưa có tòa nhà như ta đang thấy hiện nay, triều đình đã cho xây dựng ở vị trí ấy một ngôi nhà nhỏ gọi là Bảng Đình, “các chiếu thư dụ chỉ đem bá cáo thì treo yết ở đó”.

Đến tháng 6 năm Gia Long thứ 18 (tức 7/1819), Bảng Đình được thay thế bằng một toà nhà kiến trúc hai tầng mái, xung quanh không có vách, tạo nét thanh tú và độc đáo với tên gọi là "Phu Văn Lâu", mỗi lần nhà vua ban chiếu chỉ gì thì văn bản đó cũng đưa ra niêm yết ở Phu Văn Lâu. 

Phu Văn Lâu cũng là nơi nhà vua cùng triều thần duyệt khán các đơn vị bộ binh và kỵ binh của triều đình diễu hành. Sau đó vua xuống bến sông Hương để duyệt khán thủy binh và xem cuộc đua thuyền đầy hào hứng và thú vị ở trên sông.

Thời Minh Mạng, nhà vua quy định sau khi các chiếu thư được tuyên đọc ở Ngọ Môn hoặc điện Thái Hoà sẽ được đặt trên long đình, có che lọng và quân lính theo hầu hai bên để đưa ra niêm yết tại Phu Văn Lâu. Các quan hàng tỉnh và hương lão phải đến quỳ lạy trước chiếu thư. Vị trí của Phu Văn Lâu ở ngoài mặt Nam kinh thành, ngay trước Kỳ Đài và Ngọ Môn. Vì vậy ca dao có câu:

Ngọ Môn năm cửa chín lầu,

Kỳ Đài ba bậc,

Phu Văn Lâu trước thành.

 

Ngôi nhà hai tầng Phu Văn Lâu quay mặt về hướng Nam. Dưới thời vua Minh Mạng, vì tính cách long trọng nên triều đình cho dựng ở hai bên hai tấm bia đá khắc 4 chữ "khuynh cái hạ mã", nhắc nhở tất cả mọi người khi đi ngang qua Phu Văn Lâu phải "nghiêng nón xuống ngựa" để tỏ lòng kính cẩn. Từ năm 1821, sau khi truyền lô, danh sách các khoa danh tiến sĩ cũng sẽ được niêm yết tại đây.

Hai bên mặt trước Phu Văn Lâu có đặt hai khẩu súng thần công nhỏ bằng đồng hướng vào nhau. Phía trước mặt Phu Văn Lâu là một tiểu đình nằm kề bên sông Hương gọi là Nghinh Lương Ðình. Ðây là nơi giành riêng cho thú tắm sông, hóng gió, ngắm cảnh của các vua triều Nguyễn.

Tòa nhà xây dựng trên một nền hình vuông mỗi cạnh 12,24m. Mặt đất của đoạn thành giai này hơi xuôi về phía trước, nên nền cao đến 1,22m ở mặt tiền, còn ở mặt hậu thì nền chỉ cao 1,07m. Mặt nền lát đá cẩm thạch, quanh sân lát gạch Bát Tràng, nhưng nay sân đã thay thế bằng gạch ca-rô đúc bằng xi-măng. Tòa nhà chia làm hai tầng, gồm hai bộ mái chồng lên nhau, dưới lớn trên nhỏ. Mái ngày xưa lợp ngói ống tráng men vàng (hoàng lưu ly) là loại ngói được dùng để lợp cho tất cả các cung điện nằm ở trục chính của Kinh thành. 

Tòa nhà có 16 cột gỗ tròn sơn màu đỏ đậm. Bốn cột chính ở giữa chạy liên tục từ trên nền đến nóc tầng trên, cao khoảng 8 mét. Cột gỗ lim, chu vi trung bình 10,7m, 12 cột quần ở chung quanh cao khoảng 3m, có tiết diện nhỏ hơn, chu vi từ 0,95m đến 1m. Mỗi cột nhà đều dựng trên một bệ đá thanh. Những viên đá tảng được chạm thành hai tầng, dưới vuông trên tròn, cao 31cm. Chung quanh mặt nền, xây một hệ thống lan can cao 0,65m, chỉ bị gián đoạn ở các hệ thống bậc thềm giữa 3 mặt trước, trái và phải dùng để lên xuống. Hai lối đi hai bên không có thành bậc thềm. Hai bên hệ thống bậc cấp mặt trước có thành bậc chạm hình rồng. Đứng từ mặt nhìn lên, ta thấy có trần gỗ.

Từ tầng dưới đi lên tầng trên bằng một cầu thang bằng gỗ đặt ở góc phải.

Ở tầng trên, cả 4 mặt đều dựng đố bản, kiểu đố lụa khung tranh. Hai mặt trước và sau trổ cửa sổ tròn, hai mặt trái và phải trổ cửa sổ vuông, đối xứng nhau từng cặp. Chạy quanh bên ngoài là một hệ thống lan can con tiện bằng gỗ thanh tú và duyên dáng.

Ở nội thất không trần thiết gì, nhưng ngoại thất thì trang trí đẹp. Trên nóc lầu đắp cặp hồi long chầu mặt nhật. Các góc mái chắp hình con giao. Các bờ nóc, bờ quyết đều chia ra từng ô hộc kiểu lòng giếng, trong đó trang trí các thứ hoa lá đắp nổi bằng sành sứ nhiều màu. Trước mặt tầng này treo tấm biển gỗ đề ba chữ "Phu Văn Lâu".

Dạng thức cấu trúc tòa nhà nằm trong hệ thống âm dương ngũ hành. Phu Văn Lâu hai tầng tượng trưng cho lưỡng nghi. Ở tầng trên, hai cặp cửa sổ tròn và vuông biểu hiện rõ rệt hình dáng trời và đất: trời tròn đất vuông. Cái nền, bộ phận thấp nhất của tòa nhà, có kích thước hình vuông, cũng tượng trưng cho đất, hình ảnh mặt trời trên nóc tầng hai, bộ phận kiến trúc cao nhất, hình tròn, cũng tượng trưng cho trời. Tòa nhà tuy không lớn nhưng đứng ở một vị trí quan trọng: ngay giữa mặt tiền kinh thành. Bởi vậy, ý niệm kiến trúc mang tính triết lý ấy phải thể hiện được dụng ý của các nhà kiến trúc Việt Nam đầu thế kỷ 19. Phu Văn Lâu tuy đã được tu bổ nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên cốt cách đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn.

Phu Văn Lâu ghi dấu ấn trong văn học từ rất sớm và gần đây trong tác phẩm văn học “Thuyền ai đợi Bến Văn Lâu” xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2001, tác giả Nguyễn Lý Tưởng, sách dày 555 trang, là công trình nghiên cứu lịch sử. Những bài nghiên cứu mang hình ảnh của xứ Huế, có liên hệ nhiều đến cuộc đời của vua Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp vào năm 1916 ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều gia đình mà trong đó có gia đình của tác giả. Sách còn kể lại phong trào yêu nước nổi dậy chống Pháp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 tại Huế gồm nhiều nhân vật nổi tiếng khác như cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Đặng Nguyên Cẩn...

Quả là thiếu sót khi các tác giả biên soạn cuốn "Lịch sử Lưu trữ Việt Nam" (3), phần viết về công tác Lưu trữ thời Nguyễn, đã không nhắc đến vai trò của công trình kiến trúc "Phu Văn Lâu", địa danh được xem là nơi tổ chức công bố các tài liệu quan trọng, có giá trị pháp lý của triều đình Huế. Ở đây các  tác giả chỉ nhắc đến "Tàng Thư Lâu" một dạng kho lưu trữ dưới thời phong kiến ở Huế. 

Chúng tôi kiến nghị, cuốn Lịch sử Lưu trữ Việt Nam nếu tái bản lần tới, địa danh, kiến trúc "Phu Văn Lâu" cần phải được bổ xung, để có vị trí xứng đáng trong cuốn sách này! 

Chùa Thiên Mụ

Nói đến Huế, ngoài những lăng tẩm cung điện của triều Nguyễn phải kể đến những ngôi chùa nổi tiếng nhất trong số hàng trăm ngôi chùa cổ hiện nay ở cố đô Huế, đó là chùa Thiên Mụ. Đã hơn bốn trăm năm qua, trải qua bao vật đổi sao dời, chùa Thiên Mụ vẫn uy nghiêm bên dòng sông Hương thơ mộng. Tiếng chuông chùa Thiên Mụ từ bao đời nay đã được coi như một âm hưởng đặc trưng của xứ Huế.

Xưa kia nơi đây là một quả đồi hoang thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà, nay là phường Kim Long, thành phố Huế. Đầu thế kỷ XVII để tránh sự kìm hãm của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ

đất Thuận Hóa để gây dựng cơ đồ riêng. Lúc đó trong dân gian đang lưu truyền một huyền thoại rằng trên đồi thường xuất hiện một bà già tóc bạc, áo đỏ, quần xanh nói rằng: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến đây lập chùa thờ Phật để tụ linh khí”. Nguyễn Hoàng thấy mình đang được lòng dân nên tự nhận là chân chúa và cho xây chùa, đặt tên là chùa Thiên Mụ, đến đời Tự Đức đổi thành Linh Mụ nhưng tên gọi gốc thì vẫn được tiếp tục phổ biến cho đến bấy giờ.

Dưới con mắt của các nhà phong thủy thì vị trí của chùa Thiên Mụ quả là nơi đắc địa hiếm có. Chùa nằm trên ngọn đồi có nhiều cây cối xanh tốt, phía sau là những dãy gò đống nối dài, trước mặt là dòng sông Hương như dải lụa ôm sát chân đồi tạo nên sự hài hòa thơ mộng giữa kiến trúc với thiên nhiên. Chùa có

khuôn viên rộng tới gần 4 ha, được bao bọc bởi tường gạch chu vi hơn 800m, phía trước là tháp đình, phía sau là điện miếu, tất cả đều toát lên vẻ trang nghiêm, huyền ảo. Tháp Phước Duyên trước sân chùa, được coi là biểu tượng của chùa Thiên Mụ, xây năm 1844, có hình bát giác, cao hơn 21m gồm 7 tầng với những kiến trúc hoa văn độc đáo, mỗi tầng thờ một vị Phật ngồi trông ra cửa hướng Nam. Tầng cuối cùng có 3 pho tượng Phật bằng vàng nhưng năm 1942 đã bị quân Pháp lấy mất, phải thay bằng 3 tượng đồng.

Lúc thanh bình, chùa là nơi để du khách vãng cảnh, thư giãn tinh thần, đáp ứng tâm linh. Khi thiên nhiên nổi giận, nước lũ trào dâng cao, với địa thế riêng của mình, chùa lại là nơi trú ngụ của chúng sanh, cứu vớt họ qua cơn hoạn nạn. Chùa Thiên Mụ xứng đáng được coi là danh lam thắng cảnh vào bậc nhất nhì trong nước.

 Tham khảo thêm:

1/ Bài thuyết minh về Đại Nội

Chào mừng quý khách đến với cố đô Huế ! Xin tự giới thiệu tôi là ….. – hướng dẫn viên của công ty du lịch ……….. Đầu tiên tôi xin thay mặt công ty ………..gửi lời cảm ơn đến quý khách vì đã tin tưởng sử dụng dịch vụ tour của công ty chúng tôi. Riêng bản thân tôi rất hân hạnh được là người đồng hành cùng quý khách trong hành trình tham quan Đại Nội ngày hôm nay.

Kính thưa quý khách, có lẽ đến Huế niềm ao ước lớn nhất của quý khách là được vào thăm Đại Nội, đây là một tên gọi dùng để chỉ chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành – cơ quan đầu não của triều Nguyễn, triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử đất nước ta.
Chúng ta đang dừng chân tại cổng Ngọ Môn, một trong 4 cổng dẫn vào Hoàng thành. Ngọ Môn vừa là cổng chính vừa là bộ mặt của Hoàng thành, được xây dựng vào năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng. Ngọ Môn chỉ được mở khi vua ra vào Hoàng thành và có đoàn ngự đạo theo hầu hoặc khi tiếp kiến các sứ thần ngoại quốc.

Kiến trúc Ngọ Môn có hai phần: Phần lầu là lễ đài và nền đài cao gần 5m, xây trên mặt bằng hình chữ U vuông góc. Nền đài Ngọ Môn được xây bằng gạch vồ, đá thanh và đồng thau.
Ở chính giữa nền đài trổ 3 lối đi song song nhau. Ngọ Môn dành cho vua đi, Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn, quan võ trong đoàn ngự đạo. Kế bên là hai lối đi nữa mang tên Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn dành cho lính tráng, voi ngựa theo hầu.
Tiếp theo mời quý khách lên tham quan phần lễ đài của Ngọ Môn còn được gọi là lầu Ngũ Phụng:
Thưa quý khách, để miêu tả ngắn gọn về kiến trúc của Ngọ Môn, ca dao xưa có câu:

“Ngọ Môn năm cửa chín lầu,
Một lầu vàng tám lầu xanh ba cửa thẳng hai cửa quanh.”

Vâng, lầu ở đây chính là để nói đến lầu Ngũ Phụng – tòa nhà này được ví như 5 con chim phụng hoàng đang đậu liền nhau. Tất nhiên đây chỉ là cách gọi hình tượng lấy từ điển tích xưa, còn trên thực tế lầu Ngũ Phụng là cả một tổ hợp kiến trúc gồm 9 chiếc lầu được ghép nối tiếp liền mạch với nhau. Bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói Hoàng lưu ly (màu vàng) vì đây là nơi dành cho vua ngồi dự lễ, tám bộ còn lại lợp ngói Thanh lưu ly (màu xanh), đây là vị trí của các quan. Nơi đây ngày xưa vẫn thường diễn ra các lễ lạc quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Ban sóc (ban lịch mới), Truyền Lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa) mà quý khách có thể thấy được khung cảnh của lễ này qua bức tranh ở đằng kia. Và một sự kiện rất quan trọng đó là ngày 30 tháng 8 năm 1945, tại Ngọ Môn vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của Việt Nam, đã thoái vị và trao chính quyền lại cho chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Rời cửa Ngọ Môn bây giờ chúng ta đang đi trên cây cầu Trung Đạo:
Đây là cây cầu bắc qua một cái hồ xây rất đẹp, hồ này gọi là hồ Thái Dịch. Ở mỗi đầu cầu đều có một phượng môn, trụ bằng đồng chạm mây nổi quấn quanh rất ngoạn mục, trên ngách được trang hoàng bằng pháp lam năm màu rực rỡ.
Bước qua khỏi phượng môn phía bắc quý khách sẽ nhìn thấy một sân rộng mênh mông, gọi là sân Đại Triều Nghi:

Đây là nơi diễn ra các lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Vào những dịp này, nhà vua ngồi uy nghiêm trên ngai vàng trong Điện Thái Hòa. Chỉ các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng. Sân này chia làm ba bậc đều lót bằng đá thanh:
– Bậc trên hết dành cho các quan văn võ từ tam phẩm trở lên
– Bậc dưới dành cho các quan từ tứ phẩm trở xuống đến cửu phẩm
– Bên dưới cùng gần cầu Trung Đạo dùng cho các kỳ cựu hương lão được vua mời đến chầu trong những dịp đại lễ.
Quan văn đứng bên trái, quan võ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu.
Chúng ta đang đứng giữa sân Đại Triều Nghi, xin quý khách chú ý giữa sân từ cửa Ngọ Môn đi vào có một con đường gọi là Dũng đạo. Hai góc hai bên có đúc hai con kỳ lân rất lớn bằng đồng thiếp vàng được đặt trong lồng gương bằng gỗ sơn vàng. Sân Đại Triều Nghi không mang giá trị về mặt kiến trúc trừ kỳ lân phía trước sân. Tuy nhiên, xét về mặt vai trò lịch sử, sân là nơi chứng kiến sự hưng thịnh và suy vong của 13 đời vua triều Nguyễn. Ngày nay, sân là sân khấu ngoài trời để biễu diễn nhã nhạc cung đình Huế mỗi lần có chương trình “đêm Hoàng Cung”, là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa của kinh thành Huế.
Thưa quý khách, địa điểm tiếp theo chúng ta đang dừng chân là Điện Thái Hòa:

Điện được vua Gia Long cho khởi công xây dựng năm 1805, thiết triều lần đầu năm 1806. So với tất cả các cung điện khác ở Huế xưa nay, điện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất bởi đây là nơi đặt ngai vàng của nhà vua – tượng trưng cho quyền lực của nhà nước phong kiến.
Nói chung điện Thái Hòa đã được sửa sang rất nhiều lần, nhưng cái cốt cách cơ bản của nó nhất là kết cấu kiến trúc và nghệ thuật trang trí vẫn được bảo lưu.
Điện Thái Hoà cũng như nhiều điện khác trong Đại- nội được thiết kế theo kiểu thức nhà kép, gọi là trùng thiềm điệp ốc (mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhà), nhà trước và nhà sau của điện nằm trên một mặt nền và nối liền nhau bằng một hệ thống vì kèo thứ ba, một hệ thống trần nằm cong nên thường gọi là trần vỏ cua hay thừa lưu.
– Mái điện được lợp ngói hoàng lưu ly, có đắp nổi 9 con rồng trong nhiều tư thế khác nhau.
– Phía trong điện là chỗ vua ngồi, ngai vàng được để trên 3 tầng bệ, trên đầu có bửu tán đều thiếp vàng lộng lẫy, rực rỡ.
– Sau lưng ngai vàng là một dãy đố bảng tạo thành một hệ thống hành lang chạy quanh ba mặt điện. Bên trên các đố bảng và hệ thống liền ba đều trang trí hình hoa văn đặc biệt theo lối “Nhất thi, Nhất hoạ” tạo nên cái tươi mát uyển chuyển cho cấu trúc này.
Có lẽ quý khách cũng- sẽ chú ý ngay trong gian điện này một hình ảnh nổi bật đó là con rồng. Ở đây con rồng được sử dụng đủ kích cỡ, đủ hình thái, mỗi con một dáng vẻ riêng tạo cho ta cái cảm giác đang bước vào một nơi mà ở đó là giang sơn của loài rồng. Trên 80 cây cột gỗ lim trong điện đều được vẽ hình rồng vờn mây nước màu vàng son rực rỡ.

ra phía sau điện Thái Hòa, dừng lại trước sa bàn kinh thành Huế:
Thưa quý khách đây là sa bàn mô tả kinh thành
Huế khi còn đầy đủ các công trình kiến trúc của nó. Tuy nhiên hiện nay đa phần các công trình này đã không còn nữa, phần màu xanh là phần đã bị mất, phần màu đỏ là phần hiện còn ngày nay.
Kinh thành Huế là hệ thống thành quách gồm 3 vòng thành:
– Vòng ngoài cùng là Kinh thành cao khoảng 6m có 10 cổng
– Vòng thành thứ 2 là Hoàng Thành cao khoảng 4m có 4 cổng mà chúng ta khi nãy đã tham quan 1 cổng là Ngọ Môn
– Vòng thành thứ 3 là Tử Cấm Thành cao khoảng 3,7m.
Xin hỏi hiện quý khách có biết mình đang đứng tại đâu không ạ? Vâng, chúng ta đang đứng ở Hoàng thành, sau lưng điện Thái Hòa. Quý khách có thể thấy ngay sau Điện Thái Hòa là Tử Cấm Thành – khu vực có đường viền xanh. Đây là nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia. Bên trong Tử Cấm thành có khoảng 40 công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏ khác nhau, được phân chia thành nhiều khu vực.Tuy nhiên phần lớn các di tích này đều không còn nữa. Theo trục Nam Bắc, trong Tử Cấm Thành có các điện: Cần Chánh là nơi vua làm việc hằng ngày, điện Càn Thanh là nơi ăn ngủ của vua, điện Khôn Thái là nơi ở của Hoàng Quý Phi vợ chính của vua. Ngoài ra hiện nay trong Tử Cấm Thành cũng còn 2 công trình đẹp đó là Nhà hát Duyệt Thị Đường – nhà hát dành cho vua quan và Thái Bình Lâu là nơi đọc sách nghỉ ngơi của vua.

Tử Cấm Thành có 7 cửa cả thảy, mặt nam chỉ có một cửa duy nhất thông với Điện Thái Hòa là Đại Cung Môn. Ngày xưa đây là một tòa nhà 5 gian bằng gỗ được làm vào đời vua Minh Mạng, cửa rất rộng bằng gỗ sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi.
Khu đất phía trước có trải thảm đỏ mà chúng ta đang thấy là vị trí của Điện Cần Chánh – một công trình kiến trúc bằng gỗ có quy mô gần bằng điện Thái Hòa.
Bên cạnh Điện Cần Chánh là hai trong số rất ít các công trình còn sót lại của Tử cấm Thành đó là Tả Vu và Hữu Vu. Đây là hai tòa nhà là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều: Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn ở bên tay phải của quý khách, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ ở bên tay trái của quý khách. Ngày nay ở Hữu Vu có một dịch vụ hóa trang chụp hình, còn Tả Vu được sử dụng làm nhà bảo tàng lưu giữ những bức hình của hoàng cung, những vật dụng của vua quan nhà Nguyễn.

Thưa quý khách, triều Nguyễn từ vua Gia Long đến Bảo Đại đã trải qua 143 năm trị vì với 13 vị vua. Các vua triều Nguyễn đều rất chuộng Nho giáo mà theo đạo này quan niệm chết không phải là hết mà là sự tiếp nối của một đời sống khác và sự tồn tại của họ là sự thờ phụng của con cháu – đó chính là tục thờ cúng ông bà tổ tiên ngàn đời nay của cư dân Việt. Cũng vì đạo hiếu đó mà vua Minh Mạng vào những năm 1921 đã xây dựng Thế Miếu để thờ vua Gia Long.

Thưa quý khách, chúng ta đang đứng ở gian giữa của Thế Miếu:
Ngôi miếu này nằm trên khuôn viên hình chữ nhật có diện tích khoảng 2ha. Tòa nhà chính có 9 gian 2 chái kép, mỗi gian là án thờ một vị vua. Có tất cả 10 vị vua Nguyễn đang được thờ tại đây:
Các án thờ của các vị vua còn lại đều sắp theo nguyên tắc “tả chiêu, hữu mục”:

Chúng ta đang đứng ở gian chính trung (gian giữa): thờ vua Gia Long. Bên tay phải là áng thờ vua Minh Mạng con của người và bên tay trái là vua Thiệu Trị là con Minh Mạng, cháu của Gia Long. Các vua Nguyễn có rất nhiều vợ như Minh Mạng có 500 bà vợ với 142 người con, trong đó Thiệu Trị là con cả. Do đó chỉ có hoàng hậu vợ chính của vua là được thờ trong Thế Miếu.
Trước đây, theo gia pháp của dòng họ Nguyễn, thì chỉ có những vị vua băng hà khi còn tại vị thì mới được đặt án thờ trong tòa Thế Miếu còn các vị vua bị coi là “xuất đế” và “phế đế” đều không được thờ trong tòa miếu này. Do đó, trước năm 1958, bên trong Thế Tổ Miếu chỉ có 7 án thờ các vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh và
Khải Định. Và đến tháng 10/1958, án thờ của 3 vị vua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân vốn bị liệt vào hạng “xuất đế” cũng đã được đưa vào thờ ở Thế Miếu. Còn các án thờ vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Bảo Đại đến nay vẫn chưa có mặt trong Thế Tổ Miếu.

Bây giờ mời đoàn chúng ta ra phía trước Thế Miếu và tiếp tục chuyến tham quan của chúng ta.
Chín cái đỉnh nằm dưới bóng Hiển Lâm Các mà quý khách đang nhìn thấy trước mắt đây chính là chín cái đỉnh đồng lớn nhất Việt Nam. Đây được xem là một công trình kiến trúc và gọi là Cửu Đỉnh.Cửu đỉnh được đúc vào năm 1836, vào thời Minh Mạng. Cửu đỉnh được dùng làm biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất của đất nước và ước mơ triều đại mãi vững bền. Trên mỗi đỉnh có khắc một tên riêng bằng chữ Hán, tên được lấy từ miếu hiệu (tên để thờ cúng) của một vị vua nhà Nguyễn và được xem là biểu tượng của vị vua đó. Chẳng hạn như: “Cao” – vua Gia Long, “Nhơn” – vua Minh Mạng, “Chương” – vua Thiệu Trị, “Anh” – vua Tự Đức, “Nghị” – vua Kiến Phúc, “Thuần” – vua Đồng Khánh, “Tuyên” – vua Khải Định, còn “Dũ” và “Huyền” thì chưa rõ tượng trưng cho vua nào.

Mới nhìn 9 đỉnh hình như giống nhau, nhưng trong thực tế chúng đều khác nhau: khác nhau về trọng lượng khác nhau về bộ chân, cũng như bộ quai ở trên. Nhưng cái khác nhau đặc biệt nhất là 17 hình chạm chung quanh mỗi đỉnh. Mười bảy hình chạm nổi chung quanh mỗi đỉnh gồm những gì tiêu biểu của đất nước từ Lạng Sơn xuống tận mũi Cà Mau và được qui lại trong các chủ đề: tinh tú, sông núi, biển cả, thuyền bè, xe cộ, các sản vật quí giá trên rừng, dưới biển của nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tổng cộng có 153 cảnh vật được chạm khắc tỉ mỉ và tinh vi trên hông 9 chiếc đỉnh.

Thưa quý khách, ngay sau Cửu Đỉnh là Hiển Lâm Các – công trình cao 13m và là tòa nhà cao nhất trong Đại Nội.
Tòa lầu này có 3 tầng được xây vào thời vua Minh Mạng: tầng 1 được chia làm 3 gian 2 chái mỗi gian có trổ một cửa vòm. Yếu tố chính tạo nên sự bền vững của tòa nhà trước gió bão là hệ thống 24 chiếc cột gỗ, trong đó có 4 cột chính mỗi cột cao 12m xuyên suốt cả 3 tầng của tòa nhà. Toàn bộ hệ thống cột kèo thì đều được chạm trỗ tinh vi khéo léo hình rồng cách điệu.

Và, xin quý khách hãy hướng mắt lên phía trên cửa của gian giữa chúng ta sẽ thấy tấm hoành phi lớn đề ba chữ “Hiển Lâm Các” theo chữ hán trên nền sơn màu lục, khung chạm 9 con rồng vờn mây sơn son thếp vàng.
Còn gian bên phải của quý vị đây thì có bắc chiếc cầu thang lên tầng trên. Cầu thang được trang trí rất cầu kỳ: hai tay vịn chia thành các ô hộc trang trí hình chữ “thọ”, chữ “vạn” và đường nét kỷ hà. Ðầu và cuối tay vịn thì đều được các nghệ nhân chạm nổi hình đầu và đuôi rồng uốn lượn mềm mại.

Tầng 2 thì được chia làm 3 gian và xung quanh có lan can. Từ tầng 2 lên tầng 3 có thiết kế một cầu thang 9 bậc đơn giản,tầng 3 thì chỉ có 1 gian. Trên nóc của tòa lầu dựng một bầu rượu bằng pháp lam màu vàng, bầu rượu này cũng đặt trên một đám mây bằng pháp lam ngũ sắc rất khiến cho tòa nhà trở nên thanh thoát. Vì lý do bảo tồn di tích nên chúng ta ko được đi lên hai tầng còn lại của tòa lầu.

Thưa quý khách, Hiển Lâm Các là nơi ghi lại công lao của các vua nguyễn và các công thần đã có công dựng nước và giữ nước nên được vua Minh Mạng rất chú ý xây dựng.Chính vì thế mà Hiển Lâm Các được xem là một trong những công trình kiến trúc tuyệt xảo độc đáo trong các công trình kiến trúc ở hoàng thành bởi, nó được kiến trúc vừa cân xứng vừa hài hòa với bối cảnh thiên nhiên tươi đẹp của xứ Huế.Cũng chính vì thế mà công tác bảo tồn và tôn tạo rất được chú ý.Ngày nay, Hiển Lâm Các mà chúng ta đang đứng không khác gì so với 188 năm trước đây. 

2/  Bài thuyết minh về Cố Đô Huế

  1 -Vị trí địa lý 

Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 16-16,80oB và 107,8-108,20oĐ. phía Bắc và phía Tây giáp thị xã Hương Trà, phía Nam giáp thị xã Hương Thuỷ, phía Đông giáp thị xã Hương Thuỷ và huyện Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tọa lạc hai bên bờ hạ lưu sông Hương, về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112 km, cách biển Thuận An 14 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 14 km và cách Cảng nước sâu Chân Mây 50 km.

  2 - Lịch sử, nguồn gốc hình thành   

Cố đô Huế là thủ phủ Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn từ năm 1687 đến 1774. Đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi vào năm 1802 lấy niên hiệu là Gia Long cũng chọn Cố đô Huế làm kinh đô cho nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Huế kết thúc sứ mệnh là thủ đô Việt Nam vào năm 1945 khi vị hoàng đế cuối cùng của nhà Nguy

  3 - Giá trị văn hóa  

-          Nổi bật giá trị văn hóa của một kinh đô phong kiến phương Đông.

-          Là thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn, là kinh đô của triều đại Tây Sơn và 13 vị vua triều Nguyễn.

-          Chứa đựng và phản ánh cả chiều dày lịch sử mở cõi lẫn quá trình kiến tạo đất nước

  4 - Những công trình, kiến trúc đặc sắc ( chùa Thiên Mụ….)   

Khi đến kinh thành Huế không thể không nhắc đến: Chùa Thiên Mụ; các lăng tẩm của vua chúa như: Lăng Gia Long, Lăng Minh Mạng, Lăng Thiệu Trị, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Lăng Dục Đức, Lăng Khải Định.

Chùa Thiên Mụ còn được biết đến với tên gọi khác là chùa Linh Mụ. Nếu ai đó nói yêu Huế mà chưa biết chùa Thiên Mụ ở đâu thì đó chưa phải là một tình yêu “đậm sâu”. Truyền thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam. Ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn. Khi đi qua đồi Hà Khê, người dân cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi. Nói với mọi người: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh”. Hễ nói xong là bà biến mất. Từ đó, ngọn đồi được đặt tên là Thiên Mụ Sơn (núi bà Trời). Một lần đi qua đây nghe kể chuyện, chúa Nguyễn Hoàng tự nhận mình là vị chân chúa ấy. Nên cho xây dựng chùa vào năm 1601 và đặt tên là Thiên Mụ Tự. Toàn bộ các công trình kiến trúc của chùa nằm trên đồi chạy theo hướng Bắc Nam. Xung quanh chùa có vòng la thành xây bằng đá và gạch. Giống như hình dạng con rùa thò đầu xuống sông Hương để uống nước. Hiện nay ở chùa Thiên Mụ còn có nhiều công trình và bảo vật có giá trị nghệ thuật. Tiêu biểu là Đình Hương Nguyện – một trong những công trình kiến trúc đặc biệt của thời vua Thiệu Trị. Đây là một phương đình bằng gỗ đã được trang trí hết sức độc đáo ở phần nội thất. Hay Phước Duyên Bảo Tháp – tháp được coi là tháp cổ nhất Việt Nam.

Trong đó, hoành tráng nhất có lẽ là lăng Gia Long được xây dựng trên một quần sơn gồm 42 quả đồi lớn nhỏ, trên tổng diện tích khoảng 28 km² với kiến trúc truyền thống Việt Nam. Độc đáo nhất là lăng vua Khải Định là sự kết hợp kiến trúc Đông Tây Kim Cổ với các bức tranh ghép sành sứ độc đáo và không tuân theo bất cứ trường phái kiến trúc nào. Do những điều kiện lịch sử, lăng Dục Đức là lăng tẩm duy nhất chôn cất và thờ tự 3 vua Dục Đức, Thành Thái và Duy Tân.

  5 - Thắng cảnh thiên nhiên thu hút ( Sông Hương, núi Ngự Bình….)    

  1. Sông Hương:

Trải dài như một dải lụa mềm mại giữa lòng thành phố, sông Hương là một biểu tượng của thành phố Huế mộng mơ. Với dòng nước xanh trong màu ngọc bích lung linh dưới ánh nắng mặt trời, sông Hương đưa hương thơm của rừng núi và những miền thảo mộc xanh đến khắp mọi ngóc ngách của Huế. Còn gì lãng mạn và tuyệt vời hơn bạn được du thuyền trên sông Hương, ngắm cảnh thành phố thơ mộng và lắng tai nghe những điệu hò và dân ca Huế truyền thống.

  1. Núi Ngự Bình:

Đã nhắc đến sông Hương thì ta không thể bỏ qua núi Ngự Bình – Một trong những thắng cảnh bậc nhất và đã trở thành biểu tượng không thể thiếu của xứ Huế. Từ thời xa xưa, núi Ngự Bình đã là chốn được nhiều người đến thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên. Đứng ở trên đỉnh núi, bạn có thể thu vào trong tầm mắt toàn cảnh thành phố Huế với những mái chùa, cung điện cổ kính bên những cánh rừng bát ngát và dòng sông Hương xanh biếc.

  6 - Đặc sản cố đô  

  1. Cơm hến / Bún hến

Một bát cơm huế đúng chuẩn “Huế” phải là cơm nguội để qua đêm, như vậy mới có thể giữ được cái giòn của rau và hương thơm của các gia vị. Đúng với tính cách “ăn cay nói nặng” của người Huế, món đặc sản Huế này phải đủ vị, mặn mà và đặc biệt là phải cay thật cay. Khi đến Huế, nếu bạn không dặn kỹ thì bát cơm hến của bạn đảm bảo sẽ khiến bạn bỏng lưỡi mà thôi.

  1. Bún bò Huế

Khác với người miền Nam, nơi mà tô bún bò Huế có vị ngọt thanh dễ chịu từ xương, người Huế họ dùng xác ruốt để chắt lấy vị cho bát bún. Chính vì thế, bát bún bò Huế truyền thống muốn chuẩn vị là phải mặn nồng, đậm đà hơn nhiều. Một điểm khác biệt giữa bún bò ở Huế với ở những vùng miền khác chính là sợi bún. Với món này, người Huế đặc biệt dùng bún gạo sợi nhỏ, hay còn gọi là bún tươi, loại bún mà bạn thường ăn khi gỏi cuốn, hoặc bún riêu, bún măng.

  1. Chè

Quả không ngoa khi gọi Huế là kinh đô của các loại chè và chè hẻm là một trong những đặc trưng của xứ Huế. Cứ đi chừng vài bước, bạn sẽ lại bắt gặp một tiệm hoặc gánh chè rong trong hẻm. Chính vì thế, chè trở thành một món đặc sản Huế không thể thiếu trong danh sách những món cần thử của bạn được.

  1. Tré

Thoạt nhìn, nhiều du khách sẽ dễ bị nhầm lẫn giữa tré Huế và nem chả Huế vì thật chất hai món đặc sản Huế này có “họ hàng” với nhau, tuy nhiên, cách làm của chúng lại khác nhau nên bạn cần hỏi kỹ trước khi mua nhé. Vị của tré thơm mùi thính, vị ngọt đậm, hơi chua. Tré Huế có hai loại là tré heo và tré bò.

 

  7 - Những tác phẩm văn học, nghệ thuật về vùng đất Huế -   

Thơ:

            Cảnh Hương Sơn - Tác giả Bà Huyện Thanh Quan

Đệ nhất nam thiên ấy cảnh này,

Thuyền nan đón khách mái chèo lay.

Hai bên quả núi lồng hương suối,

Bốn mặt hoa ngàn rủ bóng cây.

Cửa Phật lơ thơ tầng đá dãy,

Chùa tiên bát ngát khói hương bay.

“Nam vô” tiếng dậy thưa trần tục,

Non nước Bồng Lai mới thấy đây!

            Đêm khuya tự tình với sông Hương – Tác giả Hàn Mặc Tử

Bây giờ chỉ có đôi ta

Bao nhiêu tâm sự Hằng Nga biết rồi

Thủa nước non đến hồi non nước

Sông Hương đành xuôi ngược đông tây

Soi lòng chỉ có đám mây

Đám mây phú quý những ngày lao đao

Sao mặt sông xanh xao ra dáng

Sao tình sông lai láng khôn ngăn?

Vì ai lắm nỗi chứa chan

Hay còn đợi khách quá giang một lần

Này thử hỏi, thuyền nan thả lá

Thuyền ai đây nấn ná bấy lâu?

Mặc ai khanh tướng công hầu

Không thèm chung đỉnh, lưng bầu gió trăng

Sao trời đất đãi đằng ra thế?

Sao mưa nguồn chớp bể luôn đêm?

Trong thành yến ẩm vui thêm

Tiếng ca lanh lảnh lọt rèm rèm thưa

Sông Hương hỡi, xuân vừa tơ liễu

Cả trăm hoa hàm tiếu nhởn nhơ

Vì đâu nước chảy lững lờ

Hay cho thế sự cuộc cờ chiêm bao

Ghét xa mã nao nao uốn khúc

Giận thời gian những lứa xuân xanh

Nhà ai khiêu vũ năm canh

Hơi men sực nức dưới thành đô xưa

Sao tức tối trôi bừa đi mãi

Chẳng buồn nghe cô lái thở than

“Thuyền em đậu bến Hương Giang

Chờ người quân tử lỡ làng tình duyên”

Thuyền lặng lẽ nằm yên với bóng

Nước sống xuôi dợn sóng bến thuyền

Trong thành ngủ chết con đen

Khoá xuân bỏ lỏng đến then chẳng gà

Hãy trông thử đền đài dinh thự

Dấu xưa, xưa tình tứ làm sao

Ô hay! Sóng chảy dạt dào

Chiếc thuyền vô định tạc vào bến mê

Sao trai gái đi về trong mộng

Mà sông Hương chẳng động niềm riêng

Trong thành để lạnh hương nguyền

Tiếng gà gáy nguyệt láng giềng còn say.

  8- Lễ hội dân gian 

            Festival Huế

                        Được tổ chức 2 năm một lần, là một sự kiện văn hóa lớn được tổ chức tại Huế vào các năm chẵn nhằm mục đích tưởng nhớ về những giá trị truyền thống tại cố đô Huế. Nhiều chương trình như: Đêm Hoàng cung, lễ tế Nam Giao, lễ Truyền lô và Vinh qui bái tổ, lễ hội áo dài, lễ hội biển, thả diều, thả thơ, diễn thơ, chợ quê ngày hội, cờ người, đua trải lễ hội Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trung, tổ chức lễ hội thi Tiến sĩ võ, khai thác không gian văn hóa tại khu Hổ Quyền - Voi Ré… được phục dựng

            Lễ hội điện Hòn Chén

Thời gian: 2 - 3/3 và tháng 7 âm lịch hàng năm

Địa điểm: Điện Huệ Nam - Hương Trà - TP. Huế

Lễ hội ở Huế điện Hòn Chén là một trong những lễ hội truyền thống ở Huế nói riêng và của Việt Nam nói chung, được tổ chức ở điện Hòn Chén khi trời vừa chuyển năm mới. Lễ hội Huế điện Hòn Chén diễn ra rất long trọng với lễ rước Thiên Y Na thánh mẫu. Nghi lễ rước diễn ra trên sông Hương với nhiều chiếc thuyền được trang hoàng rực rỡ bằng màu vàng và cờ xí là chủ đạo. Lễ rước mang theo bàn thờ Thánh cùng long kiệu Thánh mẫu, hòm sắc vua phong và các khí tự như cờ, quạt, tàn… Sau khi kết thúc lễ rước là lễ Túc Yết, lên đồng hầu bóng diễn ra đến lúc kết thúc lễ hội.

  9 - Di sản văn hóa (bài Chòi, Nhã nhạc cung đình…) 

 Đến nay, Huế đã có 5 di sản được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, đó là

-          Quần thể di tích cố đô Huế (1993) (dsvhvt)

-          Nhã nhạc cung đình (2003), (dsvhpvt)

-          Mộc bản triều Nguyễn (2009), (dstltg)

-          Châu bản triều Nguyễn (2014) (dstltg)

-          Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016). (Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới)

  10 - Đóng góp về du lịch, kinh tế… 

            Thống kê cho thấy, quý I năm 2022, Thừa Thiên - Huế đón gần 300.000 lượt khách, trong đó có hơn 4.600 khách quốc tế, khách lưu trú đạt hơn 157.000 người, tổng doanh thu từ dịch vụ du lịch đạt hơn 479 tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm, lượng khách du lịch ước đạt 428.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế 7,7 nghìn lượt. Tổng thu từ du lịch ước đạt 716 tỷ đồng, tăng 15,6%; trong đó có khoảng 30% lượng khách tham quan di tích, tăng 32% so với cùng kỳ. Số liệu cho thấy Huế chính có sức hút du lịch rất lớn, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội cho người dân để có công ăn việc làm, phát triển nghề thủ công, nâng cao đời sống,...

* Tìm tài liệu, tranh ảnh, bài thơ, bài hát về Huế 

*Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ…nổi tiếng có quê quán ở Huế    

Đại hồng chung chùa Thiên Mụ

* Tên khác: Chuông chùa Thiên Mụ

* Tên đơn vị và cá nhân lưu giữ hiện vật: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế)

* Chất liệu: Đồng

* Kích thước: Cao 240cm (thân cao:188cm; quai cao:52cm); Đường kính miệng: 140cm; Đường kính thân: 114,6cm

* Trọng lượng: 3285 cân thời chúa Nguyễn (tương đương 1.985,8kg)

* Số lượng: 01

* Miêu tả: Đại hồng chung có hình dáng cân đối, hoa văn và những motif trên thân chuông được chạm trổ tinh vi, sắc nét.

Từ trên xuống, đầu tiên là phần quai chuông tạo hình con bồ lao 2 đầu quay ra 2 phía; 4 chân trước của bồ lao gắn với đỉnh chuông. Thân bồ lao uốn cong lại, trên lưng là một bông sen. Râu, mắt, vi, kỳ lưng và chân của bồ lao đều được chạm khắc rất tinh vi.

Thân chuông trang trí nhiều motif hoa văn biểu thị tính tổng hợp và siêu nghiệm của triết lý Đông phương. Chính giữa đỉnh chuông có một lỗ tròn nhỏ, là nơi để thoát bớt sức ép của âm thanh mỗi khi đánh chuông nhằm tránh sự rạn vỡ thân chuông do tác động của âm thanh gây ra. Từ phần chân con bồ lao trở ra, có nhiều đường tròn nhỏ, thanh mảnh, bao quanh vai chuông và phân chia thân chuông thành nhiều phần trang trí khác nhau.

Giữa đường thứ nhất và đường thứ hai rộng 4cm, không trang trí. Giữa đường thứ hai và đường thứ ba rộng 6cm, được trang trí những chấm tròn đúc nổi tạo thành 4 nhóm, mỗi nhóm có 7 chấm. Giữa đường thứ ba và đường thứ tư rộng 8cm được trang trí hoa văn bằng các đường uốn mảnh nối tiếp nhau lên xuống.

Phần vai chuông kế tiếp rộng 10cm, trang trí 4 hình rồng và 4 hình chim phụng xen kẽ nhau. Mỗi hình rồng dài 3cm, cứ cách một khoảng 7cm là hình chim phụng dài 3cm. Đuôi chim có 3 nhánh uốn lượn như dải lá, kéo từ thân chim ra sau dài hơn 2cm; 2 chân chim xuôi về đằng sau, uốn lượn theo hình lông đuôi. Cánh chim giang rộng, cổ và đầu chim uốn cong, hướng về phía trước theo tư thế đang bay. 4 con chim phụng được bố trí thành 2 cặp quay đầu vào nhau. Các hình rồng cũng tạo thành 2 cặp theo motif “lưỡng long triều nguyệt”. Rồng có 5 móng, được tạo hình theo tư thế rất sinh động.

Bên dưới vành trang trí rồng phụng ở vai chuông là phần thân chuông, có 4 nhóm trang trí được tạo thành bởi các đường gờ song song với nhau. Các nhóm gờ nổi này tạo thành các ô hình chữ nhật, kích thước 7,2cm x 3,9cm. Góc trên của mỗi ô có hoa văn hình mây, ở giữa khắc 2 chữ Thọ, kiểu chữ triện, rất lớn. Quanh 4 ô này có 8 chữ “Thọ” được thể hiện theo 8 kiểu thức khác nhau. Dưới các chữ Thọ là hồi văn “cửu ngũ” rộng 10cm.

Phần chính thân chuông có những đường gờ trang trí chia thân chuông thành 4 ô đều nhau. Mỗi ô có kích thước 7cm x 6cm. Giữa mỗi ô có đúc nổi 4 chữ Hán lớn. Xung quanh các chữ Hán này là những chữ Hán nhỏ hơn, theo kiểu chữ chân, khắc chìm quanh đường viền của 4 đại tự. Cụ thể:

- Ô thứ nhất ở phần thân chuông hướng về phía tháp Phước Duyên có 4 chữ: “Hoàng đồ củng cố”. Bên phải 4 chữ Hoàng đồ củng cố có khắc chìm những hàng chữ Hán nhỏ hơn: “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới. Thiết vi u ám tất giai văn”. Bên trái 4 chữ này là hàng chữ nhỏ hơn: “Văn trần thanh tĩnh chứng viên thông. Nhất thiết chúng sinh thành chính giác”.

- Ô thứ hai có khắc 4 chữ: “Đế đạo hà xương”. Bên phải 4 chữ “Đế đạo hà xương” có khắc những hàng chữ Hán nhỏ hơn: “Văn chung thanh, phiền não khinh. Trí huệ trưởng, Bồ đề sinh. Li địa ngục, xuất hỏa khanh”. Bên trái 4 chữ “Đế đạo hà xương” là hàng chữ nhỏ hơn: “Nguyện thành phật độ chúng sinh. Úm ca la đế da ta bà ha”.

- Ô thứ ba ở trên mặt chuông nhìn về sông Hương, có khắc 4 chữ: “Phật nhật tăng huy”. Bên phải 4 chữ “Phật nhật tăng huy” có khắc những hàng chữ Hán nhỏ hơn: “Đại Việt Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, tự Động Thượng chánh tông tam thập đại, pháp danh Hưng Long, chú tạo hồng chung, trọng tam thiên nhị bách bát thập ngũ cân, nhập vu...”. Bên trái 4 chữ “Phật nhật tăng huy”  là hàng chữ nhỏ hơn: “...ngự kiến Thiên Mụ thiền tự vĩnh viễn cúng phụng Tam bảo”.

- Ô thứ tư có khắc 4 chữ: “Pháp luân thường chuyển”. Bên phải 4 chữ “Pháp luân thường chuyển” có khắc những hàng chữ Hán nhỏ hơn: “Duy nguyện: Phong điều  vũ thuận, quốc thái dân an. Pháp giới chúng sinh, đồng viên chủng trí”.  Bên trái 4 chữ “Pháp luân thường chuyển”  là hàng chữ nhỏ hơn: “Vĩnh Thịnh lục niên, tuế thứ Canh Dần tứ nguyệt, Phật đản nhật kính tạo”.

Dưới phần khắc chữ này là một dải rộng 18cm, tạo bởi 6 đường gờ nổi nhỏ song song bao quanh thân chuông, nối liền với bốn núm lớn (đường kính 20cm), là nơi đánh chuông, được tạo hình mặt trời cách điệu với những cụm mây tỏa ra xung quanh có nhiều tầng, độ dài ngắn, đậm nhạt khác nhau.

Phần kế tiếp phía dưới các núm tròn là dải các biểu tượng biểu trưng cho 8 quẻ trong bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, được đúc nổi trên thân chuông. Mỗi biểu tượng rộng 9cm, dài 12cm. Khoảng cách giữa 2 biểu tượng là 32cm. Đáng chú ý là vị trí của 8 biểu tượng thể hiện 8 quẻ ở trên chuông đều được đặt đúng theo hướng của những quẻ này trong thiên nhiên, chẳng hạn: quẻ Chấn ở hướng đông, quẻ Đoài ở hướng tây, quẻ Li ở hướng nam, quẻ Khảm ở hướng bắc.

Phía dưới dải biểu tượng của bát quái là các hình chạm nổi trong bộ bát bửu, chạy quanh sát vành miệng chuông. Các hình này được bố trí ở khoảng trống xen kẻ với 8 biểu tượng của bát quái ở phía trên, lần lượt là: gươm, đèn lồng, ống sáo, đàn nguyệt, hai cây bút lông, bầu rượu, phách, quạt vả. Mỗi vật quý đều có dải lụa có nút thắt quấn ngang. Bộ bát bửu này là sự kết hợp giữa bát bửu của Phật giáo với bát bửu của Đạo giáo. Theo L. Cadière trong bài khảo cứu Các mô tip mỹ thuật An Nam, bộ bát bửu của Đạo giáo gồm: cây quạt, kiếm, bầu hồ lô, cặp phách, giỏ hoa, ống trúc và cây roi, cây sáo, đóa hoa sen. Trên đại hồng chung chùa Thiên Mụ không có hình giỏ hoa, ống trúc và cây roi, đóa hoa sen, thay vào đó là ống sáo, đèn lồng, bút lông, là những biểu tượng trong bộ bát bửu của Phật giáo.

Phần dưới cùng của thân chuông là một đường viền nhỏ, thanh với một dải hoa văn chấm tròn chạy quanh vành chuông. Từ đường dải hoa văn này trở xuống là phần loe ra của miệng chuông, rộng 12cm, chạm nổi văn thủy ba với 4 lớp sóng lớn, 3 lớp sóng nhỏ.

Chuông được treo trên một giá đúc bằng bê tông sơn màu nâu giả gỗ. Có thể chiếc giá chuông này đã được làm lại cùng thời với đợt trùng tu điện Đại Hùng vào năm 1954. Nhà chuông có hình lục giác đều, mỗi cạnh có một cửa vòm. Có một lối đi ba bậc cấp, lát đá thanh, hai bên không có lan can. Phần nóc chia làm hai tầng, lợp ngói âm dương tráng men vàng, các bờ nóc bờ quyết đắp xi măng hình mây hóa rồng. Trên chóp gắn hồ lô bằng xi măng. Xung quanh tường quét vôi màu vàng gạch và nâu nhạt.

* Hiện trạng:

Chuông còn rất tốt, không xảy ra hiện tượng ăn mòn hóa học. Tuy nhiên thân chuông có 2 vết thủng ở phía trên biểu tượng quẻ Càn. Vành miệng chuông có một vết khoét dài khoảng 15cm, rộng 1,5cm. Văn tự và hoa văn chạm khắc trên thân chuông bị ăn mòn nghiêm trọng. Nguyên nhân ăn mòn là sự bào mòn cơ học bởi tác động trực tiếp của  khách tham quan. Có nhiều vết bẩn, chữ viết, hình vẽ bằng mực, bút chì và sơn trên chuông.

Phần nhà che chuông (chung đình) mới được trùng tu năm 2004 cùng với một số công trình khác của chùa.

- Giải pháp xử lý:

+ Bảo quản cấp thiết: Vệ sinh khoa học các vết bẩn.

+ Bảo quản phòng ngừa: Tạo vành đai bảo vệ cho bảo vật, tránh sự tiếp xúc trực tiếp của khách tham quan với hiện vật.

* Niên đại: 1710

* Nguồn gốc, xuất xứ: Các chữ khắc trên chuông cho biết: “Quốc chúa nước Đại Việt là Nguyễn Phúc Chu truyền thừa đời thứ 30 của Tào Động thượng chánh tông, pháp danh Hưng Long, đúc hồng chung nặng 3285 cân, nhập vào thiền tự Thiên Mụ do Chúa xây dựng để vĩnh viễn cúng dường Tam bảo”.

* Lý do lựa chọn: Đại hồng chung ở chùa Thiên Mụ là một tác phẩm mỹ thuật điêu khắc, hội họa và kỹ nghệ đúc đồng đặc sắc thời chúa Nguyễn. Cùng với bia và rùa đá, đại hồng chung là một trong những bảo vật của chùa Thiên Mụ và cũng là một bảo vật trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.

Có thể nhận xét rằng, các motif trang trí trên đại hồng chung này thể hiện tính tổng hợp và dung hòa cả 3 luồng tư tưởng lớn của Á Đông là Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo. Hệ thống tư tưởng tổng hợp này đã kết hợp với tinh thần và tình cảm của dân tộc Việt Nam, rất mực nhu nhuyễn, uyển chuyển, thực tế. Tín ngưỡng, hay đúng hơn là Phật giáo Việt Nam đã không tách rời niềm tin với cuộc sống thực tế hàng ngày của nhân dân là luôn luôn cầu mong “quốc thái dân an, phong điều vũ thuận” tức là cầu mong nước nhà thái bình yên ổn, nhân dân sống hạnh phúc; cầu mong mưa thuận gió hòa để cho mùa màng được tốt; nói chung là cuộc sống được sung túc, thịnh vượng. Tất cả những hình đúc nổi, những chữ khắc chìm ở trên chuông đều biểu thị cái động, cái biến hành (le devenir) của vũ trụ, của Đạo Pháp. Rồng bò, phượng bay, cánh lá uốn lượn; ánh sáng của Phật càng ngày càng tăng độ sáng chói; bánh xe pháp luân luôn chuyển; bát quái biến dịch lưu hóa; hoa văn thủy ba luôn luôn xao gợn không lúc nào yên; mặt trời với những vầng lửa cuồn cuộn soi sáng ra xa...

Nói chung, những hoa văn, những motif được trình bày ở đại hồng chung chùa Thiên Mụ đã thể hiện triết lý Việt tức là một triết lý bao dung, không phân biệt, không chấp ngã. Đại hồng chung này là nơi duy nhất của chùa Thiên Mụ được chúa Nguyễn Phúc Chu cho khắc bốn chữ Thiên Mụ thiền tự.

Xuất thân từ dòng dõi Nho học, bản thân lại rất mến mộ đạo Phật, tự đặt cho mình đạo hiệu rất Lão giáo là Thiên Túng đạo nhân, chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) có công rất lớn trong việc mở rộng bờ cõi về phía nam và góp phần phát triển đạo Phật kể từ khi được kế vị vào năm 1691. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã mời Thạch Liêm hòa thượng (tức Thích Đại Sán) từ Trung Hoa sang tổ chức giới đàn, truyền sa di giới và bản thân cũng được Thạch Liêm hòa thượng truyền Bồ tát giới, đặt danh hiệu là Tào Động chính tông tam thập thế, pháp danh Hưng Long. Như vậy, chúa Nguyễn Phúc Chu vừa là người nắm vương quyền, vừa là người truyền thừa đời thứ 30 của phái Tào Động.

Hiện nay, dù nhà chùa không còn gióng tiếng chuông này nhưng tiếng chuông của đại hồng chung Thiên Mụ vẫn đi vào rất nhiều bài ca dao, dân ca xứ Huế và trở thành một huyền thoại đẹp cố đô Huế, nơi được tôn xưng là đất thiền kinh.

(Theo Hồ sơ di sản, tư liệu Cục Di sản văn hóa) 

Chùa Từ Hiếu

Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu là tên một ngôi chùa ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hoá và lịch sử của cố đô Huế.

Năm 1843, sau khi từ chức “Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự” và trao quyền điều hành chùa Bảo Quốc cho pháp đệ là Nhất Niệm, Hoà thượng Nhất Ðịnh đã đến đây khai sơn, dựng “Thảo Am An Dưỡng” để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già.

Hoà thượng Nhất Ðịnh nổi tiếng là người con có hiếu, tương truyền có lần mẹ già bị bệnh rất nặng, hàng ngày ông lo thuốc thang nhưng bà vẫn không khỏi. Có người ái ngại khuyên ông nên mua thêm thịt cá để tẩm bổ cho mẹ, có làm được điều đó mới mong bà chóng hồi sức. Nghe xong, mặc thiên hạ đàm tiếu chê bai, thiền sư vẫn chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 km để mua cá mang về nấu cháo cho mẹ già ăn. Câu chuyện vang đến tai Tự Đức vốn là vị vua rất hiếu thảo với mẹ, vua rất cảm phục

trước tấm lòng của sư Nhất Định nên ban cho “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự”. Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa giải thích:

•  Từ: là đức lớn của Phật, nếu không từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại.

•  Hiếu: là đầu hạnh của Phật, nếu không hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.

Chùa Từ Hiếu nằm khuất trong một rừng thông trên một vùng đồi của xã Thủy Xuân. Khuôn viên chùa rộng chừng 8 mẫu, phía trước có khe nước uốn quanh, phong cảnh thơ mộng.

Cấu trúc chùa theo kiểu ba căn hai chái, trước là chính điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường. Ở khu nhà hậu có án thờ Tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông.

Hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lịch sử xây dựng chùa. Chùa được xây theo kiểu chữ khẩu chính điện ba căn, hai chái, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu đường, ở giữa thờ đức thánh quan, bên trái thờ hương linh phật tử tại gia, bên phải thờ các vị Thái giám…, bên tả sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà tăng) và bên hữu là Hữu Ái Nhật (nhà khách).

Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần của các chúa Nguyễn Văn Miếu Huế

Văn Miếu lâu đời và tiêu biểu nhất, thu hút đông đảo khách thăm trong nước và thế giới, là văn miếu ở thủ đô Hà Nội. Ở Huế, lâu nay khách du lịch sau khi thăm các lăng tẩm, Ðại Nội, cũng chỉ lên tới chùa Thiên Mụ rồi quay lui. Ngay cả một đoàn khách Viện Hán Nôm – những người thông thạo và rất quan tâm đến các văn bia, mà tôi có dịp gặp, cũng không được đưa đến Văn Miếu xứ này. Vì đã bao năm, Văn Miếu Huế trong cảnh hoang tàn.

Khu Văn Miếu Huế (còn gọi là Văn Thánh) chỉ cách Thiên Mụ khoảng nửa cây số, nằm ngay bên bờ sông Hương, được xây dựng khá quy mô từ đầu triều Nguyễn. Năm 1805 bắt đầu xây kinh thành Huế và năm 1808 xây Văn Miếu. Các đời vua sau như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, Thành Thái đều cho tu bổ và xây dựng thêm nhiều công trình trong khu vực. Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, khu Văn Miếu Huế có đến hơn 50 công trình kiến trúc và điêu khắc lớn nhỏ nằm trong hai vòng tường bao. Vòng bên trong (96 m x79 m) có cửa tam quan trổ ra hướng nam là Ðại Thành Môn, cao 3 tầng. Từ đây nhìn vào là Chính điện Văn Miếu – công trình kiến trúc lớn nhất trong khu vực, xây trên mặt bằng 32m x 25m, trong đó gian chính giữa thờ Khổng Tử…

Các tấm bia dựng trên lưng rùa xếp thành 2 hàng, mỗi hàng 16 cái: Bia lớn nhất cao 1,15m, rộng 0,85m; Rùa đá con lớn nhất dài 1,35m, rộng 0,77m, cao 0,60m. Trong số các vị tiến sĩ lưu danh ở đây, có những tên tuổi như Phan Ðình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Ðinh Văn Chất, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Ðức Kế, Huỳnh Thúc Kháng…

Có thể nói, sau Văn Miếu Hà Nội, Văn Miếu Huế là di tích lịch sử văn hóa có giá trị, là một bằng chứng về nền văn hiến của dân tộc, là nơi tôn vinh các nhân tài của đất nước. Chính vì lẽ đó, sau khi quần thể di tích Huế được ghi tên vào Di sản văn hóa thế giới, cùng với việc trùng tu các di tích quan trọng khác ở

Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Huế đã bước đầu trùng tu một số công trình ở Văn Miếu, với sự tài trợ của Hội Người yêu Huế tại Paris giá 325,5 triệu đồng. Ngoài cổng Văn Miếu được xây dựng lại, công trình đáng kể là 2 nhà che 32 tấm bia tiến sĩ. Những tấm bia bị nghiêng lún trước đây đều được kê kích,

đệm móng và dựng lại ngay ngắn. “Trăm năm bia đá thì mòn…”, nhưng có nhà che, 2 dãy bia ở Văn Miếu Huế trải mưa nắng gần 2 thế kỷ, từ nay sẽ không bị bào mòn thêm nữa. Giá như cơ quan quản lý di tích bổ sung thêm bản sơ đồ 32 tấm bia kèm bản dịch nội dung của từng tấm bia (khoa thi, tên tuổi, quê quán… các vị tiến sĩ) thì sẽ giúp ích nhiều cho khách thăm, nhất là những người muốn tìm hiểu lịch sử thời Nguyễn. 

Quốc Học Huế

Trường Quốc Học là một ngôi trường nổi tiếng ở Huế. Trường được thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái và được Toàn quyền Đông Dương ký quyết định ngày 18 tháng 11 năm 1896.

Trường đã đổi tên qua nhiều thời kỳ: Quốc Học (1896-1936), Trung học Khải Định (1936-1954), Trung học Ngô Đình Diệm (1955-1956) và được trở về với tên gốc vào năm 1956 cho đến nay. Tên lúc mới thành lập là “Pháp Tự Quốc Học Trường”, đến nay vẫn còn bảng ghi tên đó được lưu tại Phòng Truyền thống của trường. 

Quốc Học Huế là ngôi trường đào tạo rất nhiều học sinh ưu tú và sau này là những lãnh tụ nổi tiếng của Việt Nam như: Nguyễn Sinh Cung, Ngô Đình Diệm, Trần Phú, Phạm Văn Đồng… 

Đàn Nam Giao Triều Nguyễn

Đàn Nam Giao triều Nguyễn là nơi các vua Nguyễn tế trời.

Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế.

Đàn gồm 3 tầng, xây chồng lên nhau, tượng trưng cho “tam tài”: thiên, địa, nhân; xung quanh là các bó gạch xếp chắc chắn.

Theo quan niệm xưa “Vua là Thiên tử” (con trời) nên chỉ có vua mới được quyền cúng tế trời đất (cha mẹ của vua), cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất. Lễ Tế Giao đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chức năm 1807 và từ đó trở đi được tổ chức vào mùa xuân hàng năm cho đến thời Thành Thái, vào năm 1907, thì đổi lại 3 năm một lần. 

Làng Kim Long

Làng Kim Long xưa, nằm ở bờ Bắc sông Hương (Thừa Thiên – Huế), được coi là sản phẩm du lịch nhà vườn Huế độc đáo. Người dân nơi đây giữ nếp văn hoá ứng xử thanh lịch, cởi mở với du khách.

Năm 1636, một năm sau khi lên ngôi, vị chúa thứ ba xứ Đàng Trong Nguyễn Phúc Lan dời phủ về làng

Kim Long. Theo nhà nghiên cứu văn hoá Huế Phan Thuận An, cố đạo Alexandre de Rhodes đã mô tả Kim Long như là một thành phố lớn. Ông cho rằng phủ chúa lúc ấy rất khang trang, nhà cửa xinh xắn, phần lớn làm bằng gỗ với cột kèo chạm trổ tinh vi, nhà nào chung quanh cũng có vườn. 

Núi Ngự Bình

Núi Ngự Bình thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế, cách kinh thành Huế khoảng 3km. Ngự Bình có dạng hình thang, đỉnh bằng phẳng, có thế bình phong che chở cho kinh thành Huế.

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn viết “Phía Đông bắc Hương Thuỷ, nổi vọt lên ở quãng đất bằng” như hình bức bình phong làm lớp án thứ nhất trước kinh thành Huế, tục gọi là

núi Bằng, đời Gia Long đặt cho tên hiện nay (Ngự Bình), đỉnh núi bằng phẳng, khắp nơi trồng thông”

Núi Ngự Bình cao 105m, dáng cân đối, uy nghi. Hai bên Bằng Sơn có hai ngọn núi nhỏ chầu vào gọi là Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn. Vương triều Nguyễn được thành lập, quyết định xây dựng kinh thành Huế, thấy Bằng Sơn như một bức bình phong án ngữ trước mặt, Gia Long chấp nhận đồ án của các thầy địa lý: chọn núi này làm tiền án của hệ thống phòng thành đồ sộ, kiên cố và đổi tên cho ngọn núi này là Ngự Bình.

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thuỷ hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương núi Ngự, miền Hương Ngự cũng vì vậy.

Sông Hương như một dải lụa mềm uốn quanh dưới chân đồi… Du khách có dịp đến đây vào buổi bình minh sương tan hay lúc hoàng hôn, mới hiểu hết và thấm thía vẻ đẹp nên thơ, nên họa của một ngọn đồi, một khúc sông, một góc trời xứ Huế. 

Cầu Trường Tiền

Cầu Trường Tiền cầu qua sông Hương, đi từ ngã tư Lê Lợi- Hùng Vương ở bờ nam sang đường Trần Hưng Đạo ở bờ bắc. Cầu do công ty Eiffel của Pháp xây từ năm Thành Thái thứ chín (1897) đến năm

Thành Thái thứ 11 (1899). Cầu dài 400 mét, rộng 6,2 mét gồm sáu vài (sáu gian), có bộ khung hình vòng cung. Cầu thoạt tiên mang tên vua Thành Thái. Nhưng sau khi vua Thành Thái bị Pháp đày sang đảo

Réunion thì người Pháp đặt tên cầu là Clémnceau, theo tên của một Thủ tướng Pháp thời Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Năm 1945, cầu được đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng. Dân gian thì gọi là Trường Tiền vì gần đó, bên bờ bắc, có xưởng đúc tiền của quân Trịnh khi quân Đàng Ngoài vào chiếm đóng Thuận Hóa từ năm 1774 đến năm 1786. Sau này vào năm 1899 vua Thành Thái lại cho lập phố ở đây cũng lấy tên là

phố Trường Tiền. Chiếc cầu cũng trải qua những cơn sóng gió: bị bão năm Thìn (1904) làm sập bốn nhịp, sửa chữa năm 1906 rồi sau đó bị đánh mình sập hai lần nữa vào vào năm 1946 trong chiến tranh với Pháp và 1968 trong chiến dịch Mậu Thân. Năm 1995, công ty Cầu Thăng Long trùng tu, xây lại hai nhịp cầu, nhưng lại đổi màu sơn truyền thống màu dụ bạc lấp lánh thành màu lam. Tất cả các bao lơn hình bán nguyệt trên mỗi nhịp cầu dành cho khách bộ hành đứng ngắm cảnh bị phá đi. Nhưng dù sao thì vẫn còn đó chiếc cầu nhìn xa xa trông giống như cái lược cài trên mái tóc sông Hương. 

Cầu Bạch Hổ

Cầu Bạch Hổ: cầu dành cho đường sắt bắc qua sông Hương vào năm 1908 tại góc tây nam kinh doanh, bờ nam thuộc địa phận Phường Đúc. Cầu sơn màu đen cho nên dân gian cũng gọi là cầu Đen, nhưng ngày

nay đã đổi thành màu trắng. Tên chữ của cầu là Dã Viên vì nó đi ngang qua cồn Dã Viên, nơi trước đây có đình tạ, vườn hoa, để làm nơi giải trí của các vua chúa. Các nhà nghiên cứu cho rằng tên Bạch Hổ thuộc

về cây cầu Kim Long bắc qua Hộ Thành Hà. Cầu Phú Xuân

Cầu Phú Xuân: cầu bắc qua sông Hương từ đường Lê Thánh Tôn (nay là đường Hà Nội) qua đường Trần Hưng Đạo ở vị trí bến xe Nguyễn Hoàng, được hãng Eiffel xây vào năm 1970-1971. Đường Quốc lộ 1

trước chạy qua cầu Dã Viên bấy giờ chuyển qua cầu này. Dân gian thường gọi là cầu mới. Sông Hương, núi Ngự

Dù chưa một lần đến Huế, du khách hẳn cũng không lạ gì với địa danh sông Hương-núi Ngự đã đi vào điệu hò xứ Huế. Khách phương xa mơ về Huế và lưu luyến mảnh đất cố đô này cũng bởi ở đó có dòng Hương xanh biếc lững lờ trôi, có núi Ngự Bình mơ màng trăng gió…

 Sông Hương, một tập hợp của hàng trăm con suối nhỏ xuất phát từ dãy Trường Sơn hùng vĩ, trùng điệp theo nhau về xuôi rồi lại hợp nhau thành hai nhánh chính: Tả Trạch và Hữu Trạch, đến Bằng Lãng thì cùng hợp dòng uốn lượn quanh co giữa một vùng rừng núi bạt ngàn xanh ngắt, rồi đổi hướng rẽ về đông lững lờ trôi ngang qua kinh thành Huế, rồi nhập vào phá Tam Giang đổ về biển xanh.

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, hình dáng giống cái bình phong. Nhìn ngọn Ngự Bình cùng hai ngọn Tả Phù-Hữu Bật trông giống như con phượng hoàng đang xòe cánh che chở cho kinh thành 

Sông Hương

​Tuy cùng từ dãy Trường Sơn hùng vĩ mà nên, nhưng điểm xuất phát ban đầu là những con suối cạn thượng nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch còn ở xa nhau. Cả hai cùng tìm đường...

về với biển, bất ngờ gặp nhau trước dãy đất đẹp dưới chân ngọn núi Kim Phụng. Về sau con người đến khai sơn, phá thạch vùng đất đẹp đó mới nên xóm nên làng và được mang một cái tên rất hay : Làng An Bằng. Làng An Bằng thuở sơ sinh, thuộc huyện Kim Trà, phủ Triệu Phong, lộ Thuận hóa. Nơi gặp nhau của hai chi lưu ấy để làm nên sông Hương to rộng được gọi là ngã ba Bằng Lãng. Về sau các nhà chức trách xứ Đàng Trong đặt tại bờ nam của ngã ba sông này một cái đồn để tuần tra thu thuế nên lại có thêm tên là ngã ba Tuần, Bằng Lãng hay Tuần cũng đều do dân gọi mà nên.

​Đứng ở ngã ba Tuần ta mất đi cảm giác hai chi lưu ấy một từ Nam Đông đến một từ Bình Điền ra mà cứ ngỡ là một ở bắc, một ở nam vừa mới gặp nhau đã hòa vào nhau mà lớn. Cả hai cùng nhìn hướng biển mà về. Hợp ý, hợp lòng nên mới êm đềm duyên dáng vậy.

Đó là con sông chảy dưới chân ngọn núi chủ : Thương Sơn (Kim Phụng) - sông Hương lớn nhất và đẹp nhất nằm ngang giữa đất Thừa Thiên.

​Sông có tên Hương bởi vì trước khi ra đồng bằng làm sông, những con suối nhỏ đầu nguồn còn len lỏi trong các cánh rừng lắm cây thạch xương bồ hoa có hương thơm ngào ngạt, nên người xưa đặt tên là sông Hương. Nghe thì hấp dẫn vậy nhưng chẳng có lý chút nào. Bởi vì sông có trước mà tên

sông có sau. Tên sông được đặt từ dưới xuôi, lúc ấy chưa mấy người lên đến mạn ngược mà thưởng thức hương thơm của hoa thạch xương bồ. Vả lại từ lâu, người ta còn gọi là sông Lô Dung, sông Kim Trà, sông Linh, sông Dinh (bởi chảy qua Chính Dinh tức Phú Xuân - Huế ngày nay). Như vậy là hương của thạch xương bồ chưa được các cụ nhà ta thuở đi mở nước biết đến.

​Lắm người lại cho rằng sông có tên Hương bởi vì thuở Nguyễn Phúc Ánh trở về Phú Xuân, lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long, đêm trước ngày ông đi tìm đất định đô bỗng nằm mơ có một vị thần dặn rằng hãy thắp một nén hương từ chùa Thiên Mụ rồi cho ngựa chạy nước kiệu dọc bờ sông về phía hạ lưu. Hương cháy hết ở đâu thì đất định đô ở đó. Lấy tích ấy người ta đặt tên Hương cho con sông đẹp này để kỷ niệm và tri ân vị thần linh ấy.

Gia Long lên ngôi năm 1802, đi tìm đất để xây dựng kinh đô vào năm 1803 là có thật, nhưng câu chuyện thần linh phù hộ để làm nên nghiệp lớn thì có lẽ đó chỉ là cái sách thu phục nhân tâm. Sông Hương trước là sông Kim Trà bởi chủ yếu nằm trên địa hạt huyện Kim Trà. Sau năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa đổi huyện Kim Trà thành huyện Hương Trà thì sông Kim Trà cũng có thể được gọi lại thành sông Hương Trà. Từ Hương

Trà giang gọi gọn lại thành Hương Giang không phải là không có lý.

​Sông Hương xuống đến ngã ba Sình bên thành Hóa Châu xưa thì gặp sông Bồ rồi sông Ô Lâu. Cả ba cửa sông mở ra một dải nước lớn chạy dọc suốt cả chiều dài vùng duyên hải tỉnh Thừa Thiên - Huế nối đầm Tam Giang, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung và đầm Cầu Hai lại làm một. Gọi vùng nước mênh mông này là hồ thì chưa hẳn đúng vì nó còn dính với biển bởi cửa Eo (Thuận An) và cửa Tư Dung (Tư Hiền). Nói rằng nó là vịnh cũng không thật nhằm vì nó vẫn còn là một phần thân thể của mấy con sông. Người Thừa Thiên xưa thật tài đã chọn nên một tên gọi rất hay : phá Tam Giang. Phá là sự mở cửa của sông. Cửa của ba con sông dài và rộng nhưng chưa vội nhập vào với biển mà dừng lại chờ nhận đủ nước của mọi con sông trong vùng rồi mới hòa vào với biển. Ấy là phá. Phá Tam Giang là cái đầm nước giữa biển với đồng ruộng...

Nó là kho thủy sản, là một tuyến giao thông làm địa bàn du lịch trên sông nước. Với 60 km bề dài, 1 đến 6 km bề ngang, phá Tam Giang như cái gáy lược cho mọi con sông của đất Thừa Thiên nối lại với nhau. Đi cửa Thuận với Trấn Hải Đài lịch sử, đi cửa Tư Hiền với Túy Vân, Linh Thái ngoạn mục, đi đến đầm Cầu Hai để lên Bạch Mã, mát lạnh mờ sương, một điểm nghỉ mát lý tưởng, đi đến ngã ba

​Sình thăm dấu tích thành Hóa Châu xưa hay ngược sông Bồ mà thưởng ngoạn hoàng hôn trải vàng trên... sông Bồ mà thưởng ngoạn hoàng hôn trải vàng trên dãy Thất Thế Giới hùng vĩ đều có thể cho thuyền vượt phá Tam Giang.

​(Bài thơ nôm của Vua Minh Mạng về ngã ba Bằng Lãng đã được viết vào tô sứ men lam Huế thế kỷ 19)

​Một thước nước in trời

Đò ai chiếc lá khơi

Non cao xem vòi vọi

Dòng biếc thấy vơi vơi

Mấy khúc thương lang gẩy

Ở đây từng khách chơi

Mong chờ yên sóng gió

Qua lại mặt người đời

 

Chợ Đông Ba

Nhắc đến chợ Huế, chắc ai cũng biết đến chợ Đông Ba. Một khu chợ sầm uất. Hàng ngày có không biết bao nhiêu người đến đây mua sắm, không chỉ bà con nơi đây mà lượng khách du lịch cũng rất đông.

 

Ðầu thế kỷ 20, chợ Ðông Ba được tu sửa nhiều lần nhưng vẫn giữ cốt cách cũ. Ðến năm 1967, chính quyền Sài Gòn cho triệt hạ chợ cũ và xây lại chợ mới. Công trình đang dang dở thì bị bom pháo Mỹ trong chiến dịch Huế Xuân 1968 bắn phá tan tành. Sau đó chính quyền Sài Gòn cho sửa chữa tạm để buôn bán. Ðến năm 1987, chợ Ðông Ba được đại trùng tu. Ngoài lầu chuông ở trung tâm, chợ Ðông Ba mới có 9 dãy nhà bao quanh cùng 4 khu hàng mới, như chợ cá, khu hàng tự sản, tự tiêu, khu hàng dịch vụ… với tổng diện tích mặt bằng xây dựng 15.597m². Ngoài ra ban quản lý chợ còn quản lý khu Hoa Viên Chương

Dương, các bến bãi đỗ xe ôtô, xe lam, nơi giữ xe đạp, xe máy… nâng tổng diện tích mặt bằng thuộc chợ lên trên 47.614m² với 2.543 hộ kinh doanh cố định, 141 lô bạ, 500 – 700 hộ buôn bán rong. Bình quân mỗi ngày có từ 5.000 đến 7.000 khách đến chợ. Vào những dịp lễ tết, chợ đông hơn, có trên 1,2 vạn người. 

Phong Điền

Phong Điền là tên của một huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Thừa Thiên-Huế, giáp với tỉnh Quảng Trị và huyện Hương Trà. Huyện có 15 xã (Điền Hương, Điền Môn, Phong Bình, Phong Chương, Điền Lộc, Phong Hoà, Điền Hoà, Phong Hải, Điền Hải, Phong Mỹ, Phong Thu, Phong Hiền, Phong An, Phong Xuân, Phong Sơn), 1 thị trấn (Phong Điền), diện tích tự nhiên là 953,8 km2, dân số trên 105.000 (1999); địa hình đa

dạng, có cả núi đồi, đồng bằng, ven biển và đầm phá. Phong Điền là quê hương của các danh nhân Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Đình Chiểu… Huyện được đặt năm Minh Mạng thứ 15 (1834) thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hoá; từ 11.3.1977, hợp nhất với các huyện Hương Trà, Quảng Điền thành huyện Hương Điền thuộc tỉnh Bình Trị Thiên (1976 – 89); từ 29.9.1990, chia huyện Hương Điền trở lại 3 huyện cũ thuộc tỉnh Thừa Thiên -Huế. 

Tam Giang

Vực nước hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai được hợp thành từ 3 phần khác nhau: phá Tam Giang rộng 52km2, kéo dài 24km từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương; đầm Sam và đầm Thuỷ Tú rộng 60km2, kéo dài khoảng 33km từ cửa sông Hương đến cửa sông Truồi; đầm Cầu Hai tiếp nối như một lòng chảo lớn hình bán nguyệt rộng 104km2, kéo dài khoảng 13km từ cửa sông Truồi đến chân núi Vĩnh Phong.

Vùng đất ngập nước đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phân bố trên chiều dài gần 70km, có tổng diện tích 248,7km2, chiếm khoảng một nửa tổng diện tích đầm phá ven bờ Việt Nam (480,5km2). Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có tính đa dạng sinh học rất cao, bởi vậy nó xứng đáng là một bảo tàng nước.Thành phần nguồn gen của Tam Giang – Cầu Hai khá phong phú, hiện có 714 loài. Trong đó, 171 loài thực vật phù du, 37 loài động vật phù du, 54 loài thực vật nhỏ bám đáy, 43 loài rong tảo, 15 loài cỏ nước, 31 loài thực vật cạn, 63 loài động vật đáy… Chim trời cá nước ở đây cực kỳ phong phú và có nhiều loài quý hiếm. Hàng

năm, trên các đầm lầy cỏ và thảm cỏ biển rất đặc thù, có đến 34 loài chim di cư trú ngụ, tại đây cũng có 36 loài chim định cư, trong đó có 21 loài được ghi vào danh mục bảo vệ nghiêm ngặt của cộng đồng châu Âu, 1 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam. Chim nước tập trung mật độ cao ở 3 khu vực: cửa sông Ô Lâu, cửa sông Ðại Giang và đầm Sam. Mùa đông chim thường từ nơi phương xa bay về, có năm tới 2 vạn con, nhiều người đã từng gặp những đàn ngỗng trời trên 500 con, đàn le le trên 1000 con, có cả những đàn sâm cầm từ 2000-3000 con…Cá là nhóm có thành phần loài đông đúc nhất: 230 loài. Với các nhà khoa học, con cá dầy Tam Giang được coi là loài đặc hữu, có giá trị thương phẩm cao. 

CÁC CHUYÊN ĐỀ THUYẾT MINH VỀ HUẾ

1.      Lịch sử

2.      Âm nhạc

3.      Ẩm thực

4.      Văn hóa 

1.      Chuyên đề về lịch sử

1.1 Vì sao vua Gia Long sau khi lên ngôi đã chọn Huế làm kinh đô?

Ngay khi đánh bại nhà Tây Sơn, lập nên triều Nguyễn, vua Gia Long (Nguyễn Ánh) đã chọn vùng đất Phú Xuân làm nơi đóng đô. Ông cho xây dựng kinh đô Huế vào năm 1803.

Lý do vua Gia Long chọn Huế làm kinh đô?

Phú Xuân là đô cũ của các chúa Nguyễn Nam Hà và kinh đô của nhà Nguyễn Tây Sơn. Việc vua Gia Long chọn Phú Xuân làm quốc đô của nước Việt Nam bởi có những lý do chính đáng.

Việc vua Gia Long chọn Phú Xuân làm quốc đô không đơn giản vì đây là đất khởi nghiệp của tổ tiên mà là vì nhiều lý do quan hệ đến sự hưng vong của triều đại nhà Nguyễn và sự sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam.

Sách Đại Nam thực lục ghi: "Ở Phú Xuân, nhân sĩ đông đúc, phong tục thuần lương, các thánh đóng đô ở đây thực là nơi đô hội bậc nhất của nước Nam".

Sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Kinh sư là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam và miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng... sông lớn giăng phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuộn, hổ ngồi, hình thế vững chãi, ấy là do trời đất sắp đặt, thật là thượng đô của nhà vua".

Và trong các yếu tố làm cơ sở cho việc quyết định chọn lựa đất đóng đô thì yếu tố chính trị là quan trọng bậc nhất.

Gia Long muốn đóng đô ở miền Trung để tiện liên lạc với cả hai miền Nam, Bắc. Vì lẽ vào thời đó, phương tiện giao thông, cách thức liên lạc còn thô sơ và chậm chạp, ra Bắc vào Nam, dù bằng ghe bầu hay bằng ngựa trạm thì cũng mất mười mấy ngày trời, chứ không phải mất mấy tiếng đồng hồ như ngày nay.

Huế là vùng đất trung tâm của Việt Nam lại gần cảng Đà Nẵng thuận tiện giao thông buôn bán. Nếu đặt kinh đô ở đây thì có thể kiểm soát được cả Bắc Hà lẫn Gia Định dễ dàng hơn trong vận chuyển và liên lạc với kinh đô.

Vốn dĩ các Chúa Nguyễn đã chọn Phú Xuân làm kinh đô cho đàng trong nhiều năm. Bởi vậy vua Gia Long đã chọn lại địa điểm này để xây dựng Kinh thành với quy mô to lớn hơn, nằm trên đất của 8 làng: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, Thế Lại, An Vân, An Hòa, An Bửu và An Mỹ.

Về mặt phong thuỷ, trước mặt của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân nằm giữa vùng đồng bằng như một bức bình phong thiên nhiên che chắn. Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) làm thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng vương quyền. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. 

Nhà Nguyễn (1802–1945) chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô chủ yếu vì vị trí địa lý chiến lược ở trung tâm đất nước, thuận lợi kiểm soát cả Bắc Hà và Gia Định, cùng địa thế phòng thủ tự nhiên vững chắc. Ngoài ra, đây là vùng đất "căn cơ" gắn liền với quá trình mở cõi và xây dựng cơ nghiệp của các chúa Nguyễn trước đó.

Dưới đây là các lý do chi tiết:

Vị trí địa lý trung tâm: Huế nằm giữa đất nước, giúp triều đình dễ dàng kết nối, quản lý và điều hành các khu vực rộng lớn từ Bắc vào Nam, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giao thông thời xưa còn khó khăn.

Địa thế phòng thủ kiên cố: Huế có thế "tọa sơn hướng thủy" với dãy Trường Sơn phía sau, biển Đông phía trước, phía Bắc có Hoành Sơn, phía Nam có Bạch Mã, tạo thành hệ thống phòng thủ tự nhiên vững chắc.

Căn cơ của chúa Nguyễn: Phú Xuân là nơi chúa Nguyễn Phúc Khoát đã từng đặt thủ phủ, và là vùng đất gắn bó sâu sắc với lịch sử dòng họ Nguyễn, nơi khởi đầu công cuộc mở cõi phương Nam.

Ý nghĩa tâm linh và phong thủy: Việc chọn đất đóng đô dựa trên nguyên tắc phong thủy để đảm bảo sự hưng thịnh lâu dài cho vương triều.

Thuận lợi giao thương: Gần cảng Đà Nẵng, thuận tiện cho việc giao thương, ngoại giao và phát triển quân cảng. Vua Gia Long đã chính thức chọn Phú Xuân làm kinh đô vào năm 1802 và xây dựng thành Huế quy mô lớn, tồn tại qua 13 triều vua.

 

1.2 Vị quan triều Nguyễn mang dòng máu Pháp.

Jean-Baptiste Chaigneau – người được biết đến tại Việt Nam với tên gọi Nguyễn Văn Thắng – thường được nhắc đến trong bộ quân phục sĩ quan triều Nguyễn vào khoảng năm 1805, phản ánh rõ vai trò đặc biệt của ông trong giai đoạn chuyển mình đầy biến động của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 19.

Jean-Baptiste Chaigneau sinh năm 1769 tại Pháp, trong bối cảnh châu Âu đang bước vào thời kỳ nhiều biến động về chính trị và hàng hải. Từ khi còn trẻ, ông đã theo con đường binh nghiệp và sớm tham gia vào các hoạt động hàng hải, mở ra cơ hội đặt chân đến Viễn Đông. Cuối thế kỷ 18, Chaigneau có mặt tại châu Á và gia nhập nhóm sĩ quan, binh lính người Pháp theo chân Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) sang giúp Nguyễn Ánh – vị chúa Nguyễn đang trong cuộc chiến sinh tử với phong trào Tây Sơn.

Trong những năm tháng đầy khốc liệt ấy, Chaigneau không chỉ đơn thuần là một người lính đánh thuê mà nhanh chóng trở thành một cộng sự tin cậy. Ông tham gia vào việc huấn luyện quân đội theo phương thức phương Tây, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy quân và pháo binh – những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Nguyễn Ánh từng bước giành lại thế chủ động. Bên cạnh đó, ông còn góp phần trong việc xây dựng hệ thống phòng thủ, tổ chức quân đội và hỗ trợ kỹ thuật quân sự theo tiêu chuẩn châu Âu, điều mà quân đội Đại Việt lúc bấy giờ còn hạn chế.

Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802, lấy niên hiệu Gia Long và thống nhất đất nước, Jean-Baptiste Chaigneau tiếp tục được trọng dụng. Ông được phong làm quan trong triều, ban quốc tính và tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, chính thức trở thành một thành viên trong bộ máy quan lại của triều Nguyễn. Dưới thời vua Gia Long, ông giữ những vị trí quan trọng liên quan đến ngoại giao và quân sự, trở thành cầu nối giữa Đại Việt và phương Tây, đặc biệt là nước Pháp.

Không chỉ là một võ quan, Chaigneau còn đóng vai trò đáng kể trong việc thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và châu Âu. Trong bối cảnh đầu thế kỷ 19, khi giao thương và tiếp xúc Đông – Tây ngày càng mở rộng, sự hiện diện của những nhân vật như ông đã góp phần giúp triều Nguyễn hiểu rõ hơn về thế giới bên ngoài, đồng thời tạo nên những kênh liên lạc đầu tiên giữa Việt Nam và phương Tây trên phương diện chính thức.

Về sau, dưới thời vua Minh Mạng, chính sách đối ngoại và quan điểm về người phương Tây có nhiều thay đổi, khiến vai trò của Chaigneau dần thu hẹp. Ông trở về Pháp một thời gian, rồi lại quay lại Việt Nam trong vai trò lãnh sự, tiếp tục duy trì mối liên hệ giữa hai quốc gia. Jean-Baptiste Chaigneau qua đời năm 1832, khép lại cuộc đời của một người ngoại quốc nhưng lại gắn bó sâu sắc với lịch sử Việt Nam trong một giai đoạn đặc biệt.

Cuộc đời của Nguyễn Văn Thắng – Jean-Baptiste Chaigneau là minh chứng cho một thời kỳ giao thoa Đông – Tây đầy phức tạp, nơi một người lính viễn xứ có thể trở thành trọng thần trong triều đình Đại Việt, góp phần không nhỏ vào công cuộc thống nhất đất nước và đặt nền móng cho những mối quan hệ quốc tế đầu tiên của triều Nguyễn.

Nguồn: Giai thoại xưa

 2.      Chuyên đề về âm nhạc

 2.1 Ca cổ và hò Huế

Ca Huế là nét văn hóa phong tục đặc trưng của đất cố đô. Đây là lối ca đặc biệt phản ánh tiếng lòng của người dân có nhiều hoài niệm, cảm thông với những diễn biến của tự nhiên và có sức sống mãnh liệt.

Ca Huế là lối ca mở đường cách tân cho lối ca ở Nam Trung bộ và Nam bộ. Vì thế, ca Huế không những được người dân xứ Thừa Thiên - Huế, nhất là các lái đò trên sông Hương ưa chuộng mà còn được ca hát ở khắp miền Trung, thậm chí tới cuối đất Nam bộ.

Ca Huế ẩn chứa rất nhiều nghĩa tình, âm hưởng phong phú. Một số ca khúc có xuất xứ từ ca Bắc nhưng âm điệu và hồn nhạc lại chịu ảnh hưởng của nhạc điệu Chiêm Thành xưa.

Những làn điệu trong ca Huế thanh thoát, uyển chuyển, trầm bổng. Có khi rộn ràng, mạnh mẽ, phấn chấn nhưng cũng dìu dặt, bi ai hoặc man mác. Những làn điệu ca Huế được ưa chuộng là:

Phú lục: là một bản đàn cổ được phổ lời ca. Phú lục thường có 4 vần, 4 khổ.

Cổ bản: là bản nhạc cổ được phổ thành nhiều bản có ý và lời khác nhau. Cổ bản còn được gọi là ca Bắc hoặc ca Lý. Vốn cổ bản rất nhiều xoan điệu, nghe êm tai nhưng nội dung nhạc điệu không hiểu là gì. Xuất xứ chưa rõ, nhưng trong ca Huế các nghệ sĩ dân gian thường hay ca cùng các làn điệu khác. Bài ca có 6 vần, 6 khổ.

Kim tiền: là tiếng nước chảy. Điệu nhạc trầm lắng nhưng nhanh nhanh lại buồn buồn. Mỗi bài ca có 4 vần, 4 khổ.

Hành vân: Có nghĩa là mây bay. Nghe nhạc điệu, người ta hình dung được đám mây trôi xa xa giữa nền trời xanh ngắt, âm điệu nhè nhẹ, êm đềm, thanh thản.

Tứ đại cảnh: là cảnh quanh bốn mùa xuân-hạ-thu-đông được diễn tả qua âm nhạc. Bản nhạc này được xếp vào những bản nhạc cung Bắc nhưng nhiều người cho rằng tác giả là vua Tự Đức vì căn cứ vào 2 sự kiện: thứ nhất, được phổ biến nhiều ở ca Huế; thứ hai, vua Tự Đức là một nhạc sĩ có tài có tâm hồn nghệ sĩ, đàn giỏi, thơ hay.

Bình bán: đây là bản dung hợp giữa sự chậm rãi của bản Lưu thủy và dồn dập của bản Kim tiền, để tạo thành âm điệu vừa mau, vừa chậm, vừa trầm vừa hùng. Đoạn đầu là ảnh hưởng bản Lưu thủy, đoạn cuối là ảnh hưởng bản Kim tiền.

Tấu mã: diễn tả nhịp ngựa phi, có âm thanh dồn dập, vừa nhanh, vừa mạnh tạo sự thúc giục, mạnh mẽ, phấn khởi, hăng hái. Nguyên là điệu nhạc của Tàu cho nên cũng gọi là ca khách và bản nhạc gọi là nhạc khách.

Ngoài những bản có đặc tính mạnh mẽ, rộn ràng, ảnh hưởng nhạc cổ và ca Bắc kể trên, sau đây là một số bản có tứ nhạc buồn oán, bi sầu, nhưng rất thu hút, hấp dẫn. Những bản nhạc êm dịu, nhẹ nhàng này chịu ảnh hưởng âm điệu nhạc Chiêm Thành xưa và được hình thành từ thời các chúa Nguyễn, ở phương Nam. Vì thế tên bản nhạc có

chữ Nam đứng đầu để chỉ rõ tâm tình của người phương Nam.

Nam ai: có nghĩa là thương Nam, xót Nam. Đây là bản nhạc buồn nhất, ai oán nhất, trong số các bản nhạc miền Nam. Nhiều nhạc sĩ, thi sĩ đặt lời ca rất ai oán, não nùng. Bản Nam ai thường ca 3 khổ. Âm điệu chầm chậm để diễn tả nỗi buồn thâm xa xăm.

Nam thương: có nghĩa là buồn Nam, mến thương Nam, âm điệu buồn nhưng không bằng Nam ai. Vốn là một bản nhạc cổ, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của nhạc Chiêm Thành như Nam ai. Âm điệu chậm, một vài chỗ có âm thanh réo rắt, ẩn ý thương tiếc nhớ nhung, buồn khổ vời vợi.

Nam xuân: bản nhạc này ít buồn, điểm vài nét vui, tuy nhiên vẫn tiếp theo là nỗi buồn sâu lắng mang tính ảnh hưởng trong nền nghệ thuật âm nhạc dân tộc. Âm điệu tuy buồn nhưng duyên dáng, thướt tha như dáng cô gái Champa là lướt dưới gió chiều nắng tắt.

Nam bình: Nhạc khúc này không buồn mà cũng không vui, âm thanh đều đều. Đây là bản nhạc hòa hợp do ba bản Nam ai, Nam thương và Nam xuân vừa kể. Nội dung nhạc khúc ẩn chứa nỗi buồn lẫn lộn, những buồn nhiều hơn.

 

Hò Huế

Trong ca Huế, ở các chương trình văn nghệ chọn lọc hoặc trên đò hát Hương giang, thỉnh thoảng các nghệ sĩ trình diễn xen kẽ vài điệu hò Huế. Những điệu hò này không nằm trong khuôn khổ ca Huế mà có bản sắc văn hóa riêng, tuy nhiên vẫn phối hợp giúp cho chương trình Huế khởi sắc.

Hò Huế là điệu hò đặc biệt được các cô lái đò trên sông Hương sử dụng.

Con sông có dòng nước lặng lờ như không buồn chảy xiết, được làn gió mang hương thơm từ các vườn hoa trái trên thượng nguồn về ấp ủ nồng nàn, lại thêm tính tứ (có khi có lăng mạn nữa) với những giọng hò mái đưa, mái đẩy, mái nhì...

Mái là chiếc bơi chèo. Một con đò có hai bơi chèo (trong Nam gọi là dầm, tay chèo) chiếc ở đàng trước gọi là mái nhất, chiếc đàng sau gọi là mái nhì.

Hò mái nhì là giọng hò khi cả hai ở trước và ở sau cùng chèo. Hò mái đưa là giọng hò lúc buông

tay chèo. Hò mái đẩy là giọng hò khi người chèo thuyền hai tay cầm chèo xoay lưng về hướng tiến tới mà chèo (quay người lại theo thế chèo đẩy lui) - vừa chèo vừa hò. Chèo thuyền cách này gọi là đẩy (chèo đẩy lui).

Cả ba lối hò có tên khác nhau tùy thuộc vào các động tác của người hò. Lời hò thường được các cô lái đò dùng những câu ca dao sẵn có, hoặc đôi khi hát lên những điệu mới sáng tác của các văn tài, nghệ nhân ở cố đô như thi sĩ Ưng Bình Thúc Giạ, nhạc sư Bửu Lộc...

Các câu hò thường nói nhiều về tình yêu trai gái như tâm tư của người Việt khắp đất nước. Tuy nhiên, đôi khi cũng đề cập đến những nỗi niềm của ba người dân trước tình hình đất nước hoặc thương tiếc một nhân vật tên tuổi nào. Chẳng hạn như những câu sau đây của Ưng Bình Thúc Giạ:

“Chiều chiều trước bến Văn Lâu, Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai mong? Thuyền ai thấp thoáng bên sông Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.

Có giả thuyết cho rằng, đây là tác giả vịnh một vị vua yêu nước, thường ra ngồi bến Văn Lâu nghĩ về non nước.

Ca Huế và hò Huế kết hợp những Âm Dương phối ngẫu tạo thành nét văn hóa tiêu biểu cho cố đô. Ở đó, từ lâu đã hình thành một sinh hoạt độc đáo: đò hát Hương Giang, nơi trình diễn ca Huế hấp dẫn, thu hút, quyến rũ mà không nơi nào khác có được.

Đò hát Hương Giang là cả một bức tranh gồm đủ âm thanh, màu sắc làm rung động lòng người.

Hò Thừa Thiên - Huế sắc sảo về âm giọng. Tiếng hò ngân dài, thanh tao, lả lướt một cách đài các dù rằng người hò là gái dân dã hay là những “o” quá thì.

Tiếng hò Thừa Thiên - Huế chỉ có trên dòng Hương Giang lặng lờ và mỹ miều. Ở Huế người ta phân biệt thành các điệu hò mái nhì, mái đưa, mái đẩy.

Tiêu biểu cho loại hò nông vụ ở Thừa Thiên - Huế là hò “giã gạo”, một loại hò đặc sắc đã đi theo chân những người dân Nam tiến từ xưa, để hiện...

diện mọi nơi ở Nam bộ như Bến Tre, Mỹ Tho, Cần Thơ...

Giới thi nhân đất kinh kỳ đã làm phong phú cho tàng văn hóa bình dân này, tạo thành nếp sinh hoạt đáng yêu, trong đó có Ưng Bình Thúc Giạ và Bửu Lộc.

Nguồn: Phạm Côn Sơn

 

2.2 Hò Huế, Ca Huế, Nhã Nhạc Cung Đình Huế là gì? Có gì khác nhau?

Âm nhạc ở Huế không chỉ để nghe mà còn chưa đựng nét di sản văn hóa để lưu trữ và quảng bá cho bao nhiêu thế hệ kế tiếp. Có những buổi tối ở Huế, chỉ cần đứng bên bờ sông Hương cũng đủ để nghe những thanh âm của Ca Huế văng vẳng từ xa, vọng lại trên những chiếc thuyền rồng đang xuôi dòng. Gió khẽ lướt trên mặt nước hòa cùng tiếng đàn, tiếng phách mảng những âm sắc trong veo chạm vào một lớp ký ức rất xưa cũ.

Nhiều người đến Huế rồi mới chợt nhận ra mình đã lắng nghe Hò Huế, Ca Huế từ lâu, nhưng để gọi tên cho đúng, lại không ít lần bối rối. Hò Huế là gì? Ca Huế là gì? Và Nhã Nhạc Cung Đình Huế khác nhau ở đâu? Bài viết này giúp bạn phân biệt ba lớp âm nhạc đặc trưng của đất Cố Đô, để khi chọn một đêm xem Ca Huế trên sông Hương, bạn biết mình đang thưởng ngoạn điều gì.

Thanh âm mộc mạc của đời sống thể hiện qua Hò Huế

“Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,

Đò về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình.

Lờ đờ bóng ngả trăng chênh,

Theo nhau cho trọn mối tình thủy chung.”

(Hò mái nhì)

Hò Huế là dân ca Huế ở dạng mộc mạc nhất, sinh ra từ lao động và sinh hoạt cộng đồng. Hò là cách người Huế gọi nhau, đối đáp nhau khi chèo thuyền, giã gạo, kéo lưới. Vì thế, Hò Huế mang nhịp điệu rất thật, lúc khoan thai theo mái chèo, lúc dồn dập theo nhịp tay.

Điểm dễ nhận ra của Hò Huế là tính đối đáp và ngẫu hứng. Lời ca linh hoạt, thay đổi theo hoàn cảnh. Nhạc cụ nếu có cũng tối giản, đôi khi chỉ cần tiếng gõ nhịp hoặc chỉ cần giọng hò của người nông dân chất phát.

Thưởng lãm nét di sản Ca Huế gắn liền với dòng Hương

Ca Huế là một dòng âm nhạc mang vẻ tao nhã rất riêng của xứ Huế, được chắt lọc từ dân gian và gìn giữ qua nhiều thế hệ nghệ nhân. Loại hình này đã được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, như một cách khẳng định giá trị văn hóa bền bỉ của tiếng đàn, tiếng phách và giọng ca bên dòng Hương. Và chính vì thế, mỗi lần lắng nghe Ca Huế, ta không chỉ nghe một tiết mục, mà đang chạm vào một di sản vẫn còn đang thở.

Trong Ca Huế, phần hòa tấu được tạo nên bởi đàn tranh, đàn nguyệt, đàn tỳ bà, đàn nhị, sáo, cùng trống và phách. Không gian thường xuyên được sử dụng để nghe Ca Huế là trên thuyền rồng, vừa đủ gần gũi để người nghe cảm nhận trọn vẹn từng lời ca, từng hơi thở, từng điểm rơi tinh tế của tiếng đàn. Những bản nhạc quen thuộc như Nam ai, Nam bình, Lưu thủy, Kim tiền, Phẩm tuyết thường được trình diễn xen kẽ với các làn điệu lý và dân ca Huế.

Điều làm Ca Huế trở nên đặc biệt nằm ở cách nó đứng giữa sự mộc mạc của dân gian nhưng khoác lên sự tao nhã và chuẩn mực. Như thể Huế đã chọn một nhịp vừa đủ để tiếng lòng đi qua âm nhạc và ở lại nhẹ nhàng trong người nghe.

Vì sao Ca Huế thường được ngân vang trên thuyền rồng xuôi dòng Hương?

Không phải ngẫu nhiên mà Ca Huế trên sông Hương luôn được nhắc đến như một trải nghiệm “nên thử một lần” khi ghé Huế. Trên dòng Hương lặng trôi, tiếng Ca Huế văng vẳng từ những chiếc thuyền rồng vọng lại, như một dấu ấn rất riêng của vùng đất Cố Đô. Ở đó, Ca Huế không chỉ vang lên để nghe, mà như đặt cái hồn vào mạch di sản đã được lưu truyền qua bao thế hệ. Bạn có thể thưởng thức chương trình Ca Huế trên sông Hương bằng nhiều lựa chọn thuyền khác nhau, tuỳ lịch trình và nhu cầu trải nghiệm. 

Với Ngự Thuyền Hueritage, Ca Huế được đặt như một lát cắt văn hoá trong hành trình thưởng ngoạn, để bạn không chỉ lắng nghe, mà còn nhìn, cảm và chạm vào nhịp rất Huế theo cách riêng của mình.

Nếu Hò Huế là tiếng hát của đời sống, Ca Huế là cuộc thưởng ngoạn thính phòng, thì Nhã nhạc cung đình Huế là âm nhạc của triều đình, gắn với nghi lễ và tính quy phạm. Nhã nhạc cung đình Huế xuất hiện trong các nghi thức của hoàng gia như tế lễ, yến tiệc, lễ mừng và nhiều nghi lễ khác của triều Nguyễn.

Tinh thần lễ nhạc thể hiện ở sự chuẩn mực: dàn nhạc, bài bản, trang phục và động tác biểu diễn được tổ chức chặt chẽ, mang tính biểu tượng rõ rệt. Khi nghe Nhã nhạc cung đình Huế, bạn không chỉ nghe giai điệu, mà còn thấy được cách sắp xếp bố cục và mỹ học của một thời.

Làm sao để có thể phân biệt được 3 loại hình âm nhạc này?

Hò Huế, Ca Huế và Nhã nhạc cung đình Huế đều là những loại hình âm nhạc truyền thống tiêu biểu của vùng đất Cố đô, nhưng mỗi loại lại mang những đặc điểm và chức năng riêng biệt. Hò Huế là hình thức dân ca lao động, gắn liền với đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân, đặc biệt trong các hoạt động như chèo thuyền, kéo gỗ hay làm ruộng. Hò thường có lối hát đối đáp, giai điệu mộc mạc, khỏe khoắn, thể hiện tâm tư, tình cảm và tinh thần lạc quan của người lao động.

Trong khi đó, Ca Huế mang tính nghệ thuật cao hơn, là sự kết hợp giữa dân ca và nhạc cung đình. Ca Huế thường được biểu diễn trong không gian trang nhã như thuyền rồng trên sông Hương hoặc các nhà vườn với lời ca trữ tình, sâu lắng. Nhạc cụ sử dụng trong Ca Huế phong phú hơn, tạo nên âm hưởng vừa dân dã, vừa tao nhã.

Khác hẳn hai loại hình trên, Nhã nhạc cung đình Huế là âm nhạc chính thống của triều đình phong kiến, dùng trong các nghi lễ quan trọng như tế lễ, đăng quang hay tiếp sứ thần. Nhã nhạc có quy chuẩn chặt chẽ, trang trọng, mang tính quyền uy và đã được UNESCO công nhận là “Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại”.

Nên lựa chọn thưởng lãm loại hình nghệ thuật nào khi đến Huế?

Khi đến Huế, Ca Huế là loại hình âm nhạc mà du khách nên trải nghiệm nhất, đặc biệt với những người lần đầu ghé thăm Cố đô. Ca Huế dễ tiếp cận, giàu cảm xúc và thường được biểu diễn trong không gian đặc trưng như thuyền rồng trên sông Hương vào buổi tối, tạo nên cảm giác vừa lãng mạn vừa sâu lắng. Qua những giai điệu chậm rãi, trữ tình, người nghe có thể cảm nhận rõ nét vẻ đẹp tinh tế, trầm mặc của văn hóa Huế. Bên cạnh đó, Nhã nhạc cung đình Huế cũng rất đáng trải nghiệm nếu du khách quan tâm đến lịch sử và văn hóa triều Nguyễn, bởi đây là loại hình âm nhạc mang tính nghi lễ, trang trọng, phản ánh đời sống cung đình xưa. Trong khi đó, Hò Huế gần gũi với sinh hoạt dân gian của người lao động, tuy mang giá trị văn hóa lớn nhưng không phải lúc nào du khách cũng dễ có cơ hội thưởng thức.

Thời điểm đẹp nhất để thưởng thức là khi màn đêm buông, cầu Trường Tiền lên đèn, những dải sáng soi xuống mặt nước và cả thành phố như thắp lên lớp áo lung linh. Để giữ một chỗ ngồi đẹp cho cả gia đình và bạn bè, bạn nên đặt trước dịch vụ thuyền rồng trên sông Hương. Đây là cách để thưởng thức trọn vẹn nét tinh hoa của Ca Huế ngân nga giữa không gian lãng mạn và đầy chiều sâu văn hóa.

 3.      Chuyên đề về ẩm thực:

 3.1 Độc đáo hương vị ẩm thực Huế

Ẩm thực Huế mang nét đặc trưng tiêu biểu cho sự đa dạng của một nền ẩm thực lúa nước, đa dạng về sản vật với hương vị tự nhiên hài hoà…

 Như chúng ta đã biết, ẩm thực mỗi vùng đều có nét đặc trưng riêng, tạo nên bản sắc riêng để người thưởng thức nhận biết. Văn hóa ẩm thực Huế là sự giao thoa văn hóa Việt - Chăm, cả những tác động của ẩm thực phương Bắc, phương Nam qua quá trình di dân của lịch sử.

Huế từng có mấy thế kỷ là trung tâm xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, đến thế kỷ XIX là đất kinh kỳ phồn hoa đô hội, với non một thế kỷ rưỡi làm kinh đô nước Việt, nơi quy tụ một vương triều với biết bao quan lại, nho sĩ. Ở đó, ngoài chốn vương phủ còn có các tầng lớp quý tộc và thượng lưu, trí thức đều tụ họp về đây. Điều đó đã đòi hỏi người Huế không chỉ giỏi chế biến các món ăn cực kỳ tinh tế chỉ dùng trong chốn vương phủ.

Người Huế tiếp thu, sáng tạo, làm nên nét đặc trưng rất riêng cho nền ẩm thực của mình. Những nét đặc trưng ấy biểu hiện rất rõ nét, khiến ẩm thực Huế không lẫn lộn với bất cứ ẩm thực của vùng miền nào.

 Ngày nay, tuy không còn giữ vai trò là một trung tâm kinh tế - chính trị lớn hàng đầu đất nước, nhưng Huế vẫn là nơi duy trì những bóng dáng xưa cũ của một triều đại với tất cả lối sống một thời vàng son. Và dĩ nhiên, trong những đặc trưng văn hóa lâu đời của Huế, cách ăn uống đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nét văn hóa và phong cách con người xứ Huế. Là một nền ẩm thực chan hoà giữa hai dòng ẩm thực chính là cung đình và dân dã, vì vậy ẩm thực Huế rất phong phú, tinh tế cầu kỳ, thanh tao ở cách chọn nguyên vật liệu, cách chế biến, cách ăn, nơi ăn, dụng cụ ăn uống…

Món ăn Huế trước hết có vị đậm đà và rõ ràng. Trải qua nhiều thế kỷ tích lũy những yếu tố nhân văn của cả nước, bếp ăn Huế chứa đựng đầy đủ khẩu vị của mọi miền, từ mặn, ngọt, béo, bùi đến chua, chát, đắng, cay. Người Huế thích tất cả các vị, nhưng vị nào ra vị ấy. Sự phong phú, đậm đà tạo nên hương vị đặc trưng trong món ăn Huế. Có lẽ do ở vùng đất xưa kia khi tổ tiên người Huế khai phá vùng đất mới đầy sơn lam chướng khí nên phải ăn như thế mới chống chọi lại được những khắc nghiệt của thiên nhiên?

Người Huế đã tiếp thu di sản của ông cha để lại qua những bí quyết lưu truyền nơi bếp lửa do mẹ dạy con, bà dạy cháu để biết nêm nếm món ăn mà câu hát trong dân gian xưa đã được sáng tác truyền khẩu đến hôm nay: “Con gà cục tác lá chanh - Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. Rồi người Huế lại không ngừng sáng tạo riêng cho mình thêm nhiều kinh nghiệm mới: “Canh bầu mùi thích lá hanh hao - Cho biết rau hành bỏ bí đao - Hầm mít lại ưa sân với lốt - Bí ngô thời phải tỏi gia vào”.

Ẩm thực Huế còn đậm màu sắc, đan xen mùi vị hấp dẫn. Đồ màu giữ chức năng hòa sắc trong món ăn Huế, tỉ mỉ nhưng chính xác, một thứ một ít nhưng lại ẩn chứa cả một sự công phu và kiên nhẫn. 

Ẩm thực Huế rất chú trọng về hình thức, thể hiện trong sự trang trí các món ăn. Món ăn có được trang trí đẹp mắt thì mới tăng thêm sự hấp dẫn cho người ăn. Chẳng hạn như các món gỏi vả hình rồng, nem công - chả phụng… đều được người nấu tỉa rau củ thành những tác phẩm nghệ thuật.

Ngoài ra, hình thức còn được chú trọng qua sự cầu kỳ trong chén bát, mỗi món ăn đều có một loại chén bát phù hợp. Chén bát phải đẹp mắt và sang trọng. Nếu ăn cơm hến, người ta bày ở tô đất. Khi ăn bánh bèo thì đổ từng chén đất nhỏ xíu, mỏng tanh. Riêng chè hạt sen, hạt sen bọc nhãn lồng, chè đậu ngự thì dọn vào chén sứ cao cấp.

Sự cầu kỳ còn thể hiện trong cách chọn nguyên liệu cẩn thận ở từng khâu chế biến, cho dù là món ăn dân dã hay quý phái. Ẩm thực Huế được chế biến theo quy luật âm dương cân bằng, hàn nhiệt điều hòa, chẳng hạn vịt, hến, ốc mát nên dùng gừng để điều hòa, thịt luộc ăn kèm với chuối chát, khế chua, vả…

Theo sách cũ có ghi thì Huế có 1.300 món ăn và hiện còn lưu truyền trong dân gian 700 món. Trong khi đó, theo nhà nghiên cứu Trần Đình Giản thì Việt Nam có tổng cộng khoảng 1.700 món ăn. Thế mới biết, ẩm thực Huế phong phú như thế nào.

Món ngon Huế không chỉ ăn bằng miệng, mà trước hết phải thích nhìn bằng mắt, mũi ngửi thấy thơm, cảm giác thấy thèm, tai nghe những âm thanh gây cuốn hút, tò mò, tức là ăn bằng ngũ quan. Sự hài hòa về màu sắc, hương vị, hài hòa về âm - dương, nóng - lạnh, hài hòa trong bố cục chén, đũa, bát, dĩa... hài hòa như tự nhiên, thiên nhiên, chính là văn hóa ẩm thực Huế.

Nhà văn Nguyễn Tuân lúc sinh thời từng nhận xét, người Huế thích ăn bằng mắt. Nhưng dù huy động toàn bộ giác quan cho việc hấp thụ dinh dưỡng, người Huế cũng chỉ cốt ăn lấy hương lấy hoa, như họ thường tự nói về mình. Sự thanh thản ấy có thể nhận biết trên những chiếc bánh bèo nhỏ xíu như chực tan ngay đầu lưỡi, những lá bánh nậm mỏng tanh cánh chuồn, tô bánh canh Nam Phổ bày biện như bức tranh nhiều màu sắc, chén chè bắp Cồn Hến mát lịm mà hương thơm theo vào tận giấc mơ… Những món ăn Huế dù là cao lương mỹ vị hay dân dã đơn sơ, đều làm cho ai đó một lần nếm qua phải xuýt xoa khen ngon đến mức “ngậm mà nghe”, để rồi lưu luyến mãi cái hương vị khó quên ấy. Dường như qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ, món ăn đã được thổi vào cái hồn và chút gì đó tâm linh của Huế.                        

3.2 Ẩm Thực Chay

Bánh bèo chay xứ Huế

Nhắc đến bánh bèo xứ Huế, ai ai cũng đều biết đến món ngon đặc sản của vùng đất Cố đô. Trải qua hàng trăm năm với xuất phát điểm từ Làng nghề truyền thống bánh bèo, nậm, lọc Đức Bưu, từ món ăn bình dân, qua sự sáng tạo của người Huế, bánh bèo cũng được biến tấu trở nên sang trọng nhưng không kém phần gần gũi, trong đó không thể kể đến món Bánh Bèo Chay xứ Huế.

Bánh bèo chay xứ Huế

Bánh bèo chay được làm từ nguyên liệu chính là: bánh bèo, nhân bánh bèo chay và nước mắm chay. Điểm khác biệt giữa bánh bèo chay và bánh bèo thường chính là ở nhân và nước chấm. Nếu như ở bánh bèo thường sẽ có nhân là tôm chấy ăn kèm với nước mắm pha ngọt, bánh bèo chay sẽ có nhân là đậu xanh, bánh mỳ, rong biển sấy khô... và nước chấm chay/ xì dầu. Tùy vào sự biến tấu của mỗi người đầu bếp/ nhà hàng mà nhân món chay có thể thay đổi với các nguyên liệu trên.

Đầu tiên, để làm nên chiếc bánh bèo dẻo, mềm và thơm ngon, gạo được chọn là loại gạo còn thơm hương lúa mới, đem vo sạch, ngâm nước trong nhiều giờ, sau đó đem xay thành bột mịn. Lúc này, với kinh nghiệm của mình, người thợ sẽ pha vào một ít nước lọc và bột năng để bột lỏng nhưng vẫn giữ được độ dẻo nhất định.

Sau khi đã chuẩn bị xong phần bột là đến công đoạn đổ bánh. Người thợ sẽ sắp những chiếc chén con vào vỉ hấp, chế bột vào từng chiếc chén và hấp chín. Để chiếc bánh không dính vào thành chén khi chín, người thợ thường thoa một lớp dầu lên thành chén trước khi đổ bột vào. Muốn bánh chín đều và có màu trắng sữa, trong quá trình hấp phải canh lửa thật lớn, nếu lửa nhỏ, nước không đủ độ sôi, bánh sẽ bị sượng, không chín hết bột.

Song song với khâu làm bột bánh là công đoạn làm nhân bánh. Để làm nhân bánh bèo chay, người đầu bếp sẽ tiến hành các công đoạn sơ chế và chế biến nguyên liệu, cụ thể: Luộc chín đậu sau đó đãi sạch vỏ và giã nhuyễn, sau đó xào với dầu điều cho tới khi đậu tơi ra (đây là nguyên liệu thay thế cho tôm chấy ở món bánh bèo thông thường); Bánh mì cắt hạt lựu, chiên qua cho vàng hoặc cho vào lò nướng nướng cho vàng giòn (nguyên liệu thay thế cho tóp mỡ chiên phồng); Hành boa rô cắt nhỏ, phi với dầu ăn (để tạo mùi thơm và làm mỡ hành).

Với nước chấm chay, người đầu bếp sẽ nấu nước mắm chay pha với nước lọc và đường theo tỷ lệ 1:1, sau đó để nguội và cắt lát ớt tươi vào để gia tăng gia vị cho chén nước mắm chay. 

Sau khi hấp bánh chín, thực hiện vớt bánh từ xửng hấp ra, để nguội và tiến hành trang trí với phần nhân đã được chế biến trước đó theo thứ tự: quết mỡ hành, rắc nhân đậu xanh, bánh mỳ chiên lên và rong biển sấy khô (nếu có) và tiến hành thưởng thức. Vị ngọt của bột bánh hòa trong vị béo, bùi của mỡ hành, bánh mỳ chiên, đậu xanh xào dầu điều... khiến thực khách cảm nhận hết sự thanh tao và kỳ công của người thợ đã để tâm trong từng miếng bánh. Trong một không gian chay tịnh, đặc biệt là vào dịp rằm hay mồng 1 âm lịch, thưởng thức những món chay đặc trưng xứ Huế để thấm thía "Huế, Đẹp và Thơ" như nhận định của nhà thơ Nam Trân (1907-1967): "Đất Huế và người Huế, dĩ nhiên là tất cả những điều đó, xinh đẹp, thơ mộng, và còn nhiều hơn thế. Với truyền thống ăn chay, Huế lại càng đẹp hơn và càng nên thơ trong lòng người". Với sức sáng tạo của mỗi người, bánh bèo chay xứ Huế có thể được bày biện với nhiều loại nhân rất bắt mắt 

Ngày nay khi đến với Huế, cùng với việc thăm thú cảnh vật nên thơ, trữ tình nơi đây; những đền đài, lăng tẩm, chùa chiền còn giữ được những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần độc đáo, trải nghiệm ẩm thực Cố đô, nhất là ẩm thực chay là một hoạt động không nên bỏ lỡ. 

Bún chay xứ Huế

Loanh quanh thăm Huế vào những ngày rằm, mồng một âm lịch, khách không khỏi ngạc nhiên và thích thú trước cảnh những quán bún “mặn” bình thường bỗng chốc hóa thành quán bún chay hấp dẫn, độc đáo.

Giới thiệu:

Loanh quanh thăm Huế vào những ngày rằm, mồng một âm lịch, khách không khỏi ngạc nhiên và thích thú trước cảnh những quán bún “mặn” bình thường bỗng chốc hóa thành quán bún chay hấp dẫn, độc đáo.

Trong một tô bún chay bình dị và dân dã xứ Huế hội tụ không dưới mười loại nguyên liệu nhưng đều là những thực phẩm tự nhiên, bổ dưỡng, tuyệt đối không dùng nguyên liệu chay bán sẵn như các nơi khác. Cách nấu bún chay khá đơn giản nhưng để có nồi bún chay ngọt thơm, đậm đà thì không dễ, phải khéo léo từ khâu chuẩn bị nguyên liệu đến nêm nếm.

Nét đặc trưng:

Các o, các mệ bán Bún Chay ở Huế thường nói đùa rằng “Bún Chay không có chi trong nớ hết, thích nấu chi nấu”, nhưng thực ra, để nấu được một nồi bún chay Huế có không dưới 10 loại nguyên liệu. Đây đều là những loại rau củ tươi, xanh được lựa chọn kĩ càng. Đặc biệt, không dùng các loại nguyên liệu bán sẵn, làm cho món ăn không đạt được độ ngọt cần thiết. 

Trong bát bún chay, dù biến tấu cỡ nào cũng không thể thiếu đậu hũ. Đậu hũ được cắt thành từng khuôn nhỏ, chiên với dầu thật nóng, cho đến khi vàng, vớt ra, để ráo dầu. Nấm đông cô, nấm hương ngâm trong nước ấm khoảng 30 phút, cắt miếng nhỏ. Mì căn thái thành miếng vừa ăn, ướp đường, nước tương, bột nêm chay xong để khoảng một giờ cho thấm. Đun nóng chảo với dầu, cho boa-rô vào trước, sau đó cho tất cả mì căn, đậu hũ, nấm đông cô hay nấm hương vào sau, nêm gia vị và xào đều cho thấm.

Măng khô đã ngâm nước ấm, xả sạch, rồi luộc độ 20 phút vớt ra rửa lại bằng nước lạnh, rồi đem luộc như thế lần thứ hai cho đến khi mềm, vắt khô nước, chỉ chọn những phần non cắt thành miếng ướp với gia vị.

Xong phần sơ chế, chuyển qua việc nấu nước dùng. Trước khi nấu, phi một chút dầu với boa rô và củ kiệu để tạo hương thơm. Sau đó cho nước nồi vào đun sôi. Nước sôi thì cho sả đã đập dập cùng với cà rốt, khoai lang, bắp cải, đậu tây, bí đỏ vào nấu chín. Tiếp theo cho đậu khuôn, thơm, hỗn hợp nấm, măng, phù chúc vào. Cuối cùng nêm nếm vừa ăn và rắc lá boa rô lên trên. Bí quyết để món bún chay ngọt thanh tự nhiên là cho thêm một miếng nhỏ đường phèn.

Ăn kèm bún chay không thể thiếu xì dầu, chao và rau sống. Nước dùng được chiết xuất từ vị ngọt của các loại thực phẩm là những loại cây trái đem lại hương vị tinh tế và đặc sắc cho món bún chay.

Giá trị của Di sản ẩm thực:

Điểm qua một số loại nguyên liệu rau củ thường được dùng để nấu Bún Chay Huế như: Đậu phụ, Khoai lang, Bắp cải, Mộc nhĩ, Nấm rơm hoặc Nấm tuyết, Măng chua, Phù chúc, Thơm (dứa), Cà rốt, Bí đỏ, Sả, Đậu ngự… Chính vì vậy, khi chế biến ra thành phẩm thì thực khách sẽ được mãn nhãn với tô bún đầy đủ sắc màu: màu xanh của rau sống; màu đỏ của ớt, cà rốt; màu đen của mộc nhĩ; màu vàng của khuôn đậu, đậu phộng rang, mè rang và màu trắng của mít non luộc, bánh tráng, miến… tạo nên sự hấp dẫn không thể chối từ.

Một tô Bún Chay hội tụ đủ 5 vị mặn – ngọt – béo – bùi – chua thanh, tượng trưng cho ngũ hành như những món ăn thường thấy của người dân Cố đô, càng chứng minh tài hoa nấu nướng của người Huế xưa và nay.

Đa số phụ nữ Huế đều biết nấu Bún Chay. Không chỉ nấu trong những ngày ăn chay mà đây còn là món ăn thanh mát, nhưng vẫn đảm bảo lượng đạm, dinh dưỡng; mang lại cảm giác nhẹ bụng, đổi khẩu vị cho bữa ăn gia đình, không nhàm chán. 

Chè lục tàu xá

Lục tàu xá là món ăn vặt nổi tiếng của Huế trong những thập niên 50, 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Trong ký ức những người Huế xưa còn lại vẫn không quên hương vị của món này nếu một lần đã thưởng thức.

Giới thiệu:

Lục tàu xá là món ăn vặt nổi tiếng của Huế trong những thập niên 50, 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Trong ký ức những người Huế xưa còn lại vẫn không quên hương vị của món này nếu một lần đã thưởng thức.

Tàu xá là tên gọi theo tiếng Quảng Đông (Trung Quốc) vì đây là món ăn đã theo chân các Hoa kiều và người Minh Hương du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ trước. Nguyên gốc tên gọi đầy đủ của nó là " lục tàu xá" (lục đậu sa) nghĩa là đậu xanh nát nhuyễn. Chính tên gọi cũng thể hiện một phần nguyên liệu chính làm nên món chè này, bao gồm đậu xanh, bột báng, trần bì (vỏ quýt khô) và đường cát.

Nguyên liệu làm món chè lục tàu xá cho 3-4 người ăn:

- Đậu xanh chà vỏ 150gr

- Hạt sen đã làm sạch 100gr

- Bột báng 50gr

- Táo tàu 50gr rửa sạch

- Vỏ quýt khô ( trần bì ) 1 ít, rửa bằng nước nóng, xắt sợi nhuyễn

- Đường

- 1 chút muối

- Cùi dừa (có thể có hoặc không)

Cách làm:

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu 

– Cho hạt sen cùng với đậu xanh đem rửa sạch

– Quýt bóc lấy vỏ, đem thái thành sợi nhỏ

- Bột báng  ngâm mềm, trụng sơ, rửa lại bằng nước cho khỏi dính chùm

– Cùi dừa nạo thành sợi, bỏ vào bát, đổ nước nóng vào vắt lấy nước cốt dừa.

Bước 2: Các bước thực hiện

– Đầu tiên, cho đậu xanh và hạt sen vào nồi, đổ nước dừa vào và ninh cho đậu và hạt sen chín nhừ.

– Ninh khoảng 20 phút khi đậu và hạt sen nhừ, cho đường và một chút muối vào khuấy đều.

- Bỏ chung táo tàu vào nấu giây lát cho mềm. Cho bột báng vào.

– Khi món chè đã ở dạng sệt, bạn cho vỏ quýt vào khuấy đều.

– Múc chè ra bát, chan thêm nước cốt dừa lên trên là xong.

Nét đặc trưng:

Cứ mỗi dịp đông về, khi những cơn mưa rả rích, kéo dài lê thê hết ngày này sang ngày khác, người ta lại nhớ đến món chè lục tàu xá, vì đây là món chè ngon nhất khi thưởng thức nóng. 

Chè có vị ngọt sắc mà ít loại chè nào có được. Cái ngọt của đường cát hòa quyện trong vị béo bùi của đậu xanh, bột báng và vị the của vỏ quýt. Lục tàu xá có tác dụng thanh nhiệt, rất tốt cho sức khỏe.

Giá trị của Di sản ẩm thực:

Chè lục tàu xá không chỉ là món ăn ngon mà còn có tác dụng như một " bài thuốc bổ" , bởi bản thân các nhiên liệu dùng để nấu chè này đều có mang vị thuốc. Đậu xanh: tính mát, giải độc, giải nhiệt, cảm sốt và có tác dụng trừ ô cấu (trừ chất bẩn trong cơ thể); trần bì: có vị đắng the, giúp tiêu thực, thanh đờm, thanh phế quản. Đó chính là nét độc đáo của món ăn này.

Với cách làm rất đơn giản như trên, bạn rất dễ dàng để thực hiện món chè đặc biệt này. Còn gì tuyệt hơn khi gió đông se lạnh, ngồi thưởng thức món chè lục tàu xá thơm ngon, nóng ấm, nghe vị ngọt bùi của đậu xanh và hạt sen chín nhừ quyện với mùi thơm của vỏ quýt, thêm chút béo ngậy của nước cốt dừa. Còn chờ gi nữa mà không bắt đầu vào thực hiện và trổ tài nội trợ của bạn đi nào. 

Cơm chay xứ Huế

Cơm chay xứ Huế là món ăn truyền thống từ bình dân đến quý tộc Huế đều ưa thích. Ai đó đã từng nói, ở Huế núi không cao, sông không sâu nhưng lòng người thì tĩnh lặng bởi họ biết cách tu, biết ăn chay cho tâm hồn thanh tịnh.

Giới thiệu:

“Tình thương trải rộng đất trời

Sống bằng chay tịnh hóa đời thanh cao”

Ăn chay trong quan niệm của Phật giáo là để nuôi dưỡng pháp thiện, tăng trưởng căn lành và phát triển tình thương rộng lớn đối với mọi người và mọi loài. Trong mọi giá trị giữa cuộc đời, thì sự sống là cái có giá trị nhất và cần được trân trọng nhất. Vì thế, cơm chay xứ Huế là một món ăn biểu hiện lòng tôn quý và trân trọng sự sống. Khoa học cũng chứng minh, nhờ ăn chay mà con người khỏe mạnh và sống lâu, không bệnh tật.

Đến du lịch Huế, du khách có thể thưởng thức cơm chay ngon bởi lẽ đây là thủ phủ của Phật giáo, nơi có nhiều chùa chiền và các tăng ni, lượng lớn tín đồ theo đạo Phật ăn chay trường hoặc chay kỳ (một tháng mấy ngày) tùy theo mức độ thọ giới của họ. Nhiều chùa xưa ở Huế là do quý tộc lập ra như Từ Hiếu, Hồng Ân… nên việc nấu món ăn chay ngon xuất phát từ chùa, dần dần truyền ra ngoài dân dã.

Các gia đình Phật tử ở Huế thường mời bạn bè ăn một bữa cơm chay để thể hiện lòng quý mến và trân trọng. Làm một bữa tiệc chay rất khó, thế nên những người nội trợ Huế coi đó là cơ hội để họ trình diễn tài khéo léo của mình. Cái tài của các o, các mệ ở đây là chỉ bằng thảo mộc của thiên nhiên, như phù chúc, đậu phụ, đậu xanh, bánh tráng, nấm… mà vẫn làm nên “giò lụa”, “chả quế”, “thịt gà”, “nem”… Nếu ai không sành, mới chỉ nhìn qua dễ nhầm tưởng là một bữa tiệc mặn có đầy đủ các món ăn ngon của Huế. Cái lạ, cái hay và cái ngon ở đây không chỉ dừng lại ở tài nấu nướng mà còn là sự sáng tạo, tài phô diễn về hình thức có thể “đánh lừa” người ăn bằng việc “mặn hóa” các món chay.

Nét đặc trưng:

Đối với các gia đình Phật tử ăn chay kỳ, những bữa ăn chay thường đơn giản, chỉ xào nấu đậu phụ và các loại rau, có khi chỉ là đĩa rau muống luộc với tương, chao. Những ngày kỵ (giỗ) người ta mới bày vẽ ra nhiều món ngon và đẹp, như nem chả, thịt kho tàu, thịt gà bóp… bằng đồ chay.

Riêng món chả, đã có thể làm bằng nhiều thứ khác nhau, ngon nhất là làm bằng phù chúc. Phù chúc lúc nào cũng sẵn ở chợ Đông Ba, mua về ngâm cho mềm rồi thêm các gia vị như củ kiệu, xì dầu, tiêu muối, đường, sau đó lấy lá chuối bó lại, đem hấp trên nước sôi cho chín. Khi dọn cắt thành từng miếng giống y như chả thật. Các o, các mệ cũng hay làm chả bằng chuối mật gần chín, đem nấu lên rồi lột vỏ, xắt lát, bỏ vào cối giã nhuyễn; nêm củ kiệu giã nhỏ, xì dầu, tiêu muối, đường, thính (bánh tráng mỏng nướng vàng tán nhỏ làm thính) và bí đao xắt hạt lựu luộc chín, vẩy cho khô nước, trộn vào với chuối cho đều. Tất cả được bó vào lá chuối hơ mềm cuốn tròn lại, buột lạt chặt, đem hấp độ 15 phút. Người ta còn làm loại chả quế bằng đậu khuôn hấp, bên trên phết một lớp phẩm màu nâu sẫm, rồi cắt miếng hình thoi dọn lên, rất giống miếng chả quế mặn.

Có nhiều món ăn chay ngon, nhìn tưởng như món mặn mà bạn khó có thể nhận ra món đó được làm bằng thứ gì, ví như món sườn heo ram chay. Thật ra đó chỉ là khoai lang gọt vỏ, cắt từng thỏi bằng ngón tay, bỏ vào quánh dầu đang sôi, rán vàng. Đậu xanh ngâm nước lạnh vài giờ rồi đãi sạch vỏ, để ráo nước, đem giã nhỏ rồi nêm xì dầu, đường, tiêu và muối trộn đều. Tiếp đó, lấy đậu giã trải ra thớt, sắp vài miếng khoai rán lên trên, cách đều nhau từng quãng như cái sườn heo. Để một lớp đậu nữa lên trên, lấy tay ấn cho chặt để đậu và khoai dính liền nhau. Đổ dầu vào chảo nóng, bỏ “sườn” vào rán vàng. Sau đó thì bỏ ra đĩa, điểm thêm vài miếng xà lách, cà chua cho đẹp.

Hay món ram (chả giò) chay được làm bằng đậu xanh chà sạch, giã nhỏ và nêm nếm xì dầu, tiêu, muối, đường, thêm bún tàu luộc mềm cắt ngắn, nấm mèo ngâm mềm, rửa sạch, thái nhỏ rồi trộn với đậu cho đều. Bánh tráng mỏng cắt miếng vuông, nhúng nước vẩy cho ráo, nhúng miếng nào làm miếng ấy. Thay vì gói bằng thịt, trứng gà và các thứ khác thì ở đây bỏ đậu đã trộn với các gia vị nói trên gói lại, cho vào chảo dầu đang sôi, rán vàng. Một bữa tiệc ăn mặn có bao nhiêu món thì với tiệc chay cũng có bấy nhiêu món, bày biện đẹp đẽ, màu sắc hài hòa, nghệ thuật không kém cách trình bày món mặn.

Người ta vô cùng kinh ngạc về hình thức “mặn hóa” món ăn chay của người nội trợ Huế. Bằng bất cứ loại thực phẩm chay nào, họ cũng chế được món ăn giống hệt món mặn. Món chay được mặn hóa là để cho những người không thích ăn chay, không theo đạo Phật

Hướng dẫn trải nghiệm:

Khách đến Huế, nếu thích được thưởng thức một bữa cơm chay thì có thể đến chùa, chùa nào cũng được nhưng tốt hơn cả là chùa Từ Đàm, vì ở ngay trong thành phố – trên đường Điện Biên Phủ.

Nếu không các bạn có thể đến:

- Cơm chay Liên Hoa Huế - Địa chỉ: 3 Lê Quý Đôn, Phú Nhuận, TP. Huế

- Quán chay An Nhiên Huế - Địa chỉ: Đường tỉnh 10, Phú Thượng, TP. Huế

- Nhà hàng chay Sân Mây - Địa chỉ: 8 Thanh Tịnh, Vỹ Dạ, TP. Huế

- Cơm chay Hàn Thuyên Huế - Địa chỉ: 3-4 Hàn Thuyên, Thuận Thành, TP. Huế

- Quán chay Thiên Phú - Địa chỉ: 58 Nguyễn Công Trứ, TP. Huế

- Cơm chay Thanh Liễu Huế - Địa chỉ: 50 Nguyễn Công Trứ, TP. Huế

- Quán lẩu/cơm chay Huế Diệu Lạc - Địa chỉ: 1 Hàn Mặc Tử, Vỹ Dạ, TP. Huế

- Cơm chay Huế Tâm Thiện - Địa chỉ: 1/K19 Nguyễn Thái Học, Phú Hội, TP. Huế

 

3.3 Ẩm thực cung đình

 Chè bột lọc heo quay

Chè là một món ăn quen thuộc của người Việt, xuất hiện ở khắp ba miền đất nước. Tại mỗi vùng, chè được biến tấu theo nhiều cách khác nhau, đa dạng từ nguyên liệu đến hương vị. Huế còn được xem là một trong những "trung tâm" của các loại chè độc đáo. Thậm chí, có những món chè độc lạ, mà thực khách chỉ có thể trải nghiệm tại vùng cố đô. Một trong những món ấy là chè heo quay.

Chè là một trong những điểm nhấn của ẩm thực Huế. Du khách khi đến đây có thể thưởng thức đa dạng loại chè như chè đậu, chè hạt sen, chè bắp và đặc biệt là chè heo quay - một món ăn độc đáo khiến ai nghe đều tò mò muốn thử. 

1.  Chè bột lọc heo quay – món ngon kỳ lạ xứ Huế

Chè thịt quay bột lọc là 1 trong những loại chè nổi tiếng ở xứ Huế. Nguyên liệu bao gồm thịt heo quay, bột năng, mộc nhĩ, hành tím, nấm hương, các loại gia vị. Hành tím đập dập thái nhỏ. Mộc nhĩ, nấm hương rửa sạch, thái hạt lựu. Bột năng hòa với nước, cho chút muối rồi ủ 30 phút. Cho dầu vào chảo, phi thơm hành tím, trút thịt heo quay thái hạt lựu vào xào săn cùng nấm hương và mộc nhĩ. Bắc ra để nguội, sau đó đặt nhân vào giữa bột và nặn thành từng viên tròn. Nấu từng viên chè trong nước đường. 

Chè heo quay là một sự kết hợp hoàn hảo giữa hương vị ngọt ngào và hương vị mặn mà thường không ai tưởng tượng được. Điều này có thể khiến nhiều người cảm thấy thú vị và bất ngờ. Món ăn này đã trở thành một biểu tượng ẩm thực Huế trong nhiều năm qua. Thậm chí, chè heo quay còn được xem như một phần quý báu của danh sách các món chè cung đình, thường được nấu riêng cho vua thưởng thức trước khi trở thành một phần của bữa ăn phổ biến.

Chè heo quay - sự kết hợp độc đáo giữa hương vị ngọt ngào và mặn mà khiến thức khách cảm thấy bất ngờ. Món ăn này đã ghi dấu ấn trong ẩm thực Huế suốt nhiều thập kỷ. Chẳng những thế, chè heo quay còn là biểu tượng quý báu trong danh sách chè Cung đình, thường dành riêng cho vị vua thưởng thức trước khi trở thành một phần của bữa ăn hàng ngày.

Người Huế luôn có thói quen ăn uống vô cùng tinh tế, khiến cho mọi món ăn không phải là sự kết hợp ngẫu nhiên mà đều ẩn chứa trong đó triết lý về âm dương và ngũ hành. Chẳng hạn, món chè heo quay cũng theo truyền thống này. Mặc dù tên gọi có vẻ lạ lẫm, nhưng khi thưởng thức, bạn sẽ cảm nhận được sự hòa quyện đầy tinh tế của các thành phần, tạo nên một hương vị độc đáo, đủ để làm phấn chấn cả những thực khách khó tính nhất.

Trước đây, món chè heo quay thường chỉ xuất hiện trong những dịp quan trọng như giỗ và các bữa tiệc của người dân địa phương. Tuy nhiên, theo thời gian, chè heo quay đã trở nên phổ biến hơn và nổi tiếng như một món ngon không thể bỏ lỡ khi du lịch đến xứ Huế.

Mỗi ly chè heo quay ở Huế có giá cũng bình dân, chỉ từ 20.000 đồng, với 4 - 5 viên bột lọc to bự trong chén. Có lẽ bạn sẽ tự nghĩ sao số lượng bột lọc không quá nhiều, nhưng đây là đủ để thực khách cảm nhận hương vị độc đáo của món ăn này đồng thời không bị ngán. Tuy nhiên nếu bạn muốn, bạn cũng có thể bỏ thêm một ít tiền nữa để gọi thêm viên bột lọc vào ly chè của mình, có cơ hội thưởng thức cốc chè đặc biệt này nhiều hơn.

2. Cách chế biến món chè heo quay chuẩn Cung đình Huế

Nhìn bên ngoài, chè heo quay có vẻ tương tự chè trôi nước, nhưng hương vị hoàn toàn khác biệt. Thành phần chính của nó bao gồm thịt heo quay, nấm mèo (mộc nhĩ), và bột lọc. Phần vỏ của chè được làm từ bột lọc hòa với nước và đun lửa nhẹ cho đến khi tạo thành một khối. Sau đó, khối bột này được chia thành từng viên nhỏ, tuân theo cách làm bánh bột lọc Huế. Tuy nhiên, khác với bánh bột lọc truyền thống, nhân thịt heo quay được đặt lên trên mặt của phần vỏ bánh, sau đó, viên bánh được vuốt tròn.

Để thịt trong chè thơm ngon, không bị tanh và không gây cảm giác ngấy, thịt heo quay được nấu chín trước. Thịt sau khi quay sẽ được thái nhỏ thành từng viên hình hạt lựu. Sau đó, thêm vào một phần muối, đường, và một chút nước gừng, trộn đều hỗn hợp trên bếp nhỏ lửa. Khi mọi gia vị đã thấm đều vào thịt và hỗn hợp trở nên khô, chúng ta múc ra khỏi bếp, để nguội để thịt tiếp tục thẩm thấu hương vị đặc trưng của nó.

Phần nhân thịt, sau khi đã chế biến xong, được đặt ở giữa một mảng bột mỏng, sau đó bọc kín chúng để tạo thành những viên nhỏ hình tròn. Việc này cần phải thực hiện cẩn thận để đảm bảo không có phần nhân thịt nào bị hở ra, đồng thời đảm bảo rằng lớp bột xung quanh không quá mỏng để tránh bị vỡ nứt khi luộc. 

Cuối cùng, đến phần sên nước đường. Đầu tiên, đường phèn sẽ được đun trên lửa nhỏ. Khi thấy đường bắt đầu tan chảy và biến thành màu vàng thì đổ thêm một ít nước lọc vào nồi.

Khi nước bắt đầu sôi, ta sẽ nhẹ nhàng thả từng viên bột lọc vào nồi. Hãy đợi vài phút cho đến khi viên bột trở thành màu trong và nổi lên trên bề mặt nước. Khi đó, hãy sử dụng một đòn lọc để vớt những viên bột đã chín ra khỏi nước đường.

Để làm cho hương vị thêm phong phú, ta có thể thêm một ít gừng và lá nếp (lá dứa) vào nước đường. Điều này sẽ tạo thêm lớp hương thơm ngon độc đáo cho nước đường của chè heo quay.

Lấy viên bột lọc và đặt chúng vào một bát hoặc cốc, sau đó chan đều nước đường lên và thêm một lớp mè rang phủ lên trên, ta đã có món chè heo quay độc đáo. Vị hòa quyện giữa hương vị mặn mà của thịt quay được nêm gia vị hấp dẫn và sự dai dẻo của viên bột lọc, cùng với vị ngọt ngào của nước đường, khiến bất kỳ thực khách nào cũng sẽ khó lòng quên món chè heo quay này sau khi thử một lần.

 3. Gợi ý một số quán chè heo quay ngon nức tiếng ở Huế

- Quán chè Mợ Tôn Đích: 20 Đinh Tiên Hoàng, Phú Hoà, Thành phố Huế

- Chè Hẻm: 1 kiệt, 29 Hùng Vương, Phú Hội, Thành phố Huế

- Chè Huế 20 món - Ngọc Hiền: 67 Trần Hưng Đạo, Phú Hoà, Thành phố Huế

Đối với những người lần đầu thưởng thức chè heo quay, việc đón nhận hương vị mới lạ thật sự không hề dễ dàng. Tuy nhiên, sau khi đã thử qua và phát hiện ra sự độc đáo của hương vị món chè “có một không hai” này, Khamphahue.com.vn tin rằng thực khách sẽ không thể không say mê với món ngon đặc biệt của vùng đất Cố đô.

 

Chè cá rô đồng

Quê hương của món chè đặc biệt này là Gò Công (Tiền Giang ngày nay) nhưng đã được nâng lên thành y thực dưới triều nhà Nguyễn và được hoàn thiện dưới triều vua Minh Mạng.

Giới thiệu:

Trong "thế giới ẩm thực" Chè Huế, Chè cá rô đồng là một món chè Cung đình rất hiếm khi được nhắc đến và gần như thất truyền. Món chè mặn hơn 200 năm tuổi được nghệ nhân ẩm thực Trần Thanh Quang, là đệ tử của Mệ Ưng Viên (hậu duệ Hoàng đế Minh Mạng) tái hiện lại cho vài vị khách thân quen vào các dịp đặc biệt.

Vị chè ngọt thanh có hậu vị chua dịu thoang thoảng mùi tương. Dù đa phần nguyên liệu nấu chè đều thuộc nhóm đạm động vật như thịt má đầu heo cỏ, thịt nạc cá rô đồng, trứng gà ta…. Những dược liệu chính dùng để nấu như: nước cốt trà ngon, tương đậu mèo, một số gia vị bí truyền đã khử hoàn toàn vị tanh. Thịt má đầu heo cỏ nuôi thả rong được xắt hạt lựu giòn giòn béo béo, miếng lòng đỏ trứng gà ta bùi bùi ngậy ngậy. Chất đạm cá rô hòa quyện vào nước bột củ bình tinh (huỳnh tinh- Bắc gọi là dong trắng) sánh vàng. Tất cả tổng hoà trong nước mía ép thủ công, ngan ngát lan tỏa mùi thơm của tinh dầu bạc hà.

Quê hương của món chè đặc biệt này là Gò Công (Tiền Giang ngày nay) nhưng đã được nâng lên thành y thực dưới triều nhà Nguyễn và được hoàn thiện dưới triều vua Minh Mạng.

Lịch sử hình thành:

Tương truyền, khi xưa chúa Nguyễn Ánh trong thời gian bôn tẩu, để tránh khỏi sự truy sát của nhà Tây Sơn đã đến Gò Công. May thay gặp một cụ bà tốt bụng cưu mang. Bà đã nấu một nồi chè cá rô ăn cho chúa Nguyễn “mau lợi sức”. Nguyên liệu chính chè cá rô “nếm mật nằm gai” lúc đó, gồm cá rô đồng, bột bình tinh và đường mía. Khắc ghi ơn nghĩa những ngày gian khó, món chè này về sau được vị vua đầu triều Nguyễn giao cho Thái Y viện tìm hiểu, nghiên cứu, phối liệu nâng lên thành món ăn đưa vào quốc yến.

Nét đặc trưng:

Nguyên liệu chính nấu chè đều thuộc nhóm đạm động vật (thịt nạc cá rô đồng, trứng gà ta, thịt má đầu heo cỏ) nhưng không có chút mùi tanh. Vì trong chén chè đã có những tá dược để khử mùi tanh và cũng là những thực phẩm giúp cải thiện sức khỏe cơ thể người ăn như: tương đậu mèo, nước cốt trà ngo.

Đáng nhớ nhất là vị beo béo và độ giòn giòn của từng hạt lựu má đầu. Với hương vị từ miếng lòng đỏ trứng gà ta có chút bùi bùi mượt mà khó cưỡng. Cảm giác ngây ngất của chất đạm cá rô quyện vào nước bột bình tinh sánh vàng. Chén chè có chút mùi thơm của tinh dầu bạc hà lan tỏa, do được ngâm với nước mía sên.

Mỗi muỗng chè đều toát lên hương vị thanh tao, tựa như mùi mứt gừng hay mứt bí được làm ở xứ Huế. Vị chè ngọt thanh đậm, một lúc sau thì chua dịu. 

Giá trị của Di sản ẩm thực:

Chè cá rô có rất nhiều dinh dưỡng nên ăn vài muỗng đã có cảm giác đủ no. Chè cá rô này ăn vào nội quan hoạt động điều hoà, mạch máu lưu thông tốt, nhất là tim, thận và não. Có thể nói, đây là món cung đình chè độc đáo và rất Huế nhưng không dễ có cơ hội để được thưởng thức. 

·         Ẩm thực dân gian 

Chè Huế

Chè Huế, với hương vị độc đáo và tinh tế, không chỉ là một nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực Huế mà còn là điểm đến không thể bỏ qua khi du lịch đến thành phố Huế xinh đẹp, mộng mơ.

Chè Huế - Nét văn hóa ẩm thực Cố Đô

Chè Huế không chỉ là một món ăn vặt mà còn là biểu tượng của văn hóa ẩm thực tinh tế của Cố Đô. Xuất phát từ các bữa ngự thiện của vua triều Nguyễn, chè Huế ban đầu là một món tráng miệng được ưa chuộng chốn Cung Đình. Sau thời kỳ phong kiến, chè Huế đã trở thành một phần của dân gian, được kế thừa và phát triển trong cộng đồng, vẫn giữ được vẻ đẹp của văn hóa cổ xưa. Chè Huế đã trở thành một món ăn phổ biến và được yêu thích, có mặt ở mọi nơi, từ các mặt đường lớn đến những con hẻm nhỏ và thậm chí là những chiếc xe đẩy hàng đơn giản.

Với người dân Huế, chè không chỉ là một món ăn hàng ngày mà còn là một phần quan trọng của cuộc sống, mang theo đó ý nghĩa tinh thần và không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực của địa phương này.

Các loại chè Huế ngon bạn nên thử qua 

Tại Huế, có đến hàng chục loại chè, từ những loại sang trọng ở các đài ăn hỏi cho đến những loại bình dân. Mỗi loại chè đều mang đến một hương vị đặc sắc và riêng biệt.

Nếu theo trạng thái, chè Huế thường được chia thành hai loại chính: chè nước và chè đặc. Chè nước là những loại chè giữ nước, không sử dụng thêm bột trong quá trình nấu, như chè đậu xanh hột hay chè đậu ngự. Ngược lại, chè đặc có thêm bột, tạo nên độ dẻo và sánh đặc trưng.

Với bàn tay khéo léo và sự tinh tế trong ẩm thực, người Huế đã sáng tạo ra nhiều loại chè vừa lạ mắt, ngon miệng, đồng thời vẫn đảm bảo giá trị dinh dưỡng.Dưới đây là danh sách các loại chè Huế ngon mà bạn đọc nên thử qua. 

Chè Hạt Sen

Chè Hạt Sen Huế, một loại chè thanh cao, chế biến từ hạt sen hồ Tịnh Tâm, thường được hấp chín và nấu chung với nước đường cát trắng hoặc đường phèn. Sự kỳ công trong cách nấu chè này đòi hỏi người nấu phải túc trực canh chừng, điều chỉnh lửa cháy vừa phải, khuấy nhẹ nhàng để hạt sen giữ được độ ngon và thơm mỡ tự nhiên. Chè hạt sen long nhãn là phiên bản nâng cấp, kết hợp hạt sen và long nhãn, tạo nên một món chè bổ dưỡng và được ưa chuộng.

Chè Khoai Tía

Chè Khoai Tía Huế sử dụng khoai tía tự nhiên có màu tím, nấu chung với nước dừa đến khi sánh, thêm đường sao cho vừa, giữ được hương thơm của nước dừa và có vị thơm ngon thanh mát.

Chè Bột Lọc

Chè Bột Lọc Huế có hình viên tròn nhỏ, làm từ bột năng với nhân nho bên trong. Những viên bột lọc có sự kết hợp hài hòa giữa màu trắng tự nhiên của bột và màu của lá nếp, khiến cho bát chè trở nên bắt mắt. Thưởng thức chè bột lọc với nước đường và gừng sẽ mang lại trải nghiệm ấm áp, không bao giờ lạnh.

Chè Bắp

Chè Bắp là món đặc trưng của người Huế, sử dụng bắp non mới hái và được nạo tơi nhỏ, kết hợp với bột lọc và đường trắng. Món ăn này mang đến hương vị dân dã và thơm ngon của bắp.

Chè Sương Sa Hạt Lựu

Chè Sương Sa Hạt Lựu được chế biến một cách tỉ mỉ, nguyên liệu chủ yếu là hạt lựu và sương sa, tạo nên một hương vị thanh mát và độ giòn của hạt lựu. Sự kết hợp với nước cốt dừa và đậu xanh nghiền nhuyễn làm cho món chè này trở thành lựa chọn ưa thích của nhiều du khách.

Chè Chuối

Chè Chuối Huế kết hợp chuối sứ chín vàng với mật ong, tạo ra một món chè đẹp mắt và thơm ngon. Chuối sứ được tẩm mật ong, nướng trên nền than hoa, sau đó cắt thành những miếng nhỏ dải trên cốt dừa, kết hợp với hạt trân châu tạo nên hương vị thanh mát, phù hợp cho ngày hè nóng bức.

Chè Hoa Cau

Chè Hoa Cau mang hương vị thanh mát và thường dùng trong lễ, Tết để thờ cúng ông bà, tổ tiên. Loại đậu dùng để nấu chè phải có hạt nhỏ, vàng và thơm, bát chè phải có độ sánh mịn vừa phải, không bị vón cục.

Chè Bột Lọc Heo Quay

Chè Bột Lọc Heo Quay được xem là một món chè Huế độc đáo, kết hợp giữa đậu xanh và miếng thịt heo quay bọc bên ngoài lớp bột nếp. Cách chế biến khá phức tạp, tạo nên hương vị đặc trưng với vị ngọt

Chè Đậu Ngự

Chè Đậu Ngự Huế là một đặc sản của vùng miền, được dùng để cúng lễ trong cung đình thời xưa. Sử dụng đậu ngự tươi mới, vỏ màu xanh, chế biến chè bằng cách nấu chung với đường phèn và đường cát. Khi chín, hạt đậu trở nên mềm mại, trắng, mang lại cảm giác giải nhiệt tuyệt vời.

Chè Lục Tàu Xá

Chè Lục Tàu Xá, một món chè nổi tiếng của Huế, có nguồn gốc từ Trung Quốc vào những thập niên 50, 60. Nguyên liệu chính của món chè này bao gồm đậu xanh, bột báng, trần bì và đường cát. Chè Lục Tàu Xá không chỉ là một món giải khát mà còn được coi là một bài thuốc bổ. Đậu xanh mang lại cảm giác mát mẻ, giải cảm, giải nhiệt, trong khi trần bì có vị đắng giúp thanh lọc đường hô hấp. Thưởng thức món chè này trong những ngày mưa của Huế là một trải nghiệm tuyệt vời không thể quên.

Chè Kê

Chè Kê, một món chè dân dã đậm chất quê hương, sử dụng hạt kê giàu dinh dưỡng đã trở thành lựa chọn yêu thích của nhiều người. Lớp chè sánh mịn kết hợp với vị ngọt của đậu xanh, hương thơm của kê, và bánh đa tạo nên một hương vị ngon tuyệt.

Chè Trôi Nước

Chè Trôi Nước gây ấn tượng bởi hình dáng những viên bột tròn đều, nước đường mịn màng. Khi ăn miếng chè trôi nước, bạn có thể cảm nhận được độ dẻo của lớp bột nếp, hương thơm của vừng, và vị mặn ngọt của nhân bên trong. Món chè này đem lại trải nghiệm ngon miệng và thư giãn.

Đến Huế, hãy tận hưởng không chỉ vẻ đẹp lịch sử của những công trình di tích và những con đường phủ kín bóng cây xay mà hãy trải nghiệm thả ru tâm hồn trong không khí bình yên của thành phố bằng cách thưởng thức chè Huế ở một góc quan nhỏ xinh. Du lịch không chỉ là việc khám phá các địa điểm nổi tiếng mà còn là cơ hội trải nghiệm cuộc sống địa phương và chè Huế chính là một phần quan trọng, không thể bỏ qua, làm phong phú thêm cho chuyến hành trình tuổi trẻ của bạn nơi miền Hương Ngự. 

Tré Huế

Ẩm thực Huế là một kho tàng vô tận hấp dẫn những người yêu nghệ thuật ẩm thực trong nhiều thập kỷ qua. Trong số những món ăn đặc sắc ấy của Huế, tré Huế nổi lên như một "ngôi sao" thu hút thực khách đủ mọi lứa tuổi. Đến Huế, bạn đừng quên thưởng thức món ăn độc đáo này nhé

1. Tré Huế - Vị ngon độc đáo khó quên

Với những người đam mê khám phá ẩm thực đặc sản từ khắp các vùng miền, tré Huế không chỉ là một món ăn quen thuộc mà còn là đặc sản được nhiều thực khách yêu thích. 

Tré Huế được chế biến từ thịt, có hình dáng giống nem chua nhưng khác biệt hoàn toàn về phương pháp chế biến. So với nem chua sử dụng thịt bì, tai,... và thính gạo để lên men từ thịt sống, tré Huế lại áp dụng nguyên tắc ngược lại. Phần da và thịt của tré cần được luộc chín trước khi chế biến. Đặc biệt, gia vị cho tré Huế rất đa dạng, bao gồm nước mắm, tỏi, mè rang, ớt bột, ớt trái, riềng, và không thể thiếu thính gạo hoặc thính nếp rang.

Tré có màu hồng nhạt, khi ăn có vị giòn sần sật, bùi béo, chua nhẹ từ quá trình lên men cùng chút cay nồng từ ớt, hương thơm của riềng. Người ta không biết rõ ai đã sáng tạo ra tré, chỉ biết rằng đây là một món ăn được thế hệ truyền lại từ đời này sang đời khác và trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Huế. Tré không chỉ xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày của họ mà còn là món ăn không thể thiếu trong các dịp lễ giỗ, cưới hỏi, đặc biệt là trong những ngày Tết truyền thống của Việt Nam.

2. Sắc màu và hương vị độc đáo của tré Huế

Màu sắc của tré Huế rất bắt mắt, hòa quyện với hương vị đặc trưng tạo nên một sự kết hợp không thể chối từ, khiến du khách không thể khám phá mà không ngất ngây. Lọn tré Huế khi bóc ra thường có màu đỏ hồng hoặc có thể hơi ngả về trắng, tùy thuộc vào các loại gia vị được sử dụng. Phần lớn tré Huế thường mang màu đỏ rực, là sự pha trộn tinh tế giữa đỏ của ớt bột và sắc vàng nhạt của riềng.

Về hương vị, tré Huế không thể mô tả một cách đơn giản bằng lời mà phải sử dụng những từ ngữ như: ngon, giòn, béo, xực, bùi, thơm, cay, ngọt, và nồng! Mùi hương nồng nàn của tré được tạo nên nhờ vào sự kết hợp của riềng, mang đến một hương thơm đặc biệt và dễ chịu. Đặc biệt, khi thưởng thức tré vào mùa mưa, hương vị ấm áp, còn vào mùa hè, tré trở nên thêm phần tươi mới và tinh tế. Chỉ cần đọc những từ ngữ miêu tả tổng quát này, tuyến nước bọt đã bắt đầu hoạt động mạnh mẽ.

Tré Huế, với đặc điểm hương vị đặc sắc, độ cay nồng là điểm nhấn đầu tiên được nhắc đến. Mặc dù không có những hương vị đặc trưng như nem chả, nhưng tré lại là một món ăn khoái khẩu, chạm đến trái tim người thưởng thức. Đối với những người ở xa, việc thưởng thức một lần sẽ để lại ấn tượng khó phai, còn đối với người dân Huế, tré là niềm đam mê mãi mãi không ngừng.

3. Cách làm Tré Huế ngon chuẩn vị Cố Đô

3.1. Các nguyên liệu làm ra một món tré Huế say đắm lòng người

Thật đúng khi nói rằng mỗi món đặc sản ở mỗi vùng địa phương đều là bức tranh phản ánh một phần nào đó về tính cách của cộng đồng sống tại địa phương đó. Việc tìm hiểu về tré Huế và cách làm tré Huế cũng mang đến cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc về tâm hồn và tính cách của những người dân ở xứ Huế thơ mộng . Những nguyên liệu được kỹ lưỡng chế biến để tạo nên một bữa ăn tré ngon lành, chuẩn chỉnh, đậm chất gần gũi, chẳng khác gì tính cách bình dị, chất phác của những người dân ở mảnh đất Cố đô này.

- Nguyên liệu chính: Tai, mũi heo (1 kg), da heo (200 gram), riềng (300 gram), ớt tươi (100 gram), ớt khô (50 gram).

- Nguyên liệu riêng đặc trưng: Thính (1/2 bát cơm), lá ổi, lá chuối .

- Các gia vị đi kèm: Tỏi (1 củ to), muối tinh (3 muỗng cà phê), mè rang (50 gram), bột ngọt (3 thìa cà phê), đường (2 muỗng cà phê).

Một lưu ý mà bạn cần phải nhớ trong khâu chọn nguyên liệu để làm ra một món tré ngon là khi chọn mua thính bạn nên chọn loại thính gạo được chế biến thủ công. Như vậy mùi vị của tré sẽ thơm ngon và chuẩn chính vị tré Huế chính hiệu. 

3.2. Hướng dẫn làm tré tại nhà với hương vị chuẩn Cố Đô

Khi bạn có cơ hội đi du lịch qua các tỉnh miền Trung, không khó bắt gặp nhiều loại tré đặc sắc như tré Phú Yên, tré Bình Định,... Tuy nhiên, hương vị của tré Huế thực sự không thể lẫn vào bất kỳ loại tré nào khác. Tré Huế đặc trưng bởi vị giòn, dai, cùng với hương vị cay nồng tạo nên cảm giác thèm thuồng, khiến người ta muốn thưởng thức mãi sau mỗi lần ăn. Mặc dù là một món ăn hấp dẫn như vậy nhưng cách chế biến tré Huế lại vô cùng đơn giản.

Tai heo, riềng, thính, tỏi, mè...

Các nguyên liệu chính mới nghe đã thèm

Gói trong lá ổi tươi nguyên

Tré cùng nem chả ông ghiền, bà mê

(Theo nhà thơ Võ Quê)

* Bước 1: Tai, mũi và da heo sau khi được lựa chọn kĩ lưỡng sẽ được đem rửa nhiều lần với nước sạch và nước muối để loại bỏ hết chất bẩn. 

- Tiếp theo đem phần tai, mũi và da heo đã được làm sạch đi luộc cùng với một ít gừng, và tỏi để khử hết mùi hôi. 

- Sau khi tai, mũi và da heo đã chín sẽ được vớt ra và ngâm nước lạnh trong vòng 10 phút, sau đó để ráo và thái sợi. 

- Sau khi luộc chín phải đem đi ngâm nước lạnh trong vòng 10 phút để khi ra thành phẩm phần tré sẽ được giòn và ngon hơn.

- Tai, mũi, da heo đem đi thái sợi

* Bước 2: Để làm ra một món tré ngon thì một bước không thể thiếu chính là làm hỗn hợp gia vị để trộn tré. Ớt, riềng cùng với tỏi đem đi băm nhuyễn, thính gạo rang sau đó giã mịn. Phi thơm ớt khô cùng với màu dầu điều để khi trộn chung tré sẽ lên màu đẹp hơn. 

- Cho tai, mũi và da heo đã thái sợi với riềng, tỏi, thính gạo, thêm vào đó là 50 gram mè, 2 thìa cà phê đường, 3 thìa cà phê bột ngọt, 2 gram tiêu vào tô. 

- Dùng tay trộn hỗn hợp trên thật đều rồi mới cho tiếp ớt khô cùng dầu điều vào. 

- Tiếp tục trộn đều tay hỗn hợp trên cho đến các nguyên liệu hòa quyện với nhau thì có nghĩa là bạn đã hoàn thành một nửa chặng đường làm tré rồi đấy.

- Trộn tré là một bước vô cùng quan trọng để giữ được hương vị thơm ngon

* Bước 3: Lá chuối phải dùng khăn lau sạch 2 mặt, sau đó cắt thành hình chữ nhật, rồi cho một lá ổi và hỗn hợp vừa trộn xong ở bước 2 vào giữa. Cuộn thành hình trụ rồi buộc kĩ hai đầu và dùng thêm dây lạt cột lại cho chắc chắn. 

- Treo ở nơi thoáng mát sau khoảng 2 đến 3 ngày thì bạn đã có món tré chuẩn vị Huế để thưởng thức rồi đấy. 

- Nếu như bạn không tìm mua được lá chuối thì có thể thay thế bằng cách cho hỗn hợp ở bước 2 vào lọ thủy tinh cùng với vài chiếc lá ổi. Tuy cách làm này không đem lại hương vị đặc trưng như gói trong lá chuối nhưng cách chế biến này lại vô cùng tiện lợi và phù hợp với người dân thành thị mà phần tré vẫn rất thơm ngon.

3.3. Cách gói tré Huế

Ngoài việc chuẩn bị và chế biến đòi hỏi sự tận tâm và chuyên nghiệp, việc gói tré cũng đóng vai trò quan trọng và yêu cầu sự tỉ mỉ không kém. Trong quá khứ, người Huế thường phải gói tré bằng từng lớp lá chuối một cách cẩn thận. Ngày nay, quy trình gói tré trở nên đơn giản hơn khi chỉ cần đặt tré vào một túi nylon nhỏ và sau đó buộc chặt bằng dây chun, chỉ cần ít lá chuối mỏng ở lớp ngoài cùng. Phương pháp này được nhiều nhà hàng và quán ưa chuộng bởi sự tiện lợi và tiết kiệm công sức. Tuy nhiên, vẫn có những địa điểm duy trì phong cách gói truyền thống, đòi hỏi sự chăm chỉ và tâm huyết để tạo nên một chiếc tré Huế đậm đà, mang đến hương vị đặc trưng của vùng đất này.

4. Cách thưởng thức tré Huế ngon đúng điệu

4.1 Thưởng thức hương vị nguyên bản của tré

Theo như người dân địa phương thì cách truyền thống nhất để thưởng thức hương vị của tré chính là ăn suông. Tré sau khi chín sẽ được thưởng thức trực tiếp cùng với 1 ít tỏi, ớt và lá Đinh lăng. Với cách ăn này thực khách sẽ cảm nhận được rõ nhất hương vị nguyên bản của tré. 

Tré Huế mang một chút dai dai của da heo, một chút giòn ngọt của mũi và tai heo, độ béo của mè, chút cay nồng của ớt và mùi thơm hấp dẫn của riềng. Khi ăn cùng lá Đinh lăng và tỏi sẽ tạo nên một hương vị khiến nhiều người mê đắm. 

3.2 Tré trộn nem chả - Đặc sản vạn người mê

Nói đến tré có lẽ ai cũng sẽ nghĩ ngay đến tré trộn nem chả. Thực vậy tré trộn nem chả thực sự là một món ăn vô cùng phổ biến không chỉ vì cách làm đơn giản mà còn nhờ vào hương vị độc đáo của món ăn này. 
Tré cùng với chả bò và nem chua cắt thành miếng vừa ăn đem trộn cùng với một ít xoài cóc và dưa leo. Để cho món ăn chuẩn vị bạn cần cho thêm một ít rau răm, tỏi, ớt, muối tiêu và không thể thiếu vị chua của tắc. 

Tré trộn nem chả là một sự kết hợp tuyệt vời của thị giác, khứu giác và vị giác. Tré trộn không chỉ có màu sắc bắt mắt, hương thơm đặc trưng mà còn đem đến một hương vị khó cưỡng với sự hòa quyện của tré, xoài, nem chả cùng các nguyên liệu khác khiến cho ai cũng phải vừa ăn vừa tấm tắc khen ngon. 

3.3. Ăn tré Huế với gì là ngon nhất

Với mối liên kết họ hàng với "nem chua", tré Huế đạt hương vị tuyệt vời khi kết hợp cùng tỏi, ớt, lá ổi, và lá đinh lăng. Người Huế tin rằng tré chỉ thật sự ngon khi có hương cay mạnh, khi đó mùi vị của tỏi, ớt, và riềng sẽ làm nổi bật hương thơm đặc trưng, che đi mùi tanh của thịt, cùng với hương thính được rang thơm nồng, tạo nên hương vị đặc biệt của tré. .

Ngoài ra, bạn có thể ăn tré kèm với tương ớt hoặc ớt xào để tăng thêm hương vị cay của món ăn. Tuy nhiên, đối với những người thưởng thức ẩm thực và có gu ăn sành điệu hơn, họ sẽ nhận ra rằng tré Huế chỉ thực sự ngon khi ăn kèm với tỏi, ớt, lá ổi, đặc biệt là tỏi dấm chua. Vì tré có tính chất gần giống nem chua, việc thêm các gia vị mạnh mẽ sẽ giúp che phủ hương tanh của thịt, tạo nên trải nghiệm ẩm thực độc đáo.

5. Tré Huế chuẩn đặc sản cố đô được đánh giá như thế nào?

Về hương vị, tré Huế chính gốc sẽ mang đến hương thơm đặc trưng, ngon ngọt, và béo ngậy, đặc biệt là sự kết hợp độc đáo giữa hương chua và cay, ngọt. Độ giòn tan của tré đến từ việc sử dụng tai và mũi lợn, chủ yếu là sụn. Hương vị béo ngậy của mè rang và dầu điều, kết hợp với thính, tỏi và riềng tạo ra một mùi thơm đặc trưng. Sự cay nồng từ ớt làm nổi bật hương vị riêng biệt của tré Huế.

Người Huế thường tin rằng tré Huế chỉ thực sự ngon khi cay, khi đó vị của tỏi, ớt, và riềng sẽ lấn át mùi tanh của thịt, kết hợp với hương mè rang để tạo nên hương vị đặc trưng của tré.

Trong bữa cơm hàng ngày của người Huế, tré thường được chọn làm món khai vị, thường kèm theo chút rượu để làm ấm lòng vào những ngày lạnh gió. Mỗi khi Tết đến, việc nếm thử và đánh giá chất lượng tré trở thành một trải nghiệm thú vị cho các bà nội trợ và thực khách, tạo nên một nét đặc trưng của người Huế.

Đối với những người con xa quê, tré Huế không chỉ là một món ăn độc đáo mà còn là một phần ký ức về hương vị quê hương, với những nét mộng mơ, dịu dàng của xứ Huế. Nó không chỉ là một món ăn, mà còn là một cách tốt nhất để giới thiệu văn hóa Huế cho người thân và bạn bè, đó là lý do tặng tré Huế được coi là việc làm ý nghĩa và đậm chất Huế.

** Giá tham khảo: 90.000/Hủ 350 gram - 70.000 (hộp/10 cây)

Tré thật sự là một món đặc sản giản dị mà mọi du khách khi đến Huế đều nên trải nghiệm. Mỗi khi có khách quý đến chơi nhà, người Huế thường đem tré ra mời như một biểu tượng của đặc sản địa phương. Việc thưởng thức một miếng tré, kết hợp với tỏi dấm và thỉnh thoảng nhâm nhi một ly rượu hoặc bia là cách người Huế thường quen ăn tré. Thưởng thức tré trong những ngày đông lạnh giá hoặc khi trời mưa phùn gió bấc tạo nên không khí đặc trưng của Huế, tạo nên trạng thái tinh tế, yên bình và không gian dường như thêm phần hấp dẫn.

Mè xửng Huế

Mè Xửng Huế - Hương vị đặc sản đậm chất Cố đô

Giới thiệu:

Mè Xửng Huế, biểu tượng ẩm thực gắn liền với văn hóa Huế từ xa xưa, vẫn tự hào tồn tại mãi trong lòng người dân Cố Đô đến tận bây giờ. 

Nếu bạn có dịp đến thăm và thưởng thức các món đặc sản Huế thì đừng quên trải nghiệm hương vị tinh túy của Mè Xửng Huế, một món nổi tiếng thơm ngon và thấm nhuần hương vị cố đô. Đây cũng là một đặc sản làm quà được du khách thập phương mang về làm quà cho người thân.

Mè Xửng, một loại bánh đặc sản Huế, được làm từ mè (vừng) và các thành phần như bánh đa, mạch nha và đậu phộng. Hương vị ngọt ngào, độ dẻo của đường, hòa quyện với đậu phộng thơm béo và mè tự nhiên, tạo nên sự đặc biệt của Mè Xửng Huế.

Mè Xửng Huế có nhiều kích thước và giá cả khác nhau, phong phú và đa dạng. Mè Xửng Huế có 03 loại chủ yếu bao gồm:

- Mè Xửng dẻo: Loại phổ biến với đường cát, mạch nha, mè và đậu phộng, có độ dẻo đặc trưng và hương vị ngọt ngào.

- Mè Xửng giòn lạ miệng: Loại này giòn hơn, với tỷ lệ bột đậu cao hơn và đường ít hơn, tạo cảm giác giòn tan và ngọt thanh.

- Mè Xửng gương độc đáo: Có màu vàng nhạt trong suốt, với mè rang và đậu phộng trên bề mặt, tạo hương vị tuyệt hảo.

Quy trình chế biến Mè Xửng Huế

Mè Xửng Huế vẫn được làm thủ công theo công thức truyền thống qua nhiều thế hệ. Nguyên liệu chất lượng bao gồm bột gạo, mè (vừng), đường trắng, đậu phộng và mạch nha, được lựa chọn kỹ lưỡng.

Quá trình làm Mè Xửng Huế bắt đầu bằng việc nấu đường cho đến khi hoàn toàn tan chảy, sau đó thêm bột gạo để tạo thành hỗn hợp dẻo. Đậu phộng giã nhỏ được thêm vào để tạo hương vị thơm bùi riêng biệt. Cuối cùng, hỗn hợp này được đổ vào khuôn và phủ mè lên trên bề mặt. Mè Xửng sau đó được cắt thành từng miếng vuông nhỏ và đóng gói kín đáo để bảo đảm vệ sinh và tươi ngon.

Cách thưởng thức Mè Xửng Huế đúng chuẩn

Hãy thưởng thức Mè Xửng Huế cùng tách trà sen Huế ấm nóng để trải nghiệm sự kết hợp hoàn hảo giữa hương vị ngọt ngào của Mè Xửng và vị thanh mát của trà.

Khi thưởng thức Mè Xửng Huế, thực khách nên lựa chọn thời điểm phù hợp, chuẩn bị trà, cắt Mè Xửng và sắp xếp lên đĩa, sau đó thưởng thức cùng trà sen nhé. Đảm bảo thực khách sẽ có một trải nghiệm khó quên với nhiều dư vị thơm ngọt hòa quyện giữa Mè Xửng và món trà đặc trưng của Huế.

Gợi ý liên quan:

Gợi ý 05 địa chỉ mua Mè xửng Huế ngon

Mè xửng, vốn là một biểu tượng ẩm thực của cố đô Huế, đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân nơi này. Mè Xửng luôn góp mặt trong những bữa trà gia đình hàng ngày, cũng như xuất hiện trang trọng trên mâm cỗ trong các dịp lễ, tết hoặc để tiếp đón những vị khách quý.

Với hương vị độc đáo và đặc trưng, Mè xửng không chỉ làm cho người dân Huế tự hào mà còn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách từ khắp nơi trong và ngoài nước. Chính vì điều này, Mè xửng Huế thường được lựa chọn làm món quà đầy ý nghĩa để dành tặng người thân và bạn bè, mang theo một phần thơ mộng và ẩm thực đặc trưng từ vùng đất Huế.

Sau đây là top 05 địa chỉ sản xuất Mè xửng Huế gia truyền mà du khách có thể tin tưởng và lựa chọn:

1. Mè xửng Thiên Hương

- Địa chỉ: số 20 Chi Lăng, thành phố Huế

- Điện thoại: 0234 3511 246

Thiên Hương là thương hiệu mè xửng phổ biến, nổi tiếng bậc nhất xứ Huế. Thành lập từ năm 1978, Công ty TNHH Thiên Hương là một sự kết hợp đặc biệt của truyền thống gia truyền trong nghề sản xuất kẹo mè xửng từ năm 1940. Bước vào năm 2004, sứ mệnh mở rộng của công ty đã thúc đẩy họ đầu tư hơn 10 tỷ đồng để xây dựng một nhà máy rộng lớn trên diện tích 6.000 m2 tại cụm công nghiệp Hương Sơ, thuộc trái tim của Thành phố Huế.

Mè xửng Thiên Hương được tạo ra bằng việc kết hợp những bí quyết và tinh hoa của nghề sản xuất kẹo mè xửng Huế. Sự đổi mới và phát triển bao gồm các phiên bản đa dạng: từ kẹo mè xửng dẻo truyền thống, đến mè xửng dẻo với sự cải tiến và mè xửng giòn độc đáo. Đặc biệt, sản phẩm kẹo mè xửng tại đây có độ ngọt vừa phải, vẫn giữ nguyên vị ngon và độ dẻo đặc trưng của kẹo mè xửng Huế, đáp ứng đa dạng khẩu vị của khách hàng.

2. Mè xửng Nam Thuận

- Cơ sở 01: Số 201 đường Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Huế.

- Cơ sở 02: Số 2 Mai Thúc Loan, phường Phú Hòa, TP Huế

- Điện thoại: 0234 3534 068 

Bún bò Huế (Món ngon cuối tuần: Tuyệt chiêu nấu món bún bò Huế chuẩn vị, ngon tuyệt)

Đến Cố đô Huế, du khách ai cũng muốn ăn một bát bún bò Huế. Món ăn đã được Tổ chức Kỷ lục châu Á đưa vào danh sách Top 100 món ăn đạt giá trị ẩm thực châu Á

Bún bò Huế thường ăn kèm với rau sống.

Thời gian hoạt động:Cả ngày

Lịch sử hình thành:

Bún bò Huế có tên gọi tiếng anh là Beef Soup of Hue, đây không những là đặc sản của xứ Huế mộng mơ mà còn của nền ẩm thực Việt Nam. Sự kết hợp tuyệt vời giữa nước dùng đậm đà hoà cùng chút cay nồng của sa tế và mùi vị đặc biệt của mắm ruốc tạo nên hương vị ngon khó cưỡng cho thực khách ngay lần đầu thưởng thức.

Có nhiều câu chuyện liên quan đến xuất xứ của món ăn đặc biệt này. Mọi người thường bảo nhau rằng thật ra, Bún bò Huế có gốc gác từ làng bún Vân Cù xa xưa – nơi vẫn được xem là ‘cái nôi’ của sợi bún Huế dai ngon nổi tiếng đặc trưng. Còn theo sử sách ghi lại thì người ta nhắc đến Bún bò Huế như một món ăn đã xuất hiện trên những bàn ăn cung đình từ xưa, và chẳng biết từ bao giờ đã len lỏi đến khắp mọi nẻo đường ngõ ngách tại chốn Cố đô. 

Nhắc đến bún bò Huế phải nói đến nghề làm bún ở Huế. Thủy tổ của nghề làm bún tại Vân Cù, làng bún nổi tiếng và xa xưa của Huế chính là Cô Bún.

Chuyện xưa kể lại rằng, khi những người Đàng Ngoài theo chân chúa Nguyễn Hoàng nam tiến lập nghiệp, có một nhóm người đến định cư trong vùng những tháp Chăm cổ xưa đã đổ nát, nên sau này có tên là làng Cổ Tháp, nay thuộc huyên Hương Điền, Thừa Thiên - Huế. Trong lúc mọi người chuyên sống bằng nghề canh tác làm ruộng, thì có một người thiếu nữ sáng chế ra nghề làm bún.

Tuy nhiên, có một dạo, dân trong vùng bị mất mùa liên tiếp 3 năm và kẻ xấu bụng tung tin rằng, mất mùa là do thần linh quở phạt vì Cô Bún đã đem gạo là “hạt ngọc của Trời” ra mà ngâm, mà chà, mà xát, mà nghiến nát ra để làm bún.

Thế là Cô Bún hoặc phải bỏ nghề làm bún, hoặc sẽ bị trục xuất ra khỏi làng, nhưng Cô Bún quyết sống chết với nghề, nên chấp nhận ra đi.

Năm người thanh niên mạnh nhất trong làng tình nguyện theo áp tải cái cối đá làm bún và Cô Bún đến vùng đất mới. Cứ thế, đoàn người đi về hướng Đông ven theo sông Bồ. Nơi người trai làng thứ năm khuỵu xuống với cái cối đá trên vai là làng Vân Cù ngày nay.

Tại đây, Bà Bún lập nghiệp và truyền nghề làm bún cho đến ngày nay. Từ những sợi bún, thêm nước dùng, thịt, chả, rau sống…, dân gian đã tạo thành món bún bò Huế.

Nét đặc trưng:

Bún bò Huế không quá khó chế biến, với nguyên liệu chính là bún tươi, thịt bò, giò heo, mắm ruốc và không thể thiếu một đĩa rau sống, ớt, chanh tươi… Trong đó, người Huế cầu kỳ chọn bún làng Vân Cù bởi bún Vân Cù có sợi bún to, mềm, dai. Đây là làng bún nổi tiếng với lịch sử làng nghề hơn 400 năm, cung cấp bún cho cả thành phố Huế.

Bát bún bò thuần Huế xưa chỉ có thịt bò và giò heo. Trải qua thời gian và sở thích ẩm thực của từng vùng, bây giờ, bát bún bò Huế có thêm nhiều loại thịt để phục vụ nhiều khẩu vị khác nhau của người thưởng thức, trong đó có vừa có cả thịt bò, giò heo lại thêm chả thịt, chả cua, gân, tiết lợn luộc, giò khoanh, giò móng, giò nạc…

Nấu một nồi bún với thịt thì dễ nhưng nấu một nồi bún bò ngon theo kiểu Huế thì đó là cả một quá trình tìm tòi, đúc kết kinh nghiệm và cả tấm lòng của người chế biến. Người Huế cho rằng, một nồi bún bò ngon thì nước dùng phải trong, mang vị ngọt của xương thịt hầm và mùi thơm dịu của sả cùng với một vị rất đặc trưng của món ăn Huế, vị ruốc. Nhưng vị ruốc đã được ẩn đi, hóa thân thành “vị Huế” dưới tài nghệ chế biến của người nội trợ.

Thưởng thức bát bún bò Huế ngon nhất không phải ở các nhà hàng sang trọng mà thường xuất hiện ở những quán vỉa hè vào mỗi buổi sáng sớm, hoặc ở một số quán ăn gia truyền. Bún bò Huế có thể ăn vào buổi sáng, buổi trưa, ăn vào buổi xế chiều hoặc buổi tối.

Giá trị nghệ thuật:

Nếu có dịp gặp gỡ những vị lớn tuổi sống tại địa phương trong hành trình khám phá Huế, bạn sẽ được nghe họ nói rằng, “Đối với người Huế, bún là một phần trong một lối sống kiểu Huế, là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng...” Nói như thế đã đủ hiểu những tô Bún bò Huế đã thật sự trở thành một mảnh ghép chẳng thể thiếu trên bản đồ ẩm thực chốn kinh kỳ, là hơi thở, là nhịp sống của người dân nơi xứ Huế mộng mơ đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm nhưng vẫn luôn cố gắng giữ gìn trọn vẹn những tinh hoa của dân tộc ngày ấy.

Giá trị của Di sản ẩm thực:

Ngày nay, bún bò Huế là một trong số 12 món ăn Việt Nam được xác lập Kỷ lục châu Á và là một trong 10 đặc sản ẩm thực lọt vào Top đặc sản Việt Nam lần thứ nhất (2012).

Đến Cố đô Huế, du khách ai cũng muốn ăn một bát bún bò Huế. Món ăn đã được Tổ chức Kỷ lục châu Á đưa vào danh sách Top 100 món ăn đạt giá trị ẩm thực châu Á, và đầu bếp nổi tiếng người Mỹ Anthony Bourdain - nhân vật trải nghiệm trong loạt phim khám phá ẩm thực “Anthony Bourdain” phát trên kênh truyền hình CNN của Mỹ - đã thốt lên: “Bún bò Huế là món súp ngon nhất thế giới mà tôi từng thưởng thức”.

Với lòng tự hào về món ăn độc đáo này của quê hương xứ sở, mấy mệ, mấy o ở Huế thường hỏi rất chi li về khẩu vị của khách, bởi sợ khách ăn không được ngon miệng.

Ăn một tô bún bò Huế, thực khách không những được thưởng thức một món ngon của vùng đất Cố đô, mà còn được thụ hưởng cả nét văn hóa ứng xử đầy lòng hiếu khách của cư dân đất thần kinh.

Vả trộn tôm thịt Huế

Bên cạnh ẩm thực Cung đình cầu kỳ, công phu vừa đẹp mắt, ngon miệng lại vừa bổ dưỡng thì những món ăn bình dân, tuy giản dị mà tinh tế lại thu hút không hề nhỏ đối với những tín đồ thực khách đến Huế, yêu Huế. Vả trộn là một trong số đó.

Giới thiệu:

Du khách đến Huế ngoài cảm tác trước các công trình kiến trúc đền đài, lăng tẩm cổ kính giàu giá trị lịch sử và nghệ thuật thì nét đặc sắc của ẩm thực Cố đô cũng là một điểm thu hút biết bao thực khách nội địa, quốc tế. Bên cạnh ẩm thực Cung đình cầu kỳ, công phu vừa đẹp mắt, ngon miệng lại vừa bổ dưỡng thì những món ăn bình dân, tuy giản dị mà tinh tế lại thu hút không hề nhỏ đối với những tín đồ thực khách đến Huế, yêu Huế. Vả trộn là một trong số đó.

Trong cuốn sách "Nghệ thuật nấu món ăn Huế" của bà Hoàng Thị Cúc cũng có giới thiệu về món ngon này.

Trước đây, tôi không thích ăn cơm hến. Bởi không thích nên trong cuốn sách viết về ẩm thực bình dân xứ Huế của tôi “Về Huế ăn cơm” cũng có một tản văn nói về món hến, nhưng mà là hến phay hay canh hến nấu với bầu, với rau chứ không phải cơm hến... Tất nhiên, phải khẳng định đó là những món ngon từ sông Ô Lâu, phá Tam Giang quê tôi. Bây giờ thì tôi đã thấy mình đã thiếu sót khi không đề cập chi đến món cơm hến. 

Dạo gần đây tôi bỗng dưng thích ăn cơm hến và dần dần đã mê cơm hến từ lúc nào không biết nữa... Trước hết, cơm hến là món ăn sáng rẻ trong nhiều món ăn sáng ở Huế, đứng ngang hàng với bánh canh chả cua cứ một tô từ 8 đến 10 ngàn. Nhưng rẻ mà ngon nên cơm hến mới có vị trí đáng nể như vậy trong ẩm thực của người dân Cố đô. Thứ nữa, những con hến để chế biến nên món cơm hến là những con hến nhỏ lăn tăn sống ở khúc quanh cồn Hến giữa sông Hương và một số đoạn sông khác nơi nguồn nước trong mát. Nó khác hẳn với những con hến, con trìa to hơn nhiều ở phá Tam Giang.

Tôi là một người mới "nhập môn" trường phái ẩm thực cơm hến nên cũng chỉ dám viết những gì mắt thấy, tai nghe về cơm hến mà thôi. Cơm hến là gọi chung cho món ăn dân dã này chứ một gánh, một quán cơm hến ở xứ Huế đều có 3 món rõ ràng: cơm hến, bún hến, mì tôm hến. Rồi có người thích ăn kiểu khô, có người thích ăn kiểu nước. Nhưng gia vị của cả các món này thì giống nhau là hến đã xào chín, rau sống gồm cây môn bạc hà, các loại rau hành ngò, rau thơm, rau quế, khế chua, giá, đậu phụng chiên giòn để nguyên cả vỏ, tóp mỡ rang, nước ruốc, ớt hạt, bột ngọt...

Kể ra như rứa mới thấy, cơm hến là món ăn có nhiều gia vị nhất trong các món ăn trứ danh của xứ Huế, từ mặn nhạt đến chua cay và ngọt bùi đều có cả. Và ăn cơm hến để cảm nhận cái vị cay, có khi ngứa lăn tăn dễ chịu nơi đầu lưỡi mà không có món ăn nào có được, ăn cơm hến có khi mồ hôi vã ra như tắm mới thấy thiệt là ngon. Với lại chẳng ai ăn cơm hến mà thấy ớn cả, cơm hến ăn chỉ thấy thỏa các giác quan chứ không phải ăn cốt để no cái bụng. Đã thế ai thích ăn nước là kêu chị chủ quán múc một tô nước để vừa chan vô tô cơm vừa có thể húp riêng. Mà tô nước hến đó lại có người thích vị thơm thì đập dập thêm múi gừng tươi... Tôi vốn là người con của phá Tam Giang, con hến đã là món ăn quen thuộc từ hồi tấm bé. Bởi vậy hương vị của các món từ hến luôn thức dậy trong tôi cả một miền ký ức của những món ăn mạ nấu thuở còn đi học trường làng. Thực tình, cơm hến là một món ăn của phố, vị hến trong tô cơm hến chỉ thoáng qua. Nhưng những người sáng tạo ra món ăn của đất kinh kỳ cũng thật tinh tế khi có tô nước hến đi kèm. Chính tô nước hến mới cho người thưởng thức món cơm hến biết vị của con hến sông Hương là như thế nào?

Mà nhìn tô cơm hến tôi còn nhận ra, ngoài mùi và vị, nó còn là sự sắp đặt khéo léo của màu sắc, hình dáng của rau trái, gia vị nữa từ màu xanh của rau, màu đỏ của ớt, màu vàng cháy của tóp mỡ, màu nâu của đậu phụng chiên... nên cơm hến trước khi ăn ngon còn đẹp mắt nữa.

Sáng nay, tôi lại đi ăn cơm hến và gặp một ông cụ cùng khá đông các con cháu. Ông là cư dân xóm Lịch Đợi (TP. Huế) cũ đã vô miền Nam sinh sống chắc từ lâu lắm rồi, bởi các con của cụ ai cũng đã chừng trên 50 tuổi và đều nói giọng miền Nam, chỉ mình ông vẫn giọng Huế rặt. Ông kể, ngay ở ngôi nhà của chị bán cơm hến bây chừ ở kiệt 33 Lịch Đợi, trước đây là những hầm đá to người ta đào để lấy đá xây dựng. Ông kêu một tô cơm hến đầy đủ hương vị nhưng chỉ ăn hết một nửa. Ăn xong ông nhận xét: “Cảnh cũ người xưa đã không còn nhưng món cơm hến thì vẫn rứa, vừa ngon, vừa nhớ chi lạ...”. Hình như ông đang ăn bằng cả một miền ký ức...

NẤM TRÀM XỨ HUẾ ("Lộc trời ban")

Nếu như nói đặc sản của Huế là mưa, thì nấm tràm chính là kết tinh của thứ đặc sản vốn gây nhiều thương nhớ của miền Hương Ngự.

Vào độ tháng 7, tháng 8 âm lịch, khi những cơn mưa chuyển mùa từ hè sang thu, người Huế lại nhắc nhau “sắp có nấm tràm để ăn rồi!”. Quả đúng vậy, chỉ sau một vài cơn mưa, nấm tràm lú nhú mọc lên dưới những lớp lá cây tràm, trên thảm lá mục, chen chúc nhau, chỉ chờ người tới hái.

Theo Đông y, nấm tràm là một loài nấm lớn phân bố ở vùng Đông Bắc châu Âu, Bắc Mỹ và một số địa phương ở Việt Nam, đặc biệt ở miền Trung, nhiều nhất là Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị. Nấm tràm có hình dáng khá đa dạng, tai màu tím nhạt hoặc trắng ngà, hình tròn, lúc mới nhú búp tròn; lớn hơn có hình dáng như cái ô; bên ngoài nấm tràm có màu nâu tím, bên trong có màu trắng mịn.

Nấm tràm rất tốt cho sức khỏe vì chữa được mỏi mệt, cảm cúm, nhức đầu và có tác dụng bồi bổ nội tạng nhờ chất dầu tràm ở trong nó, vị đắng lại có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Chính vì những công dụng này mà nấm tràm được gọi là “lộc trời ban”. 

Muôn kiểu chế biến Nấm tràm

Có lẽ không có nguyên liệu gì có thể làm khó được khả năng nội trợ của phụ nữ Huế. Với món Nấm tràm cũng vậy, nếu kể sơ qua cũng phải đến hàng chục món ngon biến tấu chỉ với nấm tràm như: Nấm tràm xào tôm thịt, bánh canh nấm tràm, canh rau tập tàng với nấm tràm, Cháo nấm tràm tôm thịt, nấm tràm xào rau khoai lang, nấm tràm kho tiêu…

Tuy nhiên, dù là nấu kiểu gì thì không thể bỏ qua công đoạn sơ chế. Nấm tràm sau khi mua về, phải gọt phần vỏ bên ngoài cho sạch, sau đó đem rửa sạch và luộc qua với nước muối để “khử độc”. Trong quá trình chế biến, để giảm vị đắng của nấm tràm, trước lúc nấu thường được sơ chế ướp với gia vị kèm tôm thịt, để vị ngọt của tôm, vị béo của thịt hòa vào trong nấm, tạo nên hương vị thơm, giòn, ngọt, đắng... rất đặc biệt. Một nguyên liệu đi kèm không thể thiếu đó là lá lốt cũng được chị em nội trợ mách nhau khi nấu cũng nên bỏ vào để cùng thực hiện.

Các bước thực hiện

Niềm yêu thích của những người ở Huế đối với nấm tràm không chỉ vì độ ngon của nấm, mà còn ở việc... rủ nhau đi tìm nấm. Những buổi sáng sớm, quanh các ngọn đồi, bìa rừng của thành phố Huế đến các vùng Hương Thủy, Hương Trà hay Phong Điền, từng đoàn người cầm rổ, rá đi hái nấm tràm. Cũng có những người hái nấm về để bán, nhưng cũng có những người tiện đường đi tập thể dục cũng cố tìm chút niềm vui rất đỗi nhẹ nhàng trong mùa nấm tràm.

Cũng bởi được thu hoạch nhiều như thế nên nấm tràm là loại nấm vừa ngon lại vừa rẻ nhất trong tất cả các loại nấm. Giá mỗi cân nấm tràm tươi dao động từ 20.000-30.000 đồng/kg. Nấm được bán đại trà ở các khu chợ Huế cũng như ven các đường lớn, rất tiện để mua. Nhưng ít ai chỉ mua 1kg nấm tràm mà phải 5, 7, thậm chí chục cân nấm tràm để về gọt, sơ chế và cấp đông để ăn dần hay dùng làm quà gửi bạn bè gần xa, gửi chút Huế cho những người xa quê mà nhớ Huế.

Ai cũng bảo, Người Huế sành ăn: nấu 1 món ăn thì đầy đủ ngũ sắc; thưởng thức 1 món ăn cũng dùng đầy đủ 5 giác quan; Khẩu vị của người Huế cũng đầy đủ Ngũ vị đắng, cay, chua, mặn, ngọt. Và, tiêu biểu cho vị đắng trong chê biến món ăn của người Huê chính là Nấm Tràm - Thử một lần, Nhớ thương một đời!

Đặc sản tuổi thơ, ngậm mà nhớ Huế

 Người Huế không ai không biết đến kẹo cau – thứ kẹo dân dã, mộc mạc như chính tên gọi nhưng là “đặc sản tuổi thơ” của biết bao thế hệ người dân Cố đô.

Với những người Huế xa quê, hẳn mới nghe thấy tên “kẹo cau” chắc cũng ngẩn ngơ nhớ về những ký ức tuổi thơ với bạn bè cùng trang lứa, với những lần ngóng mẹ đi chợ về với chút quà mọn nhưng đầy dư vị. 

Nguyên liệu và Cách chế biến

 Nguyên liệu chính để làm kẹo cau là bột gạo và đường. Kẹo cau gồm có hai phần: Phần trong cứng màu vàng nhạt, tượng trưng cho hạt cau, được làm từ nước đường cô lại vàng óng; Phần ngoài màu trắng, làm bằng bột trộn đường, tượng trưng cho thịt cau.

Ngày xưa, khi làm kẹo cau, người ta có bỏ thịt quả cau vào trong kẹo nhưng vì mùi vị của cau khá hăng, không nhiều người ăn được nên sau này không cho vào nhân kẹo nữa.

Kẹo cau ngày xưa thường được gói trong lá chuối để bán cho trẻ con xứ Huế. Ngày nay, kẹo cau được đóng gói chỉn chu lịch sự để bán cho các du khách dễ dàng mua về làm quà.

Cảm nhận 

Kẹo có vị ngọt thanh, ngậm tan từ từ vì kẹo khá cứng. Người lớn thường ăn kẹo cau khi uống trà, vị ngọt của kẹo cau thêm vị đắng đắng của trà tạo nên mùi vị mới lạ kích thích vị giác.

Trong bài viết “Tết về nhớ cái kẹo cau”, tác giả Hoàng Hải Lâm miêu tả: Ôi cái kẹo cau ngọt thanh đến lạ lùng, giòn tan đến từng thớ. Tôi thường bỏ cái kẹo cau vào miệng nhai rau ráu, âm thanh phát ra cứ như bắp rang trên chảo. Chị và em gái tôi chọn cách ăn rất con gái, cứ bỏ cái kẹo cau vào miệng để chúng tự tan ra từ từ, nước đường ngọt bùi ngấm vào trong miệng rồi nuốt đánh ực. Ăn kẹo cau kiểu này thì vài ba cái cũng được một buổi sáng, còn vài cái để sang đến chiều thế là suốt ngày được ăn kẹo cau.

Một miếng kẹo cau ngòn ngọt mà trở thành hương vị của cả quãng trời tuổi thơ; ngòn ngọt thôi mà dư vị theo cho đến hết năm dài tháng rộng. Những khi khốn khó, lại nhớ về kẹo cau của thửa hàn vi. Khá giả rồi, đủ đầy rồi với biết bao loại quà bánh sặc sỡ, nhiều chủng loại, cũng lại nhớ miếng kẹo cau hồn nhiên, dân dã. Nếu có món gì ăn “ngậm mà nghe”, thì kẹo cau là một trong số đó…

Gợi ý mua sắm 

Nếu có dịp ghé Huế, kẹo cau chắc chắn là món đặc sản không thể bỏ qua cho du khách. Những người Huế xa quê hương mỗi khi về thăm nhà, lúc ra đi cho dù có nặng nề đến mấy, trong xách tay họ cũng có vài bì kẹo cau làm quà. Và trên hành trình tha hương ấy, ngậm một miếng kẹo cau để kéo dài thêm sự luyến lưu với sông Hương, núi Ngự…

Ngày nay, kẹo cau được bày bán ở rất nhiều địa điểm như các cửa hàng bán đặc sản Huế, chợ Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự, trạm dừng chân… rất dễ dàng để sở hữu một món kẹo đặc trưng của Huế. Có người nói nghe tiếng Huế đã thấy ngọt ngào, ăn kẹo Huế vào nữa chỉ muốn tan chảy ra mà ở lại Huế, không muốn bước chân đi. Ôi, kẹo Huế!

Địa chỉ gợi ý

Chợ An Cựu Chợ Đông Ba Chợ Bến Ngự 

Bánh chưng, bánh tét ngày tết

Khác với các địa phương khác ở Việt Nam, bánh chưng xứ Huế không chỉ được gói và sử dụng trong dịp Tết, người dân Cố đô dùng bánh chưng hàng ngày và trong các dịp lễ khác trong năm.

Giới thiệu

Đến xứ Huế, bạn nên ghé qua con đường Nhật Lệ trong Thành Nội. Nơi đây hàng ngày có hàng chục lò làm bánh vẫn sản xuất gói và nấu bánh chưng đặc trưng và nổi tiếng nhất của mảnh đất cố kinh này. Trong số đó thương hiệu "Mệ tóc bạc" là nổi tiếng nhất.

Nét đặc sắc

Bánh chưng Huế được gói hoàn toàn bằng tay (không dùng khuôn gỗ như nhiều nơi ở miền Bắc) nên cần một sự khéo léo của người gói bánh. Bánh không to, chỉ gói gọn trong bàn tay vì đối với người Huế ẩm thực là một sự tinh tế, vừa đủ, cái gì cũng nhỏ nhỏ vừa miệng ăn.

Bánh chưng Nhật Lệ xứ Huế nổi tiếng thơm ngon chính vì những người thợ làm nghề luôn đảm bảo các khâu trong quá trình chế biến. Gạo nếp phải là thứ gạo nếp thơm dẻo, có hạt mẩy tròn, trắng tinh; Đậu làm nhân phải là đậu xanh nguyên lõi, được đãi sạch và nấu chín, sau đó nắm tròn thành từng chiếc nhỏ cho từng cái bánh; Nhân thịt lợn phải nửa nạc, nửa mỡ luộc, thái dày, trộn hạt tiêu đặt mua tỉnh Gia Lai và hành tím cũng lấy từ miền Nam; Lá chuối hay lá dong để gói cũng đặt mua, tuyển chọn thành xếp cẩn thận.

Ngoài chuẩn bị nguyên liệu, khâu luộc bánh cũng phải kỹ từ sắp bánh vào thùng, giữ đúng thời gian bánh chín từ 10-12 giờ liền và không cho bất kỳ loại hóa chất nào. Một bí quyết làm cho bánh chưng Nhật Lệ thơm ngon và có thể bảo quản được lâu, khó bị ôi thiu là vì các lò bánh chưng Nhật Lệ gốc đãi gạo nếp rất kỹ, sau đó để ráo hết nước mới gói bánh.

Bánh chưng Nhật Lệ xứ Huế thơm dẻo, ăn rất khoái khẩu do sự kết hợp nhuần nhuyễn mùi vị giữa nhân đậu, thịt (mỡ và nạc) với gạo nếp và các loại gia vị như tiêu, hành. Bóc lớp lá chuối ra, màu bánh xanh thơm nhức mắt. Cắn một miếng, nhân đậu thịt mỡ màu nâu trắng béo bùi ngập chân răng. Ăn bánh chưng Nhật Lệ khi nguội ngon hơn khi nóng. Người ăn quen lâu ngày thành nghiện, thành thèm.

Du khách đến Huế ai cũng nên tìm ăn bánh chưng Nhật Lệ, để thấm cái hương vị đặc trưng của Lang Liêu ngàn đời "danh bất hư truyền"... đặc biệt hơn khi được thưởng thức trong những ngày thường.

Giá cả

Bánh chưng Nhật Lệ hiện nay có giá 10.000 đồng/cặp. Tùy vào kích cỡ to nhỏ của bánh mà có giá dao động lên 20.000 - 30.000 đồng/cặp. Cũng tùy vào nhu cầu của người sử dụng, có thể đặt bánh chay hoặc bánh mặn.

Nếu không mua được trực tiếp từ phố Nhật Lệ, mọi người cũng có thể mua được bánh chưng Huế từ các ngôi chợ của Huế như Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự...

Dưa chuối muối chua (Món ngon những ngày mưa bão)

Cứ vào độ thu đông, tiết trời se lạnh, trên mỗi mâm cơm của người dân xứ Huế thường có một món ăn thơm thảo mà chỉ mới nghe tên, những người con xa quê đều thấy cồn cào: Dưa chuối muối chua.

Nguồn gốc món ăn

Cho đến ngày nay, ở Huế vẫn còn truyền nhau câu ca dao: “Ông tha mà bà chẳng tha – Làm cho trận lụt 23 tháng 10” để nhắc nhở nhau cẩn thận trong mùa mưa bão, lũ lụt liên miên từ độ cuối tháng 7 đến tháng 10 hàng năm. Sự khắc nghiệt của thiên tai đã hình thành nên đức tính kiệm cần, lo xa cho người dân Miền Trung, trong đó có Huế. Cộng với sự khéo tay, tỉ mỉ của người phụ nữ Huế, từ những thứ tưởng như bỏ đi như thân cây chuối đã được biến tấu thành một món ăn ngon khó cưỡng.

Nguyên liệu

Nguyên liệu chính: lõi cây chuối sứ, củ kiệu, cà rốt.

Gia vị: ruốc Huế, ớt chỉ thiên, tỏi, bột ngọt.

Chế biến

 Bước 1: Sơ chế nguyên liệu: Bỏ lớp vỏ ngoài thân cây chuối, giữ lại phần lõi mềm, thái mỏng ngâm vào nước để giữ màu trắng của thân chuối; củ kiệu tươi rửa sạch, để ráo; cà rốt bào sợi, cắt khúc bằng nhau với độ dài khoảng 5-7cm để gia tăng màu sắc cho món ăn.

Bước 2: Nhồi các nguyên liệu trên với một ít muối cho thấm, sau đó bỏ vào hộp đậy thật kín, để khoảng 2-3 ngày thì ăn được.

Bước 6: Thành phẩm đạt yêu cầu có mùi thơm dịu, không nổi váng.

Món ăn được dùng kèm với nước mắm ruốc loại ngon hoặc ăn chung với nước ruốc cũng rất đậm đà.

Cách pha nước ruốc: Cho ít dầu vào chảo, đợi dầu nóng thì cho hành ớt băm nhỏ vào phi thơm. Cho ít ruốc đánh trong chén nước. Đợi đến lúc nước ruốc lắng xuống, đổ phần nước trong vào chảo dầu phi, nêm thêm chút đường, bột ngọt cho vừa miệng là hoàn tất.

Thưởng thức

Một chén cơm nóng, một vắt dửa chuối muối chua, một chén nước ruốc cay cay. Chao ồi, ngậm mà nghe vị quê mồn một, không từ nào diễn tả hết được.

Ngoài chấm với nước ruốc, Dưa chuối muối chua xào tỏi ăn cũng rất đưa cơm. Chỉ cần cho tỏi đập dập vào chảo, phi thơm rồi cho dưa chuối vào đảo nhanh tay, nêm gia vị cho vừa miệng là được. Ngoài ra món này có thể để om cá, trộn gỏi... đều hợp gu Huế mình. Ăn một lần mà mê say không bao giờ quên được.

Dưa chuối muối chua là một món ăn thường ngày của người dân Huế, cũng hiếm có quán ăn, nhà hàng nào phụ vụ món ăn này. Tuy nhiên, nếu muốn thưởng thức, món ngon này được bày bán ở các khu chợ xứ Huế như An Cựu, Bến Ngự, Đông Ba…

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, không phải nhà nào cũng có một mảnh vườn để trồng chuối và tự làm nên món ngon này, vì vậy nếu đi chợ mà bắt gặp được các o, các mệ nách mẹt bày bán dưa chuối muối chua thì giống như “xa xỉ phẩm” mà ai cũng nóng lòng muốn sở hữu. Ấy vậy nhưng, chỉ cần mua một vắt dưa chuối 10 ngàn đồng là đã đủ cho một bữa cơm 02-3 người ăn rồi. Huế là thế, món gì cũng nhỏ nhỏ, xinh xinh, ngon mắt mà lại còn rẻ nữa, thử hỏi không nhớ, không thương sao cho được!

Địa chỉ gợi ý

Chợ An Cựu Chợ Đông Ba Chợ Bến Ngự 

Mắm Ruốc Xứ Huế (Mùa nào mắm nấy) 

Không biết từ khi nào mắm Huế đã trở thành món ăn gần gũi với người dân Cố đô và khách du lịch. Những hũ mắm nhỏ nhỏ xinh xinh, bình dị chinh phục hầu hết khách phương xa và ai cũng muốn mang về cho người thân như món quà đặc sản.

Tương tự như nhiều nơi, mắm Huế cũng được làm đơn giản từ những loại hải sản biển. Tuy nhiên, qua bàn tay chế biến của các mệ, các o thì mắm Huế lại sở hữu hương vị vô cùng đặc biệt mà khi bất kỳ du khách nào “bén duyên” thì khó có thể quên. 

Các loại mắm Huế

Nói Huế mùa nào mắm nấy quả không sai. Mùa đông có mắm cá ngừ, mắm thính cá chuồn, mắm cá nục, cá trích. Mùa thu thì mắm nêm, mắm cá cơm, mắm cá thu, mắm sò, mắm hàu… Mùa hạ thì mắm dưa, mắm còng, mắm cà pháo, mắm tôm chua… Hầu hết mắm Huế không quá mặn, không quá ngọt mà đậm đà và lúc nào cũng có vị cay.

Cũng bởi sở hữu thiên đường các món mắm đa dạng như vậy, xứ Huế mới sản sinh ra vô số món ngon nức danh thiên hạ như: Bún bò Huế, Cơm hến, Bún mắm nêm, Bánh ướt cuốn tôm chua... hay đơn giản là món Muối sả mắm ruốc, Tôm thịt kho ruốc. Điểm chung của những món ăn này đều được nêm nếm hoặc ăn kèm cùng các loại mắm nổi tiếng của Huế. 

Chế biến và Thưởng thức

Với mỗi loại mắm lại có một cách chế biến và thưởng thức riêng. Mua mắm về, người Huế thường thêm tỏi, đường… rồi xào, hấp hoặc để nguyên vậy mà thưởng thức. Có nơi kèm thịt luộc hoặc dưa giá, có nơi kèm rau sống và các loại trái xanh như dưa gang, dưa leo, vả, khế… cực "hao cơm" trong những ngày lạnh cuối năm.

Mắm Huế chủ yếu làm thủ công nên thời gian bảo quản khá ngắn, khoảng 3-4 tháng, vì vậy nên bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh để có thể dùng được lâu hơn.


Món ngon gợi ý ăn kèm

Ngày nay, chỉ cần vào chợ Đông Ba, hoặc bất cứ khu chợ nào của Huế, thực khách đều có thể bắt gặp các loại mắm đặc trưng và mua về làm quà, giá cả cũng hết sức phải chăng, dao động từ 30-100.000 đồng/hũ.

Địa chỉ mua sắm

Chợ Đông Ba Tôm chua Tấn Lộc Tôm chua Trọng Tín Mắm Ruốc Cô Ri Cửa hàng Đặc sản Cố đô Tôm chua Nhật Phi. 

Tré Huế (Ai đi xa cũng nhớ)

Không cần rườm lời, chỉ bốn câu thơ dưới đây đã đủ khái quát được món ngon khó cưỡng của Tré Huế:

Tai heo, riềng, thính, tỏi, mè...

Các nguyên liệu chính mới nghe đã thèm

Gói trong lá ổi tươi nguyên

Tré cùng nem chả ông ghiền, bà mê.

Trong bữa cơm của nhiều người Huế, Tré luôn là món khai vị cùng với chút rượu làm ấm lòng những ngày giá lạnh. Mỗi khi Tết đến xuân về, nếm Tré và bình phẩm chất lượng Tré của nhau cũng là thú vui của những bà nội trợ và thực khách, làm nên một nét độc đáo của Tré Huế. 

Nguyên liệu

Nguyên liệu chính: Tai, mũi heo/chả bò (1kg); Da heo (200gr); Riềng (300gr);Ớt tươi (100gr); Ớt khô (50gr).

Nguyên liệu riêng đặc trưng: Thính (1/2 bát ăn cơm), Lá ổi hoặc lá đinh lăng (5-10 lá).

Gia vị: Tỏi (1 củ to), Muối tinh (3 muỗng cà phê), Mè rang (50gr), Bột ngọt (3 thìa cà phê), Đường (2 muỗng cà phê). 

Chế biến

Bước 1: Tai, mũi và da heo rửa sạch với nước muối, đem luộc lên cho chín. Vớt ra ngâm vào chậu nước lạnh trong vòng 10 phút. Sau đó vớt ra để ráo rồi tiến hành cắt sợi.

Bước 2: Riềng, ớt, tỏi băm nhuyễn. Thính gạo rang giã mịn. Phi ớt khô với dầu điều.

Sau khi chuẩn bị xong các loại gia vị, tiến hành trộn tất cả các loại gia vị trên với tai, mũi và da heo đã cắt nhỏ.

Bước 3: Sau khi trộn xong, tiếp tục cho vào hũ nén chặt hoặc gói bằng lá chuối tươi. Tré sau 2 ngày là bắt đầu ăn được. Nếu ai muốn ăn chua hơn thì để khoảng 3 ngày.

Bước 4: Tré vừa chín, bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh để dùng dần. Gia vị có thể gia giảm tuỳ theo khẩu vị của mỗi người.

Thưởng thức

Chỉ cần bóc lá và một đôi đũa tre nhỏ là có thể ăn ngay không cần bày biện ra đĩa hay chén. Chính vì thế mà những buổi picnic, cắm trại, dã ngoại... Tré là món ăn được các bạn trẻ ưa chuộng mang theo.

Nếu đến Huế vào những ngày mưa, Tré Huế chắc chắn là sự lựa chọn không làm bạn thất vọng khi thưởng thức và mua về làm quà.

Bánh ướt cuốn tôm chua

Món ăn quý tộc, món ngon vỉa hẻ 

Món Bánh ướt cuốn tôm chua tuy dân dã nhưng một thời được vua chúa hết sức tâm đắc, món ăn này thường hiện diện trên bàn ăn của vua.

Như một sự giao thoa giữa ẩm thực cung đình và ẩm thực dân gian, bánh ướt cuốn tôm chua là món ăn không chỉ ngon mà còn thể hiện rất rõ nét đặc trưng của ẩm thực xứ Huế: nhỏ nhắn, cầu kỳ và đầy triết lý. 

Nguyên liệu

Nguyên liệu chính: Bánh ướt, tôm chua Huế, thịt luộc, nem, chả, bún...

Nguyên liệu đi kèm: rau muống, rau sống, rau thơm, khoai lang.

Gia vị: Ớt, ruốc Huế, dầu, bột ngọt, tiêu, hành, tỏi. 

Chế biến 

Bước 1: Sơ chế các loại nguyên liệu: luộc thịt, hấp chín khoai, rửa sạch các loại rau và để ráo.

Bước 2: Làm nước chấm: Khoai lang hấp chín, đánh cho tơi. Phi thơm dầu, cho ruốc Huế, gia vị, tỏi, khoai lang vào. Muốn vị nước lèo này đặc biệt hơn thì có thể tận dụng nước luộc thịt heo. Hỗn hợp sẽ vừa sệt, vừa béo thơm, ngon ngọt.

Bước 3: Nhẹ tay trải từng chiếc bánh ướt ra trên một cái đĩa, sắp rau sống, bún, khoai lang xắt sợi, mỗi thứ một tí vào và cuộn lại cho thật chặt.

Bước 4: Cắt cuộn bánh thành từng miếng, độ dài khoảng bằng hai lóng tay, xếp đều lên đĩa.

Bước 5: Gắp tôm chua đặt lên từng miếng bánh sao cho vừa ăn, thêm chút ớt và vài lát nem, chả cho hợp khẩu vị của mỗi người và thưởng thức. 

Thưởng thức

Đĩa bánh sẽ có đầy đủ màu sắc: xanh tươi của rau, vàng mơ của khoai, trắng trong của bún, hồng thắm của tôm chua. Nước chấm có màu nâu vàng sánh óng rất hấp dẫn. Gắp một cuốn bánh đẹp như một bài thơ, rón rén chấm vào chén ruốc, nhỏ nhẻ nhai mà thấm thía vị ngọt đậm đà và nét duyên của người Huế trong cái ăn sự uống đời thường.

Người Huế coi món ăn như triết lý nhân sinh của cuộc đời có đủ các vị từ mặn, ngọt, béo, bùi đến chua, chát, đắng, cay nhưng vị nào luôn rõ vị ấy. Chậm rãi thưởng thức món bánh cuốn tôm chua, chợt nhận ra đủ sắc, đủ vị rất ấn tượng.

Chiều chiều, vào giờ tan tầm lúc 16-17h, mọi người có thể ghé chân cầu Kho Rèn (đường Phan Đình Phùng, Tp. Huế) để lót dạ với món bánh cuốn tôm chua mệ Hạnh. Chỉ là một gánh hàng nhỏ nhưng ai cũng sẵn lòng xếp hàng để chờ mệ cắt cắt, gói gói, cảm giác y như chờ đợi mẹ đi chợ về, mua cho chút quà rồi chia phần vậy. Khách muốn mua về sẽ được gói bánh trong lá chuối tươi trước khi cho vào túi. Chút bình dị, chút cẩn thận, chút an toàn, chút tinh tế, tất cả gói ghém trong một chữ "Khéo" mà bất cứ ai một lần ghé mua đều nhớ mãi.

Giá cả: 25.000 đồng/suất.

Địa chỉ gợi ý

Bánh cuốn tôm chua mệ Hạnh (chân cầu Kho Rèn, đường Phan Đình Phùng, Tp. Huế)

Huyền - Bánh Cuốn Tôm Chua (11 Dương Văn An, Xuân Phú, Tp. Huế) 

Bánh canh Nam Phổ (Món ăn chiều độc đáo)

Món ăn gắn liền với vùng đất sản sinh ra nó. Bánh canh Nam Phổ cũng vậy. Cho đến nay, cũng không đâu làm bánh canh Nam Phổ ngon như... người dân Nam Phổ, Huế.

Dù có đi đâu về đâu, người Huế vẫn hết mực tự hào về món ngon nổi danh thiên hạ này và̀ giới thiệu cho bạ̣n bè phương xa đế́n thưởng thức món ăn giản dị̣ nhưng tinh tế như chính tâm hồn người Cố đô. 

Nguyên liệu

Nguyên liệu chính: Bột gạo (300g), bột năng (50g), tôm đất(200g), giò sống (100g), thịt ba chỉ (100g), 1 con cua (200g)

Nguyên liệu ăn kèm: Hành, ngò rí, chanh, tỏi, ớt

Gia vị: Hạt nêm, nước mắm, tiêu, muối, đường, màu điều 

Chế biến

Bước 1: Thịt ba chỉ đem rửa sạch, thái thành từng miếng nhỏ, đem ướp với chút nước mắm, tiêu và hành tỏi băm nhỏ. Cua mua về, bạn gỡ lấy gạch để ra chén riêng. Phần còn lại bạn đem cho vào nồi cùng tôm, sau đó cho vào khoảng 2l nước, rồi luộc chín. Khi tôm và cua chín, bạn vớt ra bóc vỏ lấy thịt và gạn nước để làm nước dùng.

Bước 2: Thịt cua và tôm đem giã nhỏ, rồi trộn đều với giò sống. Khi trộn, bạn nêm nếm với: 1 muỗng canh nước mắm, tiêu, 1 muỗng cà phê đường, hành tỏi băm. Trộn đều tất cả, rồi để khoảng 30 phút cho ngấm gia vị.

Bước 3: Lấy 300g bột gạo trộn với 500ml nước, khuấy đều cho bột tan hết và lược qua rây để bột được mịn. Tiếp theo, cho nước bột vào nồi, nấu với lửa nhỏ, khuấy đều đến khi bột đặc lại và có độ dẻo. Chờ đến khi bột nguội, cho bột vào túi thực phẩm, cắt phần góc để nặn bánh canh. Tiếp tục, bạn cho nước vào nồi nấu sôi và nặn bánh canh thả vào nồi; nấu bánh canh đến khi chín hẳn thì vớt ra xả với nước lạnh.

Bước 4: Phi thơm hành tỏi, rồi cho thịt ba chỉ đã ướp cùng gạch cua vào xào. Nếu gạch cua không được đỏ, có thể cho thêm ít dầu điều để bánh canh có màu đẹp mắt, sau đó cho hỗn hợp vào nồi nước dùng.

Bước 5: Cho hỗn hợp giò sống, tôm cua nhuyễn vào túi thực phẩm có cắt góc. Tiếp theo, nặn chả rồi cho vào nồi nước dùng.

Bước 6: cho 50g bột năng hòa với 200ml nước lạnh, khuấy đều đến khi bột tan hết và cho vào nồi nước dùng. Nêm nếm nước dùng với gia vị cho vừa ăn và liên tục khuấy đều đến khi nước dùng có độ sánh. Khi nguyên liệu chín, bạn cho hành lá cắt nhỏ vào và tắt bếp.

Thưởng thức

Không chỉ thu hú́t bởi mùi vị, tô bánh canh thật hấp dẫn với màu trắng của bánh xen lẫn nhân tôm thịt và màu xanh mướt của hành lá. Khi dùng, bạn nhớ trộn thêm chút nước mắm ớt xanh, vài cọng hành ngò. Hương vị đậm đà của tôm thịt cùng hành ngò hòa quyện cùng sợi bánh canh tạo nên sự đặc sắc cho món ăn đặc sản này.

Bánh canh Nam Phổ chỉ bán vào buổi chiều tối, nên nếu khách muốn ăn sớm hơn cũng chịu, mà tới muộn quá thì lại hết, một cách thử thách lòng kiên nhẫn của các thực khách khi đến Huế, y như sự chờ đợi người yêu những buổi hẹn hò.

Bánh canh Nam Phổ hiện nay có giá 15.000 đồng/tô, chắc chắn bạn sẽ vừa ăn vừa xuýt xoa vì giá cả quá rẻ so với chất lượng của một món ăn đặc sản. Đó cũng chính là nét riêng có một không hai của Ẩm thực Huế.

Địa chỉ gợi ý

Quán Thúy (16 Phạm Hồng Thái, Tp. Huế)

Bánh canh Nam Phổ - Bánh bèo O Thu (374 Chi Lăng, Tp. Huế)

Quán Nam Phổ đặc sản Huế(54 Nguyễn Công Trứ, Tp. Huế)

Bánh canh Nam Phổ O Hằng(16 Hà Huy Tập, Tp. Huế) 

3.6  Các loại trà Huế 

Trà tim sen

Trà tim sen (tâm sen) là sản phẩm nguyên chất được lấy ra từ hạt sen. Tim sen sau khi lấy ra sẽ lựa chọn những tim sen tốt nhất rồi sấy khô hoàn toàn sẽ được đóng thành hộp Trà tim sen nguyên chất.

Địa chỉ:Cửa hàng Mè xửng Thiên Hương - Trà tim sen Nguyên chất - Cửa hàng Mè xửng Nam Thuận

Giới thiệu trà tim sen Huế

Khi kinh tế phát triển, nhu cầu người tiêu dùng sẽ hướng đến những món ăn ngon và tốt cho sức khỏe. Sen Tịnh Tâm không chỉ đi vào lòng người bởi những món ăn ngon, bổ dưỡng mà còn nổi tiếng bởi những chén trà tim sen giúp cho bạn ngủ ngon giấc hơn. Tim sen được lấy ra từ hạt sen Huế đi sấy khô, không chất bảo quản và sử dụng như một thần dược giúp thư giãn tinh thần và tốt cho giấc ngủ của con người.

Đặc điểm trà tim sen Huế

- Trà tim sen có vị đắng, tính lạnh

- Có chứa asparagin và các alkaloid như nelumbin, nuciferin, liensinin. Nuciferin có tác dụng kéo dài giấc ngủ, làm giấc ngủ được sâu hơn.

Công dụng trà tim sen Huế

1. Tác dụng của tâm sen giúp an thần, trị mất ngủ

Tâm sen được ví như một trong những vị thần dược có tác dụng an thần, mang đến một giấc ngủ ngon và sâu cho những người mắc bệnh mất ngủ kinh niên. An thần, trị chứng mất ngủ kinh niên là một trong những điểm mạnh lớn nhất của tâm sen mà chúng ta cần nói đến. Trong tâm sen có chứa các thành phần hóa học có tác dụng trấn tĩnh và cải thiện giấc ngủ như: asparagin và các alkaloid như nelumbin, nuciferin, liensini.

2. Tác dụng của tâm sen hỗ trợ điều trị bệnh tăng huyết áp, ổn định nhịp tim

Theo các nghiên cứu khoa học, tâm sen có tác dụng giúp làm giảm áp huyết và ổn định nhịp tim rất hiệu quả. Do đó, đối với những người bị cao huyết áp và tim đạp nhanh, hay hồi hộp thì sử dụng tâm sen rất hiệu quả.

3. Tác dụng của tâm sen giúp thanh nhiệt, giải độc

Tâm sen có vị đắng, tính hàn, giúp thanh nhiệt, giải độc cơ thể. Một cốc nước trà tâm sen sẽ làm tan đi cái nắng nóng oi bức của mùa hè gay gắt. Ngoài ra, những bạn hay bị mụn nhọt, ngứa, rô sảy sử dụng tâm sen thường xuyên sẽ rất hiệu quả. 

4. Tác dụng của tâm giúp hỗ trợ điều trị bệnh bí tiểu

Trà Tâm Sen kết hợp với Cam thảo sẽ giúp bạn điều trị chứng bí tiểu, cho bạn một sức khỏe tuyệt vời.

5. Tác dụng của tâm sen hỗ trợ điều trị bệnh ù tai, di tinh, mộng tinh

Ngoài tác dụng trị an thần tâm sen còn có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh ù tai, di tinh, mộng tinh cực hiệu quả. 

Cách sử dụng

Trà tim sen Huế trị mất ngủ hiệu quả

Cho khoảng  02 gam tim sen rửa sạch, cho vào bình 1 ít nước nóng sau đó sau đó lắc bình trà vài lần qua lại, bước này gọi là tráng trà.Và tuyệt đối đừng bỏ qua bước này vì đây chính là bí quyết giúp bạn thưởng thức trà ngon hơn.

Bỏ lượt nước đầu này đi. Rót lượt nước thứ 2 vào bình và để yên từ 5-10’ để trà ra chất là có thể uống.

Sẽ ngon hơn khi uống trà lúc còn nóng. Bạn có thể uống thay trà trong ngày. Uống nhiều hơn vào buổi chiều tối.

Lưu ý:

Nếu lạm dụng tim sen lâu dài có thể ảnh hưởng đến chức năng sinh lý ở độ tuổi trẻ.

Thích hợp với độ tuổi 22 trở lên. Uống khoảng 0,5 kg đến 01kg là đủ hoặc uống đến khi bạn ngủ được là ngưng. Hiện chưa thấy tài liệu nói về độc tính của tim sen, nhưng do hàm lượng alkaloid cao nên tim sen cho tác động dược lực mạnh và ảnh hưởng đến tim, do đó cần chú ý liều dùng và không nên dùng với người yếu tim.

Tim sen tính lạnh nên những người tỳ vị hư yếu, hay rối loạn tiêu hóa và đi lỏng mạn tính không được dùng.

Những người huyết áp thấp không nên dùng trà tim sen.

Mua trà tim hạt sen ở đâu?

- Trà tim sen Nguyên chất

- Cửa hàng Mè xửng Thiên Hương

- Cửa hàng Mè xửng Nam Thuận

Cam Nam Đông

Cam Nam Đông là một sản vật nổi tiếng ngọt, ngon của quê hương Thừa Thiên Huế. Vừa qua, Cam Nam Đông đã được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và công nghệ cấp giấy chứng nhận “Nhãn hiệu tập thể”.

Sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể “Cam Nam Đông” gồm: Quả Cam tươi; cây Cam giống; dịch vụ mua bán. 

Cam là loại cây trồng thích nghi với điều kiện tự nhiên ở Nam Đông, sinh trưởng và phát triển tốt, chất lượng quả thơm ngon. Những năm gần đây, nhận thấy hiệu quả kinh tế cao từ cây cam, huyện Nam Đông vận động bà con nhân rộng diện tích trồng cam, mang lại thu nhập khá cao cho nhiều hộ dân.

Giai đoạn 2016- 2020, huyện Nam Đông xác định cam là một trong những cây trồng chủ lực và xây dựng đề án phát triển cam Nam Đông với diện tích 400ha theo tiêu chuẩn VietGap.

Việc công bố nhãn hiệu tập thể "Cam Nam Đông" sẽ giúp người dân trong vùng dự án tăng thu nhập bền vững từ sản phẩm địa phương theo hướng sản xuất hàng hóa. Từ đó, giúp người dân giảm áp lực tác động xấu đến rừng.

Việc công bố nhãn hiệu tập thể "Cam Nam Đông" sẽ giúp người dân trong vùng dự án tăng thu nhập bền vững từ sản phẩm địa phương theo hướng sản xuất hàng hóa. Từ đó, giúp người dân giảm áp lực tác động xấu đến rừng.Việc công bố nhãn hiệu tập thể "Cam Nam Đông" sẽ giúp người dân trong vùng dự án tăng thu nhập bền vững từ sản phẩm địa phương theo hướng sản xuất hàng hóa. Từ đó, giúp người dân giảm áp lực tác động xấu đến rừng.

Vào độ tháng 9, tháng 10, khi ghé Huế, du khách có thể mua và thưởng thức Cam Nam Đông, thêm một dư vị đẹp về mảnh đất cố kinh hào sảng. 

Bún hến(Tìm lại hương vị miền cố đô)

Cùng với rất nhiều những đặc sản của Huế, bún Huế cũng góp phần làm nên thương hiệu ẩm thực của đất thần kinh. Món ăn từ hến mang đến cho thực khách những ấn tượng đặc biệt khi nhớ về miền cố đô trầm mặc.

Chỉ cần một vài chiếc ghế nhựa, bên gánh hàng giản dị với các nồi niêu, chén bát, xì xụp bán bún hến, ngắm dòng người qua lại, cũng là những trải nghiệm thú vị. 

Nguyên liệu (Dành cho 3 - 4 người ăn)

300 gram hến

500 gram bún

Rau sống ăn kèm: rau bạc hà (dọc mùng), rau thơm, giá đỗ, ngò, khế/xoài xanh…

Một số nguyên liệu khác: rau răm, 1/2 chén đậu phộng rang để nguyên vỏ, 1 ít tóp mỡ chiên giòn, mè trắng, một nhánh gừng.

Gia vị: 1 muỗng cà phê mắm ruốc Huế; nước mắm, bột ngọt, tiêu, đường, muối, dầu ăn. 

Chế biến

Bước 1: Hến rửa sạch, ngâm 3-4 lần trong nước muối loãng rồi rửa sạch.

Bước 2: Giá đỗ rửa sạch, để ráo rồi mang trụng sơ cho chín. Dọc mùng rửa sạch, tước bỏ vỏ rồi đem thái sợi. Rau răm, rau thơm rửa sạch rồi cũng thái sợi.

Bước 3: Nấu nước sôi, cho một chút muối và gừng (đập dập) vào rồi cho hến vào luộc sơ cho mở miệng, sau đó đãi hết vỏ.

Bước 4: Thịt hến được xào cùng hành phi thơm, đến khi hến săn lại và ráo nước, cho thêm chút ớt sa tế, muối, bột nêm, đường, tiêu, rau răm, đậu phộng rang, mè trắng vào, đảo đều khi hến thấm gia vị thì tắt bếp.

Bước 5: Làm nóng dầu ăn cùng chút màu điều trong chảo sâu lòng. Sau đó, thả đậu phộng nguyên vỏ vào chiên vàng cho chín rồi đổ ra bát nhỏ, để riêng.

Bước 6: Giữ lại nước luộc hến, lắng bỏ phần cặn để ăn kèm, tạo độ ngọt thơm đặc trưng của tô bún hến.

Bước 7: Ớt, tỏi giã nhuyễn, đem trộn vào với 3 muỗng cà phê mắm ruốc. Cho chút đường, ít nước luộc hến vào rồi trộn đều cho ruốc tan.

Bước 8: Chuẩn bị một tô lớn, cho các loại rau đã sơ chế gồm dọc mùng, rau thơm, giá đỗ, khế vào. Sau đó, cho thêm bún, hến, đậu phộng, tóp mỡ vào, trộn đều và thưởng thức. Nếu nhạt có thể nêm thêm chút nước mắm hoặc ruốc Huế cho vừa miệng. Có thể ăn khô hoặc chan thêm nước hến tùy ý.

Thưởng thức

Chè khoai tía Huế

Củ khoai tía là nguyên liệu dân dã nhưng rất độc đáo của xứ Huế. Dùng nấu chè có vị bùi bùi, ngọt thanh, dẻo thơm và màu tím Huế rất đẹp.

Món chè khoai tía được nhiều thực khách ưa thích vì màu sắc và hương vị. Chè được nấu từ khoai tía tím với nước cốt dừa và để nhỏ lửa đến khi vừa sánh là được, một số nơi biến tấu thêm các nguyên liệu như bột báng, trân châu, bột sắn… Ngày hè oi bức, ly chè khoai tía mộc mạc bình dị với sắc tím ngọt ngào sẽ giúp bạn thêm thanh mát.

Hướng dẫn cách nấu món chè khoai tía Huế cho 3 – 5 người  chỉ trong 15 - 20 Phút 

Nguyên liệu:

1/2 khoai tía hấp, xay nhuyễn 

0,25kg dừa nạo làm thành nửa chén nước cốt dừa 

1 chén nước cốt dừa 

0,2kg đường cát 

0,2kg đậu xanh cà 

1 củ gừng nhỏ.

Cách thực hiện:

1. Khoai tía hấp chín, xay nhuyễn.

2. Đậu xanh cà hấp chín, xay nhuyễn, cho đường quậy đều. 

3. Nấu sôi lại, cho một ít gừng cho thơm. 

4. Múc ra chén, trang trí với nước cốt dừa. 

Bún chả cá Huế

Bạn đã từng thưởng thức món bún chả cá khi đến Huế? Đây là một món ăn nổi tiếng, có cả ở Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn... nhưng món bún chả cá Huế có mùi vị rất riêng biệt bởi nước dùng không chỉ được nấu từ các loại rau củ nên mùi thơm và vị thanh ngọt hơn mà còn có thêm ruốc Huế ăn kèm tạo nên sự đậm đà, riêng có.

Là một trong những món ăn bình dân, được bày bán rất nhiều từ nhà hàng ra vỉa hè, cùng với bún bò Huế, cơm hến, bánh bèo nậm lọc..., bún chả cá cũng là một món ăn gây thương nhớ cho những ai khi xa Huế. Bởi vậy, nếu có dịp đến Huế, đừng quên thưởng thức một tô bún chả cá đặc trưng này nhé!

Giá cả: 12 - 15.000 đồng/suất

Địa chỉ tham khảo: 

Bún chả cá Hằng - 134 Bà triệu

Bún chả cá Út Kòi – 89 Nguyễn Huệ 

Bún chả cá A Cứ - 124 Nguyễn Huệ

Bún chả cá A Có - 32 Ngô Gia Tự

Bún chả cá 10K - 104 Phan Bội Châu

Bún chả cá Anh Có - Nguyễn Khuyến

Bún chả cá Hai Bà Trưng - 51 Hai Bà Trưng

Bún chả cá - Huỳnh Thúc Kháng - 289 Huỳnh Thúc Kháng

Bún chả cá Trần Quang Khải - 42 Trần Quang Khải

Bún chả cá bà Phiến - 36 Trần Thúc Nhẫn

Bún chả cá riêu cua Bà Luận - 85 Nguyễn Huệ

Bún chả cá bình dân Trường Chinh - 105 Trường Chinh 

Chè bột lọc bọc thịt heo quay

Nguyên liệu: 

- Bột lọc

- Thịt heo quay (thịt đùi)

- Đường phèn

- Đường cát

- Gừng

- Lạc (đậu phộng)

Cách chế biến: 

Bước 1: Làm bột lọc bọc heo quay

- Bột lọc đem nhào với nước cho dẻo, sau khi nhào bột có thể ngắt thành từng miếng rồi bọc bên ngoài thịt heo quay.

- Thịt heo quay thái hạt lựu, trộn với đường phèn và cho vào nồi đổ xăm xắp nước, rim đến khi thịt ngấm đường thì bỏ ra phơi chỗ bóng râm để thịt heo trong. 

- Khi thịt đã trong, cho thêm ngũ vị hương để có mùi thơm đặc trưng, sau đó nhồi vào bột và viên tròn bột lại.

Bước 2: Sên nước đường

- Cho đường phèn vào nồi, đun nhỏ lửa cho đến khi ngả sang màu vàng thì đổ thêm nước lọc và đun sôi. 

- Khi nước sôi, thả nhẹ từng viên bột lọc vào

- Khi bột chín sẽ nổi lên trên, vớt bọt và cho thêm ít gừng nữa là hoàn thành nồi chè bột lọc heo quay. 

Bước 3: Thưởng thức:

- Múc chè ra bát hoặc cốc rồi rắc thêm ít mè rang/ đậu phộng rang. 

- Món chè này có thể ăn nóng hoặc nguội đều ngon.

- Với những người lần đầu thưởng thức thì nên cho thêm ít đá để dễ ăn hơn.

Thành phẩm: Chè bột lọc heo quay có độ trong của nước, khi ăn, vị thanh ngọt của đường phèn cùng vị mặn, béo ngậy của heo quay trong miếng bột lọc dẻo dai lẫn mùi gừng hòa quyện vào nhau, tạo nên hương vị đặc trưng và rất cuốn hút.

Giá cả: 10 -15.000 đồng/ly

Địa chỉ gợi ý: 

- Chè Hẻm - 1 kiệt 29 Hùng Vương

- Chè mợ Tôn Đích - 65 Trần Hưng Đạo

Bạn có thấy tò mò, kích thích vị giác với món ăn này không? Còn chờ gì nữa lên kế hoạch du lịch Huế để thưởng thức món chè đặc biệt này ngay thôi.

Nguồn: Khám phá Huế tổng hợpm Phá Huế

Tôm chua xứ Huế

Trung Trương 

Cố đô Huế được thừa hưởng những di sản văn hóa truyền thống độc đáo qua nhiều triều đại. Trong đó phải nhắc đến nghệ thuật ẩm thực. Từ cách ăn uống dân dã đến cách ăn uống cung đình, nét đặc thù của những món ăn xứ Huế là vẫn giữ được nét chung món ăn Việt Nam, nhưng mang phong vị rất riêng của người Huế, văn hóa Huế.

Cũng xin đừng tưởng tôm chua giống các món ăn có từ tôm như tôm rang, tôm rim, tôm cháy... Và nếu một lần nào đó chưa đến Huế, du khách được ăn món tôm chua, đừng vội chê và thốt lên “Có gì”...

Để có được món tôm chua, người làm phải tuân theo khá nhiều nguyên tắc bắt buộc. Khâu đầu tiên là chọn tôm được coi là quan trọng nhất, bởi có nhiều loại tôm có thể làm tôm chua nhưng chỉ có tôm rằn hoặc tôm sú là ngon hơn cả. Tôm phải thật tươi, khi mua tôm phải lựa cho đều con, rửa sạch, bóc vỏ phần đầu tôm, sát trùng thật kỹ, ép cho khô ráo.

Kế đến là các loại gia vị và phụ gia: trước hết là rượu trắng, phải chọn thứ rượu ngon nấu bằng men tốt, rồi mới đến các gia vị như tỏi, ớt, thính gạo, tiêu, ớt tươi… theo nhiều ít tùy theo nhu cầu thưởng thức. Sau 15 ngày nếu là mùa đông, 10 ngày nếu là mùa hè thì tôm chua bắt đầu lên men.

Khi đó mở ra sẽ thấy một mùi thơm thoang thoảng của rượu và mùi tôm chín chua ngọt, cay cay. Nhìn vào thúng tôm thấy màu đỏ rực, vàng óng, nước tôm sánh như mật. Ăn lúc này hoặc để cả tháng sau, con tôm vẫn giữ được hương vị.

Tôm chua thường có trong bữa ăn của người Huế, nhất là vào các dịp đặc biệt. Những người Huế rất trân trọng món ăn này, dù nam hay nữ đều có thể làm ăn tôm khá thành thạo. Tôm chua thường ăn với các loại rau sống ăn kèm như vả, chuối xanh, rau thơm, mắm ruốc… tạo nên một cảm giác thích thú khi thưởng thức.

Ẩm thực Huế là một nghệ thuật được đánh giá cao. Việc sưu tầm, khai thác những món ăn đặc sản xứ Huế, trong đó có món tôm chua Huế sẽ góp phần làm phong phú sản phẩm du lịch của Huế, làm cho du khách đến Huế có nhiều bất ngờ và thú vị.

Mùa xuân Nhâm Thìn 2012, tác giả có báo tin buồn bà cụ Nguyễn Thị Hường đã qua đời, nhưng cụ đã truyền lại đầy đủ bí quyết để giữ vững thương hiệu “Tôm chua O Hường”.

 

Hàng bánh cuốn cung đình 55 năm bán ven đường ở Huế

Giữa hàng trăm món ăn giúp ẩm thực Huế được vinh doanh top ngon nhất thế giới 2025, bánh cuốn tôm chua của bà Huỳnh Thị Hạnh, 80 tuổi, ở phường Thuận Hóa, hấp dẫn cả người bản địa và du khách.

Bà Hạnh cho biết quán được mẹ truyền lại từ năm 1970. Thời gian đầu, bà gánh rong bán cho dân địa phương và khách du lịch tại các khách sạn, trục đường lớn và cung An Định. Khi tuổi cao, bà chọn ngồi bán ở góc đường Phan Đình Phùng, cạnh cầu Kho Rèn và duy trì cho đến nay.

Nguyên liệu món ăn gồm bún tươi, đọt rau muống, khoai lang hấp cắt thẻ. Lớp vỏ bánh được tráng mỏng nhưng vẫn giữ được độ ẩm và dẻo. Bánh cuốn xong được cắt thành từng khoanh tròn nhỏ, đường kính khoảng 3 cm.

Bà Hạnh cho biết cuốn bánh cần kỹ năng, quá chặt dễ làm rách vỏ bánh, còn lỏng tay khiến phần nhân rời rạc, không đẹp mắt.

 Theo nghệ nhân ẩm thực Huế Hồ Đắc Thiếu Anh, bánh cuốn tôm chua từng được dùng làm món khai vị trong các bữa tiệc hoàng cung với cách bài trí đẹp mắt và nguyên liệu được tuyển chọn kỹ, mỗi phần chỉ gồm một đến ba cuốn.

Tại quán bà Hạnh, món ăn được phục vụ theo cách khác. Mỗi phần gồm khoảng 8 đến 10 cuốn và bày trên lá chuối.

Tôm chua Huế ăn cùng bánh cuốn là loại tôm nhỏ ở vùng đầm phá Tam Giang, được ngâm cùng cơm nếp, măng vòi, tỏi riềng thái lát, ớt đỏ cùng muối và nước mắm ngon. Các nguyên liệu được trộn rồi ủ trong vại sành, chờ hàng tháng để đạt đủ chua, mặn, thơm.

Trong ảnh chủ quán đang phủ lớp tôm chua lên từng cuốn bánh.

 

Điểm khác biệt của món bánh cuốn tôm chua bà Hạnh nằm ở phần nước sốt ăn kèm. Chủ quán cho biết nước sốt nấu từ khoai lang nghiền và ruốc Huế, thêm gia vị gồm nước mắm, đường, mè theo công thức gia truyền. Sốt màu cánh gián, sánh óng, dậy mùi ruốc, khi ăn khách chấm kèm tùy khẩu vị.

Một đĩa bánh cuốn tôm chua khi phục vụ khách cần đủ các yếu tố về hình thức, bánh ướt cuốn cùng rau xanh, điểm màu vàng của khoai lang và lớp tôm chua đỏ phủ lên trên.

Mỗi phần bánh cuốn tôm chua giá 25.000 đồng. Khách quen luôn gọi thêm thịt luộc, chả và nem chua.

Bà Hạnh giữ nguyên cách bán xưa kia, gói bánh bằng lá chuối cho khách mang đi. Vài năm gần đây, gánh hàng nhỏ được nhiều người biết đến, mua nhiều phần cùng lúc nên đề nghị bà cho bánh vào hộp để tiện mang về, bảo quản.

Nguyễn Phong, sống tại Huế, cho biết gánh hàng của bà Hạnh là nơi "hiếm hoi" bán bánh cuốn tôm. Anh vẫn ghé lại đây thưởng thức quà chiều vì quen khẩu vị và tin tưởng chất lượng.

Dù nhiều lúc khách đông, phải đợi cũng thấy xứng đáng, anh Phong cho biết.

Gánh bánh cuốn mở cửa từ 15h đến khi hết hàng. Khách chủ yếu mua mang đi vì chỗ ngồi ít. Hiện bà Hạnh tuổi cao nên chuyển dần cho con dâu tiếp quản.

Bên cạnh bánh cuốn, thực đơn của bà Hạnh còn có nhiều món Huế như bánh nậm, bánh bột lọc. Quán thường nghỉ bán ngày mưa, khách lần đầu đến Huế muốn ăn thử có thể hỏi dân địa phương để tìm vị trí quán.

 

Tôm chua xứ Huế

Trung Trương 

Cố đô Huế được thừa hưởng những di sản văn hóa truyền thống độc đáo qua nhiều triều đại. Trong đó phải nhắc đến nghệ thuật ẩm thực. Từ cách ăn uống dân dã đến cách ăn uống cung đình, nét đặc thù của những món ăn xứ Huế là vẫn giữ được nét chung món ăn Việt Nam, nhưng mang phong vị rất riêng của người Huế, văn hóa Huế.

Cũng xin đừng tưởng tôm chua giống các món ăn có từ tôm như tôm rang, tôm rim, tôm cháy... Và nếu một lần nào đó chưa đến Huế, du khách được ăn món tôm chua, đừng vội chê và thốt lên “Có gì”...

Để có được món tôm chua, người làm phải tuân theo khá nhiều nguyên tắc bắt buộc. Khâu đầu tiên là chọn tôm được coi là quan trọng nhất, bởi có nhiều loại tôm có thể làm tôm chua nhưng chỉ có tôm rằn hoặc tôm sú là ngon hơn cả. Tôm phải thật tươi, khi mua tôm phải lựa cho đều con, rửa sạch, bóc vỏ phần đầu tôm, sát trùng thật kỹ, ép cho khô ráo.

Kế đến là các loại gia vị và phụ gia: trước hết là rượu trắng, phải chọn thứ rượu ngon nấu bằng men tốt, rồi mới đến các gia vị như tỏi, ớt, thính gạo, tiêu, ớt tươi… theo nhiều ít tùy theo nhu cầu thưởng thức. Sau 15 ngày nếu là mùa đông, 10 ngày nếu là mùa hè thì tôm chua bắt đầu lên men.

Khi đó mở ra sẽ thấy một mùi thơm thoang thoảng của rượu và mùi tôm chín chua ngọt, cay cay. Nhìn vào thúng tôm thấy màu đỏ rực, vàng óng, nước tôm sánh như mật. Ăn lúc này hoặc để cả tháng sau, con tôm vẫn giữ được hương vị.

Tôm chua thường có trong bữa ăn của người Huế, nhất là vào các dịp đặc biệt. Những người Huế rất trân trọng món ăn này, dù nam hay nữ đều có thể làm ăn tôm khá thành thạo. Tôm chua thường ăn với các loại rau sống ăn kèm như vả, chuối xanh, rau thơm, mắm ruốc… tạo nên một cảm giác thích thú khi thưởng thức.

Ẩm thực Huế là một nghệ thuật được đánh giá cao. Việc sưu tầm, khai thác những món ăn đặc sản xứ Huế, trong đó có món tôm chua Huế sẽ góp phần làm phong phú sản phẩm du lịch của Huế, làm cho du khách đến Huế có nhiều bất ngờ và thú vị.

Mùa xuân Nhâm Thìn 2012, tác giả có báo tin buồn bà cụ Nguyễn Thị Hường đã qua đời, nhưng cụ đã truyền lại đầy đủ bí quyết để giữ vững thương hiệu “Tôm chua O Hường”. 

Cơm Âm Phủ ở Huế Xưa Và Nay 

Gần 50 năm xa cách, khi về lại Huế, một trong những chỗ mà tôi muốn thăm nhất là Quán Cơm Âm Phủ, một quán cơm nghèo mở ở vùng Đất Mới,nơi nổi danh một thời có Sân Vận Động Tự Do và có “xóm đi. Tôi thăm lại nó không phải là nó được nhắc tên trong sách Hướng dẫn Du lịch Cổ Độ hay là câu nói của anh phu xích-lô thuê bao: “ăn cơm Âm Phủ, ngủ Khách sạn Thiên Đường” Động lực chiến tôi thăm lại nó có lẽ cũng bắt nguồn từ cái đặc tính nhiễu sự tới mức cầu kỳ của những người bạn Huế của tôi. Về tận Huế thì phải kiếm ăn món Huế nhưng “Nghĩ cho cùng thì sự thưởng thức này không chỉ yêu cầu ở khẩu vị mà chủ yếu là niềm nong ước được sống, được “nếm” Huế của những ngày cũ đã vời xa. (Trần Thị Linh Chi - truyện Quán Gió - Mây Lửng lơ). Khẩu vị của món ăn ngon hay không - theo những “con người Huế khó tính” dai dẳng cỡ như Gustave Flaubert nhớ hoài món bánh Madeleine đầu đời - thường dính liền với những địa danh hay tên người làm ra mà họ nếm lần đầu, chẳng hạn như chàng thi sĩ Trụ Vũ làm thơ về những bánh ướt Kim Long, bánh nậm La Khê, chạo tôm Thuận An, cơm nem An Định, xôi gà Nguyệt Biều, cơm sen Tịnh Tầm hay nàng T.N. Hỷ Khương ca tụng bánh bèo Tây Thượng, chè Cồn Hến... 

Quán cơm Âm Phủ là một điều huyền sử nhỏ nhoi chấm phá trớ trêu trên trang sử của xứ Huế, bên cạnh những cung điện lăng tẩm đế vương. Tuy nguyên thủy là quán nghèo, nghe nói quán này có gia phả hẳn hoi, ra đời đâu đó vào năm cuối của đệ nhị Thế chiến 1914-1918 do ông Tống Phước Kỷ. Cái tên “Âm phủ” chỉ là một cái tên đặt do những người khách bình dân làm công lam lũ hay ở đợ thời đó, chứ ai buôn bán mà chọn cái tên ma quái làm gì! Tên này đã lọt tự nhiên vào câu vè của xứ Huế xưa: Kể từ ngày thất thủ Kinh đô Tây qua giăng dây thép, hoạ địa đồ nước Nam Lên Dinh, ở tớ Toà Khâm Chén Cơm Âm Phủ, áo đầm mồ hôi!...Quán cơm dựng nên trên một vùng đất hoang vu trong thời đầu thế kỷ 20, tiếp giáp với cánh đồng An Cựu nên gọi nôm na là Đất Mới. Nhìn vào bản đồ Huế cũ, Đất Mới là vùng ngoại biên hẻo lánh  về phía đông của Toà Khâm được bảo vệ kỹ bằng những đồn lính Tây săng đá De Courcy, lính Khố Đỏ, Khố Xanh, lính tập lính kèn, sở Mật Thám… Do đó, Đất Mới trở thành khu chứa gái điếm. Gái của xóm Bình Khang nay chưa chắc là “đĩ có giấy” phải khám “lục xì” (look & see), nhưng nghe đâu có bốn năm Tú Bà có thế lực như các bà L (chồng là Hoàng phái), bà Bộ T, bà Ch, bà C (sau này nấu bếp cho Thủ hiến Phan Văn Giáo) như lời kể của ông Tống Phước Thôi với giáo sư Nguyễn Hữu Thứ trong bài “Quán cơm Âm Phủ ở Huế” (Tuyển tập Nhớ Huế số 11 năm 2000). Trường hợp cũng giống như sòng bạc của bà Chúa Tám ở Kim Long nghe đâu cũng được trùm Mật thám Pháp Sonny đỡ đầu. Tại vùng Đất Mới hồi Tây chắc đêm đêm có những cảnh chia tay của những người lính về đồn với nàng thương nữ lâm ly: Chín giờ kèn thổi “cu sê” (coucher: đi ngủ) Thôi em ở lại anh về “áp bên” (appel: điểm danh)…

 Quán cơm Âm phủ chính là nơi mà người ta đến ăn bồi dưỡng trong những giờ khuya khoắt ở cái xã hội của những con vạc ăn đêm giống như ăn “sú-dề” (tiêu dạ) ở Chợ Lớn: đó là những khách làng chơi, những con bạc, những người đi coi hát về khuya từ rạp hát Bà Tuần, những rạp xi-nê Morin,Tần Tần... Trong không khí đêm khuya, đèn đuốc hiu hắt của một quán ăn bình dân giữa một vùng không có nhiều cột đèn điện vào đầu thế kỷ qua mới nảy sinh ra cái tên “Cơm Âm Phủ” gợi hứng cho ông Bửu Thụ làm câu vè sau: Muốn ăn cơm đĩa trữ tình/ Có quán Âm Phủ, ma rình phía trong.

Quán Âm Phủ thuở đầu đã bán một thứ “cơm gọi riêng là Món Cơm Âm Phủ. Đó là một loại

cơm thập cẩm trộn trong đủ thứ được xắt nhỏ như nem, chả, thịt, nướng, tôm chấy, thịt heo, dưa gang, dưa chuột bóp... với chén nước mắm pha loãng để chan vào mà ăn. Đây là một phát kiến “fast food” để đáp lại một nhu cầu tiện, rẻ, đủ mau của những khách ăn vội vã về khuya, thay vì làm nhiều món nóng sốt khác nhau. Có người xấu miệng nói dèm là một dĩa xào bẩn của những thứ quà rong Huế bán ế  trong ngày được mua lại rẻ, nên mới xắt nhỏ trộn với cơm mà dọn cho những người chơi đêm dễ tính ăn dằn bao tử về khuya. Tình trạng cũng như tại Saigon hỏi Tây mới qua, có bán món cơm “lâm vố" (rabiot), tức là loại thức ăn dư từ các nhà hàng, cao lâu được nhà thầu mua rồi bán lại cho quán lề đường xào nấu lại thêm gia vị làm cơm cho người bình dân như câu quen nói: "Ăn cơm lâm vố, uống nước phông tên, ngủ lề đường" (Rabiot là phần ăn ngoài tiêu chuẩn của lính Pháp). Nó cũng gần với món “xà bần" sau cổ Tết của Vũ Bằng (Cái truyền thống "fast food" này cũng được lập lại với tài chế biến của Quán Cơm Âm Phủ qua món “Cháo bo bo”, sau 1975 khi mà Việt Nam được các nước anh em viện trợ những bao lúa đại mạch rẻ tiền, ít bổ. Bo-bo được nấu lâu hằng giờ cho nhừ rồi để sẵn, mỗi khi khách gọi thì cho thịt và gia vị rồi hâm nóng lên.

Ngoài ra, tùy theo túi tiền của khách, quán về sau càng phát đạt lại càng thêm những thức khác cũng ngon và rẻ như cơm gạo de An Cựu hay tám thơm, ăn với “Cá bống thệ kho khô, cá rô kho tộ”

hay dưa cải với thịt phay chấm nước mắm ngon Nam Ô... Quán còn bán nem Huế, loại tươi mới thì nướng lên và luộc cho khách ăn ngay loại chín chua vài ngày cho khách nhâm nhi cũng sẵn. Dù sao thì

mọi thứ cũng tươi và rẻ vì toàn là đặc sản mua tận gốc tại Huế như cá bống, hanh, hến từ Sông Hương,

cá đối, dìa, sòng, nục từ Thuận An; thịt heo, thịt bò có lò thịt Abattoir cầu Thanh Long, nem thì có Mụ

Tôn cầu Đông Ba bỏ mối.

Giai đoạn  “nhổ giò” của Quán Âm Phủ là vào khoảng năm 1936 khi vua Bảo Đại khánh thành sản

vận động (Stade olympique) tại vùng Đất Mới lấy tên là Sân Bảo Long để kỷ niệm vị hoàng tử này mới ra đời, nhưng dàn chúng quen gọi là sân Tự Do hay sân Đất Mới rộng hơn sân vận động người bình dân quen gọi là sân “xép” bên chợ Đông Ba. Đây là một sân vận động độc nhất của xứ Đông Pháp với vòng chảo đua xe đạp (stade velodrome). Vào năm 1936, nơi này có tổ chức trận chung kết Giải bóng tròn Đông Dương nên Quán Âm Phủ bấy giờ đã thịnh vượng như một cô gái trổ mã trở thành ngôi nhà ngói khang trang, làm nơi ăn uống giải khát bình luận sôi nổi của những người hâm mộ thể thao hay của dân cá độ nhỏ to. Cùng với sự lặn mình lén lút của những ổ mại dâm, cái không khí u tối tích mịch của quán cơm Âm Phủ ban đầu đã biến hẳn với đèn điện sáng choang.

              Chính trong thời gian những năm đầu thập niên 40, bản thân tôi đã tới sân vận động Đất Mới này đi diễn hành mỗi khi trường học tổ chức ngày lễ Nữ anh hùng Pháp Jeanne d’Arc hay để hát tung hô Thống Chế Pétain với các bài như “Maréchal!Nous-voilà! Devabt toi de la France” hay bài “Debout! Belle Jeunesse” (Bài sau này nghĩa là “Này Thanh Niên! Hãy đứng lên!” nhưng lũ trẻ con lại hát bậy là “Rờ bụ ben-lơ giơ nét xờ!). Thời này thực dân Pháp bị quân phiệt Nhật uy hiếp mở phong trào  Thể thao Ducouroy rầm rộ để làm dân Việt mải tranh tài mà quên sự đối kháng và vùng lên. Có những trận đấu bóng tròn lớn, nhưng chúng tôi trẻ con không có tiền mua vé vào cửa, nên thích “chui rào” và thường bị bắt xách tai ra ngoài, hay bị đá đít tội nghiệp. Với con mắt ấu thơ, Sân Vận Động Tự Do sao mà vĩ đại như một đấu trường La Mã vậy. Chính nơi đây cũng đã tổ chức buổi biểu tình lớn khi Việt Minh mới tiếp nhận chính quyền, diễu hành với những lá cờ đỏ tươi mà mắt tôi mới thấy lần đầu…

              Trong thời nay, hiếm hoi vài lần tôi được người lớn cho ăn ở Quán Cơm Âm Phủ. Món ăn thơm phức của quán kiến tôi ước ao sau này lớn lên sẽ có dịp có nhiều tiền thưởng thức nhiều món khác để “trả thù” đời.

Thế rồi, tuế nguyệt trôi qua với những biến cố quan trọng như tản cư, hồi cư, chánh quyền quốc gia , kháng chiến du kích, Tây càn quét… Còn tôi thì vô tư dần dà lớn lên học trung học, để chẳng bao giờ có dịp lai vãng vùng Đất Mới với quán cơm Âm Phủ và Sân Vận Động nữa, mặc dù những ngôi trường tôi học như Lycécum Việt Anh, trường Thuận Hoá cách xa nơi này không quá 1 km. Tôi vào Sài Gòn  học thuốc năm 1952 rồi biền biệt không bao giờ trở lại xứ Huế mà tôi đã sống suốt thuở thơ ấu thiếu niên cho đến tháng 2 năm ngoái mới có dịp về thăm lại sau 49 năm xa cách.

Thăm lại cảnh cũ thì cái Sân Vận Động Đất Mới ngày xưa mà tôi coi là mênh mông bây giờ sao nhỏ hẹp khi thù vào ống kính trông như là một bãi thao trường trung bình ở Mỹ. Còn cái lòng chảo đua xe đạp xây bằng xi măng của nó ngày xưa tôi thấy nó cao vời vợi như bức thành của đập nước, bây giờ không làm tôi ngộp nữa.

Còn quán cơm Âm Phủ chỉ là căn nhà một tầng lầu số 35 đường Nguyễn Thái Học, diện tích của hai tầng trệt và lầu đủ rộng để tổ chức một tiệc cưới dưới 30 bàn. Rõ ràng về phương diện ẩm thực, có một sự nâng cấp về sở thích yêu cầu từ món ăn của cái thuở ban sơ là dưa chua thịt heo phay cùng với những món cá kho, cơm dĩa lên đến các món mới hơn như dĩa lươn um, dồi trường, môi mép bò chấm mắm nêm, các món mắm tôm, mắm sò ăn với vả… món thịt bò nướng vỉ kiểu hibachi ướp gia vị thơm ngon nức mũi khiến dân Việt Nam hải ngoại khen rối rít. Quán vào loại đông khách vì ở vị trí trong quần thể nhiều nhà hàng ăn nằm gần khách sạn lớn nhất Huế trên hữu ngạn sông Hương từ Đập Đá lên khách sạn Morin. Nguyên nhân của sự phát đạt nói chung ở Huế là nhờ vào “kinh tế thị trường” với sự mở cửa đón doanh nhân vào đầu tư và du khách cộng với sự Quần tể Di tích Huế được UNESCO  công nhận là tài sản văn hoá của nhân loại.

Đối với tôi, đa số cảnh cũ ở Huế đã hoàn toàn thay đổi, nên không còn mang dấu tích kỷ niệm của tôi ngày xưa. Dân cư càng đông đúc xô bồ, nhà cửa cất bừa bãi không mấy gì mỹ quan. Dầu sao, nhờ vào sự mở cửa du lịch, nói công bằng ra, xứ Huế cũng có nhiều mặt cải tiến khả quan như hai bờ sông Hương trông đẹp hơn…Tuy rằng cung điện lăng tẩm có tu bổ nhưng hình như chưa đủ phục hồi những nét cổ kính lắm.

Riêng quán Âm Phủ có tuổi thọ hơn 80 năm, theo tôi quả là một sự biến thái thích nghi tốt từ một quán cơm ngèo tăm tối phát sinh trong một xóm Bình Khang vào đầu thế kỷ qua, để dần dần thoát xác thành một nhà hàng khang trang đón khách du lịch khắp nơi với những món ăn ngày càng ngon nhưng phần nào vẫn giữ được những đặc thù khẩu vị cổ truyền Huế. Còn khách sạn Thiên Đường mới mẻ ở bên cạnh ra thế nào, có thật đem lại như cái tên hay chỉ để mà quảng cáo cho vui.

Phát triển du lịch cộng đồng ở Cầu ngói Thanh Toàn

 (VP) - Cầu Ngói Thanh Toàn là chiếc cầu vồng bằng gỗ, có chiều dài 17m, chiều rộng 4m, hai bên thân cầu có hai dãy bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói ống tráng men chia làm 7 gian. Cầu gỗ Thanh Toàn vào loại hiếm và có giá trị nghệ thuật cao nhất trong các loại cầu cổ ở Việt Nam.

Cầu ngói Thanh Toàn là một di tích kiến trúc cổ có giá trị về mặt lịch sử và văn hóa. Chiếc cầu được xây dựng cách đây hơn hai thế kỷ, đã bao lần bị gió bão, lụt lội và chiến tranh tàn phá. Tuy nhiên, sau các lần hư hỏng, nhân dân xã đều chung nhau tu sửa, tôn tạo và gìn giữ nó.

Cầu bắc qua con hói nằm ở cuối làng Thanh Thủy, xã Thủy Thanh,thị xã Hương Thủy. Đây là một làng ven đô, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7km. Hệ thống giao thông khá thuận tiện. Vị trí của làng khá đặc biệt, gần như nằm giữa một cánh đồng. Tách biệt với các làng khác xung quanh bằng những cánh đồng nhỏ.

Có thể đến Cầu Ngói từ 3 hướng: đi trên Quốc lộ 1A qua cánh đồng Thanh Lam  - Lợi Nông và đến Cầu Ngói; hoặc đi theo Quốc lộ 49, qua Dạ Lê - Vân Thê rồi đến Cầu Ngói; hoặc theo đường Trường Chinh - Kiểm Huệ - Hoàng Quốc Việt - Lang Xá đến Cầu Ngói. Đường này ngắn và tốt nhất (khoảng 6km, đường rải nhựa).

Hiện nay, tỉnh đang thi công một tuyến đường liên xã nối làng Thanh Thủy với Thủy Dương và cũng thông với quốc lộ 1A .

Ngoài ra còn một tuyến khác từ cảng Thuận An đi ngang qua Lang Xá để gặp quốc lộ 1A, tuyến này cũng đang được xây dựng với quy mô lớn, tuyến này cách làng khoảng 3 km. Hai tuyến này hoàn thành sẽ tăng thêm khả năng tiếp cận của làng với thành phố Huế và các vùng lân cận.

Trong hơn 10 năm qua, số lượng khách du lịch đến với vùng quê xã Thủy Thanh, Cầu ngói Thanh Toàn ngày càng tăng, vào mùa cao điểm (từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm) mỗi ngày có gần 200 lượt khách (chủ yếu là khách quốc tế) đến tham quan; vào mua thấp điểm, trừ những ngày mưa lũ, số lượng khách cũng lên đến gần 100 lượt. Sự cuốn hút của làng quê Cầu ngói Thanh Toàn không chỉ ở cảnh quan thiên nhiên, tính độc đáo của cây cầu gỗ và các ngôi đình làng, các nhà thờ họ tộc; còn rất nhiều giá trị du lịch cần được khai thác và khám phá như các lễ hội truyền thống, sản suất nông nghiệp, cuộc sống làng quê…. 

Ngoài tour du lịch chợ quê được tổ chức hai năm một lần, phần lớn du khách đến Cầu Ngói trong thời gian còn lại là tự phát. Họ không được hưởng một dịch vụ du lịch nào của địa phương và ngược lại địa phương cũng không thu lại được nhưng lợi ích kinh tế nào đáng kể từ du lịch Cầu Ngói. Thực tế lượng khách đến Cầu Ngói là liên tục quanh năm, đặc biệt là khách quốc tế hầu như ngày nào cũng có. Tuy nhiên, du khách, nhất là khách đi lẻ, họ thường đến tham quan một lúc, ngồi trên cầu hóng mát rồi quay về. Đó là chưa kể tâm lý của khách du lịch khi đến với Cầu Ngói thường bị hụt hẫng hoặc là tiếc rẻ cho một điểm du lịch đầy tiềm năng như thế lại chưa được đầu tư đúng mức. Điều này gây ra một tâm lý thất vọng trong lòng du khách. Rất khó gây lại thiện cảm cho những lần sau cũng như việc giới thiệu, quảng bá cho nhiều người khác cùng đến thăm.

Bên cạnh đó, sự tham gia của người dân vào phát triển du lịch cũng chưa được nhiều.Ngoài ra việc nâng cao kỹ năng, hiểu biết về phục vụ du lịch là rất cần thiết.

Việc giúp đỡ xây dựng một mô hình du lịch nông thôn ở Cầu Ngói Thanh Toàn rất phù hợp với định hướng phát triển của ngành, vừa góp phần tạo ra một sản phẩm du lịch có thương hiệu, vừa có điều kiện để người dân hợp tác tham gia nhằm cải thiện sinh kế, vì vậy dự án sẽ có tính khả thi cao.

Trong khuôn khổ chương trình hợp tác với Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật bản (JICA), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế đang tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật của Tổ chức JICA để triển khai dự án xây dựng một mô hình phát triển du lịch nông thôn dựa vào cộng đồng. Dự án sẽ được triển khai vào tháng 4/2012 và sẽ được bắt đầu bằng chuyến khảo sát thực địa cùng với người dân xã Thủy Thanh của 9 tình nguyện viên Nhật bản được tổ chức vào ngày 17/3/2012.

Dự án với mục đích khai thác tài nguyên du lịch thiên nhiên, văn hóa vùng nông thôn xã Thủy Thanh nhằm phát triển kinh tế xã hội tỉnh nói chung và phát triển du lịch nói riêng; đa dạng hoá loại hình, sản phẩm du lịch, kéo dài thời gian lưu trú của du khách làm cơ sở chuyển đổi cơ cấu kinh tế lấy ngành dịch vụ làm trọng tâm; tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng địa phương tham gia làm du lịch, giải quyết vấn đề lao động và đem lại thu nhập cho người dân.

 

MỘT SỐ GIAI THOẠI VỀ HOÀNG GIA

 Vua Minh Mạng từng kiệt quệ vì mây mưa?

 Một số lương y ở Huế có nghe các vị ngự y tiền bối kể lại rằng vua Minh Mạng đã xài phí sức lực vào việc giới tính từ rất sớm.

Con người hình như nhất định không chịu coi sự suy giảm về sức lực theo tuổi tác là điều bất khả kháng. Chính vì thế, việc con người tìm cách duy trì khả năng tình dục từ xưa tới nay ở bất kỳ dân tộc nào cũng đều lưu truyền những bài thuốc đặc biệt ấy. Và vua Minh Mạng thang cũng không phải là một ngoại lệ.

Vua Minh Mạng (sinh năm Tân Hợi 1791, mất năm Tân Sửu 1841) có cả thảy 43 người vợ. Chuyện hậu cung của vị vua này cũng có nhiều nét khác biệt mà đến giờ vẫn còn nhiều bí mật và dị bản khác nhau. Có những đêm vua Minh Mạng có thể ân sủng đến 4 ái phi cũng bởi nhờ bài thuốc này.

Cùng với đó là những hé mở về những bài thuốc “xuân dược” được các vua chúa triều Nguyễn dùng thông qua những người từng là hậu duệ của cung cấm. Giờ đây, nhiều người vẫn xưng là dòng tộc vua để kinh doanh loại thuốc này nhưng thật ít, giả nhiều. 

Bí mật “xuân dược” của đế vương nước Nam

Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, tương truyền một số lương y hiện nay ở Huế có nghe các vị ngự y tiền bối kể lại rằng vua Minh Mạng đã xài phí sức lực vào việc giới tính từ rất sớm, ngay từ thời còn là hoàng tử.

Sau khi lên ngôi kế vị, vua Minh Mạng bên cạnh những sứ mạng lớn lao cho quốc gia đại sự, Ngài cũng giống như các vị tiên đế, là chẳng hề quên “trọng trách” của mình đối với tam cung lục viện, với hàng ngàn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp.

Để giúp cho vua Minh Mạng chu toàn mọi sứ mạng, một vị quan ngự y riêng được tín cẩn đã bỏ công nghiên cứu và sáng chế ra một bài thuốc ngâm rượu đặc biệt dâng hiến cho vua, mục đích là giúp ngài nâng cao thể lực, tráng kiện minh mẫn, luôn sáng suốt trong vai trò an dân trị quốc, đồng thời cũng bao hàm thêm một hậu ý khác nữa là để đắc lực trợ chiến mỗi khi loan phòng hữu sự.

Lại cũng có tài liệu ghi chép thêm rằng, do vì trác táng quá độ, nhà vua hết sinh khí, bạc nhược ốm đau liệt giường tưởng chừng như sắp... “đứt bóng”! Rồi một vị ngự y danh tiếng đã phải dùng đến phép thuật kim châm, kích thích lại hết các kinh mạch, giúp vua có lại thần khí, kế đến mới ra tay phục dược bằng vô số các bài thuốc uyên bác.

Mất một thời gian khá lâu sau vua mới lấy lại được phong độ. Cuối cùng của việc điều trị này là quan ngự y trên đã nghĩ ra bài thuốc rượu độc đáo để vua dắt túi phòng thân. Và hiệu nghiệm đầu tiên rất cụ thể đó là về mặt sinh lý, nhà vua đã sinh được 78 hoàng tử và 64 hoàng nữ. Hiệu nghiệm thứ hai đó là về mặt tinh thần, trí tuệ.

Lịch sử cho thấy 20 năm trị vì, vua Minh Mạng đã làm được rất nhiều việc tốt đẹp cho đất nước trên nhiều lĩnh vực hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội... Có thể nói thời Minh Mạng là đỉnh cao của vương triều Nguyễn.

Vì công hiệu của toa thuốc mà nhà vua đã dùng ấy, các quan lớn trong triều đã “phạm thượng” bí mật sao chép mang về để dùng, rồi sau đó lan truyền trong dân gian. Thêm một cứ liệu nữa khiến người ta quy kết những toa thuốc có tên “Nhất dạ lục giao” là toa thuốc của vua Minh Mạng, bởi vì tương truyền, chính vua Minh Mạng đã từng có thơ nhắc đến việc “Nhất dạ lục giao tam hữu dựng” (một đêm 6 lần giao hợp, 3 lần có con).

Tuy nhiên, câu chuyện “lục giao sanh ngũ tử” có lẽ là chẳng ai có thể kiểm chứng được. Dẫu sao, xét về số con của vua Minh Mạng thì hậu thế phải công nhận ông thuộc vào loại có khả năng tính dục tuyệt luân. Theo sử sách, hằng đêm, vua thức khuya để coi chương sớ từ các phiên trấn gửi về đến canh ba (tức hơn 11 giờ khuya) mới đi ngủ.

Truyền thuyết đồn rằng, vào một buổi tối kia, sau khi nhâm nhi hết vài ly rượu thuốc, Ngài đã xung độ lên và giao hoan trong đêm đó liên tiếp 6 bà cung phi. Kết quả sau đó là 5 bà đều mang thai. Như thế là chỉ trong một đêm nhà vua đã sản xuất ra 5 người con, do đó mới phát sinh câu nói: “Nhất dạ lục giao, sinh ngũ tử” (Một đêm giao hợp 6 lần, đẻ 5 đứa con).

Hoạt động chăn gối về đêm sung mãn như thế mà ban ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt, chứng tỏ vua Minh Mạng là một người có một “thể chất tiên thiên” bẩm sinh cường tráng. Những toa thuốc mà vua dùng chỉ là trợ lực cho đường sinh lý chứ không phải là chủ trị quyết định.

Những bài thuốc công hiệu tới mức nào?

Theo lương y Phan Tấn Tô - Phó chủ tịch Hội Đông y tỉnh Thừa Thiên - Huế, đã có ít nhất là 25 dị bản “Minh Mạng thang” khác nhau được sưu tầm, phát hiện và công bố. Tuy nhiên, đến thời điểm này, các lương y ở Huế và cả nước chưa ai tìm thấy xuất xứ, nguồn gốc của bài thuốc.

Nguyên nhân được lý giải rằng, bài thuốc thuộc loại tối mật của triều đình nhà Nguyễn do các ngự y trong thái y viện bốc riêng cho vua, không ai được phép bắt chước. Không chỉ là những câu chuyện truyền miệng, từ cách đây khá lâu có một nhóm lương y tại Huế (Lê Quý Ngưu, Phan Tấn Tô, Nguyễn Thanh Thọ...) đã âm thầm sưu tầm các tài liệu cổ để nghiên cứu các bài thuốc còn lưu trữ tại các gia đình hoàng tộc, hay các ngự y của triều đình Huế.

Từ lâu, bài thuốc Minh Mạng còn vượt trội so với bài thuốc tráng dương của Tần Thủy Hoàng bên Trung Hoa. Cả hai bài trên có tác dụng đại bổ thận, bồi bổ thần kinh, gia tăng khí huyết, tăng cường sinh lực, mạnh gân cốt, bán thân bất toại, dương sự kém, tăng tuổi thọ”. Vậy sự thật của bài thuốc này là như thế nào.

Đương thời người ta gọi lương y Lê Văn Doãn (1873-19470) là một bậc “thánh y”. Bởi vì, bên cạnh tài chữa bệnh cứu người, ông còn được người dân quý mến bởi sự thương người như thân thể của mình. Đã từng làm quan ngự y trải qua năm đời vua triều Nguyễn, đến lúc già ông cáo quan về hưu trí tại làng Nguyệt Biều (nay thuộc phường Thủy Biều, TP Huế).

Và đến thời điểm này, hậu duệ của ông chỉ còn lại một người. Đó là cô con gái Lê Thị Ngà năm nay đã bước sang tuổi cửu tuần và là người được ông truyền lại bài thuốc “Minh Mạng thang” kia. Ở tuổi 90, cụ Lê Thị Ngà (làng Nguyệt Biều, P. Thủy Biều, TP Huế), hậu duệ cuối cùng của “thánh y” Lê Văn Doãn, tuy đôi tai hơi lãng nhưng vẫn giữ được vẻ minh mẫn qua từng câu nói.

Sâu thẳm trong ánh mắt gợn đục của bà vẫn ánh lên niềm tự hào khi nhắc lại chuyện về người cha là vị danh y một thời Lê Văn Doãn. Trò chuyện với chúng tôi về bài thuốc Minh Mạng, bà Ngà khẳng định bài thuốc đó là có thật, chính cha bà đã chép tay lại cẩn thận và giấu vào trong một chiếc hộp rất đẹp để trong khuê phòng.

Đó là hai bài thuốc “xuân dược” chép tay rất nổi tiếng một thời “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” (một đêm ngủ với 6 bà thì có 5 bà có tin mừng) và “Nhất dạ ngũ giao tứ tử” (một đêm ngủ với 5 bà thì 4 bà có tin mừng). Trong thời gian ở kinh thành làm quan ngự y, ông đã được các vị vua triều Nguyễn tin dùng trong việc bốc thuốc kê đơn cho mình.

Bài thuốc “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” và “Nhất dạ ngũ giao tứ tử” được dùng cho cả đàn ông và đàn bà, nhưng tùy theo từng độ tuổi thích hợp. Bài thuốc thứ nhất, chỉ dùng cho những người từ 40 tuổi trở lên. Còn bài thuốc thứ hai chỉ dùng trong độ tuổi từ 30-40.

Ngoài công dụng rất công hiệu trong việc chữa bệnh yếu sinh lý, bài thuốc “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” còn rất công hiệu trong việc chữa các chứng bệnh như thấp khớp, đau lưng, các bệnh liên quan đến gan... Hai bài thuốc này kết hợp rất nhiều loại thảo dược, theo bà Ngà thì cần phải có đến gần 25 vị thuốc mới điều chế ra các loại thuốc trên.

Theo đó, bài thuốc gồm 25 vị, có hướng dẫn cách ngâm rượu và cách dùng cũng như mô tả sáu công dụng đặc biệt: đại bổ khí huyết, tăng cường sinh lực, bồi bổ thần kinh; ngăn ngừa bệnh tật, trị khỏi đau lưng, nhức mỏi và bồi bổ cho sản phụ; người liệt dương (uống 1 - 2 tháng có thể có con); người khản tiếng, nói không to, uống thuốc nói được to tiếng; thận yếu lâu, bán thân bất toại, đi đứng không được.

Tuy nhiên, vì đất nước kinh qua quá nhiều binh đao lửa đạn, những tài liệu chép tay quý giá của lương y Lê Văn Doãn đã bị thất lạc, những bài thuốc chép tay này được giao lại cho bà Ngà cất giữ khi lương y qua đời. Bà Ngà ngậm ngùi: “Được cha (lương y Lê Văn Doãn) giao cho những tài liệu quý giá đến vậy, tôi cũng cố công gìn giữ lắm.

Có một số bài thuốc tôi đã đánh mất nên tự cảm thấy rất có lỗi với cha tôi. Giá như đến bây giờ còn lưu giữ được thì tôi đã cứu được vô số người bệnh, mỗi khi họ đến cầu cứu chữa trị...”, lương y Thích Tuệ Tâm, Giám đốc Tuệ Tĩnh đường Liên Hoa ở Huế là một trong những người sưu tầm được nhiều nhất các dị bản “Minh Mạng thang” (17 bài), ông cũng thường xuyên sử dụng hai bài “nhất dạ...” vừa kể để bốc cho người bệnh có nhu cầu từ nhiều năm nay.

Theo ông, người xưa lập phương thuốc phải tùy vào bệnh cảnh của từng người, gọi là “đối chứng, lập phương”. Không có một công thức cố định để áp dụng cho tất cả mọi người. Bài thuốc này bao gồm các vị thuốc có tác dụng bổ khí huyết, bổ âm, bổ dương, trừ phong thấp, mạnh gân cốt, hành khí, hành huyết và kích thích tiêu hóa.

Bài thuốc này cả nam và nữ đều dùng được. “Tuy vậy, tùy từng trường hợp mà có thể gia-giảm khác nhau (ví dụ mùa đông thì tăng thêm các vị nóng; người yếu thận thì phải tăng thêm các vị bổ thận; người không yếu thận nhưng bị phong thấp thì giảm bổ thận, tăng vị chống nhức mỏi...), nên muốn sử dụng hiệu quả thì phải tìm đến thầy thuốc bắt mạch kê đơn.

Còn uống rượu sản xuất đại trà, hoặc tự mua về ngâm rượu uống thì hầu như không có tác dụng, thậm chí còn bị tác dụng ngược! Con người là một chỉnh thể bất khả phân, sức khỏe là sự điều hòa khí huyết, cân bằng âm dương, trên thông với trời, dưới thông với đất, chứ không phải kích thích riêng lẻ từng bộ phận, từng cơ quan như quan niệm của y học phương Tây.

Theo đó, Minh Mạng thang là một loại thuốc bổ chứ không phải là thang thuốc dâm dược mà nhiều tác giả trước đây đã vô tình hay cố ý đề cập làm cho nhiều người hiểu sai lệch!”, lương y Thích Tuệ Tâm nhận định. 

Chuyện chắt vua Minh Mạng may gối tặng Đại tướng

 Là chắt nội của Vua Minh Mạng, năm 80 tuổi, cụ bà Công Tôn Nữ Trí Huệ vinh dự ra Hà Nội thăm và tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp chiếc gối mà mình tự tay làm đã được Người đón nhận và tấm tắc khen.

"Quý Đại tướng như ruột thịt"

áng ngày 12/10, tại ngôi nhà lưu niệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình), hàng ngàn người khắp gần xa về đây xếp hàng để được vào viếng, tiễn biệt vị Đại tướng anh hùng đã mãi mãi ra đi.

Trong số hàng ngàn người đến viếng, có người rất đặc biệt. Đó là một cụ bà nhỏ nhắn, mái tóc bác phơ ngồi thẫn thờ tay cầm bức di ảnh Đại tướng rưng rưng lệ. Ngồi bên cạnh bà là một người đàn ông cao lớn, người nước ngoài.

Qua tiếp chuyện, được biết cụ tên là Công Tôn Nữ Trí Huệ (SN 1922, trú xã Hương Cần huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế), là chắt nội của vua Minh Mạng, cháu nội của Hoàng tử Miên Lâm.
Ôm tấm di ảnh Đại tướng trên tay, cụ Huệ, rưng rưng nói: "Từ ngày biết tin Đại tướng mất, mệ buồn lắm, không ăn không ngủ được, cứ muốn ra để thắp cho cụ nén hương. Giờ thì đã thắp được rồi".
Cụ Huệ cho biết, sau nhiều lần cứ nằng nặc đòi ra viếng Đại tướng, nên con trai và cháu rể cũng đã đồng ý đưa cụ ra quê hương Đại tướng để cụ được thắp cho Người nén hương.

"Đại tướng là một người tài giỏi, đức độ, cụ mất đi để lại tiếc thương lớn vô cùng, mất mát lớn vô cùng. Trong lòng mệ, Đại tướng như ruột thịt" - cụ Huệ sụt sùi.

Tự hào may gối tặng Đại tướng

Tay run run lần dở lại những bức ảnh được chụp chung với Đại tướng, cụ Huệ nhớ lại, đó chính là kỉ niệm vào tháng 12/2002, khi cụ và người con trai là Bùi Quang Thiện ra Hà Nội thăm Đại tướng tại nhà riêng của người ở phố Hoàng Diệu.

"Lần đó, qua giới thiệu của thư kí Đại tướng, mệ với con trai được Đại tướng đồng ý cho gặp, mệ mừng lắm. Vào nhà, gặp Đại tướng mệ cất tiếng: kính thưa cụ, con từ Huế ra. Đại tướng ngắt lời, nói: bà đừng gọi thế. Sau đó mệ xưng hô lại là cụ - tôi, Đại tướng đã gật đầu và ân cần trò chuyện, thăm hỏi sức khỏe, người thân nơi quê nhà...".

Trong cuộc trò chuyện, mệ thưa với Đại tướng rồi đưa trái dựa (chiếc gối dựa có 5 lá bọc lớp vải màu vàng) mà mệ đã tự may tặng cụ, Đại tướng vui vẻ nhận rồi nói: chúng tôi cảm ơn bà. Chúc bà luôn mạnh khỏe và sống hạnh phúc với con cháu" - cụ Huệ nhớ lại.

Cũng theo cụ Huệ, trong cuộc gặp, cụ đã kể cho Đại tướng biết về dòng dõi thuộc triều đình nhà Nguyễn của mình, trong đó ông nội cụ phò vua Hàm Nghi, bác ruột phò vua Thành Thái, cha là Hường Dẫn phò vua Duy Tân chống pháp, sự việc không thành đều bị chết và giam cầm. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cụ cũng có công nuôi cách mạng.

Nghe xong, Đại tướng bày tỏ vui mừng khi được biết gia đình cụ cũng có đóng góp cho sự nghiệp chung.
Cụ Trí Huệ từng theo hầu Đức Từ Cung Hoàng thái hậu (mẹ vua Bảo Đại) 9 năm và may vá rất khéo, nhất là tài may gối dựa có nhiều lá dùng gối đầu, hoặc để kê vào ghế dựa cho êm.

Cụ Trí Huệ cũng đã từng may gối dựa cho vua Bảo Đại và triều thần, Hoàng Thái Hậu, Triều thần nhà Nguyễn...
Chiếc gối tặng Đại tướng, cụ Huệ đã rất thận trọng, tỉ mẩn xe chỉ, luồn kim gần 1 tháng trời ở tuổi 80, nên khi nhận, Đại tướng đã khen cụ rất khéo tay. Điều đó, làm cụ Huệ nhớ mãi, và rất tự hào.

Cụ Huệ cũng tự hào đã 2 lần được gặp Đại tướng, lần đầu là khi cụ còn phụng hương khói ở lăng Tự Đức, Đại tướng đã vào thăm lăng.

"Lần đó mệ vẫn còn nhớ, khi Đại tướng vô, có người mời cụ ngồi lên chiếc sập thờ trong lăng, cụ nói: không thể ngồi vào đó được, như thế là bất kính với tiền nhân” - cụ Huệ nhớ lại.

Đôi mắt sâu thẳm đượm buồn, chào chúng tôi để vượt gần 200 km trở lại Huế, sau khi đã được viếng Đại tướng, cụ Huệ xúc động nói: "Rứa là toại nguyện rồi, ai trong đời được gặp Đại tướng một lần cũng là vinh dự, là may mắn lắm rồi, mệ còn được tặng Đại tướng chiếc gối nữa...". 

Bí ẩn hầm cất giấu bạc của Vua Minh Mạng

 Được kế tục ngôi báu từ vua cha Gia Long (1762-1820), là vị vua thứ 2 triều Nguyễn, nhắc đến Vua Minh Mạng, người đời thường liên tưởng đến hình ảnh ông vua có nhiều con nhất trong 13 đời vua Nguyễn (142 người con, gồm 74 hoàng nam và 68 hoàng nữ) và năng lực giường chiếu phi thường "nhất dạ lục giao" (một đêm gần gũi với 6 cung tần mỹ nữ)… của ông vua này. Còn chuyện Vua Minh Mạng từng bí mật chôn nhiều hầm châu báu trong Đại Nội (Huế) thì chẳng mấy ai tỏ tường. Đơn giản vì điều này đến nay vẫn chưa thấy sách báo nào đề cập.

Khi đến tham quan lăng Vua Minh Mạng, trò chuyện với một số bậc cao niên người địa phương, chúng tôi tình cờ biết được thông tin thuộc vào dạng thâm cung bí sử kia. Tưởng rằng đấy chỉ là giai thoại, là đồn đại của nhân gian, ai ngờ vào cuộc mới rõ thông tin kho báu bí mật dưới lòng đất Đại Nội là chuyện có thật!

Ngày 3/2/1820, Vua Gia Long - vị vua sáng lập triều Nguyễn cưỡi rồng chầu trời (thọ 58 tuổi). Theo di chiếu của Vua Gia Long, triều thần tôn hoàng thái tử thứ 4 làm thiên tử, tức Vua Minh Mạng. Sinh ngày 25/5/1791, tên húy của Vua Minh Mạng là Nguyễn Phúc Đảm, tước hiệu Tăng Duệ Hoàng Thái tử. Ngày 20/1/1841, sau 21 năm trị vì, Vua Minh Mạng băng hà, thọ 50 tuổi. Vì không nghĩ mình sớm qua đời nên Vua Minh Mạng không chú trọng việc xây lăng tẩm cho mình.

Năm 1840 - năm trị vì thứ 20, ông vua thứ 2 triều Nguyễn mới cho xây dựng lăng nhưng một năm sau thì ông mất. Kế tục ngôi báu của vua cha, Vua Thiệu Trị tiếp tục cho triển khai xây lăng tẩm cho tiên đế, đến năm 1843 thì công việc xây lăng hoàn tất. Được gọi là Hiếu Lăng, Lăng Minh Mạng tọa lạc dưới chân núi Cẩm Kê, thuộc địa phận xã Hương Bằng, huyện Hương Trà. Theo tư liệu của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, trong thời gian trị vì Vua Minh Mạng có nhiều cải cách quan trọng như bỏ dinh - trấn mà thành lập tỉnh, định lại quan chế, khuyến khích dân khai hoang lập ấp, lập nhà dưỡng tế giúp đỡ người nghèo khổ, tàn tật, già cả không nơi nương tựa ở các tỉnh, đề cao Nho học, khuyến khích nhân tài ra giúp nước....

Thông tin về Vua Minh Mạng, có thể tóm tắt như thế. Những thông tin về vị vua được xem là anh minh này thế nhân đã nói nhiều, luận nhiều. Vấn đề cốt lõi mà chúng tôi muốn hiểu rõ có đúng Vua Minh Mạng từng lệnh cho trọng thần chôn rất nhiều kho báu, hầm bạc trong khu vực Đại Nội và một trong số những kho bạc ấy đã từng bị người Pháp phát hiện và biển thủ?

Có hay không còn nhiều hầm bạc khác đang nằm đâu đó trong phạm vi kinh thành Huế mà dù đã cất công kiếm tìm, hậu nhân chẳng thể nào phát hiện được vì tiếng đồn những hầm báu vật ấy đã được trấn yểm?! Chuyện rằng sau khi bí mật đào hầm khiêng hàng trăm, có khi hàng ngàn rương bạc, châu báu đặt vào các thạch thất, toán lính đã tình nguyện chết để mang theo bí mật xuống mồ theo tinh thần "vua kêu tử thần tử" (vua bảo chết thần chết). Chỉ mỗi Vua Minh Mạng là người nắm giữ mật đồ chôn các kho báu.

Câu chuyện kho báu - hầm bạc này chúng tôi biết được từ chia sẻ của cụ Nguyễn Phúc M. lúc gặp tại Lăng Vua Minh Mạng. Không như phần tẩm của vua cha Gia Long nằm lộ thiên, tẩm của ông "vua trăm con" là cả một ngọn đồi nhân tạo cây cối um tùm được bao quanh bởi vòng thành vững chãi, cửa đồng đóng kín mỗi năm chỉ mở một lần. Khi thấy chúng tôi loay hoay chẳng biết mộ vua ở đâu, cụ M. (yêu cầu không nêu rõ tên) bật mí ngọn đồi bí hiểm sau cánh cửa đồng kia chính là tẩm của vị vua nổi tiếng quyết đoán và có tài thao lược.

Từ sẻ chia của cụ M., chúng tôi mới biết ngọn đồi kia ẩn chứa nhiều bí ẩn của lịch sử bởi chẳng ai biết được bên trong nó có bao nhiêu đường hầm bí mật và tử cung (áo quan) Vua Minh Mạng nằm ở đường ngầm nào. Và còn nhiều bí ẩn khác như vua được an táng với bao nhiêu đồ ngự dụng (đồ vua dùng) bằng vàng bạc châu báu, và có bao nhiêu người lính, hầu cận chết theo vua để bí ẩn mộ vua được giữ kín ngàn đời?! Cũng từ cuộc gặp gỡ thú vị ấy, chúng tôi được cụ M. sẻ chia câu chuyện kho báu của Vua Minh Mạng mà cụ được cụ thân sinh kể lại từ bật mí của ông nội ngày trước vốn là mệnh quan triều Nguyễn!

Thông tin ban đầu về những hầm bạc, kho báu bí ẩn của Vua Minh Mạng là như thế, chẳng có gì hơn. Chỉ biết rằng Đại Nội được xây dựng vào năm 1804 dưới triều Vua Gia Long, đến năm 1833 được Vua Minh Mạng quy hoạch hoàn chỉnh như hiện nay (gồm 38ha, trung tâm trị vì của vương triều Nguyễn). Hỏi thăm những người làm công tác bảo vệ lăng về chuyện kho báu hầm bạc này, ai nấy đều lắc đầu không biết.

Lần tìm từ các tư liệu của nội các triều Nguyễn như “Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ”, “Đồng Khánh Khải Định chính yếu”... và hàng chục tập sách ghi chép của “Những người bạn cố đô Huế” (ký hiệu BAVH) vốn tập trung những bài viết thuộc dạng thâm cung bí sử triều Nguyễn của những quan đại thần, người Pháp yêu Huế từ thời các Vua Gia Long, Minh Mạng nhưng buồn làm sao, nỗ lực kiếm tìm kho báu mà Vua Minh Mạng chôn sâu dưới lòng đất Đại Nội của chúng tôi đã không có được kết quả như mong muốn!

Đang lúc tiếp tục sục sạo kiếm tìm từ các thư tịch cổ vẫn chưa thấy kết quả thì may sao chúng tôi nhận được tin vui của cụ M. rằng trong “Đại Nam thực lục” (Quốc sử quán triều Nguyễn) có đề cập đến thông tin về hầm bạc của Vua Minh Mạng. Lần mò theo mách bảo này của cụ M., sau gần một tháng lần mò khắp các hiệu sách, thư viện "săn tìm" và "nhai" kỹ, rồi tin vui cũng đến khi chúng tôi phát hiện có đến 3 hầm bạc giá trị của Vua Minh Mạng được tìm thấy thời Vua Thành Thái và Duy Tân. Cần nói rõ rằng 2 vị vua Nguyễn trên vì yêu nước đã bị Pháp lưu đày, sống cuộc đời khổ sở nhưng đầy ngạo khí!

Thông tin hầm bạc đầu tiên của Vua Minh Mạng được phát hiện vào thời Vua Thành Thái. Theo đó, vào năm Thành Thái thứ 11 (1899), Khâm sứ đại thần Boulloche sau khi nhận được tin báo của Hoằng Trị quận vương Hồng Tố nói đời Vua Minh Mạng và Thiệu Trị có chôn nhiều bạc trong Đại Nội đã phái quan hội đồng (quận vương Hồng Tố, Thượng thư Bộ Công Nguyễn Thuật, Thượng thư Bộ Lễ Huỳnh Vĩ, Hội biện Sô Lê, Đô Ty, quận công Ưng Huy, Tham biện Tôn Thất Hoài Điển) và phát 100 phu khỏe theo nơi được chỉ đào và tìm thấy 1 hầm bạc ba vết (là loại bạc chuẩn của triều Nguyễn, trên thường có 3 cụm chữ triện đóng riêng rời. Khâm sứ đại thần bàn trích 30.000 nén do Thượng thư Bộ Hộ Trương Như Cương, Hội biện Đô Ty chở ra Ngân hàng Hải Phòng đổi lấy tiền chi biện các việc công ích. Về sau ông khâm sứ đại thần nói với vua số bạc ấy trừ thuế, phí tổn đài tải quy ra tiền tổng cộng 460.350 đồng, gửi Ngân hàng Thượng Hải.

Để bạn đọc hiểu rõ hơn giá trị của hầm bạc này, chúng tôi xin được minh họa bằng vài ghi chép ngắn về trị giá của tiền đồng thời ấy: "Chuẩn trích tiền (147 đồng) cấp trả cho tỉnh Quảng Trị cấp phát sách vở cho các học đường... Tu bổ Quốc sử quán, chi tiền 2.399 đồng... Sai Bộ Công tu bổ xây dựng đường sá trong kinh thành (đường từ phía sau Quốc sử quán tới cổng Trường Canh nông dài 871 thước Tây, chi tiền 746 đồng 9 hào...".

Từ cơ sở một số nhà sưu tập hiện có được bạc thỏi ba vết được đúc dưới thời Vua Minh Mạng, trong đó có thỏi nổi rõ ba cụm chữ "Minh Mạng, Quý Tị, Nội nô đúc năm Quý Tị 1833", mới thấy sau 63 năm nằm ẩn dưới lòng đất Đại Nội (cũng có thể lâu hơn vì thời điểm năm 1833 đồng nghĩa với việc Vua Minh Mạng nối ngôi được 13 năm, có thể vua đã cho đúc bạc dự trữ quốc khố trước đó), hầm bạc của Vua Minh Mạng mới được tìm thấy. Điều này chứng tỏ rằng chẳng còn nghi ngờ gì nữa, sẻ chia về hầm bạc và có thể là những hầm kho báu khác của vị vua thứ 2 triều Nguyễn là chuyện có thật.

Và như chúng tôi dự đoán, hầm bạc được Khâm sứ đại thần Boulloche tìm thấy không phải là hầm bạc duy nhất. 6 năm sau, năm Duy Tân thứ 9 (1915), một hầm bạc khác được phát hiện. Trong quá trình đào đất sau cửa Tường Loan để sửa chữa ống nước trong khuôn viên Đại Nội,  toán thợ chạm phải hầm bạc, một số phái viên của Bộ Công đã trình lên trên. Nhận được tin, Phủ Phụ chính cùng Khâm sứ đại thần Charles tới xem thấy dưới hầm gạch có hòm gỗ hai đầu đều có đai sắt mục đứt lộ ra các thỏi bạc. Khi đào lên kiểm biên có đến 60 hòm gỗ với 10.000 hốt bạc (thời giá lúc bấy giờ 1 hốt bạc tương đương 15 đồng), 1 đồng kim tiền (tiền vàng) và 1 đồng tiền đồng đỏ cùng khắc chữ Phú Thọ Đa Nam, 28 đồng tiền đồng và tấm bia đá khắc 16 chữ dịch nghĩa "Giáp Ngọ ngày tốt, mười vạn bạc ròng, lưu làm quốc dụng, ai dám riêng lòng".

Hầm bạc thứ 2 được tìm thấy vào tháng 7 thì cuối tháng 8 (29/8), cũng tại khu vực chỗ cửa Tường Loan, khi thi công sửa chữa miệng ống nước, lúc đào gạch lát nền, những người thợ thi công đụng phải phiến đá lớn, trên ấy có đồng tiền đồng hạng lớn đã nghĩ ngay đó là hầm chôn bạc của vua tiền triều. Việc phát hiện được báo lên trên, lần này đích thân Vua Duy Tân cùng Khâm sứ đại thần Charles tới xem việc "khai quật". Quá trình đào tìm thấy 1 đồng tiền đồng đỏ, 28 tiền đồng, bia đá khắc 16 chữ với nội dung "Minh Mạng Giáp Ngọ, cất bạc trăm ngàn, của nước không thiếu, chất chứa muôn vàng" và 70 hòm gỗ, bên trong có 10.000 hốt bạc thỏi...

Như vậy theo chính sử nhà Nguyễn, đã có 3 lần tìm thấy hầm bạc thời Vua Minh Mạng (không phải được chôn vào thời Thiệu Trị như lời kể của cụ M.) và cả 3 lần tìm kiếm "khai thác" kho báu ấy đều có sự hiện diện, giám sát chặt của quan khâm sứ người Pháp. Những ghi chép này càng thúc đẩy chúng tôi tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt với những "kho báu" để đời này của "ông vua trăm con" vì điều khó hiểu rằng Vua Minh Mạng là hoàng đế sở hữu cả giang sơn với vàng bạc châu báu nhiều vô kể, cớ sao ông chôn của cải để làm gì?

Lại tiếp tục lần đọc các thư tịch cổ thời Vua Minh Mạng, chúng tôi nhận thấy thời gian vị vua này trị vì đất nước ổn định, thịnh vượng, chỉ có một biến cố duy nhất được Tổng tài Quốc sử quán Cao Xuân Dục (1842-1923) ghi trong “Đại Nam Chính biên liệt truyện” về sự phản nghịch của "Nghịch thần Lê Văn Khôi'. Theo đó Lê Văn Khôi nhờ lập được nhiều chiến công nên được tả quân Lê Văn Duyệt (mộ phần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, được người dân quen gọi lăng Ông Bà Chiểu) xem là trảo sĩ (chân tay lông cánh). Đầu năm Minh Mạng (1820), tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình phong làm Tổng trấn Gia Định đã đem Lê Văn Khôi đi cùng. Dựa vào thế lực của tổng trấn, Lê Văn Khôi làm nhiều điều ngang ngược, bắt biền binh lên rừng đẵn gỗ rồi chẻ ván bán cho người nước Thanh (Trung Quốc) và đóng làm thuyền riêng.

Sau khi Lê Văn Duyệt chết (1832), triều đình sai bắt tội Khôi cùng Tổng trấn Lê Văn Duyệt (mộ bị xiềng xích). "Điều này khiến Lê Văn Khôi đem lòng oán vọng, mưu việc bất pháp" và gây biến mấy năm trời, triều đình nhiều lần sai quân vào Nam dẹp nhưng đều thất bại. Tháng 12/1833 Lê Văn Khôi ốm chết ở thành Phiên An nhưng mãi đến tháng 4/1835 triều đình Minh Mạng mới triệt dẹp hoàn toàn phiến quân với vụ thảm sát theo kiểu triệt diệt đến 1.278 người...

Quanh chuyện Lê Văn Khôi nổi loạn, có nhiều dư luận khác nhau. Chính sử triều Nguyễn khép Khôi là loạn thần nhưng một số tư liệu khác ghi sở dĩ Khôi làm phản vì không chấp nhận sự bất công của bạo thần... Như đã nói trong nhiều bài viết trước về Huế, chúng tôi là hậu nhân, hiểu biết có giới hạn nên không lạm bàn đúng sai, nên được, mà chỉ đi vào những chuyện thâm cung bí sử ít được biết đến, ngõ hầu để hậu thế có nhiều cái nhìn hơn về triều Nguyễn một thời. 

Kể chuyện Lê Văn Khôi, chúng tôi muốn truyền gửi thông điệp, tất nhiên chỉ là suy đoán rằng sở dĩ Vua Minh Mạng chôn các hầm bạc bởi có thời điểm thế của Lê Văn Khôi mạnh, chiếm nhiều tỉnh thành, triều đình phải run sợ. Có lẽ vì âu lo đến một ngày quân phiến loạn sẽ tấn công kinh thành nên Vua Minh Mạng lo xa, cho chôn bạc để lo hậu sự? Nhưng may mắn cho ông vua này, đang thế binh hùng tướng mạnh thì Lê Văn Khôi lâm trọng bệnh mà chết! 

Phát hiện di sản mốc giới quyền đánh cá thời vua Minh Mạng

 Tin từ Chi cục Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản tỉnh TT-Huế cho biết, đã phát hiện mốc giới về quyền đánh cá khắc trên đá gần 200 năm tại Khu vực dự kiến xây dựng Khu Bảo vệ thủy sản Gành Lăng, Lộc Bình, huyện Phú Lộc.

Thông tin trên được Chi cục báo cáo gửi các cơ quan hữu quan của tỉnh TT-Huế mới đây. Di tích mốc giới khắc đá được Chi cục này phát hiện trong chuyến khảo sát thực địa mới đây.

Tại mốc giới này, hán tự được khắc chìm sâu trên đá tảng nửa chìm, nửa nổi trên mặt nước đầm phá. Sau gần hai trăm năm, mặt chính của mốc đá này vẫn còn khá rõ, còn mặt bên chữ gần như còn nguyên vẹn.

Mặt bên đọc là: Minh Mạng nguyên niên, ngũ nguyệt nhị thập bát nhật (Năm thứ nhất thời Vua Minh Mạng, ngày 28 tháng 5 _ Tương ứng tây lịch là: 08/7/1820). Mặt chính có các chữ đầu là: Phao Võng, Tăng Sà, Thủy Bạn, tam xã thủy diện… (có thể hiểu là 3 làng chài thủy cư Phao Võng, Tăng Sà, Thủy Bạn_tiếng Hán không có chữ làng, ở đây dùng chữ xã; các chữ bên dưới chưa đọc được). 

TS. Nguyễn Quang Vinh Bình, Chi cục Trưởng Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, cho biết, qua đánh giá sơ bộ hiện trường, ý kiến của bô lão ngư dân địa phương, cũng như các thư tịch cỗ… bước đầu có thể khẳng định, đây là mốc giới “quyền đánh cá” của 3 làng chài tại Huế dưới thời Vua Minh Mạng.

3 làng gồm: Làng Phao Võng chuyên bủa lưới, làng Tăng Sà chuyên nghề rớ bè và Làng Thủy Bạn (chính là tên trước đây của Làng Thủy Tú, hiện là thôn Thủy Tú, xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà). Làng Thủy Tú có công với nhà Vua, nên Vua ban quyền cho vùng đánh cá rộng lớn. Địa danh đầm Thủy Tú hiện nay của huyện Phú Vang, nối từ vùng cửa Thuận An, đầm Sam - Chuồn đến đầm Cầu Hai, cũng do thời gian trước đây là vùng mặt nước thuộc chủ quyền của Làng Thủy Tú này.

Ông Bình cho rằng, phát hiện này rất quan trọng, thể hiện việc quản lý ngư trường đầm phá từ xa xưa đã được chú trọng. Chủ trương hiện nay của Tỉnh là phân vùng ngư trường cho các Chi hội Nghề cá để tự chủ quản lý, đồng thời góp phần cùng các cơ quan Nhà nước hữu quan quản lý ngày càng tốt hơn ngư trường, nguồn lợi thủy sản, môi trường thủy sinh. Vì suy cho cùng, đây không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn của cộng đồng ngư dân và đó chính là sinh kế lâu dài của ngư dân đầm phá. Đây có thể được hiểu là chính sách dựa vào dân để quản lý nghề cá quy mô nhỏ.

Đến nay, tổng diện tích bảo vệ nghiêm ngặt tại các Khu Bảo vệ Thủy sản (UBND tỉnh TT-Huế thành lập) là 222,7 hecta, chiếm hơn 1% tổng diện tích đầm phá. Có 5 thuyền kiểm ngư cộng đồng đã được hỗ trợ, hoặc cộng đồng ngư dân tự sắm để tham gia kiểm tra, giám sát cùng nhà nước. Có 22 Chi hội Nghề cá được UBND các huyện cấp 20 quyền khai thác thuỷ sản trong các thuỷ vực đầm phá cụ thể. Diện tích đầm phá được trao quyền lên gần 10.000 hecta, chiếm khoảng 45% đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Cùng với việc mở ra cơ chế có sự tham gia của ngư dân trong quản lý, bảo vệ… nguồn lợi thủy sản một vài năm gần đây có dấu hiệu phục hồi trở lại, rõ ràng nhất là rong câu và cá dìa, 2 loài đặc trưng phổ biến đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. 

Dự kiến, Chi cục Khai thác & BVNL Thủy sản sẽ tiếp tục khảo sát thêm và trình các cơ quan chức năng có thể thành lập một bảo tàng nghề cá nhỏ tại đây, để kịp thời bảo vệ các mốc trên. Các mô hình ngư cụ truyền thống có thể được xây dựng, tôn tạo trong Phòng bao che hoặc dưới nước tự nhiên; khu cây ngập nước bản địa được phục vụ hồi tạo sinh cảnh… các sáng kiến được suy tính để có thể kết hợp, trở thành điểm tham quan du lịch, cải thiện sinh kế cộng đồng nghèo ở đây. 

Ngôi chùa nơi vua Minh Mạng chào đời 

Trong những ngày đầu thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, nếu như chùa Sắc tứ Kim Chương dỡ được bộ sườn gỗ cùng nhiều hiện vật di tản về miền Tây thì Sắc tứ Khải Tường tự không có may mắn đó. Song đây là ngôi chùa của hoàng gia, dẫu “nước mất chùa tan” cũng phải giữ lại, dù chỉ là một cái tên.

Khoảng năm Mậu Thân (1788), chúa Nguyễn Phúc Ánh trở lại Gia Định có mượn nhà Tống Quốc công phu nhân (tức Tống Phúc Khuông phu nhân) để tạm trú. Theo lịch sử thì vào ngày 22 tháng 4 năm Tân Hợi (1791), Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm (tức vua Minh Mạng) đã chào đời tại đây. Do đó, sau khi lên ngôi, nhà vua trăn trở: “Cố cung - chỗ sinh ra Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ở tại xã Dương Xuân (Huế), nhưng vì do binh biến nên không còn di tích. Sau khi đất nước thanh bình, trẫm tìm hiểu không ra. Mỗi khi nghĩ đến thương cảm khôn nguôi”, rồi ra lệnh cho Bộ Lễ: “... Nhân đó nghĩ đến chỗ ta ở chỗ nhà cũ của Tổng quốc công phu nhân tại ngoại thành Gia Định, vậy sai quan địa phương tìm hỏi xem”.

Mãi đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) tỉnh thần Gia Định mới tìm được địa chỉ, vẽ bản đồ dâng lên. Vua dụ rằng “Lân Tân Lộc ở hai bên hữu thành Gia Định, lúc Hoàng Thái hậu theo hầu Thế tổ Cao Hoàng đế ta đi tuần ở phương nam - tức chạy loạn Tây Sơn - xa giá từng dừng ở đất này. Có điềm “cầu vồng sa xuống bến Hoa”. Nhờ đất quý phát điềm lành, cho nên phải xây dựng thắng tích lưu lại lâu dài cho đời sau”. Vua bèn lấy của kho 300 lạng bạc, giao cho quan địa phương, theo cách thức đã định của Bộ Công, gọi thợ xây dựng.

Vì kinh phí xây dựng hoàn toàn do quốc khố đài thọ nên công việc thổ mộc nhanh chóng hoàn tất và ngôi chùa được danh hiệu chính thức là Quốc Ân Khải Tường tự. Vua Minh Mạng lại chọn một cao tăng lúc bấy giờ là Tế Tín hiệu Chánh Trực hòa thượng làm trụ trì (đệ tử của hòa thượng Liên Hoa trụ trì Sắc tứ Từ Ân tự) và 18 tăng chúng lo quét dọn, kinh kệ hằng ngày. Vua lại cấp cho hòa thượng Chánh Trực 20 mẫu ruộng miễn thuế để chư tăng tự canh tác, lấy huê lợi thực hiện phật sự vua giao.

Đến khoảng năm Quí Mão (1843) tức năm Thiệu Trị thứ ba thì Giáo thọ Như Quang vận động các vị hoàng thân quốc thích, đồng bào phật tử ủng hộ chỉnh trang quy mô tráng lệ hơn. Nhưng rồi cũng chỉ được mấy mươi năm thì quân viễn chinh Pháp xua quân xâm lược. Vua Tự Đức cử Khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương đắp đồn Chí Hòa (tài liệu Pháp ghi là Kỳ Hòa) kháng cự. Giặc cũng chiếm một số chùa chiền đền miếu của ta ở ngoại thành để làm “phòng tuyến các chùa”, trong đó có nhiều ngôi chùa nổi tiếng như Sắc tứ Từ Ân, Quốc Ân Khải Tường, Sắc tứ Kim Chương. Trong đó, Sắc tứ Từ Ân tự may mắn hơn vì không ở ngay tầm súng đạn nên chuyển được khá nhiều tượng thờ, hoành phi, câu đối vào Cầu Tre để xây dựng lại. Sắc tứ Kim Chương thì cũng kịp dỡ bộ giàn trò và nhiều hiện vật tản cư về miền Tây rồi “thay tên đổi họ”. Còn Quốc Ân Khải Tường tự vì ở sát thành Gia Định, bị giặc chiếm làm đồn lũy. 

Đêm 7.12.1860, nghĩa quân của Trương Định ở Gò Công kéo lên phục kích giết chết tên đại úy trưởng đồn tên là Barbé ở gần đó nên giặc đặt tên là đồn Barbé. Cũng trong giai đoạn này, vua Tự Đức có đặt một tấm bia đá ghi công đức của Phạm Quốc công (Phạm Đăng Hưng) định chở về Gò Công dựng, nhưng đến Vũng Tàu thì giặc Pháp phát hiện tịch thu. Chúng đục xóa toàn bộ chữ trên bia rồi khắc tên đại úy Barbé làm mộ bia cho hắn ở khu đất Thánh Tây. Tấm bia này hiện đã được đem về lăng Hoàng gia ở Gò Công.

Năm 1869, đồn Barbé tức khung sườn chùa Khải Tường bị phá hủy để xây dựng các công trình của chế độ thuộc địa. Hiện vật quý nhất của Quốc Ân Khải Tường tự là pho tượng Phật của vua Minh Mạng từ đây lưu lạc “Phật trên bàn còn vương tám nạn”. Pho tượng bị chính quyền thực dân tịch thu giao cho Hội Cổ học Ấn - Hoa. Địa chỉ dời đổi nhiều lần rồi lại giao cho bảo tàng, trở thành tài sản quốc gia. 

Chùa Khải Tường ở Cái Thia

Theo quyển Ngũ gia tông phái ký của hòa thượng Hải Tịnh (bản khắc năm 1875) thì lúc Tây chiếm thành Gia Định, hòa thượng Tế Tín Chánh Trực đang lánh nạn tại Sắc tứ Từ Ân và đang bệnh nặng. Biết không thoát khỏi nên vào ngày 20 tháng 7 năm Giáp Thìn (1864), hòa thượng cho triệu tập tăng chúng hai chùa và ủy thác Quốc Ân Khải Tường tự cho hòa thượng Tiên Giác - Hải Tịnh, đồng thời cũng ủy thác cho pháp sư Trí Thông (chùa Từ Ân) làm phó trụ trì, Giám quản Quốc Ân Khải Tường tự. Rồi đại lão hòa thượng viên tịch, nước mất nhà tan, tổ ấn bị chôn vùi, sự ủy thác chỉ còn là danh nghĩa.

Theo dòng người di tản, một số đệ tử ngài cầu pháp với tổ đình Sắc tứ Kim Chương, trong số này có Hòa thượng Chơn Thành, pháp danh Thanh Đặng (1847-1919) đời thứ 41 phái Lâm tế. Lúc mất chùa có lẽ ngài còn là một tiểu tăng. Không mang theo được những di vật của Quốc Ân Khải Tường tự, khoảng năm 1862, ngài về tới đình Hội Thọ rồi sau đó dựng chùa Khải Tường ở Cái Thia (ấp Mỹ Phú, xã Mỹ Đức Đông, H.Cái Bè, Tiền Giang hiện nay) để hoài niệm. Chùa mới, Phật mới, chỉ có cái tên còn lưu giữ, nhưng chẳng được an cư. Năm 1947, Tây đánh vô chợ Cái Thia, chùa Khải Tường phải một lần nữa dời vô vàm rạch Ông Lữ để lánh nạn. 

Nằm khiêm nhường bên bờ rạch Ông Lữ, chùa Khải Tường ít người biết đến, ngay cả trong sách Phật giáo Tiền Giang lược sử những ngôi chùa được xuất bản gần đây thống kê 56 tự viện ở Cái Bè cũng không có tên Khải Tường tự. Nhưng có lẽ dòng chảy văn hóa tiếp tục không hề đứt đoạn. Tháng 9.2011, chùa Quốc Ân Khải Tường được phục dựng tại số 18 Đất Mới, xã Long Phước, H.Long Thành, Đồng Nai. Lịch sử ngôi chùa được nhắc lại song cũng còn nhiều điều chưa minh bạch.     

Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn

 Năm 1802, sau khi chiếm được kinh đô Phú Xuân, một trong những việc làm đầu tiên của vua Gia Long là làm lễ “Hiến phù”, tức là cho dẫn vua tôi Tây Sơn đã bị bắt làm tù binh đến trước bàn thờ tổ tiên để báo cáo chiến thắng.

Vin vào tục lệ ngàn xưa ấy nhằm uy hiếp tinh thần của đông đảo nhân dân còn lưu luyến nhà Tây Sơn và phong trào “áo vải cờ đào”. Gia Long đã hành hình vua quan Tây Sơn còn sống sót và gia đình họ một cách vô cùng dã man. Sau khi Gia Long nghỉ ngơi khoảng hai tháng ở kinh đô Đàng Trong, đã chính thức ra tay trừng phạt tù nhân của mình.

Trước hết là bắt vua Quang Toản phải tự mắt nhìn vào một loạt các cảnh gồm 5 động tác:

1.Phơi bày thi thể của bố mẹ Quang Toản và những người than cận nhất của nhà vua một cách nguyên xi như lúc mới bốc ở dưới mộ chiều hôm trước.

2.Lắp lại thành từng bộ phận hoặc toàn than những hài cốt của vua Quang Trung và bố mẹ Người để gây cảm xúc rung rợn, thương tâm.

3.Tập trung những hài cốt đã lắp cùng với tất cả những hài cốt rời rạc của gia đình vào một cái giỏ lớn.

4.Bắt buộc tất cả lính tráng và những người có mặt phải đến và đi tiểu vào cái giỏ hài cốt ấy.

5.Giã nát tất cả hài cốt thành bột và bỏ vào một cái giỏ khác đặt sát tận mắt vua Quang Toản để gây thêm đau khổ cho nhà vua.

Sau khi khủng bố tinh thần như vậy Quang Toản được ăn một bữa cơm khá ngon rồi bị bịt mồm lại bằng giẻ rách, tất cả gia quyến của nhà vua cũng đều bị bịt mồm để ngăn cản họ kêu la chửi rủa.

Rồi người ta dẫn đến bốn con voi, căng tay chân Quang Toản ra và trói một tay hoặc một chân của nhà vua vào một chân sau của mỗi con voi. Dưới sự điều khiển của tượng binh, bốn con voi đồng thời chạy về bốn hướng để xé than nhà vua thành bốn mảnh. Từ bốn mảnh xác ấy người ta róc thịt, lột da lấy xương để ra một nơi. Còn da thịt chia làm 5 phần bằng nhau đem ra phơi bày ở 5 chợ đông người nhất của kinh thành trên những cái cột cao để cho diều, quạ, mặt cắt…đến rỉa thịt.

"Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt, 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì”. 

"Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục”.

Riêng với thiếu phó Trần Quang Diệu, vì nổi tiếng là người rất có hiếu với mẹ nên được vua Gia Long miễn cho hình phạt “voi xé” và được hưởng hình phạt “chặt đầu”. Cha bị chặt đầu nhưng con gái ông vẫn phải chịu hình “voi xé”. Cô bé này khoảng 14 – 15 tuổi, rất xinh đẹp và dễ thương, khi thấy một con voi ra quấn mình, cô réo lên một tiếng vô cùng thê thảm: “mẹ ơi cứu con với”…Bùi Thị Xuân trả lời “nhưng con ơi, con nên chết với bố mẹ hơn là sống với bè lũ lang sói kia”. Lời nói ấy vừa chấm dứt thì con voi bị kích thích đưa vói quấn lấy cô bé rồi tung lên cao rồi cho rơi xuống cắm đứng vào cặp vòi nhọn hoắt của nó và nó làm thế hai lần thì cô bé chết.

Đến lượt nữ tướng Bùi Thị Xuân, bà đã hiên ngang đi thẳng tới con voi sắp giết mình và như muốn chọc tức nó. Khi bà lại gần con voi thì có một tiếng hô lớn: “Qùy xuống cho voi dễ nắm bắt”, bà không quỳ và cứ ung dung đến sát cạnh con voi. Thấy con voi vẫn đứng im, người nài phải thúc dục nó bằng nhiều cách nó mói chịu quấn than bà tung lên đến ba lần bà mới tắc thở. Người ta nói: “ Có lẽ thấy nữ tướng Bùi Thị Xuân hiên ngang đi tới, voi đã nhận ra đó là một trong những người chủ cũ của nó”.

Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy ích ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về (riêng Ngô Thì Nhậm thì bị Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên cho người đánh chết).

 

Việc trả thù Tây Sơn của Nguyễn ánh về sau bị sử sách nói nhiều đến mức độ thiên lệch cả về công và tội của ông. Cuộc báo thù này có hai mục đích: Trả thù cho những việc Tây Sơn làm với cho gia tộc và bản thân Nguyễn ánh trước kia: phá lăng mộ các chúa nhà Nguyễn, giết chết người thân và cả những đắng cay trong những ngày tháng lênh đênh trốn chạy; Dùng cuộc trả thù để tỏ rõ uy thế, làm khiếp sợ và buộc những người chống đối (ở đây chủ yếu là các cựu thần Lê -Trịnh) phải quy thuận trước vương triều mới. Có lẽ vì vậy, Nguyễn ánh không hề tìm cách che đậy sự tàn bạo của mình trong việc này. ông tuyên bố: "Trẫm vì chín đời mà trả thù". Trong các đánh giá về sau về sự việc này, sử sách cho rằng Nguyễn ánh thực hiện quá tay và "đôi lúc rất tiểu nhân". 

Qua khỏi phá Tam Giang chúng ta sẽ đến với tỉnh Quảng Trị 

Quảng Trị

Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông. Trung tâm hành chính của tỉnh là thị xã Đông Hà nằm cách 598 km về phía nam thủ đô Hà Nội và

1.112 km về phía bắc thành phố Hồ Chí Minh . Nơi đây có sông Bến Hải – cầu Hiền Lương, giới tuyến chia cắt hai miền Nam – Bắc Việt Nam trong suốt 20 năm (1954 – 1975).

Quảng Trị nằm ở phía nam của Bắc Trung Bộ, trọn vẹn trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, là vùng chuyển tiếp giữa hai 2 miền khí hậu. Miền khí hậu phía bắc có mùa đông lạnh và phía nam nóng ẩm quanh năm. ở vùng này khí hậu khắc nghiệt, chịu hậu quả nặng nề của gió tây nam khô nóng, bão, mưa lớn, khí

hậu biến động mạnh, thời tiết diễn biến thất thường, vì vậy trong sản xuất và đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn.

Trong những năm Chiến tranh Việt Nam, Quảng Trị là một trong những nơi bị thả bom nhiều nhất. Ngày nay Quảng Trị là nơi có nhiều địa danh, di tích lịch sử.

•  Qua cầu treo Đakrông là đến đường mòn Hồ Chí Minh.

•  Thành cổ Quảng Trị là một nơi gắn liền với chiến dịch mùa hè 1972.

•  Tại tỉnh này còn có một số địa danh khác như nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, địa đạo Vịnh Mốc, chiến trường Khe Sanh, căn cứ Cồn Tiên – Dốc Miếu, hàng rào điện tử McNamara…

•  Quảng Trị còn có bãi tắm Cửa Tùng được các sĩ quan Hải quân Pháp mệnh danh là “hoàng hậu của các bãi tắm” Đông Dương.

Tỉnh có đường sắt Bắc Nam, đường quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh chạy qua. Đặc biệt có đường 9 nối với đường liên Á qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo sang Lào.

Tai đây chúng ta sẽ đi qua huyện Triệu Phong. Ngay đầu huyện là cầu Mỹ Chánh. Triệu Phong

Triệu Phong là một huyện của tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.

Triệu Phong là một huyện gồm chủ yếu là đồng bằng ven biển, với một ít gò đồi thấp thuộc các xã Triệu

Thượng và Triệu Ái ở phía Tây, địa hình phía Đông huyện là cồn cát, đụn cát trắng. Diện tích tự nhiên của Triệu Phong là 354,9 km². Đoạn cuối của sông Thạch Hãn chảy ra cửa biển Cửa Việt, nằm trên địa bàn huyện.

Dân số huyện là 107.200 người (theo số liệu thống kê năm 2003).

Vào triều Lê sơ Triệu Phong là phủ thuộc trấn Thuận Hóa. Tới năm 1831, thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, Triệu Phong thuộc tỉnh Quảng Trị. 

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ – QUẢNG TRỊ

 

Kính thưa quý khách,

Chào mừng quý khách đến với thành phố Đông Hà – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Quảng Trị. Nếu Quảng Trị được biết đến như vùng đất của ký ức lịch sử và khát vọng hòa bình thì Đông Hà chính là “trái tim” đang chuyển mình mạnh mẽ của vùng đất ấy – nơi giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa quá khứ hào hùng và nhịp sống phát triển hôm nay.

 

1. Vị trí địa lý – Cửa ngõ chiến lược của miền Trung

Đông Hà nằm ở trung tâm tỉnh Quảng Trị, cách thành phố Huế khoảng 70 km về phía Nam và nằm trên tuyến giao thông huyết mạch Bắc – Nam. Đây là nơi giao cắt của:

  • Quốc lộ 1A
  • Quốc lộ 9
  • Tuyến đường sắt Bắc – Nam
  • Hành lang Kinh tế Đông – Tây nối Việt Nam – Lào – Thái Lan – Myanmar.

Chính vị trí này đã giúp Đông Hà từ lâu trở thành đầu mối giao thương quan trọng của khu vực Bắc Trung Bộ.

Ngày nay, Đông Hà là thành phố trực thuộc tỉnh, giữ vai trò tỉnh lỵ của Quảng Trị kể từ khi tỉnh được tái lập năm 1989.

 

2. Lịch sử hình thành – Từ vùng đất nhỏ đến đô thị trung tâm

Tên gọi Đông Hà gắn với vị trí địa lý ở vùng phía Đông của khu vực hành chính xưa.

Trước đây Đông Hà chỉ là một thị trấn nhỏ nằm ven tuyến giao thương Bắc – Nam. Trong thời kỳ chiến tranh, Đông Hà từng giữ vị trí quân sự đặc biệt quan trọng do nằm gần khu vực giới tuyến.

Sau năm 1975, cùng với quá trình tái thiết đất nước và sự tái lập tỉnh Quảng Trị năm 1989, Đông Hà được đầu tư phát triển mạnh về hạ tầng, thương mại và dịch vụ. Đến năm 2009, Đông Hà chính thức trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Trị.

 

3. Đông Hà – Thành phố trẻ trên vùng đất lửa

Điều đặc biệt của Đông Hà là đây không phải đô thị cổ với nhiều kiến trúc lâu đời, mà là một thành phố phát triển trên nền tảng tái thiết sau chiến tranh.

Nhịp sống ở Đông Hà khá đặc trưng:

  • Không quá đông đúc như các đô thị lớn.
  • Không gian rộng, thoáng.
  • Người dân thân thiện, gần gũi.
  • Giữ được nét bình dị của miền Trung.

Nơi đây thường được ví như “điểm dừng chân của ký ức và hành trình”.

 

4. Các điểm tham quan tiêu biểu của Đông Hà

Chợ Đông Hà

Đây được xem là khu chợ lớn nhất tỉnh Quảng Trị, nơi phản ánh rõ đời sống thương mại địa phương.

Tại đây du khách có thể tìm thấy:

  • Hồ tiêu Quảng Trị.
  • Cao chè vằng.
  • Hải sản khô.
  • Các đặc sản miền Trung.

Không khí chợ rất đặc trưng: chân chất, mộc mạc và đậm chất địa phương. 

Sông Hiếu

Con sông chảy qua lòng thành phố, tạo nên cảnh quan dịu dàng cho Đông Hà.

Vào buổi chiều, hai bên bờ sông là nơi người dân tập thể dục, sinh hoạt cộng đồng – mang đến nhịp sống yên bình hiếm thấy ở một đô thị trung tâm.

 

Công viên Fidel

Công trình mang tên nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro – người từng có chuyến thăm lịch sử tới Quảng Trị năm 1973.

Đây là điểm sinh hoạt cộng đồng và cũng là biểu tượng cho tình hữu nghị Việt Nam – Cuba.

 

Các điểm kết nối du lịch lân cận

Từ Đông Hà, du khách có thể dễ dàng di chuyển đến:

  • Cầu Hiền Lương
  • Sông Bến Hải
  • Địa đạo Vịnh Mốc
  • Thành Cổ Quảng Trị
  • Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn

Nhờ vậy, Đông Hà thường được xem là điểm trung chuyển quan trọng của các tuyến du lịch DMZ – du lịch ký ức chiến tranh.

 

5. Con người Đông Hà – hiền hòa và giàu nghị lực

Người Đông Hà mang đậm nét tính cách của người Quảng Trị:

  • Chân thành.
  • Kiệm lời nhưng giàu tình cảm.
  • Chịu khó.
  • Có ý chí vượt khó.

Trải qua chiến tranh và điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, người dân nơi đây vẫn luôn giữ tinh thần lạc quan và không ngừng phát triển quê hương.

Kính thưa quý khách,

Đông Hà không phải thành phố của những tòa nhà cao tầng hay sự náo nhiệt, nhưng lại mang một vẻ đẹp rất riêng – vẻ đẹp của sự hồi sinh, của tinh thần vượt khó và khát vọng phát triển.

Hy vọng trong hành trình hôm nay, thành phố Đông Hà sẽ để lại trong lòng quý khách những cảm nhận đẹp về một đô thị trẻ giữa vùng đất lịch sử Quảng Trị. 

Tiếp theo chúng ta sẽ đi qua Hải Lăng, nơi có con đường mang tên Đại Lộ Kinh Đại Lộ Kinh Hoàng

Đại Lộ Kinh Hoàng là tên không chính thức cho một đoạn đường dài khoảng 9 km tại tỉnh Quảng Trị, nơi mà Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nã pháo vào đoàn quân Việt Nam Cộng hòa cùng dân chúng đang tháo chạy về phía Nam trong Chiến dịch Xuân-Hè 1972 thời kỳ Chiến tranh Việt Nam trận chiến đã làm hàng chục nghìn người chết, con đường quốc lộ đoạn qua Hải Lăng bấy giờ được gọi là “đại lộ kinh

hoàng”, người chết la liệt.

Ngày 23 tháng 7 năm 2005 Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm lễ cầu siêu cho các liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Tháng 8/1973 đã diễn ra một lễ đại cầu siêu kéo dài 7 ngày 7 đêm. Hơn 3.000 tăng ni và

hàng nghìn phật tử đã về đó tìm xác, chôn cất người chết. Chỉ riêng số xác tìm được phải trên 5-6 nghìn. Tất cả đều được chôn cất đàng hoàng và được làm lễ cầu an sinh linh. Bây giờ đi trên quốc lộ 1A, qua đó vẫn thấy Đài Địa Tạng lưu giữ dấu ấn về đại lễ cầu siêu năm đó”

Ngày 28 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5 năm 2002, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tại chùa Long An thuộc quận Triệu Phong đàn tràng cầu siêu cho những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến mùa hè đỏ lửa năm 1972 tại Quảng Trị.

Trước khi vào thị xã Quảng Trị, ngay thị xã là thánh đường La Vang. 

THÁNH ĐỊA LA VANG

 

Thánh địa La Vang là thánh địa công giáo nổi tiếng nhất Việt Nam. Trong các điểm du lịch Quảng Trị mà không nói đến La Vang là một điều thiếu sót. Đến thăm thánh địa La Vang, dạo bước khuôn viên bạn sẽ cảm nhận được sự dễ chịu, mát mẻ của những cây cổ thụ to lớn. Ngồi trước tượng Đức mẹ để tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn và thoải mái. Hay là xin nước thánh tại giếng nước thánh La Vang để cầu an lành và hạnh phúc. Dù là tôn giáo nào thì bạn vẫn sẽ cảm nhận rõ sự an nhiên trong tâm khi đến đây. 

Tìm hiểu về Thánh địa La Vang

Thánh địa La Vang còn được gọi với tên “Vương cung thánh đường Đức Mẹ La Vang” nằm trong khu vực xưa gọi là Dinh Cát (đời chúa Nguyễn Hoàng vào nam thế kỷ XVI vùng này gọi là Dinh Cát tức Dinh xây trên một vùng đất cát có khi gọi là Cát Dinh). Ngày nay thuộc xã Hải Phú huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Nơi này cách Thành Cổ Quảng Trị chừng 6km về phía nam và cách thành phố Huế 60km về phía bắc. Thánh Địa La Vang là trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc của giáo hội Công giáo Việt Nam. Mỗi năm có hàng triệu người về hành hương kính Đức Mẹ ở nơi linh thiêng này.

Truyền thuyết về tên gọi La Vang

Theo một thuyết, dưới thời vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn có chính sách chống đạo Công Giáo. Cho nên để tránh sự trừng phạt của nhà Tây Sơn, nhiều giáo dân ở vùng Quảng Trị đã chạy lên vùng đất này.

Đây là khu vực đồi núi hẻo lánh nên để liên lạc với nhau được thì họ phải “la” lớn, mà “la” lớn thì “vang”. Cái tên La Vang ra đời từ đó.

Một cách giải thích khác là khi giáo dân chạy lên vùng đất này thì bị dịch bệnh, lúc bấy giờ Đức Mẹ đã hiện ra và chỉ dẫn cho họ đi tìm một loại lá gọi là lá vằng – uống vào sẽ chữa khỏi bệnh. Viết “lá vằng” không dấu thành La Vang.

Sự tích Đức Mẹ La Vang hiển linh

Theo Tư liệu Tòa Tổng Giám Mục Huế – 1998, dưới triều đại vua Cảnh Thịnh (lên ngôi năm 1792), với chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số các tín hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xã Quảng Trị) phải tìm nơi trốn ẩn. Họ đã đến lánh nạn tại núi rừng La Vang.

Nơi rừng thiêng nước độc, hoàn cảnh ngặt nghèo, thiếu ăn, bệnh tật, sợ hãi quan quân, sợ thú dữ, các tín hữu chỉ biết một lòng tin cậy phó thác vào Chúa và Đức Mẹ. Họ thường tụ tập nhau dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện, an ủi và giúp đỡ nhau.

Một hôm đang khi cùng nhau lần hạt kính Đức Mẹ, bỗng họ nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp, mặt áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Họ nhận ra ngay Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ bày tỏ lòng nhân từ, âu yếm, và an ủi giáo dân vui lòng chịu khó.

Mẹ dạy hái một loại lá cây có sẵn chung quanh đó, đem nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Mẹ lại ban lời hứa: “Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ tại chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện”.

Sau đó, Mẹ còn hiện ra nhiều lần như vậy để nâng đỡ và an ủi con cái Mẹ trong cơn hoạn nạn.

Từ đó đến nay sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại núi rừng La Vang, qua các thế hệ được loan truyền khắp nơi. Và nhiều người chân thành tin tưởng, đến cầu khấn Mẹ đều được ơn theo ý nguyện. Đức Mẹ La Vang thường được biểu tượng bằng một phụ nữ mặc áo dài Việt Nam…

Tham quan Thánh địa La Vang

Lịch sử nhà thờ La Vang vốn được xây trên nền của một miếu thờ Bà (có thể là Phật Bà Quan Âm hoặc bà chúa Liễu Hạnh) cho người đi rừng, nguyên là một mái nhà tranh dưới gốc cây đa và rào sơ bốn mặt, sau biến cố Mẹ Maria hiện ra năm 1789 được nhường cho giáo dân để xây một nơi tôn kính Mẹ Maria.

aVương cung thánh đường Đức Mẹ La Vang xưa

Ở trung tâm của khu Thánh địa,ngày nay còn lại di tích tháp chuông của Vương cung thánh đường Đức Mẹ La Vang. Công trình này được xây dựng từ năm 1924 – 1929, đại trùng tu năm 1959. Vào mùa hè năm 1972, Vương Cung Thánh Đường đã bị hủy hoại do chiến tranh, chỉ còn lại di tích tháp chuông.

Tháp Cổ La Vang

Ngày 15 tháng 8 năm 2012 đã diễn ra lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Vương cung Thánh đường mới. Về kích cỡ, đây là công trình lớn nhất của Giáo Hội Việt Nam từ trước đến nay. Ngôi thánh đường được thiết kế theo phong cách kiến trúc Á Đông truyền thống Việt Nam, có sức chứa lên đến 5.000 người.

Tại vị trí được cho là nơi Đức Mẹ hiện ra gần gốc cây đa cổ thụ, một tượng đài hoành tráng đã được xây dựng với hình tượng ba cây đa và Đức Mẹ La Vang ở chính giữa.Và Tượng Đức Mẹ La Vang cũng được đặt ở nhiều nơi trong Thánh địa.

Linh đài Đức Mẹ La Vang ảnh chụp năm 1967.

Đức Mẹ thường được thể hiện bằng hình ảnh một phụ nữ mặc áo dài Việt Nam bế đứa bé cũng mặc trang phục truyền thống Việt Nam.

Linh đài Đức Mẹ La Vang nay

Phía trước di tích tháp chuông Vương cung thánh đường Đức Mẹ La Vang là một quảng trường rộng. Hai bên quảng trường là Đàng Thánh Giá – một loạt gồm 14 tác phẩm điêu khắc, mô tả diễn tiến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, từ khi ông bị kết án đến khi bị đóng đinh trên thập giá và cuối cùng là an táng trong hầm mộ.

Ngoài ra,trong khuôn viên Thánh địa còn có giếng nước Đức Mẹ La Vang, nơi mỗi tín đồ khi tới đây đều uống một ngụm nước để tỏ lòng thành kính với Đức Mẹ. Nhiều tín đồ tin rằng nước giếng có khả năng chữa được bệnh tật trong cơ thể.

Trải qua rất nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, thời gian, đến nay Thánh địa La Vang dường như tỏa hết nét đẹp cổ kính của mình dưới một góc trời Hải Lăng – Quảng Trị.

 

Lễ hội hành Hương

Hàng năm vào ngày 15 tháng 8 tại La Vang người ta thường tổ chức lễ hội hành hương, gọi là “Kiệu” (cứ 3 năm lại có một “Kiệu” lớn, gọi là “Đại hội La Vang”).

Người hành hương về nơi này có thể mua được lá cây vằng, một loại lá thường dùng sắc thuốc hoặc uống mát, lành và có khả năng kháng khuẩn, rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh nở. Không những thế, khách thập phương đến đây là để hành hương và cầu xin những ơn lành mà người Công giáo tin rằng Đức Bà sẽ ban ơn như ý.

Biển người về bên Đức Mẹ La Vang

Sau một thời gian gián đoạn, từ năm 1990, chính quyền địa phương đã cho phép hành lễ tại đây trở lại. La Vang đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng nhất của người Công giáo Việt Nam.

Du lịch Quảng Trị, đến La Vang người ta cảm thấy như được cởi bỏ những trăn trở trong cuộc đời trần tục, được vơi đi những khó khăn trong cuộc sống. Khi ra về du khách cảm thấy thanh thản như được an ủi chở che, khích lệ, để cùng nhau xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. ­­­­­­­ 

Vào tới thị xã Quảng Trị, phía bên phải là trường Bồ Đề và Thành Cổ Quảng Trị, Thành cổ Quảng Trị thuộc phường 2, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, cách quốc lộ 1A 2km về phía đông. Thành được xây từ năm thứ 4 đời vua Minh Mạng (1824). Nơi đây đã từng đương đầu với khối lượng bom đạn khổng lồ của quân Mỹ vào năm 1972.

Thành có chu vi gần 2km, cao chừng 4m, dày khoảng 1 đến 2m. Thành có 4 cửa theo bốn hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc. Bên ngoài chân tường có hào rộng chừng 18m.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1972 tại thành cổ Quảng Trị, quân Giải phóng Việt Nam đã phải đương đầu với khối lượng bom đạn khổng lồ của Mỹ – Nguy trút xuống thành cổ, với sức công phá tương đương 8 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã thả xuống Hirosima (Nhật Bản) năm 1945. Các chiến sĩ quân Giải phóng Việt Nam vẫn kiên cường bám trụ bảo vệ thành cổ suốt 81 ngày đêm tới khi có lệnh rút quân, tạo thế thắng trên bàn đàm phán của quân và dân ta tại Hội nghị Pari. 

Di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị và Những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 thuộc địa bàn thị xã Quảng Trị và hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

 

1. Thành cổ Quảng Trị

Thành cổ Quảng Trị có diện tích 25ha, nằm ở trung tâm thị xã Quảng Trị, được xây dưới thời Nguyễn (năm 1809 và 1837), gồm hành cung, cột cờ, các cơ quan (Ty phiên, dinh Tuần phủ, Án sát, ngục thất)... và một số công trình phòng thủ (luỹ, pháo đài, tường bắn, đường phòng hộ, hào thành...). Sau đó, người Pháp xây dựng thêm đồn cảnh sát, nhà tù, nơi chỉ huy các binh chủng, bưu điện, trạm xá, kho gạo… Từ 1954 - 1971, các công trình xây dựng thời Nguyễn ở trong thành bị tàn phá nặng nề. Chính quyền Sài Gòn đã biến nơi đây thành doanh trại đóng quân, sân vận động, nhà lao và dựng thêm một số lô cốt. Trong cuộc chiến năm 1972, Thành cổ bị phá hủy gần hết, chỉ còn lại một số đoạn tường gạch loang lổ vết đạn và 2 cổng tiền, hậu chưa sụp đổ. Từ năm 1992 đến nay, di tích đã được tu bổ, bảo tồn những yếu tố gốc còn lại sau chiến tranh, tôn tạo và xây dựng mới nhiều công trình để phục vụ mục đích tri ân, tưởng niệm.

+ Hệ thống cổng thành gồm 4 cổng ra vào:

- Nam môn (cổng tiền) được xây kiểu vòm cuốn, có hệ thống cửa lim hai cánh, gồm hai tầng: tầng dưới là cửa ra vào, tầng trên là vọng lâu;

- Bắc môn (cổng hậu) hiện được bảo tồn nguyên gốc (sau chiến tranh), với nhiều hư hại và chi chít vết bom, đạn. Phần vòm cuốn còn nguyên hình dạng, trên cổng là vọng gác;

- Tây môn (cổng hữu) đã bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn dấu tích đoạn tường dài 8m ở phía bên tả (trái) của cổng;

- Đông môn (cổng tả) đã bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn lại một đoạn tường thành phía bên hữu (phải) của cổng.

+ Hệ thống tường thành đã bị phá huỷ nghiêm trọng, chỉ còn lại một số đoạn ngắn tương đối nguyên vẹn, với nhiều vết đạn pháo. Năm 2012, hệ thống nền móng tường thành được phát lộ.

+ Hệ thống pháo đài được bảo tồn nguyên gốc (còn lại sau chiến tranh). Ở góc Tây Nam, nhiều mảng tường đã bị phá hủy; đoạn giữa mặt Bắc chỉ còn tường thành đắp bằng đất; góc Tây Bắc bị phá hủy gần như toàn bộ; góc Đông Bắc có nhiều mảng bị nứt vỡ và lún, nghiêng. Pháo đài góc Đông Nam bị nứt và bong tróc, có đoạn bị biến dạng.

+ Hệ thống cầu bắc qua hào thành: 4 chiếc cầu bắc qua hào thành đều bị bom đạn đánh sập, dấu tích còn lại chỉ là một phần cống hình vòm cuốn ở chiếc cầu bắc vào cổng hậu. Từ năm 1993, cầu được phục hồi theo kiến trúc cũ.

+ Hệ thống hào thành: năm 1993, kè thẳng phía trong và ngoài hào thành bằng đá cuội bazan. Năm 2011, hệ thống tường thấp bằng xi măng, bê tông cốt thép phía trong và ngoài hào thành được xây mới, lòng hào được nạo vét, dẫn nước vào và thả hoa để tạo mỹ quan cho di tích. 

+ Lao xá (nhà lao) nằm ở góc Đông Bắc thành, được xây dựng từ thời Nguyễn, mở rộng thêm thời Pháp và chế độ Việt Nam Cộng hoà. Nhà lao gồm vọng gác, phía Đông có lao tả, phía Tây có lao hữu, phía Nam có các dãy nhà làm việc... Sau chiến tranh, lao xá bị phá huỷ gần hết, chỉ còn lại hệ thống xà lim kiên cố từ thời Pháp thuộc.

+ Chứng tích hố bom có diện tích 24m2, sâu 2,5m, nằm ở phía Bắc thành.

+ Đài Tưởng niệm xây dựng năm 1997, bằng đất, có hình tròn mang hình dáng một nấm mồ chung. Giữa đài dựng một biểu tượng cây đèn thờ cao 8,1m, mang ý nghĩa tượng trưng cho 81 ngày đêm chiến đấu oanh liệt tại Thành cổ của quân và dân ta. Sân hành lễ và nền đài tưởng niệm lát gạch đỏ.

+ Nhà trưng bày (Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị) được xây dựng năm 2002, nằm ở góc Đông Nam, bên trong thành. Bảo tàng hiện trưng bày nhiều hình ảnh, tư liệu, hiện vật gắn với Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm lịch sử mùa hè năm 1972.

+ Bia chiến tích sinh viên Thành cổ Quảng Trị xây dựng năm 2002, nằm ở góc Đông Bắc, bên trong thành, để ghi nhớ và tưởng niệm những người lính học sinh, sinh viên đã hy sinh trong cuộc chiến.

 

2. Những địa điểm lưu niệm trận địa chốt và bến sông tiêu biểu

+ Ngã ba Long Hưng và nhà thờ Long Hưng: Ngã ba Long Hưng nằm trên quốc lộ 1A, thuộc làng Long Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng. Năm 2012, bia tưởng niệm Ngã ba Long Hưng được xây dựng. Bia nền đen, chữ vàng, ghi nội dung: “Ngã ba Long Hưng  “Ngã ba bom”, “Ngã ba lửa” trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm chống phản kích tái chiếm Thành cổ và thị xã Quảng Trị 1972”.

Nhà thờ Long Hưng được xây dựng vào những năm 1955 - 1956. Trong cuộc chiến năm 1972, đây là một trong những vị trí chốt giữ ở hướng Nam của Thành cổ. Nhà thờ này đã bị bom đạn phá huỷ gần hết, hiện chưa được phục hồi.

+ Nhà thờ Tri Bưu được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ XVII. Năm 1972, đây là một trong những vị trí chốt giữ ở hướng Đông Bắc Thành cổ. Sau chiến tranh, nhà thờ chỉ còn sót lại bộ khung bê tông cốt thép và mảng tường gạch của gác chuông phía cánh tả của nhà thờ. Gần đây, nhà thờ đã được trùng tu 02 lần (1994 và 2000) nhờ sự đóng góp công sức, tiền bạc của bà con Giáo dân nơi đây.

+ Trường Bồ Đề xây dựng vào năm 1959. Trong chiến dịch 81 ngày đêm năm 1972, trường là một trong những trận địa chốt khá vững vàng của quân ta. Đây là một trong số ít công trình còn sót lại chưa bị bom, đạn phá huỷ hoàn toàn. Trường được gia cố vào các năm 1998, 2000.

+ Bến sông Thạch Hãn là cửa ngõ để quân ta tiếp tế vũ khí, lương thực… vào chiến trường. Đây là nơi diễn ra trận quyết chiến ác liệt của quân và dân ta suốt 81 ngày đêm lịch sử, hàng vạn chiến sỹ đã hy sinh, nằm lại trên mảnh đất này. Gần đây, các công trình tháp chuông, nhà hành lễ, bến thả hoa, tượng đài đã được xây dựng bên bến sông này để tri ân những chiến sĩ đã chiến đấu, hy sinh vì tổ quốc.

+ Quảng trường Giải phóng vốn là nơi làm việc của bộ máy cai trị thực dân Pháp, Mỹ - Ngụy ở Quảng Trị. Trong chiến dịch 81 ngày đêm lịch sử năm 1972, đây là nơi đặt Sở Chỉ huy của Trung đoàn 48 và Trạm Phẫu thuật tiền phương để chuyển tiếp những chiến sĩ thương, vong sang bờ Bắc sông Thạch Hãn. Năm 2009, bia di tích được phục dựng.

+ Chốt Long Quang là chốt trọng yếu của mặt trận cánh Đông bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Chốt được xây dựng trên hệ thống đê chắn cát, chắn nước biển xâm nhập của dân địa phương. Năm 2001, một bia đài bên cạnh trận địa cũ đã được xây dựng để tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh tại đây.

+ Chốt Ngô Xá Tây là nơi từng diễn ra nhiều trận đánh quan trọng nhằm ngăn chặn bước tiến công của địch năm 1972. Sau chiến tranh, địa điểm này đã trở thành phế tích. Năm 2009, nhà bia tưởng niệm Ngô Xá Tây được xây dựng.

Với những giá trị đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị và Những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 (thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013)./.

Nguyễn Khắc Đoài (Theo Hồ sơ xếp hạng di tích - Tư liệu Cục Di sản văn hóa) 

Những cái tên: Thành cổ, địa đạo Vịnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, hàng rào điện tử McNamara, căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu… trở thành điểm đến của khách du lịch trong nước và quốc tế. 

Thành cổ Quảng trị được xếp vào danh mục những di tích quốc gia và còn là điểm thu hút hấp dẫn khách tham quan nhất là khách quốc tế. Thành cổ Quảng Trị nổi tiếng bởi cách đây 35 năm đã diễn ra trận chiến ác liệt diễn ra suốt 81 ngày đêm giữa lực lượng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và lực lượng Việt Nam Cộng hoà, có sự yểm trợ với vũ khí tối tân của quân đội Mỹ hòng chiếm lại thành cổ. Mỗi tấc đất ở thành cổ đều có bom đạn và xác người. Người dân đã coi thành cổ là vùng đất tâm linh. 

Sau giải phóng, tượng đài tưởng niệm liệt sĩ hy sinh ở thành cổ được xây dựng. Tượng đài hình tròn tượng trưng nấm mồ cho những người đã mất. Tượng đài tạo ra một thế lưỡng nghi, trên là phần dương, dưới là

phần âm. Phần dương có một lỗ thông từ dương đến âm và hai nửa vầng trăng khuyết, thể hiện dương có âm và âm có dương.

Hàng năm, cứ đến ngày 30.4 hay ngày 27.7, nhân dân ở đây lại thả những bó hoa xuống dòng sông để tưởng nhớ các liệt sĩ.

Tiếp tục chúng ta sẽ đi qua cầu Thạch Hãn rồi qua Ái Tử. Nơi đây Nguyễn Hoàng chạy lánh nạn và bắt đầu xây bánh trướng nhà Nguyễn ở xứ đàng trong. 

Thạch Hãn - dòng sông linh thiêng đầy máu và hoa trong mùa Hè đỏ lửa

 Không thể thống kê hết số bom đạn dội xuống Thành cổ Quảng Trị, song các nhà khoa học quân sự đã ước tính trung bình mỗi chiến sỹ quân giải phóng phải hứng chịu trên 100 quả bom và 200 quả đạn pháo.

"Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"
                                                                                                                                              (Lê Bá Dương)

Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn đã đi vào thơ ca như những trang sử bi tráng thấm đượm máu và hoa. Mùa Hè đỏ lửa năm 1972, bến sông Thạch Hãn trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm oanh liệt đã đón nhận hàng vạn chiến sỹ quân giải phóng vượt sông dưới mưa bom bão đạn vào giữ Thành Cổ, làm nên trang sử vàng bất khuất của dân tộc.

Dòng sông linh thiêng

Thạch Hãn là con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Trị, vì thế trong thư tịch còn được gọi là sông Quảng Trị, còn dân Quảng Trị từ xưa quen gọi là sông Hàn: “Chẳng thơm cũng thể hương đàn/Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra."

Sách "Ðại Nam nhất thống chí" chép rằng: "Sông Thạch Hãn, từ nguồn Viên Kiều ở Bảo Trấn Lao (Lao Bảo) chảy về đông… qua phía bắc tỉnh thành Quảng Trị thì mang tên sông Thạch Hãn, đến ngã ba cổ Thành chia làm hai nhánh. Một nhánh chảy lên đông bắc đến ngã ba Phú Ông, gặp sông Ái Tử (Vĩnh Phước) ở phía tây chảy vào, qua huyện Ðăng Xương (tức huyện Triệu Phong ngày nay), rồi ngã ba Ðại Ðộ gặp sông Ðiếu Ngao (sông Ðiếu Ngao qua cửa Ðiếu Ngao, đến xã Cam Lộ thì gọi là sông Cam Lộ), rồi qua ngã ba Giáo Liêm đổ ra Cửa Việt. Một nhánh chảy xuống đông nam, chảy vào sông Vĩnh Ðịnh, gặp sông Nhùng (Mai Ðàn) từ phía tây tới, rồi theo hướng nam tới huyện lỵ Phong Ðiền thì gặp sông Ô Lâu (Thác Ma), sau đó chảy ra phá Tam Giang."

Với chiều dài 155km, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn (đoạn gần thị trấn Khe Sanh) nên lượng phù sa do sông mang đến không nhiều. Trừ những ngày lũ lụt, nước sông trong xanh và có thể nhìn thấy đáy.

Từ xưa cho tới nay, sông Thạch Hãn luôn đóng vai trò quan trọng trong huyết mạch giao thông đường thủy và cung cấp nguồn nước cho các vựa lúa chính của tỉnh như Triệu Phong, Hải Lăng.

Xưa, nhà Nguyễn đã am tường sự lợi hại của “dòng sông đá” này như một hào thành tự nhiên bảo vệ thành Quảng Trị. Chẳng thế mà khi Hoàng đế Minh Mạng cho đúc Cửu Đỉnh (9 cái đỉnh đồng) vào năm 1835 và khánh thành vào năm 1837, đã cho khắc hình sông Thạch Hãn vào một trong 9 cái đỉnh này. Hiện nay, chiếc đỉnh này được bày ở sân Thế miếu thờ các đời vua Nguyễn ở Huế. 

Quảng Trị - Điểm đến của ký ức chiến tranh và khát vọng hòa bình

 Lịch sử của tỉnh Quảng Trị cũng gắn liền với lịch sử của dòng sông Thạch Hãn. Tuy là vùng đất hẹp, ít đồng bằng màu mỡ nhưng nơi đây là cái nôi của các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây cũng là nơi sinh ra nhiều thế hệ chiến sỹ cách mạng kiệt xuất.

Nhiều tướng lĩnh, nhà cầm quân đã ví sông Thạch Hãn là con hào thiên tạo ở phía bắc Thành cổ Quảng Trị và sự song hành mà lịch sử đã chọn dòng Thạch Hãn với Thành cổ là sự song hành bi tráng thấm đượm máu và hoa. Thiên sử thi bi tráng đó đến từ vị trí chiến lược về quân sự trong sự nghiệp Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của Thạch Hãn và Thành cổ Quảng Trị, mà điển hình là 81 ngày đêm giữ vững Thành cổ trước cuộc phản kích tái chiếm tỉnh Quảng Trị của đế quốc Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa vào mùa Hè đỏ lửa năm 1972.

Dòng sông hoa lửa

Ngược dòng thời gian, mùa Hè năm 1972, hưởng ứng phong trào “Ba sẵn sàng” và thực hiện lệnh tổng động viên, hàng nghìn thanh niên ưu tú của đất nước ở tuổi mười tám, đôi mươi đã gác lại những ước mơ và những hoài bão, xếp bút nghiên rời giảng đường đại học theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc vào chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị.

Tại nơi đây, mảnh đất Thành cổ Quảng Trị với chu vi hơn 2.160m là “túi bom” của kẻ thù. Chúng huy động tối đa lực lượng, phương tiện để chiếm bằng được Thành cổ vì đây là địa bàn chiến lược, có thể tạo sức nặng mặc cả với ta tại Hội nghị Paris.

Không thể thống kê hết số bom đạn dội xuống mảnh đất này, song các nhà khoa học quân sự đã ước tính trung bình mỗi chiến sỹ quân giải phóng ở đây phải hứng chịu trên 100 quả bom và 200 quả đạn pháo.

Báo chí phương Tây thời bấy giờ bình luận và so sánh số bom đạn Mỹ ném xuống chiến trường Thành cổ Quảng Trị khoảng 328.000 tấn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản) năm 1945.

Thế nhưng, bom đạn không làm sờn lòng những chiến sỹ quân giải phóng. Các anh vẫn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, quyết không rời trận địa, người này ngã xuống người khác lại đến thay.

Báo Quân đội Nhân dân ra ngày 9/8/1972 có viết “Mỗi mét vuông đất mà các chiến sỹ ta giành được ở Thành cổ Quảng Trị thực sự là một mét vuông máu." Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra như một huyền thoại và cách đánh cũng vượt ra những quy ước thông thường.

Trong cuộc chiến 81 ngày đêm đó, dòng sông Thạch Hãn là con đường tiếp tế nhân lực, vật lực chủ yếu cho mặt trận Quảng Trị. Để cắt con đường tiếp tế đó, địch điên cuồng ném bom bắn phá, rất nhiều chiến sỹ ta đã nằm lại trên dòng sông.

Đặc biệt ngày 16/9/1972, ngày cuối cùng của 81 ngày đêm, sau khi nhận lệnh cấp trên rút toàn bộ quân sang bờ Bắc của sông để bảo toàn lực lượng, hàng trăm chiến sỹ và thương binh sau nhiều ngày ngâm mình trong nước, đói rét đã không còn đủ sức để chống chọi với dòng nước lũ. Và sông Thạch Hãn một lần nữa trở thành nơi an nghỉ vĩnh hằng của các chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị anh hùng.

Tuổi 20 nằm lại dưới đáy sông. Có người kịp gọi tên người yêu thương trước khi gửi thân mình cho sóng nước, có người cả tiếng gọi mẹ ơi cũng tắt nghẹn nửa chừng khi địch bất thần nã pháo vào đội hình vượt sông... Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ, các anh chẳng để lại gì trước lúc hy sinh. Có chăng chỉ là một lời nhắn nhủ: “Em sẽ đọc thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe tất cả những người trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này. Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống hòa bình hãy nhớ tới anh. Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình, có điều kiện vào Nam lấy hài cốt của anh về" (thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình).

Các anh đã đi xa, nhưng linh hồn vẫn còn “mãi ngàn năm," nêu gương sáng về tinh thần yêu nước, tiếp thêm sức mạnh cho lớp lớp thế hệ hậu sinh. Các anh vẫn còn mãi như “sóng nước” không ngừng nghỉ trên sông, “vỗ yên bờ bãi” quê hương, làng xóm.

"Khi người lính lặng im tan vào đất
Là cuộc đời chảy mãi những dòng sông
Ôi dòng sông mang phù sa người lính
Tươi mát bãi bồi xanh ngát nương dâu."
("Dòng sông hoa đỏ
" - Nguyễn Hữu Quý, Võ Thế Hùng).

Khúc tráng ca ấy được chiến sỹ Lê Bá Dương viết tiếp làm lay động trái tim bao người:

"Ðò lên Thạch Hãn… ơi chèo nhẹ
Ðáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm."

Có một dòng sông linh thiêng như thế trên mảnh đất Quảng Trị anh hùng. Dòng sông là chứng nhân lịch sử chứng kiến những hy sinh anh dũng của những người con đất Việt kiên cường:

"Thạch Hãn giờ dòng chảy vẫn như xưa
Hồn bạn tôi có còn nguyên đáy nước
Thả nến, thả hoa có ai nhận được
Vết đạn bom thù nhức nhối con tim..
."
                                                                                         ("Anh sẽ về" - Lê Trung Sơn).
 

Máu xương của các anh đã tan vào đất mẹ, hòa vào sông nước mênh mang của dòng Thạch Hãn để ngàn đời sau vẫn mãi khắc ghi./.

(TTXVN/Vietnam+)

 Khi vào tới thị xã Đông Hà, nhìn bên trái là đường 9 đi Lao Bảo Cửa Khẩu Lao Bảo

Cửa khẩu Lao Bảo là một cửa khẩu của Việt Nam trên đường biên giới giữa Việt Nam và Lào, thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đối diện với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo ở bên kia đường biên giới là cửa khẩu Den Savanh của Lào. Cửa khẩu Lao Bảo nằm trên quốc lộ 9 từ Đông Hà sang Lào, cách thị xã Đông Hà khoảng 80 km, và ngay cạnh sông Sepon.

Trung tâm Thương mại Lao Bảo cách cửa khẩu biên giới 2 km. Nhiều hàng hóa của Thái Lan mang từ Lào sang được buôn bán ở đây. Tại Trung tâm Thương mại này tương đối sầm uất, hàng hóa phong phú, chủ yếu hàng hóa có xuất xứ từ Thái Lan, Khách tham quan du lịch có thể mua chế độ miễn thuế 500.000 đồng/người. Lao Bảo cách Thái Lan 250 km. Từ 1993, Lao Bảo trở thành một cửa khẩu quốc tế quan trọng và du lịch giữa Lào, Thái Lan với các tỉnh miền Trung Việt Nam.

Đi trên quốc lộ 1A, chúng ta sẽ đi qua chợ Đông Hà rồi đi qua cầu Đông Hà bắc qua sông Cam Lộ, nhìn bên phải là con đường đi Cửa Việt. Tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa, phía bên trái có con đường đi vào nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường Sơn. 

Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường Sơn

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn là nơi quy tập phần mộ các liệt sĩ trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh thống nhất đất nước.

Nghĩa trang được xây dựng tại khu vực Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách thị xã Đông Hà, tỉnh ly của tỉnh Quảng Trị khoảng 38km về phía tây bắc, cách quốc lộ 1A (đoạn thị trấn huyện ly Gio Linh) chừng hơn 20km về phía tây bắc. Nghĩa trang có diện tích 140.000m², nằm trên 3 quả đồi ở cạnh thượng nguồn sông Bến Hải, ranh giới cắt chia hai miền Bắc – Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Đây là nơi Bộ tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn đã chọn. Đây là một trong 72 nghĩa trang liệt sỹ của tỉnh Quảng Trị.

Mộ bắt đầu được quy tập từ đây từ cuối năm 1974. Nghĩa trang được xây từ cuối năm 1974 đến năm 1977 thì hoàn thành, đây là nghĩa trang có quy mô lớn nhất Việt Nam, có kiến trúc, bố cục độc đáo, không giống đa phần nghĩa trang liệt sĩ khác ở Việt Nam.

Tại thời điểm tháng 4 năm 2006 ở đây có 10.263 phần mộ; được chia thành 10 khu vực theo địa phương: Hà Nội, Bình Trị Thiên, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Bắc, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hải Phòng, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tiên… nơi liệt sĩ sinh ra và một khu dành cho 68 liệt sĩ khuyết danh. Các phần mộ được xây kiên cố, có sơ đồ mộ chí, được 21 quản trang trông nom, giữ gìn chu đáo.

Sau đó đi them một đoạn nữa thì sẽ đi qua Dốc Miếu Căn cứ quân sự Dốc Miếu

Căn cứ quân sự Dốc Miếu nằm ở phía Đông Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Gia Phong cách thị trấn Gio Linh 3 km về phía Bắc.

Dốc Miếu là đồi đất đỏ bazan, nơi đây, từ năm 1947 thực dân Pháp đã đóng chốt quân sự để án ngữ Quốc lộ 1A, được gọi là đồn Ba Dốc.

Dốc Miếu được coi là cứ điểm quan trọng nhất của phòng tuyến McNamara. Ở đây địch xây dựng những hệ thống hầm nhà ván, hệ thống lô cốt di động bằng bê tông, có trận địa pháo mặt đất thường bắn phá ra

bờ Bắc sông Bến Hải, có trận địa phòng không 37, trung tâm điều khiển bảo vệ hàng rào, chi đội thiết giáp tuần tra cùng nhiều đại đội hỗn hợp Mỹ – ngụy. Xung quanh căn cứ, ngoài các hàng rào kẽm gai ken dày bom mìn là hệ thống máy móc báo động chống xâm nhập. 

Hàng rào điện tử McNamara: Lá chắn tỷ đô thất thủ tại Quảng Trị

Giữa vùng rừng núi Quảng Trị, từng xuất hiện một công trình quân sự hiện đại trong những năm 1966 - 1968. Đó là một “hàng rào” không chỉ làm bằng thép và mìn, mà còn được vận hành bằng công nghệ điện tử tối tân. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những gì còn lại của Hàng rào McNamara không chỉ là dấu tích chiến tranh, mà là câu chuyện đầy tò mò về tham vọng công nghệ, về cách McNamara từng tin rằng máy móc có thể vượt trội hơn sức lực con người. Làm thế nào mà quân đội Việt Nam có thể vô hiệu hóa được hệ thống phòng thủ hiện đại này? Hãy cùng tìm hiểu. 

Hàng rào McNamara và bối cảnh ra đời

Trong những năm 1960, hàng rào điện tử McNamara được xem là một trong những công trình quân sự ứng dụng công nghệ hiện đại nhất của Mỹ tại Đông Nam Á. Hệ thống này do ông Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đề xuất dựa trên quan điểm rằng công nghệ có thể thay thế phần nào vai trò của lực lượng kiểm soát truyền thống trên một địa hình rộng và phức tạp. Công trình đồ sộ này về sau được gắn liền với tên ông - hàng rào McNamara.

Theo kế hoạch ban đầu, hàng rào điện tử McNamara được thiết kế chạy dọc bờ nam sông Bến Hải, cách khu phi quân sự vĩ tuyến 17 khoảng 5 - 7 km. Tuyến phòng thủ này dự kiến kéo dài từ vùng biển Gio Linh (Quảng Trị), đi qua các cứ điểm như Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đồi 31, men theo Đường 9 lên biên giới Việt - Lào và mở rộng sang lãnh thổ Lào. Tuy nhiên, trên thực tế đến cuối năm 1968, hệ thống chỉ hoàn thiện được một đoạn ngắn từ ven biển Gio Linh lên khu vực Đồi 31, với chiều dài khoảng vài km, thấp hơn rất nhiều so với quy mô hàng trăm km đã được vạch ra trong kế hoạch ban đầu.

Bên cạnh đó, không phải ngẫu nhiên mà Mỹ lựa chọn các cứ điểm trên làm vị trí của hàng rào McNamara. Hệ thống phòng ngự khổng lồ này được tạo ra để chặt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, ngăn cản sự tiếp tế của quân đội miền Bắc, tiêu diệt và tiêu hao sinh lực của quân đội Việt Nam.

Hàng rào McNamara được tạo nên như thế nào?

 

Lớp phòng thủ trên mặt đất

Trên mặt đất, hàng rào McNamara được cấu thành từ nhiều lớp phòng thủ kết hợp chặt chẽ. Hệ thống phòng thủ kiên cố với bức tường kẽm gai cao khoảng 3 mét, gồm 12 lớp dây thép chồng lên nhau, rất khó phá vỡ. Bất kỳ rung động nào tác động lên hàng rào cũng dễ kích hoạt các loại mìn bố trí xung quanh.

Phía trước hàng rào là vành đai mìn rộng hàng trăm mét, rải dày nhiều loại mìn khác nhau. Bao phủ toàn bộ tuyến phòng thủ là hỏa lực yểm trợ từ pháo binh, xe tăng. Trên trời cao, máy trinh sát không người lái theo dõi dọc tuyến hàng rào. Chúng nhận tín hiệu và ngay lập tức chỉ điểm cho pháo, bom tọa độ dội đến mục tiêu. Lực lượng này hoạt động liên tục ngày đêm, hình thành một “lá chắn” kiểm soát chặt chẽ cả trên mặt đất lẫn từ trên không.

 

Hệ thống cảm biến

Nhờ vào hệ thống cảm biến tinh vi, hàng rào McNamara từng được xem là một trong những công trình quân sự ứng dụng công nghệ hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Các thiết bị này được triển khai dày đặc dọc tuyến phòng thủ và len sâu vào những khu rừng núi hiểm trở, với mục tiêu theo dõi mọi dấu hiệu di chuyển.

Hệ thống cảm biến của hàng rào điện tử bao gồm:

- Cảm biến địa chấn ADSID: Đây là loại cảm biến được sử dụng phổ biến nhất, thường được gọi bằng tên quen thuộc là “cây nhiệt đới”. ADSID được thả từ máy bay xuống rừng, có hình dáng ngụy trang như cành cây hoặc khúc gỗ mục nên rất khó nhận ra bằng mắt thường. Khi cắm xuống đất, thiết bị này có khả năng ghi nhận các rung động nhỏ trên mặt đất, phát sinh từ bước chân người, đoàn xe hay hoạt động di chuyển trong rừng

 

- Cảm biến âm thanh: Thiết bị này ghi lại các tín hiệu tiếng động như tiếng động cơ xe, tiếng bước chân, tiếng sinh hoạt hay va chạm. Trong điều kiện rừng núi rậm rạp, nơi tầm nhìn bị hạn chế, việc thu thập âm thanh trở thành một phương thức quan trọng để quân Mỹ khoanh vùng khu vực đang có quân ta hoạt động.

- Cảm biến hơi người (Sniffer): Sniffer là loại cảm biến đặc biệt, được thiết kế để phát hiện dấu hiệu đặc trưng của cơ thể con người trong môi trường tự nhiên. Thiết bị này có khả năng nhận biết các hợp chất mùi liên quan đến mồ hôi, hơi thở hoặc sự hiện diện của con người.

Toàn bộ thông tin thu thập từ các cảm biến được truyền về Trung tâm xử lý Task Force Alpha tại Thái Lan, nơi đặt những máy tính IBM hiện đại bậc nhất thời điểm đó. Tại đây, trung tâm này sẽ điều phối lực lượng chiến đấu cơ, đánh phá các khu vực có báo động. Trong mạng lưới vận hành ấy, căn cứ Dốc Miếu giữ vị trí đặc biệt quan trọng, được xem như một điểm quan sát then chốt, giúp theo dõi và kiểm soát hoạt động trên toàn hệ thống hàng rào.

Sự thất bại của hàng rào McNamara

Dù được xây dựng với công nghệ tiên tiến bậc nhất thời bấy giờ, hàng rào McNamara dần bộc lộ những giới hạn khó tránh của một hệ thống phụ thuộc hoàn toàn vào máy móc. Bộ đội Việt Nam nhanh chóng nhận ra nguyên lý hoạt động của các cảm biến và chủ động tạo ra những tín hiệu giả để đánh lừa hệ thống.

Bộ đội quân ta phá cây nhiệt đới bằng cách treo lon kim loại dọc hàng rào, thả động vật nhỏ vào bên trong để tạo rung động liên tục, khiến thiết bị cảm biến ghi nhận như có người di chuyển. Với các cảm biến dò hơi người, những lon chứa nước tiểu đặt ở khu vực vô hại, khiến hệ thống hiểu nhầm là có lực lượng xâm nhập và điều máy bay đến đánh phá. Những cách thức đánh lừa tưởng chừng đơn giản nhưng đầy tinh vi ấy đã khiến hệ thống cảm biến liên tục báo động sai, từng bước vô hiệu hóa hàng rào điện tử.

Hơn thế nữa, chi phí xây dựng hàng rào McNamara cũng như duy trì hệ thống vô cùng lớn. Để vận hành hệ thống ngăn chặn này, mỗi tháng cần rải ít nhất 20 triệu mìn Gravel, 25 triệu bom kích thước nhỏ, 1600 thiết bị cảm biến âm thanh, cùng 68 máy bay tuần tra và 50 máy bay rải mìn. Chi phí ước tính lên đến 800 triệu USD/năm. Như vậy, hàng rào này tiêu tốn lớn về nhân lực và phương tiện nhưng không đạt được mục tiêu chiến lược mà McNamara đề ra. Sự thất bại này thể hiện rằng không phải lúc nào công nghệ và máy móc hiện đại cũng có thể chiến thắng được sự thông minh, linh hoạt và khả năng thích ứng trước hoàn cảnh của con người.

Tháng 10 năm 1968, dự án đã xem như bị phá sản, sau khi Robert McNamara tuyên bố từ chức và Quân đội Nhân dân Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công Mậu Thân và cuộc tấn công căn cứ Khe Sanh. Ngày nay, hàng rào McNamara không còn tồn tại như một công trình nguyên vẹn. Phần lớn hệ thống này đã bị tháo dỡ, phá hủy bởi bom đạn hoặc bị thiên nhiên xóa mờ sau khi chiến tranh kết thúc. Những thiết bị điện tử như cảm biến, dây dẫn, trung tâm điều khiển đều đã ngừng hoạt động từ cuối năm 1968. Dấu tích còn lại hiện chỉ còn một vài lô cốt, cùng một số hầm hào cũ rải rác xung quanh khu vực Dốc Miếu, có một số chỗ đã bị vùi lấp trong quá trình canh tác.

Di tích Dốc Miếu: “Mắt thần” một thời của hàng rào McNamara

Dốc Miếu là một quả đồi đất đỏ bazan rộng khoảng 262 héc-ta, nằm tại xã Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Với độ cao khoảng 50 mét, cao nhất khu vực phía đông Gio Linh, nơi đây sở hữu tầm nhìn rộng ra cả vùng đồng bằng, đồi núi và tuyến đường từ ven biển vào nội địa. Đồng thời Dốc Miếu cũng có vị trí gần khu phi quân sự vĩ tuyến 17. Chính lợi thế địa hình này khiến Dốc Miếu từng được lựa chọn làm trung tâm quan sát và điều phối hỏa lực, nơi tập trung nhiều thiết bị trinh sát điện tử, pháo hạng nặng và lực lượng đồn trú của quân Mỹ. Đây được coi là “mắt thần” của hàng rào điện tử McNamara, giữ vai trò kiểm soát toàn bộ hệ thống phòng thủ hiện đại.

Ngày nay, di tích Dốc Miếu trở thành một trong những di tích lịch sử của tỉnh Quảng Trị. Trên đỉnh đồi nổi bật là Tượng đài chiến thắng, ghi nhớ công lao của các chiến sĩ giao liên - những người đảm nhiệm nhiệm vụ đưa đón cán bộ từ Nam ra Bắc và ngược lại trong điều kiện vô cùng hiểm nguy. Tại khu vực Dốc Miếu và dọc hàng rào McNamara, nhiều chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, chấp nhận đánh đổi tính mạng để bảo vệ bí mật quân sự. Ngay khu vực cổng vào di tích là nhà truyền thống, nơi lưu giữ và trưng bày những hình ảnh tư liệu quý. Tượng đài chiến thắng nằm ở đầu dốc phía Bắc, đầu dốc phía Nam là dấu tích chiếc xe tăng M41 của Mỹ bị bắn cháy. Dưới chân Tượng đài, những đồi cao su xanh ngát trải dài, mang đến cảm giác yên bình và mát lành. Màu xanh ấy không chỉ đặc trưng cho vùng đất Gio Linh, mà còn là minh chứng sinh động cho sức sống và sự hồi sinh mạnh mẽ của mảnh đất từng hứng chịu mưa bom, bão đạn trong chiến tranh. 

Khu du lịch sinh thái Trằm Trà Lộc

 Trằm Trà Lộc, một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của tỉnh Quảng Trị thuộc địa phận làng Trà Lộc, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng; cách Thị xã Quảng Trị khoảng 6km về phía Ðông Nam; cách Trung tâm Hành hương đức mẹ La Vang khoảng 5km về phía Đông Bắc; cách Quốc lộ 1A khoảng 3km về phía Đông Bắc. 

Trằm - theo cách gọi của nhân dân địa phương là bàu nước, còn có tên là bàu Giàng, có diện tích  mặt nước khoảng 20ha, nằm giữa một vùng tiếp giáp giữa đồi cát và vùng đồng bằng ruộng trũng. Ðây là nơi hội tụ các luồng, mạch nước từ trong các cồn cát tiết ra, dẫn về theo vô số các các lạch nhỏ. Trải qua nhiều lớp cư dân từ người Chăm đến người Việt, bàu nước này đã được dân địa phương sử dụng để trở thành một công trình thủy lợi khá hoàn chỉnh với một hệ thống mương máng phục vụ tưới tiêu cho một vùng đồng ruộng phía tây làng Trà Lộc.

Tương truyền từ ngày xưa có ông tiên quẩy đôi quang gánh đi trên 9 tầng mây với một đầu là một viên đá dùng đánh lửa còn đầu kia là sọt cát để đi lấp biển. Trên đường đi chẳng may đòn gánh bị gãy, hòn đá rơi xuống và tạo ra cái Trằm, còn sọt cát thì tạo ra một sa động mang tên là động Cát Tiên. Lại có tích cho Trằm là nơi các vị thần linh, tiên nữ về hội tụ trong một lễ hội du thủy nên mới có tên là Bàu Giàng, còn động Cát tiên là nơi các tiên ông thường xuống chơi cờ. Truyền thuyết về Trằm Trà Lộc hoặc những câu chuyện được nhân cách hoá thực ra cũng để thỏa mãn nhu cầu được tự hào, ngợi ca và ngưỡng vọng của dân làng đối với một khung cảnh thiên nhiên trữ tình thơ mộng nằm giữa một vùng đồi cát trắng mênh mông trên dải trường sa của vùng Hải Lăng. Dẫu sao thì giữa một vùng đồi cát mênh mông, mùa hè nắng cháy rát bỏng lại tồn tại một bàu nước với một không gian xung quanh là một khu rừng thuộc thảm thực vật vùng cát xanh tươi thì có thể nói đấy như là một “cổ máy điều hoà” mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân nơi này.

Bao bọc xung quanh Trằm là thảm thực vật nguyên sinh được dân địa phương gọi là rú với một diện tích khoảng 65 ha; trong đó, một nửa gọi là Rú Cao, nửa còn lại là Rú Phá. Gọi là Rú Cao bởi từ bao đời nay theo quy ước bất thành văn của làng, khu vực này được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt, không một ai được chặt cây, đốn củi dù là một nhành cây nhỏ. Còn khu Rú Phá thì cứ theo lệ 3 năm 1 lần làng cho toàn dân chặt ngang gốc để lấy củi. Chính vì thế, thảm thực vật xung quanh Trằm Trà Lộc được phân thành 2 khu vực rất dễ nhận diện. Khu vực vành đai phía Ðông nam và Tây bắc là khu bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Ở đây, dải rừng nguyên sinh kéo dài từ góc Ðông nam bờ Trằm lên phía Tây Bắc giáp với Bàu Ông Vần tới gần 1km, chiều ngang hơn 50m. Chính dải rừng này đã tạo thành một vành đai có tác dụng chắn cát từ phía Tây tràn xuống để bảo vệ đồng ruộng. Ðây là khu bảo tồn được nhiều gen thực vật thuộc hệ sinh thái thảm thực vật vùng cát rất quý với nhiều cây lấy gỗ lâu năm, to đến một người ôm không xuể và cao hàng chục mét; có các loại cây quý hiếm như: tran, săng ve, đá lã, trai, rỏi, tràm, bông cấu…

Nhiều năm trước, trong các khu rú rậm có rất nhiều loài động vật, thú cư trú và sinh sản như: chồn, báo, sóc, gà rừng, rắn... cùng rất nhiều loài chim khác. Trong lòng hồ, ngoài hàng chục loài cá tự nhiên còn có các loại chim như: le le, ngổng trời, vịt trời, sếu, vạc...đua nhau tìm kiếm thức ăn khuấy động cả mặt hồ trông thật vui mắt.

Bốn phía xung quanh bờ trằm, trên những dải đồi cát thoai thoải với các vùng rú cây cối lúp xúp là những khu vực nghĩa địa của dân làng. Thấp thoáng ẩn hiện giữa các lùm cây là những lăng mộ được kiến trúc theo nhiều dáng kiểu thuộc các thế hệ từ thời khai khẩn khai canh cho đến tận ngày nay. Ðây khôngchỉ là không gian tâm linh, tỉnh tại, cổ kính của Trằm Trà Lộc mà còn tạo thêm những nét chấm phá trữ tình làm cho không gian tự nhiên này càng thêm nhiều sắc màu văn hóa.

Ðứng ở vị trí có tên là Ðập Máng vào mùa mưa, khi nước trong lòng hồ dâng cao, người ta sẽ thấy một dòng nước liên tục chảy từ lòng hồ đổ xuống hệ thống mương để thoát về sông Vĩnh Ðịnh tạo ra như một dòng thác với âm thanh réo rắt nghe khá vui tai. Lợi dụng địa hình cồn - bàu, ngay từ xa xưa, những cư dân cổ Chămpa đã đắp đập ở phía Ðông của bàu nước - nơi tiếp giáp với đồng ruộng để tạo ra hồ chứa; sau đó, đào kênh, khơi mương để dẫn nước tưới cho đồng ruộng. Bàu Giàng Trà Lộc và Bàu Ông Vần Trà Trì là hai công trình thủy lợi cổ có từ thời Chăm mà vai trò của nó đối với sản xuất nông nghiệp còn có ý nghĩa quan trọng cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ này - trước khi có hệ thống đại thủy nông Nam Thạch Hãn.

Mới đây, trong năm 2000, một số người dân địa phương cho biết là trong khi đào hồ nuôi cá quanh khu vực Bàu Giàng họ đã tìm thấy những khung gỗ hình tròn nguyên là từ một thân cây được khóet rỗng bên trong, có thành dày khoảng 10cm, đường kính khoảng hơn 1m và cho rằng đó chính là những “bi” giếng bằng gỗ dùng để tạo ra thành của những giếng nước. Ðó chính là những giếng cổ của người Chăm xây dựng trên địa hình vùng cát.

Người Việt hai làng Trà Lộc và Trà Trì đã kế thừa thành quả của người Chăm cả về phương diện kinh tế lẫn văn hóa. Chính tên gọi Trà Trì (tên chung cho cả hai làng thời kỳ đầu, thế kỷ XV - XVI) cũng gợi lại hình ảnh của công trình thủy lợi này (nghĩa tiếng hán dịch ra là Bàu nước của làng Trà) Sau khi tách thành hai làng thì Trà Lộc cũng tức là hàm nghĩa về sự xưng tụng nguồn lợi mà bàu nước này mang lại.

 Ðặc biệt, bên trong khu vực Lùm Giàng, phía Tây bắc Trằm Trà Lộc trước đây đã từng có một đền tháp Chăm tồn tại nhưng ngày nay chỉ là phế tích, rải rác đây đó là một vài mảnh gạch vỡ còn sót lại. Phía trước ngôi miếu Bà Giàng vẫn còn hiện hữu một bệ Yoni bằng đá sa thạch. Người Việt ở làng Trà Lộc đến định cư, lập làng ở vùng này (cuối thế kỷ XV) khi mà ngôi tháp đã bị đổ nát. Họ xây cất lên đó một ngôi miếu để thờ phụng lại chính thần linh xưa của người tiền chủ. Và chính họ cũng đã mô phỏng lại “chân dung” của vị thần Siva - biểu tượng bằng Linga - với ít nhất là hai “chỏm hình cầu” bằng vôi gắn vào giữa Yoni để thờ phụng với mục đích cầu mong sự tốt đẹp cho mùa màng, sự sinh sôi nãy nở cho muôn vật, muôn loài.

 Ðiều đáng nói thêm là ở quanh khu vực Lùm Giàng cũng như ven Bàu Giàng của làng Trà Lộc, những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều di vật khảo cổ học như những chiếc rìu, bôn đá, bàn mài...từ thời đại cuối đá mới, sơ kỳ kim khí; trống đồng thuộc giai đoạn văn hóa Ðông Sơn cách ngày nay từ 2.000 - 2.500 năm và nhất là những đồ gốm sứ thuộc thời kỳ trước và trong giai đoạn phát triển của vương quốc Chămpa; trong đó có nhiều đồ bán sứ Trung Hoa dưới các thế kỷ VII - IX như gốm sứ Hán, Lục triều, Ðường... Ðây là những bằng chứng về sự định cư lâu dài, liên tục của các lớp cư dân dọc dải cồn cát tiểu trường sa nói chung, quanh Trằm Trà Lộc nói riêng trong lịch sử từ xa xưa đến tận ngày nay.

Trong công cuộc đổi mới và phát triển của quê hương, Trằm Trà Lộc đã và đang trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn đối với nhân dân Quảng Trị. Một dự án du lịch sinh thái đã được mở ra bằng việc quy hoạch diện tích Trằm Trà Lộc mở rộng khoảng 100ha, xây dựng đường giao thông, các trục đường nội bộ bao quanh Trằm, bãi đổ xe, nhà nghĩ, các cơ sở dịch vụ đủ tiêu chuẩn và một số hạng mục khác sẽ được triển khai thực hiện trong một ngày gần đây. Hướng mở mới cho việc khai thác tiềm năng du lịch chắc chắn sẽ đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân tỉnh nhà và du khách mọi nơi.

 Trằm Trà Lộc là một bức tranh thuỷ mặc hữu tình, một nơi du lịch sinh thái - văn hóa hấp dẫn và lý tưởng. Những ngày hè nóng bức, những mùa thu ấm mát du khách về với Trà Lộc sẽ được thưởng ngoạn, được hít thở cái không khí trong lành của lá phổi tự nhiên hòa quyện với hương sen, hương lúa nồng ấm tình người. 

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Dương 

Thác Luồi

 (DLQT) Từ Đông Hà đi thác Luồi Đakrông nếu đi bằng ô tô thì chỉ mất khoảng hơn một tiếng đồng hồ bạn xẽ đến thác Luồi. Ngược dòng sông Thạch Hản về phía thượng nguồn sông Đakrông, dừng chân tại km 41 về phía Đông Nam chừng 6 km du khách đến địa phận bản Khe Luồi xã Mò ó huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị. Nhìn bề ngoài nơi đây có vẽ trù phú như những miền đất khác, nhưng lại ẩn dấu trong mình thiên nhiên kỳ thú xinh đẹp.

Một ngọn thác kỳ vĩ không thua kém thác Tatưng  nước đổ quanh năm, đã tồn tại nhiều năm giữa cánh rừng trường sơn đại ngàn. Đó chính là thác Luồi, một khu du lịch sinh thái tiềm ẩn nguyên sơ, thu hút du khách hiếu kỳ gần xa.

Từ độ cao 50 mét đổ xuống, du khách đến đây được ngắm thác,  nghe suối reo và tiếng thác đổ giữa khung cảnh thiên nhiên thuần khiết. Dọc bờ thác, những dãy đá lớn nhỏ chen chúc bên những dãy hoa lộc vừng khoe sắc mỗi độ xuân về; Những con đò đưa khách qua dòng sống Đakrông, đi qua bản Luồi, đến thác Luồi du khách được chứng kiến cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất thô sơ và những mái nhà sàn cheo leo giữa đình núi của tộc người Vân Kiều.

Du khách có thể câu cá, bắt ốc rừng, tham gia các hoạt động sinh hoạt của cộng đồng người Vân Kiều, ấn tượng là những lễ hội truyền thống, những làn điệu dân ca tinh tế sâu lắng, hợp xướng với những nhạc cụ truyền thống do bàn tay khéo léo của cư dân địa phương chế tác.

Đến với thác Luồi du khách được phóng tầm mắt giữa cánh rừng đại ngàn, nghe tiếng chim ngân vang ca hót; Nơi đây còn phù hợp cho việc cắm trại, đốt lữa trại của học sinh, sinh viên và được chứng kiến những thảm thực vật đa dạng sinh học.

Thác Luồi là một danh thắng thiên nhiên xinh đẹp, song chưa được sự quan tâm đầu, xếp hạng. Hy vọng rằng thời gian tới, được sự quan tâm đầu tư giúp đỡ các ban ngành, đoàn thể, các chương trình dự án, Thác Luồi trở thành điểm khai thác du lịch tiềm năng trên trục hành lang kinh tế Đông – Tây.

Tác giả bài viết: Hồ Phương 

Nghĩa Trũng Đàn


Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, Nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn... là những cái tên không còn xa lạ mỗi khi nhắc đến Quảng Trị. Thế nhưng đã mấy ai biết rằng, cũng chính tại mảnh đất máu lửa này còn có một nơi yên nghỉ của những người lính Tây Sơn áo vải, cờ đào một thời theo vua Quang Trung ra Bắc đánh đuổi giặc Thanh xâm lược. Và, như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nói: “Đây là nghĩa trang đầu tiên của người lính Việt”...

Nằm phía bên kia con kênh Thạch Hãn, thuộc địa phận làng Thạch Hãn xưa (nay là khu phố 8, phường 3, thị xã Quảng Trị), có một nghĩa trang là nơi yên nghỉ của hàng trăm người lính Tây Sơn áo vải cờ đào đã ngã xuống trong cuộc Bắc tiến chinh phạt quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789, với tên gọi “Nghĩa Trũng Đàn”...

Nhưng, giờ đây cuộc sống hiện đại và công nghiệp xô bồ nhộn nhịp đã biến ngôi làng cổ Thạch Hãn năm nào trở thành khu phố sầm uất, bụi bặm. Người gốc làng Thạch Hãn xưa cũng chẳng còn mấy ai, nên lớp trẻ ít người biết đến Nghĩa Trũng Đàn – nơi chôn cất những người lính chiến Tây Sơn. Lần hỏi mãi chúng tôi mới tìm được cụ Phạm Bá Khanh (82 tuổi) là một nhân chứng sống của làng cổ Thạch Hãn còn lưu giữ được trong tâm khảm dấu ấn về Nghĩa Trũng Đàn. Đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, song cụ Khanh khá minh mẫn. Cụ đưa chúng tôi đến Nghĩa Trũng Đàn, rồi trầm ngâm kể lại...

Thì ra, vào thời vua Tự Đức thứ 25 (năm 1872), ngài Hoàng Hữu Lợi, tước Trung nghị Đại phu phó Đô ngự sử, tiền nhân 12 đời Hoàng tộc làng Bích Khê (Triệu Phong, Quảng Trị) trong một chuyến đi thị sát vô tình chứng kiến nhiều phần mộ của những lưu dân Nam tiến dọc sông Thạch Hãn bị sạt lở, lộ cả hài cốt ra ngoài. Cảm thương cho những số phận những người bất hạnh, ông cùng phu nhân bỏ tiền phát quang, mua một khu đất có địa thế đẹp, hợp phong thủy tại làng Thạch Hãn để làm nơi yên nghỉ cho các phần mộ vô chủ kia. Và cái tên Nghĩa Trũng Đàn ra đời từ đó...

Nghĩa Trũng Đàn được chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Trị phục dựng, trở thành một di tích lịch sử, văn hóa của tỉnh.

Cho đến đời con của cụ Lợi, Hiệp biện Đại học sĩ, Bình Như Hoàng Hữu Xứng, sau này là quan Tuần Vũ tại Hà Nội, trong nhiều lần đi tuần hành khảo sát qua thành, tình cờ bắt gặp không ít ngôi mộ vô chủ nằm dọc ngang, không theo lề lối, chẳng ai chăm sóc, hỏi người dân địa phương thì ông mới biết đây chính là phần mộ của những nghĩa quân Tây Sơn đã từng theo vua Quang Trung đi dẹp giặc cứu nước, trên đường đi bị bệnh bỏ mạng nằm lại nơi này.

Nghe vậy, quan Tuần Vũ chợt nghĩ, đến xác quân Thanh chết trận khi xâm chiếm nước ta còn được quy tập xương cốt chôn cất và cho lập đàn cúng tế hằng năm, huống chi đây là những nghĩa binh con em đất Việt đã hy sinh máu xương vì Tổ quốc... Nghĩ thế, ông bèn thuê người cất bốc được gần 1.000 hài cốt, đồng thời xin chính quyền triều Nguyễn mở rộng khu đất Nghĩa Trũng Đàn mà thân phụ ông đã mua năm xưa tại làng Thạch Hãn để làm nơi chôn cất.

Cụ Phạm Bá Khanh thắp hương trước bia Đàn Nghĩa Trũng.

Kể từ đó, Đàn Nghĩa Trũng chính thức trở thành nghĩa trang của những người lính Tây Sơn và một phần nhỏ của những linh hồn bơ vơ. Dân làng Thạch Hãn và con cháu họ Hoàng hằng năm cứ 25 tháng Chạp thường xuyên về đây cúng giỗ... Tự nguyện trông coi, hương khói Đàn Nghĩa Trũng từ lúc mới trưởng thành đến nay đã tóc bạc, răng long, cụ Khanh móm mém bảo: “Tui nghĩ đó là trách nhiệm mà bậc hậu thế phải làm…”.

Dưới thời vua Thành Thái, Nghĩa Trũng Đàn được hưởng quy chế quốc gia, với nhiều ưu đãi do chính quyền tỉnh Quảng Trị quản lý, cấp ruộng tư điền, miễn sưu, phong hàm cho những người trực tiếp săn sóc, quản lý nghĩa trang, xuân thu nhị kỳ tế lễ có quan Tuần Vũ Quảng Trị đứng chủ tế...

Và thật kỳ lạ, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Nghĩa Trũng Đàn đã hứng chịu không ít mưa bom, bão đạn. Theo nhiều người cao tuổi gốc làng Thạch Hãn xưa kể lại: Có lần do muốn lấy làng làm căn cứ chiếm đóng, giặc Mỹ đã cho xe tăng đến san phẳng từng nhà. Nhưng đến Nghĩa Trũng Đàn thì xe lại bị tuột xích, tắt máy. Bọn địch tức tối, liền cho thêm 2 xe khác tiến vào cũng thất bại. Hoảng quá, chúng liền đưa xe bỏ đi và không dám tới đây tàn phá nữa. Tuy nhiên, bom đạn tàn phá khiến khu nghĩa trang năm nào giờ chỉ còn là 1 gò đất cao 1m, rộng gần 20m và dài hơn 70m...

Sau ngày hòa bình lập lại, làng Thạch Hãn bước vào công cuộc phát triển kinh tế địa phương. Và những câu chuyện về Nghĩa Trũng Đàn năm xưa cũng được khơi lại. Con cháu họ Hoàng làng Bích Khê cùng với các vị kỳ lão làng Thạch Hãn cùng góp sức, thay nhau coi quản Nghĩa Trũng Đàn. Và trong nhiều lần đại trùng tu, tấm văn bia đặt tại đàn do nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (dòng dõi thứ 16 của họ Hoàng) đã hoàn thành, trong đó có lời tựa: “Tổ tiên vun trồng, hậu bối từng ngày vun đắp để cây Đức mãi mãi xanh tươi. Đó là nghiêm huấn của các tiền hiền đã lao khổ dựng nghiệp nơi quê hương linh kiệt. Con cháu Hoàng tộc khắc cốt mang theo dù phải sống ly hương khắp bốn phương trời”.

Ghi nhận những giá trị lịch sử to lớn cũng như tạo thuận lợi cho công tác trùng tu, tôn tạo và phát huy những giá trị vốn có của Nghĩa Trũng Đàn, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành quyết định công nhận Nghĩa Trũng Đàn là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh

Nguyễn Tiến Nhất 

Làng Mai Xá

 Làng Mai Xá (xã Gio Mai, Gio Linh, Quảng Trị) là một trong những ngôi làng cổ ở Việt Nam. Không chỉ đi vào lịch sử với những huyền thoại “Bà mẹ Gio Linh" nuôi con đánh giặc... mà còn nổi tiếng với những cảnh đẹp của một làng quê Việt Nam. Cho đến nay, Mai Xá vẫn còn hội tụ đầy đủ những yếu tố đặc trưng của một làng quê Việt Nam như: cây đa, bến nước, sân đình.

Làng Mai Xá hiện có 3 di tích lịch sử văn hóa đã được công nhận, đó là Di tích Rú Lòi – Bàu Đông, Bến đò Mai Xá và Đình làng Mai Xá Chánh. Một trong những phong cảnh đẹp nhất của làng Mai Xá có thể kể đến đầm Hà Côộc – nơi được cho là “đất lành chim đậu”. Đây chính là khu rừng nguyên sinh còn sót lại của làng, quy tụ nhiều loài chim sinh sống mà trong đó nhiều nhất là cò.

Nhờ có phong cảnh đẹp lại nằm trên trục đường xuyên Á dẫn xuống biển Cửa Việt, đầm Hà Côộc luôn thu hút nhiều du khách đi qua con đường này dừng lại chụp hình để ghi lại những khoảnh khắc tuyệt đẹp của một làng quê khi hoàng hôn buông xuống. 

Đình làng Mai Xá Chánh

Đình làng Mai Xá Chánh nằm trong tổng thể các di tích lịch sử - văn hóa của làng Mai Xá gồm đình làng, chợ, bến đò, khe lạch và rừng cây nguyên sinh, tạo nên một bức tranh phong cảnh hữu tình làm say đắm lòng người du khách thưởng ngoạn.

Ngôi đình này lần đầu tiên được xây dựng cách nay gần 5 thế kỉ trên một gò đất cao, nơi có dòng sông Hiếu chảy qua phía trước ngôi đình. Trải qua thời gian và điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng đất gió Lào cát bỏng, đình làng đã xuống cấp đáng kể. Nhân dân làng Mai Xá tự nguyện đóng góp 3 tỷ đồng để xây dựng lại ngôi đình. Đình làng Mai Xá Chánh là nơi đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, và là nơi tiến hành các kì lễ tế hàng năm của người dân làng.

Tương truyền rằng, người khai canh ra làng Mai Xá Chánh là Năm Trương và ngôi đình làng cũng được xây dựng cùng với quá trình phát triển của làng. Sân đình làng Mai Xá Chánh đã là chứng nhân thầm lặng của biết bao thăng trầm lịch sử. Tại sân đình này, người dân làng Mai Xá Chánh đã hưởng ứng lễ truy điệu nhà cách mạng Phan Chu Trinh, cũng như phong trào đòi ân xá cho nhà cách mạng Phan Bội Châu. Đình làng cũng đã từng là trụ sở bí mật của tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chi bộ Đảng đầu tiên của làng Mai Xá Chánh cũng được thành lập tại đây và tổ chức phát động khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. Trong chiến tranh, sân đình làng Mai Xá Chánh trở thành căn cứ trong lòng địch, là "tổng kho" của cả mặt trận Quảng Trị... Trong mọi hoàn cảnh, người dân làng Mai Xá Chánh luôn anh hùng bất khuất. Lịch sử Đảng bộ xã Gio Mai còn ghi lại biết bao những tấm gương trung liệt. Đó là mẹ Lê Thị Cháu, người đã nén đau thương, mang rổ lên đình làng lấy đầu con trai là xã đội trưởng Nguyễn Đức Kỳ bị giặc bắt, tra tấn dã man rồi chặt đầu cắm cọc bêu trước đình làng... Từ câu chuyện có thật này, nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác ca khúc cách mạng Bà mẹ Gio Linh.

Với những giá trị lịch sử, văn hoá lâu đời vốn có, ngôi đình làng Mai Xá Chánh đã được xếp hạng "Di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia". Đình làng Mai Xá Chánh có tên trong danh sách các di tích kiến trúc nghệ thuật của tỉnh Quảng Trị được Hội Di sản Văn hóa Quảng Trị chọn để bảo tồn, tôn tạo.

Ngôi đình được xây dựng theo lối kiến trúc cổ, kiểu nhà rường Trung Bộ, các cấu kiện cột kèo, xuyên, trếng, đòn tay đều được làm bằng gỗ mít có chạm trổ hoa văn, hình lưỡng long chầu nguyệt, chim phượng… được trang trí bằng nghệ thuật đắp vữa và ghép mảnh sành sứ tinh xảo với tổng kinh phí xây dựng lên tới 3 tỷ đồng do chính con em của làng tự nguyện đóng góp.

Nét văn hóa ở làng Mai Xá

Làng Mai Xá nổi tiếng là vùng “đất học” của tỉnh Quảng Trị:

Học sinh làng Mai Xá Chánh học giỏi, thi đỗ đạt cao là nhờ hương đất của làng. Địa hình của làng có hình dáng như ngòi bút cắm vào nghiên mực – biểu tượng cho đất học. Dù ở trong hoàn cảnh nào, học sinh làng Mai Xá cũng biết vươn lên trong học tập nhằm gìn giữ truyền thống hiếu học của làng. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá cho rằng, người Mai Xá Chánh luôn hướng ngoại để mở mang kiến thức, đem về cho mình những giá trị văn hoá, tinh thần cao quý nhất.

Ở làng này người ta chẳng kính phục nhau chuyện giàu có, chức quyền, mà chỉ “đọ” nhau về những tấm bằng đại học giữa các gia đình, dòng họ. Chuyện học hành, thi cử trở thành “miếng giữa làng” tại vùng quê nghèo này. Tất cả các dòng tộc của làng Mai Xá đều thành lập ban khuyến học và hàng năm họ tổ chức lễ phát thưởng cho những con em học giỏi của của dòng họ mình.

Nghề truyền thống:

Mai Xá là một làng quê nằm ven con sông Hiếu. Cuộc sống của người dân nơi đây đã gắn bó với nghề cào chắt chắt từ bao đời nay nên được gọi là nghề truyền thống của làng. Để tỏ lòng biết ơn người đã cho họ một nghề làm ăn, một sức khỏe tốt và cả những điều may mắn trên sông. Vì làm nghề chắt chắt nên những món ăn đặc nổi tiếng ở đây đều có chắt chắt : Bún Hến Mai Xá (bún chắt chắt), chắt chát xào xúc bánh tráng , canh chắt chắt rau muống ... 

Lễ hội truyền thống: 

Lễ hội rước hến làng Mai Xá là nét đẹp văn hóa dân gian ở làng quê vùng sông nước Quảng Trị, thể hiện tín ngưỡng và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của cư dân làm nghề sông nước đối với tổ nghề và tiền nhân. Lễ hội này được tổ chức định kỳ 3 năm một lần tại bến đò lịch sử thôn Mai Xá (chỗ sông Thạch Hãn và sông Hiếu gặp nhau), nơi con hến sinh sôi nảy nở. Người thợ cào chắt chắt làng Mai Xá luôn nhớ nằm lòng câu: “Rằm tháng hai cầu rạy, rằm tháng bảy cầu an”.

Người Mai Xá rất giỏi khai thác con chắt chắt. Để tỏ lòng biết ơn người đã cho họ một nghề làm ăn, một sức khỏe tốt và cả những điều may mắn trên sông nước, những hộ làm nghề cào thường tổ chức lễ cúng tổ nghề linh đình. Cào chắt chắt là "nghề sông nước", nên họ cũng cúng “cầu an” để mong muốn mọi việc được “thuận buồm xuôi gió” và mưa thuận gió hòa, sông nước yên bình trong suốt quá trình hành nghề.

Làng Mai Xá được xem là “cái nôi” đua thuyền ở tỉnh Quảng Trị do cuộc sống lao động của một bộ phận dân làng quanh năm gắn liền với nghề sông nước - một hoạt động mang nhiều yếu tố tâm linh. Lễ hội đua thuyền là dịp để dân làng cầu năm mới mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, vụ mùa bội thu. 

Làng quê Mai Xá sẽ mãi mãi ăn sâu vào ký ức của người Mai Xá, nhất là những người con đang sống xa quê hương. Làng Mai Xá là nơi lý tưởng để phát triển du lịch cộng đồng – một loại hình du lịch mới mẻ đang “hút” khách, nhưng đáng tiếc, tiềm năng hiếm có này vẫn đang còn bị bỏ ngõ!. 

Làng Cổ Bích La

 - vùng đất “Địa linh,nhân kiệt”, “lò đúc hiền tài,nôi sinh sĩ tử”!

- quê hương Tổng bí thư Lê Duẫn và nhiều nhân tài khác của đất nước.

Trong khu miếu thờ cổ kính tại làng Bích La đông (xã Triệu Đông tỉnh Quảng Trị) có một số bản Thần phả, Sắc phong từ đầu triều Nguyễn được dân làng lưu giữ cẩn thận. Tuy nhiên đây là những cổ vật bằng chữ Hán nên cũng ít người biết tường tận. Năm 2005, ông Lê Nguyễn Lưu, nhà nghiên cứu Hán nôm ở Huế đã đọc và dịch bản Thần phả : ”Quảng Trị tỉnh, Triệu phong phủ, Bích La xã, khai khẩn tôn thần sự trạng”, đây là cứ liệu lịch sử quý hiếmgiúp cho hậu thế biết thêm về nguồn gốc hình thành ngôi làng cổ kính nổi tiếng này.

Phiên âm: Hoan châu Hoa Duệ nhân, cẩn thực trung hậu, tinh thông binh pháp. Lê triều Thống Nguyên niên gian, hoạn cư Chánh Chưởng Trung Tể. Thì nhân Mạc Đăng Dung tiếm quyền, cô tiên lĩnh mệnh Lê triều cai trị Tân Bình Thuận hóa đẳng xứ, hãn ngự Chiêm Thành. Chiêu mộ dân khẩn hoang điền, lập tổng xã, định thổ tù. Duy thời tùy tòng thập tứ hộ: Cai tổng bá Lê Cảnh Sắc, Lê Văn Tài, Lê Bá Hỉ, Lê Phúc Thiện, Lê Đức Dũng, Dương Đình Cống, Nguyễn Thọ Bình, Lê Thế Toản, Lê Trọng Mưu, Trần Hửu Dực, Phan Định, Phạm Xuân Dương, Hồ Tất, Đặng Xương. Cử Thuận Hóa y xứ kiến lập xã hiệu, danh viết Hoa An xã (ngụy Huệ cải Hoa La, kim triều cải Bích La, phân vi tứ giáp: Đông, Trung, Nam, Hậu) Cập kỳ thu phục cố cương, ứng nghĩa luận công, ích kỳ tri lược, tầm phụng tứ Ích Trí đại tự, phong Doãn Lộc hầu. Cáo lão quy nông, gia tặng viết Chí Đức Đại thần.

Kị: Chính nguyệt sơ tứ nhật. Bản xã tộc hội trí Hà Dương Hoa châu thổ nhất khoảnh tục xích nhất mẫu dĩ cung kị lạp hương hỏa chi nhu.

Mộ táng tại bản xã Hà Dương xứ Cồn Đua chi địa, tọa Giáp sơn Canh hướng. Thiên sơn hoàn củng, thủy thủy lai triều. Vạn đại anh hùng, tử tử tôn tôn kế kế thừa thừa vinh hoa phú quý.

Dịch nghĩa: Ngài người xã Hoa Duệ, xứ Hoan Châu, tính cẩn thận, thành thật và trung hậu, thông thạo phép dùng binh. Khoản niên hiệu Thống Nguyên nhà Lê, ngài làm Chánh Chưởng Trung Tể. Bấy giờ, Mạc Đăng Dung lộng quyền, cho nên ngài vâng mệnh triều Lê vào cai quản xứ Tân Bình- Thuận Hóa để phòng chống Chiêm Thành. Ngài chiêu mộ dân lưu tán, khai khẩn ruộng hoang, lập thành tổng xã, dẹp yên địa phương. Đi theo Ngài có 14 hộ: Cai tổng bá Lê Cảnh Sắc, Lê Văn Tài, Lê Bá Hỉ, Lê Phúc Thiện, Lê Đức Dũng, Dương Đình Cống, Nguyễn Thọ Bình, Lê Thế Toản, Lê Trọng Mưu, Trần Hửu Dực, Phan Định, Phạm Xuân Dương, Hồ Tất, Đặng Xương.

Tại nơi đây của xứ Thuận Hóa, ngài lập xã hiệu, đặt tên là xã Hoa An (thời Ngụy Huệ đổi gọi là Hoa La, đến triều hiện nay đổi là Bích La, chia làm bốn giáp: Đông, Tây, Nam, Hậu) Kịp đến khi thu lại đất cũ, xét công lao ứng nghĩa, khôn ngoan mưu lược, Ngài được ban tặng hai chữ lớn “Ích Tri”, phong tước Doãn Lộc hầu, vì cớ già cả xin về làm ruộng được gia tặng “Chí đức đại thần”.

Giỗ ngày mồng 4 tháng Giêng. Các họ trong xã nhóm họp, lấy một mẫu đất bồi xứ Hà Dương sung làm nhu phí giỗ chạp.

Mộ chôn tại đất Cồn Đua xứ Hà Dương trong xã, tọa Giáp, hướng Canh, núi non quanh quất, sông nước chầu về, anh hùng muôn thuở, con con cháu cháu giàu sang nối truyền không dứt. (Lê Nguyễn Lưu đọc và dịch).

Thần phả không ghi niên đại nhưng có thể xác định di bản này được lập đầu triều nhà Nguyễn nhiều khả năng là dưới triều vua Thiệu Trị. Căn cứ vào Thần phả thì quan Chánh Chưởng Trung Tể dưới triều vua Lê Chiêu Tôn niên hiệu Thống Nguyên (1522- 1527) là hậu duệ dòng học Lê Mậu phát sinh từ đầu đời nhà Lê (Hậu Lê) ở xã Hoa Duệ, tổng Mỹ Duệ, huyện Hoa Xuyên tỉnh Nghệ An (Nay là xã Cẩm Duệ thuộc huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh). Hiện ở xã Cẩm Duệ còn di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Hà Tĩnh là Tháp Cẩm Duệ, một công trình kiến trúc bằng đá có quy mô lớn được xây dựng từ thời vua Lê Lợi là nơi nhà vua cấp đất để xây mộ phần cho quan thái giám Lê Am (Lê Mậu Am) quê Cẩm Duệ được phong tặng “Thần tổ Tiền đô Thái giám Huyền quan, Bản hửu Lê tướng công Triệu cơ Thận đức Anh tranh Hiển Ứng Đại vương, tước Gia tăng Đoan tức Trung Đẳng Thần”. Vì vậy Tháp Cẩm Duệ còn được gọi là “Am Tháp”.

Trong khuôn viên Am Tháp còn có mộ phần 2 người em ruột của Lê Am cũng là những vỏ quan có công lớn dưới triều Lê Lợi. Lê Am còn được phong là Phúc thần đương cảnh Thành hoàng làng Phương Cai (Mỹ Duệ). Hàng năm đến ngày 26 tháng 6 âm lịch dân Mỹ Duệ vẫn đến Am Tháp cúng tế Lê Am. Cẩm Duệ chính là nơi nguồn gốc phát sinh dòng họ Lê Mậu[Theo tài liệu của Sở Văn hóa- Thông tin- Bảo tàng Hà Tỉnh thì đã từng có 3 danh nhân họ Lê ở Bích La- Quảng Trị về thăm Cẩm Duệ, dâng hương tại Am Tháp. Đó là:

1- Tham tri bộ Lễ Tiến sĩ Lê Bá Thoại (ngày17/3/1901- năm Thành Thái thứ 13)

2- Thượng thư bộ Lễ, Phó bảng Lê Trinh ( 9/7/1905- Thành Thái năm thứ 17).

3- Tổng Bí thư Lê Duẫn ( ngày 4/4/1979).

Năm Lê Chiêu Tôn lên ngôi (1522) cũng là năm Mạc Đăng Dung đã thâu tóm quyền lực, vua Lê chỉ là bù nhìn. Quan Chánh Chưởng Trung Tể “họ Lê (Thần phả không nói rõ tên húy, hiện Ngài được biết dưới 2 tên: theo sách khảo cứu Tháp Cẩm Duệ do Sở Văn hóa Thông tin Bảo tàng Hà Tỉnh biên soạn năm 2003 thì quan Chánh Chưởng Trung Tể có tên họ đầy đủ là “Lê Mậu Tài”, song ở Bích La thường gọi tên Ngài là“Lê Mậu Doãn”do tuớc của Ngài là “Doãn Lộc hầu”) cũng vì không muốn cộng tác với Mạc Đăng Dung, Ngài đã lĩnh mệnh vua vào cai quản xử Tân Bình –Thuận Hóa vùng đất biên cương phía Nam giáp giới Chiêm Thành lúc này còn là vùng đất bất an chưa được khai phá. Ngài cùng 14 hộ bộ tướng cùng bầu đoàn thê tử nam tiến, dọc đừong Ngài chiêu tập thêm lưu dân vào nam lập nghiệp.

Đến năm 1527 Ngài chọn vùng đất xứ Hà Dương phía nam sông Thạch Hãn làm nơi định cư khai khẩn đất hoang lập nên ngôi làng đặt tên là xã Hoa An, thời Tây Sơn đổi tên Hoa La, đến đời vua Thiệu Trị đổi tên là Bích La có 4 giáp: Đông, Tây, Nam, Hậu. (nay thuộc xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị gồm các thôn Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam và thôn Nại Cửu). Như vậy làng Bích La hình thành từ năm 1527, ba thập kỷ trước năm Nguyễn Hoàng- Chúa Tiênvào nam, đóng dinh ở Ái Tử- huyện Triệu Phong- Quảng Trị (1558). Từ ngày chúa Nguyễn mở mang vùng đất phía nam Ngài cùng các bộ tướng đã thần phục nhà Nguyễn. Ngài được xét công trạng phong tước Doãn Lộc hầu, “Chí đức đại thần”. Ngài qua đời ngay 4 tháng Giêng (không rõ năm) an táng xây lăng tại Cồn Đua (Cồn Đu) thuộc Bích La.

Để tôn vinh Ngài Khai khẩn tôn thần và ghi dấu hình thành làng cổ Bích La, dân làng đã xây dựng khu miếu linh thiêng có tường thành bao bọc. Cổng vào khu miếu phía trên có dòng chữ “Sơn thủy Bích La tân”, hai bên có hai câu đối: Địa chung linh khí truyền thiên cổ- Thế xuất anh tài diễn ức niên. Tạm dịch: Non nước Bích La- Đất anh linh có từ ngàn xưa- Đời sinh hào kiệt thời nào cũng có. Bên trong có 11 ngôi miếu: thờ các vị Thần sông, núi, Thần Hoàng, Thần sấm sét, Thần Nông, Thần Dân an, Vật Lợi…Đặc biệt có ngôi miếu thờ Ngài Khai khẩn tôn thần. Bài vị Ngài ghi dòng chữ: Bổn thổ khai khẩn cai tri Phó tướng Doãn Lộc hầu linh tế Dục Bảo Trung Hưng Linh Phò tôn thần. Bên cạnh có miếu thờ 2 vị tiến sĩ đầu tiên của làng là Tiến sĩ Lê Cảnh Diệu và Tiến sĩ Lê Cảnh Phiên. Sách Ô châu cận lục từng ca ngợi: Hoa La là đất văn Nho.

Qua ngót 500 năm tồn tại, Bích La nổi tiếng là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, ”lò đúc hiền tài- nôi sinh sĩ tử”. Dòng họ Lê ở Bích La gồm 4 nhánh: Lê Mậu, Lê Cảnh (Lê Công) Lê Văn (Lê Hửu) Lê Bá hiện có 4 nhà thờ họ riêng biệt. Mỗi nhánh họ Lê đều tự hào với những danh nhân nổi tiếng của dòng họ mình:

Lê Mậu có ông Lê Mậu Hiến đứng đầu phong trào đòi dân sinh dân chủ, giảm sưu thuế cho dân thời chống Pháp, tiến sĩ sử học Lê Mậu Hãn được phong danh hiệu “Nhà giáo nhân dân”;

Lê Văn có cụ Chánh vệ úy Lê Văn Thống (ông nội TBT Lê Duẩn), Đề đốc Lê Văn Tặng (bác ruột TBT Lê Duẫn) có 6 vị đổ học vị Tiến sĩ, rồi đến cậu học trò Lê Văn Nhuận sau này là Tổng bí thư Lê Duẫn…;

Lê Cảnh có 2 vị đổ tiến sĩ đầu tiên được làng lập miếu thờ: Lê Cảnh Diệu, Lê Cảnh Phiên, đời Tự Đức có Phó bảng Lê Trinh (nhà thơ Bích Phong- con trai trưởng ông Lê Cảnh Chính, một đại quan triều Minh Mạng) đi sứ Trung Quốc được vua nhà Thanh ban áo mũ Tiến sĩ và danh hiệu Lưỡng quốc Tham mưu, dưới triều Thành Thái- Duy Tận ông sung chức Phụ chính đại thần, Thượng thư bộ Lễ hàm Vinh lộc đại phu, Hiệp biện đại học sĩ, từng được vua Duy Tân ca ngợi: Ngủ triều danh túc, nhất đại biểu nghi (năm triều nức tiếng, một tấm gương sáng cho đời) sau khi qua đời (1909) được truy phong Vệ Nghĩa Tử;

Lê Bá có tiến sĩ Lê Bá Thoại dưới triều Tự Đức giữ chức tham tri Bộ Lại nổi tiếng là người ngay thẳng dám vạch tội gian thần, danh nhân văn hóa Lê Bá Đảng…Các hậu duệ Lê tộc ở Bích La ngày nay đang viết tiếp truyền thống hiếu học yêu nước của ông cha: Tiến sĩ Sinh học Lê Thị Diệu Muội (con gái TBT Lê Duẫn), tiến sĩ Kinh tế Lê Hồng Tâm (cháu nội đời thứ tư của Phó bảng Thượng thư Lê Trinh), PGS- Tiến Sĩ Khoa học Xã hội và Nhân văn Lê Thanh Bình (Lê Cảnh), Tiến sĩ Toán học Lê Bá Long …

Một nét đẹp truyền thống còn lưu giữ ở Bích La là phiên Chợ Đình Bích La họp hàng năm vào nữa đêm rạng sáng ngày mồng 3 Tết Nguyên đán hàng năm thu hút đông đảo dân làng và du khách về dự lễ hội. Lễ hội chợ Đình Bích La là dịp để dân làng tưởng nhớ công lao Khai khẩn tôn thần Doãn Lộc hầu (kỵ ngày 4 tháng Giêng) và 14 bộ tướng đi đầu mở mang cơ nghiệp làng Bích La thịnh vượng ngày nay. 

ẨM THỰC QUẢNG TRỊ

 

Kính thưa quý cô chú, anh chị và các bạn!

Nếu nhắc đến Quảng Trị, nhiều người thường nhớ ngay đến vùng đất anh hùng gắn với lịch sử, với những địa danh như Sông Bến Hải, Chiến tranh Việt Nam hay Thành Cổ Quảng Trị. Nhưng bên cạnh chiều sâu lịch sử ấy, Quảng Trị còn sở hữu một nền ẩm thực rất riêng – mộc mạc, chân chất nhưng đậm đà như chính con người nơi đây.

Ẩm thực Quảng Trị không cầu kỳ như cung đình Huế, cũng không quá phóng khoáng như miền Nam, mà mang nét dung dị của miền Trung: nguyên liệu gần gũi, vị đậm, thiên về cay – mặn – thơm, phản ánh cuộc sống cần cù trên vùng đất gió Lào và cát trắng.

Người Quảng Trị dù có đi đâu, về đâu, mỗi khi nhắc đến ẩm thực quê nhà đều cảm thấy bồi hồi, thương nhớ. Những món ăn bình dị, gắn liền với từng tên làng, tên đất như: bún hến Mai Xá, cháo bột Hải Lăng, bánh ướt Phương Lang, gỏi tép Bàu Trạng, nem chợ Sãi…đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân quê để tạo nên nét văn hóa ẩm thực riêng có của đất và người Quảng Trị. 

 

1. Đặc Trưng Của Ẩm Thực Quảng Trị

Ẩm thực Quảng Trị hình thành từ điều kiện tự nhiên đặc biệt:

  • Phía Tây có núi rừng, nơi sinh sống lâu đời của đồng bào dân tộc.
  • Đồng bằng hẹp nhưng màu mỡ.
  • Phía Đông giáp biển với nguồn hải sản phong phú.

Chính vì vậy, món ăn Quảng Trị hội tụ đủ ba yếu tố:

  • Hương vị miền núi
  • Đặc sản đồng bằng
  • Tinh hoa biển cả

Người Quảng Trị có câu:

“Ăn cay cho ấm lòng, ăn mặn để nhớ quê.”

Vì vậy nhiều món nơi đây sử dụng khá nhiều tiêu, ớt, nước mắm và các loại gia vị tự nhiên.

 

2. Bún Hến Mai Xá – Tinh Hoa Dân Dã

Bún hến Mai Xá

Đây được xem là một trong những món ăn tiêu biểu nhất của Quảng Trị.

Món ăn xuất phát từ làng Mai Xá – vùng ven sông nơi người dân khai thác hến tự nhiên.

Cách chế biến:

·         Hến được ngâm sạch rồi luộc.

·         Nước luộc giữ lại làm nước dùng.

·         Thịt hến xào với hành, tiêu và gia vị.

·         Ăn cùng bún tươi, rau sống, tóp mỡ và nước hến nóng.

Điểm đặc biệt:

·         Không quá ngọt như miền Nam.

·         Có vị thanh nhưng hậu cay của tiêu và ớt. 

Đậm đà bún hến làng Mai Xá

Là niềm tự hào của ẩm thực quê nhà khi lọt Top 100 món ăn ẩm thực, đặc sản tiêu biểu Việt Nam theo bộ tiêu chí công bố giá trị ẩm thực, đặc sản Việt Nam của Tổ chức Kỷ lục Việt Nam, bún hến làng Mai Xá, thuộc xã Gio Mai, huyện Gio Linh không chỉ chinh phục khẩu vị người dân địa phương mà còn được nhiều du khách phương xa tìm đến thưởng thức.

Điểm nhấn tạo nên hồn cốt của món bún hến Mai Xá chính là con chắt chắt, một loại sinh vật thuộc họ hến, có vỏ màu đen sậm, giàu chất đạm, bổ dưỡng được người dân Mai Xá cào lên từ đáy sông Hiếu, sông Thạch Hãn. Để chế biến món bún hến Mai Xá thì đầu tiên phải cho chắt chắt vào nồi luộc chín để chắt chắt mở vỏ ra, sau đó dùng đũa lớn khuấy liên tục để ruột chắt chắt tách khỏi vỏ trước lúc đưa ra đãi tách hết mặt (ruột) chắt chắt.

Phần nước luộc chắt chắt làm nước dùng. Phi thơm hành, ném, cho mặt chắt chắt vào xào cho đến khi săn lại, nêm các loại gia vị cho thật vừa miệng. Tô bún hến Mai Xá gồm có bún tươi, hến xào và trên cùng là các loại rau thơm. Khi ăn, thực khách có thể chan thêm nước dùng ít hoặc nhiều tùy sở thích. Món bún hến Mai Xá sẽ ngon hơn khi ăn kèm chút nước mắm Cửa Việt, ớt, tỏi nhưng ngon nhất vẫn là muối hột giã với ớt xanh, gừng tươi.

Nhiều người sau khi thưởng thức món bún hến Mai Xá đã cùng có chung cảm nhận, món bún hến làng Mai Xá không chỉ gói trọn được nét ẩm thực dung dị, chân chất được kết tinh trong cuộc sống thường ngày của người dân Quảng Trị, mà còn thể hiện bản sắc văn hóa được người dân địa phương trân trọng, lưu truyền và gìn giữ.

 

3. Bánh Khoái Quảng Trị – Giòn Thơm Đậm Vị

Bánh khoái Quảng Trị

Nghe tên “bánh khoái”, nhiều du khách thường nhầm với bánh xèo.

Tuy nhiên bánh khoái có sự khác biệt:

  • Bột dày hơn.
  • Vỏ giòn nhưng vẫn mềm bên trong.
  • Nhân gồm tôm, thịt, giá đỗ.

Điểm quyết định nằm ở nước lèo.

Nước chấm được chế biến từ:

  • gan heo,
  • mè rang,
  • đậu phộng,
  • gia vị truyền thống.

Khi ăn cuốn cùng rau sống tạo nên vị béo – thơm – giòn rất đặc trưng.

 

4. Cháo Vạc Giường – Món Ăn Gắn Với Đời Sống Lao Động

Cháo vạc giường

Tên gọi khá lạ nhưng lại mang dấu ấn dân gian.

“Vạc giường” là những miếng bột nhỏ được cắt dài giống chân giường.

Món gồm:

  • nước dùng nấu từ xương,
  • bột gạo cán mỏng,
  • tôm hoặc cá lóc.

Cháo không quá đặc mà sánh nhẹ.

Ngày xưa đây là món ăn phổ biến của người dân sau những buổi làm đồng hoặc đi biển.

 

5. Thịt Trâu Lá Trơng – Hương Vị Vùng Gò Đồi

Thịt trâu lá trơng

Đây là món ăn rất độc đáo của miền Tây Quảng Trị.

Lá trơng là gì?

Đó là loại lá rừng có mùi thơm đặc biệt.

Người dân:

  • thái mỏng thịt trâu,
  • xào nhanh trên lửa lớn,
  • cho lá trơng vào cuối cùng.

Thịt mềm, thơm và có vị hơi the.

Món này thường xuất hiện trong những dịp tiếp khách quý.

 

6. Bánh Ướt Phương Lang – Tinh Tế Từ Hạt Gạo

Bánh ướt Phương Lang

Làng Phương Lang nổi tiếng với nghề làm bánh truyền thống.

Bánh:

  • tráng mỏng,
  • mềm nhưng không nát,
  • ăn cùng thịt nướng, chả hoặc nước mắm.

Người dân thường nói:

“Đến Quảng Trị mà chưa ăn bánh ướt Phương Lang thì xem như chưa cảm nhận hết vị quê.”

 

7. Hải Sản Quảng Trị – Quà Tặng Của Biển

Với hơn 75 km đường bờ biển, Quảng Trị có nguồn hải sản rất phong phú.

Một số món nổi bật:

  • Mực một nắng
  • Cá hấp cuốn bánh tráng
  • Gỏi cá mai
  • Tôm nướng

Các vùng biển như Cửa Tùng và Cửa Việt nổi tiếng với hải sản tươi, chế biến đơn giản để giữ nguyên vị ngọt tự nhiên.

 

8. Cà Phê Và Nét Văn Hóa Ẩm Thực Người Quảng Trị

Người Quảng Trị ăn uống không quá cầu kỳ.

Bữa cơm truyền thống thường có:

  • cá kho,
  • rau luộc,
  • nước mắm nguyên chất,
  • bát canh nóng.

Tinh thần của ẩm thực nơi đây là:

“Ít nguyên liệu – nhiều tình cảm.”

Mỗi món ăn đều phản ánh tính cách người Quảng Trị:

  • chịu thương chịu khó,
  • chân thành,
  • mộc mạc nhưng sâu sắc. 

9. Đặc sản nem lụi chợ Sãi

Thực khách đã từng biết tới món nem chua được làm từ thịt heo xay, bì thái chỉ và thính cùng các gia vị quen thuộc. Nhưng nay cũng với những nguyên liệu ấy, người dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong lại cho ra đời món nem lụi mang những nét riêng có của ẩm thực địa phương để trở thành đặc sản lọt vào Top 100 đặc sản, món ăn, sản vật Việt Nam được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam và Tổ chức Top Việt Nam công bố năm 2020.

Rất đơn giản trong cách chế biến nhưng món nem lụi nướng đã khiến bao thực khách phải trầm trồ khi thưởng thức. Để làm được que nem lụi có độ dai ngon, nguyên liệu phải là thịt heo còn tươi được xay thật nhuyễn và quết nhiều lần như làm giò. Bì heo được thái chỉ nhỏ rồi cùng với các loại gia vị như đường, tiêu, bột ngọt…trộn lẫn với thịt đã xay. Nặn thịt thành từng viên tròn hoặc dài bằng ngón tay rồi xâu vào que tre nhỏ đã được vót nhọn, sau đó đem nướng trên bếp than rực hồng.

Người nướng có kinh nghiệm có khi chỉ cần nhìn màu sắc, ngửi mùi thơm của món ăn là đã biết được sản phẩm đã đạt chất lượng hay không chứ không cần nếm thử. Mỗi que nem đã nướng xong được gọi là “một lụi”.

Ăn nem lụi là kiểu ăn “đa vị” nên phải được ăn đúng cách mới cảm nhận được hết cái ngon, cái tinh túy của món ăn. Ở Quảng Trị, nem lụi được ăn kèm với bánh tráng cùng hỗn hợp nhiều loại rau sống như dưa chuột, chuối chát, xoài xanh thái lát mỏng, gỏi đu đủ chua ngọt, rau thơm…

Khi ăn, que nem lụi sẽ được đặt vào giữa miếng bánh tráng mỏng, nhẹ nhàng rút que tre ra khỏi miếng thịt rồi lần lượt xếp các loại rau ăn kèm theo ý thích, cuốn tấm bánh tránh lại rồi chấm ngập với nước lèo, một loại nước chấm được chế biến từ hỗn hợp các loại thực phẩm như gan heo, đậu phụng, mè trắng, đậu tương, dứa… có vị béo ngậy, ngọt bùi rất đặc trưng.

Là một trong những món ăn lâu đời của người dân địa phương, nem lụi chợ Sãi luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với thực khách và trở thành đặc sản mà rất nhiều du khách muốn khám phá, trải nghiệm khi có dịp đến với mảnh đất Quảng Trị. 

10. Bánh ướt Phương Lang gợi nhớ vị quê

Nhắc đến Phương Lang, người ta không chỉ nhớ về ngôi làng với khung cảnh đẹp yên bình ở xã Hải Ba, huyện Hải Lăng mà còn nhớ về món bánh ướt ngon nức tiếng-bánh ướt Phương Lang.

Nguyên liệu chính để làm ra bánh ướt Phương Lang chính là gạo. Những hạt gạo được trồng trên chính đồng đất quê nhà đã cho ra đời hương vị bánh đặc trưng, không lẫn với bất kỳ nơi đâu. Điều làm nên sự khác biệt cho món bánh nơi đây chính là kỹ thuật tráng bánh. Bánh được tráng cất thủy trên một lớp vải có độ dày vừa phải, đến khi chín là có thể vớt ra xếp chồng lên nhau. Điều quan trọng là thợ tráng bánh phải khéo tay và đầy kinh nghiệm để biết lúc nào là bánh vừa chín tới, không quá dày hay quá mỏng.

Bánh ướt Phương Lang dùng nóng hay nguội đều ngon. Món ăn kèm không thể thiếu đó chính là thịt heo ba chỉ, rau sống và loại nước chấm gia truyền được pha từ nước mắm nguyên chất với đậu phụng, ớt, tỏi…Gắp một miếng bánh ướt dẻo mềm kèm thêm miếng thịt heo thái mỏng, nhón thêm ít rau sống và chấm vào bát nước chấm sóng sánh, thực khách sẽ cảm nhận được vị béo, bùi, thơm ngon, cay nồng khó cưỡng. Đơn giản nhưng không đơn điệu, món bánh ướt ở làng nghề truyền thống Phương Lang sẽ là đặc sản độc đáo, giúp du khách có thêm nhiều ấn tượng tốt đẹp khi đến với mảnh đất Quảng Trị thân thương. 

Kính thưa quý khách!

Ẩm thực Quảng Trị có thể không quá nổi tiếng như nhiều trung tâm du lịch lớn, nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên dấu ấn riêng. Mỗi món ăn không chỉ để thưởng thức mà còn kể câu chuyện về đất, về người, về hành trình vượt khó của vùng đất miền Trung đầy nắng gió.

Hy vọng trong hành trình hôm nay, quý khách sẽ dành thời gian thưởng thức và cảm nhận trọn vẹn hương vị Quảng Trị – nơi mà mỗi món ăn đều chứa đựng một phần tâm hồn của người dân địa phương. 

Và tiếp theo chúng ta sẽ đi tới vĩ tuyến 17 nơi có con sông Bến Hải và cây cầu 

Di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải

Di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải thuộc địa bàn huyện Vĩnh Linh (các xã Vĩnh Thành, Vĩnh Giang, Vĩnh Sơn, thị trấn Cửa Tùng) và huyện Gio Linh (xã Trung Hải), tỉnh Quảng Trị.

Địa danh Hiền Lương - Bến Hải là nơi đã chứng kiến nỗi đau chia cắt hai miền và những sự kiện lịch sử gắn với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của quân và dân ta trong thời kỳ chống Mỹ - Ngụy. Sau khi Hiệp định Giơ Ne Vơ được ký kết (ngày 20/7/1954), nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Bắc - Nam, lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) làm ranh giới, để chờ đến tháng 7/1956 tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhưng với những biến cố do sự phá hoại của các thế lực thù địch, đã khiến chúng ta phải mất 21 năm sau (1975), với bao xương máu của chiến sĩ, đồng bào đã đổ xuống mới giành được độc lập, thống nhất đất nước.

Trục chính của di tích này nằm xuyên suốt theo hướng Bắc - Nam mà trung tâm chính là chiếc cầu Hiền Lương lịch sử - nhịp nối giữa Cột cờ phía Bắc và Cụm tượng đài “Khát vọng thống nhất” ở bờ Nam. Các thành phần chính của di tích gồm:

 

1. Khu vực đôi bờ cầu Hiền Lương

- Cầu Hiền Lương: từ cuối năm 1954 đến khi bị bom Mỹ đánh sập (năm 1967), cầu Hiền Lương đã trở thành “biểu tượng” của sự chia cắt Bắc - Nam và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của dân tộc. Để bảo tồn một chứng tích lịch sử, cầu Hiền Lương đã được phục dựng theo thiết kế chiếc cầu sắt do Pháp xây dựng năm 1952, với chiều dài 183,65m, rộng 5,50m, phần lưu thông là 3,20m. Công trình này được khởi công năm 2001, khánh thành năm 2008.

- Nhà Liên hợp: kiến trúc nhà hiện nay được xây theo nguyên mẫu của Nhà Liên hợp trước đây, kiểu nhà sàn 4 mái, mặt tiền hướng ra quốc lộ 1A. Không gian nội thất chia thành ba phân khu, trong đó, khu chính giữa là bốn gian liên thông. Đây là phòng họp giao ban của Nhà Liên hợp cũ, nội thất của Nhà trưng bày tái hiện lại một cuộc họp giao ban giữa Ủy ban Liên hợp hai miền Bắc - Nam có sự giám sát của Tổ Quốc tế 76.

- Cột cờ Hiền Lương (Kỳ đài Hiền Lương): gồm phần đài và cột cờ. Phần đài là tổng thể khối kiến trúc được xây cao hơn so với mặt bằng của di tích. Cột cờ có tổng chiều cao 28,00m, được làm bằng 6 đoạn thép ống, liên kết với nhau. Trên thân cột cờ (từ chân đến đỉnh cột) có gắn các thanh thép, hình chữ nhật để làm thang. Khi treo cờ, người treo còn dùng hệ thống dây cáp, ròng rọc và bộ phận tời.

- Hệ thống loa phóng thanh bờ Bắc: gồm hai giàn loa (1 giàn ở phía Đông, 1 giàn ở phía Tây) được dựng sát mép sông ở bờ Bắc, cách chân cầu chừng 30m. Mặt giàn loa được tạo dựng bởi 3 trụ bê tông, với kết cấu dạng chân kiềng. Trên thân 3 trụ bê tông lắp đặt một giàn loa phóng thanh gồm 33 chiếc, trong đó, 27 chiếc hướng sang bờ Nam, 2 chiến hướng về bờ Bắc, 4 chiếc hướng về phía Đông.

- Đồn Công an Hiền Lương: nằm sắt mố cầu bờ Bắc, về phía Đông quốc lộ 1A, được phục dựng theo nguyên mẫu Đồn Công an Hiền Lương những năm 1955 - 1967, gồm hệ thống trụ, tường chịu lực và hệ mái, hợp thành ngôi nhà 3 gian, hai chái, cửa chính quay về hướng Tây. Ở bờ nóc mặt Nam có gắn phù hiệu của Bộ đội Biên phòng (bằng xi măng).

- Nhà trưng bày “Vĩ tuyến 17 và khát vọng thống nhất”: được xây dựng ở bờ Nam, gồm gian khánh tiết (có tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh và bức phù điêu phía sau) và gian trưng bày (gồm 4 chủ đề: Hiệp định Giơ Ne Vơ và giới tuyến quân sự tạm thời; Tinh thần không khuất phục của người dân Vĩnh Linh và cuộc chiến đấu bảo vệ địa đầu giới tuyến; Nhân dân vùng Nam vĩ tuyến 17 với cuộc đấu tranh vì khát vọng thống nhất đất nước; Vĩ tuyến 17 sau giải phóng Quảng Trị năm 1972). Nhà trưng bày đang lưu giữ 53 tài liệu, hiện vật liên quan trực tiếp đến cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

- Đồn, Trạm Cảnh sát bờ Nam: sau chiến tranh, hệ thống đồn, trạm, giàn loa phóng thanh ở bờ Nam sông Bến Hải bị tháo bỏ. Trong Dự án trùng tu, tôn tạo di tích Khu vực đôi bờ cầu Hiền Lương năm 2005, ở bờ Nam, một số hạng mục được quy hoạch tôn tạo, như khuôn viên, sân lễ hội, hồ nước, cụm tượng đài “Khát vọng thống nhất”, nhà đón tiếp, nhà trực, nhằm phục vụ việc đón khách tham quan, phát huy giá trị di tích.

- Cụm tượng đài “Khát vọng thống nhất”: Tượng đài nằm ở bờ Nam sông Bến Hải, phía Đông quốc lộ 1A, có diện tích 2.700m2, gồm hai phần: phần bệ đài, với mặt cạnh là mảng phù điêu, được ghép từ nhiều khối đá, có kích cỡ khác nhau; phần tượng đài là hình tượng bà mẹ miền Nam (cao 7,70m) và người con trai (cao 5,50m), được tạo trên chất liệu đá xanh Thanh Hóa. Tượng đài thể hiện một niềm tin son sắt của đồng bào miền Nam vào một ngày mai chiến thắng, thống nhất nước nhà.

 

2. Đồn Công an Cửa Tùng

Hiện nay, địa điểm Đồn Công an Cửa Tùng thuộc doanh trại Đồn Biên phòng 204. Ngoài chức năng dùng để làm việc, lưu trú, công trình còn phục vụ cho mục đích an ninh quốc gia. Tầng dưới của khu nhà hai tầng được dành một phần để làm Nhà truyền thống của Đồn, trưng bày 92 ảnh tư liệu, 60 hiện vật liên quan trực tiếp đến lịch sử đấu tranh cách mạng của cán bộ, chiến sĩ Đồn Công an Cửa Tùng, các đồn, trạm dọc theo bờ Bắc sông Bến Hải và Đồn Biên phòng 204 từ năm 1954.

 

3. Các bến đò trên sông Hiền Lương - Bến Hải

- Bến đò Cửa Tùng (Bến đò A): nằm trong khuôn viên diện tích 187,6m2, có hệ thống tường rào bao quanh. Bia đài tưởng niệm di tích gồm hai phần: bệ đài và tổ hợp hình tượng kiến trúc nghệ thuật, thể hiện nổi bật hình tượng những con thuyền vượt qua sóng gió để chuyên chở cán bộ, bộ đội qua sông và khát vọng về ngày vui thống nhất đất nước.

- Bến đò Tùng Luật (Bến đò B): trước đây, bến đò này kéo dài trên một đoạn sông chừng 150m ở bờ Bắc sông Hiền Lương, thuộc thôn Tùng Luật, xã Vĩnh Giang. Đài di tích gồm: bệ đài và tổ hợp mang tính nghệ thuật biểu trưng, với hình tượng những con thuyền đang lao về phía trước, bất chấp mọi hiểm nguy, bom đạn của kẻ thù, đêm đêm đưa hàng hóa, bộ đội vào chiến trường đánh Mỹ.

- Bến đò Lũy (Bến đò C): bến thuộc thôn Cổ Mỹ, xã Vĩnh Giang. Sau chiến tranh, bến đò này không còn được sử dụng nữa.

- Bến đò Thượng Đông và Dục Đức: Bến đò Thượng Đông thuộc thôn Huỳnh Thượng, xã Vĩnh Sơn. Bến đò Dục Đức thuộc thôn Dục Đức, xã Vĩnh Sơn.

Ngoài việc bảo tồn, tôn tạo các di tích, Lễ hội thống nhất non sông được định kỳ tổ chức tại di tích vào ngày 30 tháng 4 hằng năm (năm thường do địa phương tổ chức, năm chẵn do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị đồng tổ chức). Đây là một lễ hội cách mạng đặc sắc, riêng có ở khu di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải, Quảng Trị, có nội dung phù hợp, hình thức sáng tạo, đáp ứng được nhiệm vụ giáo dục truyền thống cách mạng, thu hút khách du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải đã trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn và có nhiều ý nghĩa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, nâng cao lòng tự hào dân tộc và ý thức về chủ quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam không chỉ hôm nay mà còn mãi với các thế hệ mai sau.

Với những giá trị đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng Di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải (huyện Vĩnh Linh và huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị) là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013)./.

Nguyễn Khắc Đoài (Theo Hồ sơ xếp hạng di tích - Tư liệu Cục Di sản văn hóa)

 Vĩ tuyến 17

Vĩ tuyến làm ranh giới quân sự tạm thời để tách lực lượng vũ trang Việt, Pháp về hai phía theo Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam 1954. Hội nghị Trung Giã (Thái Nguyên) và Phước Môn (Quảng Trị) đã lấy sông Bến Hải làm ranh giới thực tế, mỗi bờ lấy từ mép nước về phía mình 5 km là khu phi quân sự. Trong tuyên bố chung của Hội nghị Giơnevơ 1954 ghi rõ: “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ”. Trong thực tế, các chính quyền Sài Gòn kế

tiếp nhau và Mĩ đều coi VT 17 là biên giới quốc gia để chia cắt lâu dài Việt Nam. Qua sông Bến Hải là tới huyện Gio Linh 

Gio Linh

Gio Linh là một huyện nhỏ của tỉnh Quảng Trị, phía bắc giáp huyện Vĩnh Linh, phía đông giáp biển Đông, phía nam giáp Thị xã Đông Hà, huyện Triệu phong và huyện Cam Lộ, phía tây giáp huyện Hướng Hóa và huyện Dakrong. Nơi đây từng là bờ Nam của vĩ tuyến 17, chia đôi hai miền Việt Nam.

Diện tích 473 km²

Dân số 72.100 người

Từ sông Bến Hải đi thêm một đoạn nữa, nhìn bên trai có con đường đi ra Cửa Tùng. Cửa Tùng

Sau những di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng ở Quảng Trị mà du khách tham gia lễ hội nhịp cầu xuyên Á sẽ viếng thăm, danh thắng nhiều người muốn đến nhất có lẻ là Cửa Tùng.

Cửa Tùng xưa được gọi là biển Thừa Lương bởi khi vua Duy Tân lên ngôi (năm 1907), nhà vua mới 8

tuổi, mọi việc trong triều đều giao cho Phụ chánh đại thần Trương Như Cương, vua Duy Tân không chịu ở tù túng trong cung cấm, thích đi đây đó, người Pháp bấy giờ chiều ý vua nên đã nhường nhà nghỉ mát Cửa Tùng của Khâm sứ Brière cho vua ngự, nhà nghỉ mát này được gọi là Thừa Lương Cửa Tùng.

Nhiều giai thoại về vị vua nhà Nguyễn yêu nước này đã gắn với Cửa Tùng như chuyện một lần vua bốc cát chơi, nhớp cả hai tay, quan hầu cận bưng nước cho vua rửa tay, vua không rửa ngay mà hỏi: Tay nhớp lấy nước mà rửa, nước nhớp lấy chi mà rửa? Năm 16 tuổi vua Duy Tân đã bị người Pháp đày qua đảo Reunion vì vua đã đồng ý cùng nhiều nhà cách mạng khởi nghĩa chống Pháp! Nhà Thừa Lương ấy bây giờ vẫn chưa ai xác định được vị trí nhưng lòng yêu nước của vua Duy Tân thì nhiều người dân nơi miền đất này đã tiếp nối bằng những huyền thoại mà giờ đây huyền thoại ấy vẫn còn lưu dấu trên những chứng tích lịch sử:

Nhưng không chỉ anh hùng, đất Vĩnh Giang này còn có những mảnh làng sinh ra toàn nghệ sĩ nổi tiếng, nhiều người đã vang danh một thời như giọng ngâm thơ của các nghệ sĩ Châu Loan, Châu Dinh, Châu Phụng; những nghệ sĩ như Trần Duyến, Ái Chủng; nghệ sĩ ưu tú Kim Quý, Kim Phú, Sĩ Cừ…Cả Vĩnh

Giang có hơn 30 nghệ sĩ trứ danh và hậu duệ của họ cũng đang là thế hệ nghệ sĩ trẻ đầy triển vọng ở nhiều đoàn nghệ thuật.

Cùng với cây cầu, dự án mở một tuyến đường ven biển dài 14 km nối 2 khu du lịch biển sẽ thực sự tạo thành một hệ thống du lịch biển liên hoàn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của vùng duyên hải Quảng Trị.

Từ cửa Tùng chúng ta só thể thuê tàu để ra đảo Cồn 

Khám phá Đảo Cồn Cỏ - “viên ngọc xanh” của Quảng Trị

Đảo Cồn Cỏ là một hòn đảo nhỏ thuộc tỉnh Quảng Trị, nằm cách đất liền khoảng 30km về phía Đông. Hòn đảo này có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, án ngữ cửa ngõ ra vào Vịnh Bắc Bộ, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Từ đảo Cồn Cỏ, chúng ta có thể dễ dàng quan sát và kiểm soát các hoạt động trên biển, đảm bảo an ninh và trật tự trong khu vực.

Khung cảnh xung quanh Đảo Cồn Cỏ hiện lên như một bức tranh sơn thủy hữu tình, với những bãi biển cát trắng trải dài, làn nước biển trong xanh như ngọc bích và những cánh rừng nguyên sinh xanh mát. Du khách đến đây sẽ được hòa mình vào thiên nhiên hoang sơ, tận hưởng không khí trong lành và quên đi những muộn phiền của cuộc sống thường nhật. Những rặng san hô rực rỡ sắc màu dưới lòng biển, những đàn cá tung tăng bơi lội và những loài chim biển quý hiếm tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú.

Rừng nguyên sinh ba tầng và đa dạng sinh học đặc trưng

Đảo Cồn Cỏ sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới 3 tầng nguyên vẹn, bao phủ gần 70% diện tích đảo. Điều này mang lại bầu không khí vô cùng trong lành và mát mẻ cho hòn đảo, tạo nên một môi trường sống lý tưởng cho nhiều loài sinh vật. Đây là một trong số ít những nơi ở Việt Nam còn giữ được hệ sinh thái rừng nhiệt đới nguyên trạng. Sự đa dạng về thực vật và động vật tạo nên một bức tranh thiên nhiên sống động và đầy màu sắc. 

Các bãi tắm hoang sơ và thế giới san hô kỳ ảo

Biển ở đây trong xanh đến mức có thể nhìn rõ từng gợn cát dưới chân, sóng nhẹ và không khí thì yên tĩnh tuyệt đối. Khi lặn xuống làn nước mát, trước mắt bạn sẽ là cả một thế giới san hô rực rỡ.

Hệ sinh thái san hô tại đây được đánh giá là một trong những khu vực có rạn san hô đẹp nhất tại Vịnh Bắc Bộ. Nước biển quanh đảo trong xanh, ít chịu tác động của con người, tạo điều kiện lý tưởng cho san hô phát triển mạnh. Đây là nơi sinh sống của nhiều loài san hô quý hiếm như san hô đỏ, san hô đen, san hô sừng, san hô cành và san hô tấm. 

Tham quan các di tích lịch sử và biểu tượng quốc gia

Tham quan những di tích này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa của hòn đảo, đồng thời cảm nhận được lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của dân tộc. Bạn có thể thuê xe máy hoặc xe điện để di chuyển giữa các địa điểm tham quan.

1 - Phòng Truyền Thống: Là nơi trưng bày những hiện vật, hình ảnh và tư liệu quý giá về lịch sử hình thành và phát triển của Đảo Cồn Cỏ. Tại đây, bạn sẽ được tìm hiểu về những sự kiện lịch sử quan trọng, những chiến công oanh liệt và những đóng góp to lớn của quân và dân Cồn Cỏ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. 

2 - Cột cờ Tổ Quốc: Là biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền quốc gia trên Đảo Cồn Cỏ. Cột cờ được xây dựng uy nghi, vững chãi, là nơi lá cờ đỏ sao vàng tung bay kiêu hãnh giữa biển trời. Việc đến thăm cột cờ Tổ quốc không chỉ là một hoạt động du lịch mà còn là một hành động thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. 

3 - Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Đồi 37: Là nơi tưởng nhớ và tri ân những người con ưu tú của dân tộc đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đến đây, bạn sẽ có cơ hội thắp nén hương tưởng nhớ những người anh hùng đã ngã xuống và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao của họ. 

4 - Hầm quân y tự nhiên: Là một công trình độc đáo được xây dựng trong lòng núi, có chức năng chữa bệnh và cứu chữa thương binh trong thời chiến. Hầm được thiết kế thông minh, tận dụng tối đa các yếu tố tự nhiên để tạo ra một môi trường an toàn và hiệu quả cho việc điều trị. Bạn nên đi theo đoàn và có hướng dẫn viên để được giới thiệu chi tiết về lịch sử và cấu trúc của hầm.

5 - Ngọn Hải Đăng Cồn Cỏ: Ngọn hải đăng có nhiệm vụ định hướng và chỉ dẫn cho tàu thuyền qua lại trong khu vực. Từ đỉnh ngọn hải đăng, bạn có thể ngắm nhìn toàn cảnh Đảo Cồn Cỏ và biển cả bao la, tận hưởng vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên. Hãy chuẩn bị máy ảnh để ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ tại ngọn hải đăng. 

Tắm biển và thư giãn trong làn nước trong xanh

Bãi tắm Bến Tranh và Bến Nghè là hai điểm dừng chân lý tưởng để tắm biển khi đến Cồn Cỏ. Nước ở đây có màu xanh ngọc bích, trong tới mức có thể nhìn thấy đáy khi đứng gần bờ. Sóng nhẹ, không có dòng chảy xiết nên rất an toàn, kể cả cho người không biết bơi hoặc trẻ em.

Dưới hàng dương mát rượi, du khách có thể trải khăn nằm nghỉ, nghe tiếng sóng vỗ đều, thư giãn trọn vẹn sau khi ngâm mình trong làn nước mát. Đây là trải nghiệm đơn giản nhưng mang lại cảm giác dễ chịu, đặc biệt phù hợp với những ai cần “nạp lại năng lượng” sau những ngày căng thẳng. 

 Ngắm bình minh và hoàng hôn

Tầm 5 giờ, bạn có thể ra khu vực Bến Nghè để ngắm bình minh. Ánh mặt trời từ từ ló lên, chiếu ánh vàng xuống mặt biển phẳng lặng. Đứng trước khung cảnh ấy, cảm giác mọi thứ đều chậm lại, như quên hết mọi ồn ào và áp lực thường ngày.

Khoảng 17:30, hoàng hôn bắt đầu buông xuống. Mặt trời đỏ dần rồi chìm hẳn vào đường chân trời, để lại dải màu cam nhạt trải dài trên mặt nước. Đây là lúc thích hợp để đi dạo, chụp ảnh hoặc chỉ ngồi lại tận hưởng không khí cuối ngày. 

Lặn biển ngắm san hô

Lặn biển ở Cồn Cỏ không quá khó hay đòi hỏi kỹ thuật cao, nên hầu hết du khách đều có thể tham gia dễ dàng. Sau khi được hướng dẫn và trang bị kính lặn, bạn sẽ theo thuyền ra khu vực nước nông gần bờ để bắt đầu khám phá. Khi ngụp xuống mặt nước, ngay trước mắt là từng mảng san hô đủ hình thù và màu sắc, xen lẫn những đàn cá nhỏ bơi qua.

 

Trải nghiệm câu cá, câu mực đêm

Câu cá và câu mực đêm là hoạt động rất được du khách yêu thích khi đến Cồn Cỏ. Bạn có thể đăng ký đi cùng ngư dân địa phương trên thuyền nhỏ ra xa bờ, trải nghiệm cảm giác lênh đênh giữa biển đêm và hồi hộp chờ mực cắn câu. Ngoài hoạt động giải trí, đây còn là cơ hội để hiểu hơn về cuộc sống của người dân đảo. Thành quả sau buổi câu có thể được chế biến và thưởng thức ngay trên tàu hoặc mang về làm quà. 

Thưởng thức ẩm thực đặc sản biển đảo độc đáo

Ẩm thực Cồn Cỏ là sự hòa quyện giữa hải sản tươi sống và những món đặc trưng của người dân vùng đảo. Tôm, cua, mực, đặc biệt là cua đá, loài cua chỉ có ở vùng này, đều được chế biến đơn giản nhưng giữ nguyên vị ngọt tự nhiên. Ngoài ra, các món như rong nho, hải sâm hay các món từ gà, dê, rau sạch trên đảo cũng mang đến trải nghiệm mới lạ. 

Di tích lịch sử Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh


Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh là công trình kiến trúc quân sự kỳ vĩ dưới lòng đất, ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Với khẩu hiệu “quân sự hóa toàn dân, công sự hóa toàn khu vực” quân dân Vĩnh Linh đã tiến hành đào hầm hào, với nhiều công năng: trụ sở, kho hậu cần, trường học, bệnh viện, khu vực sinh hoạt của từng gia đình…, được bố trí khắp các điểm dân cư, dọc đường đi, ven ruộng, bờ biển, được nối thông nhau bằng hệ thống giao thông hào chằng chịt thay cho đường trên mặt đất.

Tính từ cuối năm 1965 đến năm 1968 (theo thống kê chưa đầy đủ), toàn huyện Vĩnh Linh có 114 địa đạo với tổng chiều dài hơn 40km, hệ thống giao thông hào hơn 2.000km và hàng trăm tiểu đạo khác, trở thành những “làng hầm” - lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, thể hiện ý chí “một tấc không đi, một ly không rời” bám trụ chiến đấu bảo vệ quê hương và giữ thông mạch máu ra tiền tuyến.

Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh phân bố khắp 15/22 xã, thị trấn của huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, bao gồm:

1. Địa đạo Vịnh Mốc (Vĩnh Thạch)

Thuộc thôn Vịnh Mốc và thôn Sơn Hạ, xã Vĩnh Thạch, dài 1.060,25m (chưa bao gồm các ngách, căn hộ...); chiều cao đường hầm từ 1,7 - 1,8m, gồm có 13 cửa ra vào (có 6 cửa được thông lên đồi, 7 cửa thông ra hướng biển). Dọc hai bên đường hầm, có khoét các ngách nhỏ đủ sinh hoạt cho 2 đến 4 người. Trong hầm còn có hội trường (sức chứa từ 50 - 60 người), làm nơi hội họp, xem phim, biểu diễn văn nghệ... và một số công trình khác như: bảng tin, nhà hộ sinh, 3 giếng nước, nhà vệ sinh, trạm phẫu thuật, trạm xá, bếp nấu ăn (bếp Hoàng Cầm).

Hệ thống đường hầm và các công trình trong lòng đất của địa đạo Vịnh Mốc gồm 3 tầng: Tầng 1 có tổng chiều dài 421,82m, rộng từ 0,90m - 1,1m và chiều cao từ 1,6m - 1,75m, có độ sâu cách mặt đất 8 - 11m, đường hầm có dạng hình vòm, lòng đường, vách, trần đào khá phẳng... Tầng 2 có độ sâu cách mặt đất 11 - 15m, chiều dài 508,08m, cao từ 1,6m - 1,94m, rộng từ 0,8m - 1,1m. Đường hầm có dạng hình vòm cuốn với kết cấu đất đỏ bazan vững chắc.. Trục chính tầng 3 chạy chủ yếu theo hướng Nam rồi vòng qua hướng Đông, dài 130,35m, cao từ 1,6 - 1,74m, rộng từ 0,8 - 1,1m, trần hình vòm cuốn, sâu cách mặt đất từ 21 - 22,5m, có 2 giếng nước, 1 nhà tắm, 5 căn hầm được bố trí so le ở hai bên trục chính, 2 hệ thống cửa (10 và số 12) thông ra biển và cũng có hệ thống đường trục để nối giữa các tầng hầm với nhau.

Ngoài hệ thống đường hầm, địa đạo trong lòng đất, địa đạo Vịnh Mốc còn có các công trình trên mặt đất như: giao thông hào, ụ pháo, kè chắn sóng, nhà trưng bày...

 

2. Hệ thống địa đạo Hiền Dũng (Vĩnh Hòa)

Nằm trên địa phận thôn Hiền Dũng, xã Vĩnh Hòa, bao gồm 2 địa đạo:

Địa đạo Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang khu vực Vĩnh Linh có chiều dài khoảng 1.540m, bao gồm 18 cửa lên xuống, 15 giếng thông hơi, nay chỉ có cửa số 1 (ở gần khe Cầu) còn nguyên vẹn.

Địa đạo Thông tin Công an nhân dân vũ trang khu vực Vĩnh Linh có 8 cửa lên xuống và 10 giếng thông hơi. Hiện nay, chỉ còn cửa số 1, 2, giếng thông hơi số 4 (tầng 1). Tổng chiều dài của toàn bộ địa đạo này là 761m (bao gồm cả phần hiện trạng và phần giả định).

3. Hệ thống địa đạo Hương Nam, Troong Môn - Cửa Hang, thôn Roọc và các địa đạo Hải Quân (Vĩnh Kim)

- Địa đạo Hương Nam: thuộc thôn Hương Nam, xã Vĩnh Kim, đường hầm còn tương đối nguyên vẹn, chạy theo hình vòng cung, dài gần 134m, gồm có 2 cửa, một giếng thông hơi và 2 nhánh rẽ.

- Hệ thống địa đạo Troong Môn: nằm sát bờ biển của xã Vĩnh Kim, có tổng chiều dài 170,60m, gồm 5 cửa, trong đó, có 3 cửa thông lên đồi và 2 cửa thông ra biển, với 4 tuyến chính.

- Địa đạo Cửa Hang: do địa đạo được đào sát bờ biển nên qua thời gian, dưới sự tác động của thủy triều, nhất là vào mùa mưa lũ nên lòng đường hầm có đoạn đã bị cát biển bồi lấp hết ¼. Trục đường hầm chạy theo hướng Đông - Tây, có 2 cửa. Hiện trạng, cửa số 1 mở ra hướng Đông, cao 1,05m, rộng 1,2m; cửa số 2 mở hướng Tây, cao 1,25m, rộng cửa 1,2m.

- Địa đạo thôn Roọc: chạy theo hướng Đông - Tây, lệch Bắc, có chiều dài 141,1m, cao từ 1,1 - 1,9m, rộng  từ 0,8 - 1,1m. Địa đạo có 2 cửa (cửa số 1, cửa số 2). Nhìn tổng thể, đường hầm địa đạo giống hình chữ Y, với một trục chính và một nhánh rẽ, chia thành 2 tuyến.

- Các địa đạo Hải Quân: gồm có 4 địa đạo nằm về phía Tây Nam của thôn Roọc, hai bên trong của hai quả đồi dạng bát úp. Các tiểu đạo này nằm gần nhau trong vòng bán kính 50m gồm: Địa đạo Hải quân 1, Địa đạo Hải quân 2, Địa đạo Hải quân 3, Địa đạo Hải quân 4.

 

4. Hệ thống địa đạo Mũi Si, địa đạo 61 (thị trấn Cửa Tùng)

- Địa đạo Mũi Si: nằm bên trục đường ven biển từ Cửa Tùng đến Địa đạo Vịnh Mốc, thuộc khu phố Thạch Bàn, thị trấn Cửa Tùng. Địa đạo có diện tích khoanh vùng bảo vệ 26.204m2(khu vực I: 9.820m2, khu vực II: 16.384m2). Hiện nay, khu vực này là nơi trồng cây phi lao chắn gió, trên mặt đường của địa đạo còn lại nhiều hố bom. Trải qua thời gian, sự tác động của thiên nhiên và của con người nên địa đạo này đã bị hư hại một phần.

- Địa đạo 61: nằm bên trục đường vào xóm Bến, thuộc khu phố An Hòa 2, thị trấn Cửa Tùng. Địa đạo 61 có diện tích khoanh vùng bảo vệ 3.526m2(khu vực I: 1.675m2, khu vực II: 1.851m2). Năm 1984, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Quang đã xây dựng khuôn viên đài bia tưởng niệm và được nâng cấp vào năm 2002, 2012. Đài bia và nấm mộ tập thể ở di tích địa đạo 61 là nơi tưởng niệm những nạn nhân đã chết trong vụ sập địa đạo do bom Mỹ ngày 20/6/1967.

 

5. Địa đạo Hải quân (Vĩnh Nam)

Nằm trên quả đồi thuộc thôn Nam Cường, xã Vĩnh Nam, diện tích khoanh vùng bảo vệ 6.586m2(khu vực I: 5.049m2, khu vực II: 1.537m2), tổng chiều dài 76,12m, cao từ 1,7 - 2m, rộng từ 1,6 - 2m. Cấu trúc đường hầm hình vòm cuốn, hai vách đường hầm tương đối thẳng, độ khum trần vòm ngắn và được tạo nhẵn, láng. Hai bên chân vách có hai rãnh thoát nước nhỏ. Hiện nay, di tích còn 3 đoạn đường hầm chính, nối với nhau tạo thành một hệ thống địa đạo vững chắc.

Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh là chứng tích lịch sử về sức mạnh, tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường bám đất giữ làng, sự sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân, biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dân tộc ta. 

Ngày nay, Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh trở thành một di sản lịch sử, văn hóa đặc thù, độc đáo có ý nghĩa vô cùng to lớn trong giáo dục truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước, lao động sáng tạo, đồng thời góp phần thu hút khách du lịch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho địa phương.

Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 Thủ tướng Chính phủ./.

Khắc Đoài (Theo Hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa) 

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Bộ Văn hoá – Thông tin đã quyết định công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục di tích đặc biệt quan trọng. Cũng từ đó, di tích này luôn

được Đảng, Chính phủ và các ngành chức năng hết sức quan tâm đầu tư tôn tạo để gìn giữ di sản quý báu này. Hiện nay, địa đạo Vịnh Mốc làm thu hút mọi du khách đông nhất trong tuyến du lịch nổi tiếng và độc đáo: DMZ

Đi hết huyện Gio Linh chúng ta sẽ đến với tỉnh Quảng Bình. 

Văn Hóa Và Con Người Quảng Trị

Kính thưa quý khách,

Trong hành trình hôm nay, kính mời quý khách cùng tìm hiểu về vùng đất Quảng Trị – một địa phương nằm ở dải đất miền Trung Việt Nam, nơi được xem là “khúc ruột miền Trung”, là điểm nối giữa hai miền Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ quan trọng trên tuyến Hành lang Kinh tế Đông – Tây.

Quảng Trị không chỉ nổi tiếng bởi những trang sử hào hùng mà còn mang trong mình chiều sâu văn hóa đặc sắc cùng hình ảnh con người chân chất, kiên cường và giàu nghĩa tình.

 

1. Khái quát về vùng đất và con người Quảng Trị

Quảng Trị có diện tích không quá lớn nhưng lại sở hữu vị trí đặc biệt trong lịch sử và giao lưu văn hóa. Phía Bắc giáp Quảng Bình, phía Nam giáp Thừa Thiên Huế, phía Tây giáp Lào và phía Đông hướng ra Biển Đông.

Từ xa xưa, nơi đây từng là vùng đất giao thoa giữa văn hóa Việt và văn hóa Chăm Pa. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là chiến tranh, Quảng Trị đã hình thành nên một bản sắc rất riêng: bình dị nhưng kiên cường, mộc mạc nhưng giàu chiều sâu.

Người Quảng Trị thường được nhắc đến bằng những phẩm chất nổi bật:

·         Chịu thương, chịu khó.

·         Giản dị, tiết kiệm.

·         Đoàn kết cộng đồng.

·         Giàu lòng yêu nước.

·         Kiên cường vượt khó.

Có câu nói rất quen thuộc:

“Đất nghèo nuôi chí lớn.”

Đó cũng chính là tinh thần đã làm nên hình ảnh con người Quảng Trị.

 

2. Đặc trưng văn hóa Quảng Trị – giao thoa và bền bỉ

Văn hóa làng quê miền Trung

Quảng Trị vẫn còn lưu giữ đậm nét cấu trúc văn hóa làng truyền thống Việt Nam với:

·         Cây đa – bến nước – sân đình.

·         Nhà thờ họ.

·         Đình làng.

·         Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng.

·         Văn hóa cộng đồng gắn với sản xuất nông nghiệp.

Các làng quê Quảng Trị hình thành quanh sông ngòi, đặc biệt là lưu vực Sông Thạch Hãn – dòng sông được xem như linh hồn của vùng đất này.

Người dân sống gắn bó với ruộng đồng, nghề biển, nghề thủ công và gìn giữ nhiều phong tục cổ truyền.

 

Văn hóa tâm linh và tín ngưỡng

Người Quảng Trị có đời sống tâm linh phong phú với tín ngưỡng dân gian hòa quyện cùng Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

Nhiều lễ hội mang đậm màu sắc văn hóa địa phương như:

·         Lễ hội Thống nhất non sông: tổ chức bên đôi bờ sông Bến Hải, nhắc nhớ khát vọng hòa bình và thống nhất đất nước.

·         Lễ hội đua thuyền truyền thống Quảng Trị: thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng.

·         Các lễ cầu ngư của cư dân vùng biển.

Trong đời sống thường ngày, người dân vẫn duy trì nét đẹp “uống nước nhớ nguồn”, coi trọng gia đình và tình làng nghĩa xóm.

 

Văn hóa chiến tranh – ký ức và hòa bình

Khi nhắc đến Quảng Trị, không thể không nhắc đến dấu ấn chiến tranh.

Vùng đất này từng là giới tuyến chia cắt đất nước suốt nhiều năm với Hiệp định Genève 1954.

Những địa danh như:

·         Cầu Hiền Lương

·         Sông Bến Hải

·         Thành Cổ Quảng Trị

·         Địa đạo Vịnh Mốc

đã trở thành biểu tượng của ý chí dân tộc và khát vọng hòa bình.

Ngày nay, văn hóa Quảng Trị không chỉ kể câu chuyện chiến tranh mà còn truyền tải thông điệp nhân văn: trân trọng hòa bình và hướng tới tương lai.

 

3. Con người Quảng Trị – mộc mạc nhưng kiên cường

Nếu miền Tây nổi tiếng bởi sự phóng khoáng, người Huế nổi bật bởi sự nhẹ nhàng, thì người Quảng Trị lại được nhớ đến bởi nét chân thành và nghị lực.

Tính cách nổi bật

Kiên cường trước thiên nhiên

Quảng Trị thường chịu ảnh hưởng của nắng nóng, gió Lào và bão lũ. Chính điều kiện tự nhiên ấy đã rèn nên tinh thần bền bỉ của người dân.

Sống nghĩa tình

Người Quảng Trị quý trọng tình cảm gia đình, coi trọng chữ tín và luôn sẵn lòng hỗ trợ cộng đồng.

Ham học và cầu tiến

Dù điều kiện kinh tế từng khó khăn nhưng Quảng Trị luôn có truyền thống hiếu học, nhiều thế hệ vươn lên bằng tri thức. 

Quảng Bình

Kính thưa quý khách!

Thay mặt đoàn, em xin gửi lời chào mừng quý khách đã đến với vùng đất Quảng Bình – nơi được ví như “Vương quốc hang động của Việt Nam”, nơi hội tụ vẻ đẹp của núi rừng Trường Sơn, biển xanh miền Trung và những lớp trầm tích văn hóa – lịch sử kéo dài hàng nghìn năm.

Quảng Bình không chỉ nổi tiếng bởi những hang động kỳ vĩ mà còn là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, nơi sinh ra nhiều danh nhân, là tuyến đầu của nhiều giai đoạn lịch sử dân tộc và ngày nay đang vươn mình trở thành một trong những trung tâm du lịch hàng đầu miền Trung.

 

1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH QUẢNG BÌNH

Quảng Bình là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Quảng Bình nằm ở nơi hẹp nhất của dải đất hình chữ S của Việt Nam.

Diện tích tự nhiên của Quảng Bình là 8051,86 km², Dân số Quảng Bình năm 2004 có 829.800 người

Phía bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông.

Trên địa bàn tỉnh có 5 sông lớn là sông Gianh, sông Ròn, sông Nhật Lệ (là hợp lưu của sông Kiến Giang và sông Long Đại), sông Lý Hoà và sông Dinh với tổng lưu lượng 4 tỷ m³/năm. Các sông này do nhiều lưu vực hợp thành và đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển.

Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn – nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha – Kẻ Bàng.

Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông với 5 cửa sông, trong đó có hai cửa sông lớn, có cảng Nhật Lệ, cảng Gianh, cảng Hòn La, Vịnh Hòn La có diện tích mặt nước 4 km2, có độ sâu trên 15 mét và xung quanh có các đảo che chắn: Hòn La, Hòn Cọ, Hòn Chùa có thể cho phép tàu 3-5 vạn tấn vào cảng mà không cần nạo vét. Trên đất liền có diện tích khá rộng (trên 400 ha) thuận lợi cho việc xây dựng khu công nghiệp gắn với cảng biển nước sâu

Tỉnh có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, có cảng Hòn La, Quốc lộ I A và đường Hồ Chí

Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 12 và tỉnh lộ 20, 16 chạy từ Đông sang Tây qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào.

Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v… sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ.

Dải đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng: đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa bãi biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới đây cũng được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam.

Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hoá Hoà Bình và Đông Sơn, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, thành quách của thời Trịnh – Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh v.v… Trong quá trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hoá nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này sang đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn- Hà- Cảnh – Thổ- Văn- Võ- Cổ – Kim”. Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă – xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp…

Năm 2006, Quảng Bình đóng góp vào ngân sách nhà nước 450 tỷ đồng, chi ngân sách địa phương 823,73 tỷ đồng. Dự toán thu ngân sách năm 2006 của các tỉnh thành Việt Nam. GDP đầu người năm 2006 đạt 450 USD.

Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Gia đình của Ngô Đình Diệm, Nhà thơ Hàn Mạc Tử, Nhà thơ Lưu Trọng Lư, Trương Xán

Quảng Bình là vùng giao thoa của hai nền văn hoá cổ Việt – Chămpa, thể hiện ở những di chỉ có niên đại 5 nghìn năm đã khai quật được ở Bàu Tró, phía bắc Đồng Hới.Quảng Bình nổi tiếng với di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. 

2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH – VÙNG ĐẤT ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Quảng Bình thuộc bộ Việt Thường(cần thú thích).

Thời Hán, Quảng Bình thuộc quận Nhật Nam. Sau khi Champa dành được độc lập và lập nước Lâm Ấp (thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay)các triều vua Champa thường vượt đèo Hải Vân

tiến ra cướp phá đất Nhật Nam và Cửu Chân và họ đã làm chủ vùng đát từ đèo Ngang trở vào khi nhà Tấn (Trung Quốc) suy yếu. Từ đó Quảng Bình là vùng đất địa đầu của Champa đối với các triều đại Trung

Hoa cũng như các triều đại Việt khi người Việt đã dành được độc lập.

Năm 1069, Lý Thánh Tông – vua của Đại Việt đánh Champa bắt được vua Champa đưa về Thăng Long, để được tha vua Champa đã dâng đất (Địa Ly, Bố Chính, Ma Linh) tương ứng với tỉnh Quảng Bình và các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, bắc Hướng Hóa của Quảng Trị ngày nay cho Đại Việt và Quảng Bình chính thức thuộc về Đại Việt từ năm 1069

Đời Lê Trung Hưng có tên là Tiên Bình. Năm 1604 đổi tên là Quảng Bình.

Chúa Nguyễn Phúc Khoát chia Quảng Bình thành 3 dinh: dinh Bố Chính (trước là dinh Ngói), dinh Mười (hay dinh Lưu Đồn), dinh Quảng Bình (hay dinh Trạm).

Tỉnh được thành lập năm 1831, đặt phủ Quảng Ninh, sau đặt thêm phủ Quảng Trạch.

Năm 1976 ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên, đến năm 1990 lại tách ra như cũ. 

3. THIÊN NHIÊN QUẢNG BÌNH – VƯƠNG QUỐC CỦA NHỮNG HANG ĐỘNG

Nhắc đến Quảng Bình, điều đầu tiên người ta nghĩ đến chính là hệ thống hang động kỳ vĩ.

Nổi bật nhất là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng – Di sản Thiên nhiên Thế giới được UNESCO công nhận. Đây là một trong những khu vực karst cổ nhất châu Á với hệ sinh thái và hệ thống hang động đặc biệt phong phú.

Một số điểm nổi bật:

 

Đền Thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Giới thiệu đôi nét về Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình

Địa chỉ: Xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Tại Quảng Bình, bên cạnh nhiều điểm tham quan nổi tiếng như Làng du lịch Bồng Lai Quảng Bình thì các địa điểm du lịch tâm linh cũng rất được mọi người quan tâm. Một trong số đó không thể không kể đến chính là Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình linh thiêng nằm ngay bên dưới chân Đèo Ngang. Mỗi ngày, đền thờ đón một lượng lớn người đến tham quan cũng như cầu sức khỏe, bình an. Trải qua biết bao thăng trầm, Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình vẫn giữ nguyên được nét kiến trúc độc đáo của mình.

Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình linh thiêng nằm ngay cụm di tích - danh thắng Đèo Ngang

Để đến được Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình, bạn có thể di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô cá nhân. Đường đi đến đền thờ cũng không quá khó khăn nên chỉ cần thuê một chiếc xe máy tại đây là bạn đã có thể thoải mái vi vu khắp chốn. Từ quốc lộ 1A, bạn di chuyển tầm 65km về phía Bắc là sẽ đến được Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình. Nếu di chuyển về phương Nam, Núi Thần Đinh Quảng Bình sẽ chào đón bạn.

 

Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình có gì đặc sắc?

Đền thờ gắn liền với truyền thuyết dân gian đã có từ lâu đời

Gắn liền với một truyền thuyết dân gian vô cùng đặc sắc không thua kém gì lịch sử hình thành Lăng mộ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình là một minh chứng sống động nhất cho sự tích về Liễu Hạnh công chúa. Dẫu đã trải qua bao nhiêu năm nhưng sự tích về nàng công chúa này vẫn được giữ gìn và lưu truyền đến ngày nay.

Tương truyền, Liễu Hạnh công chúa chính là cô con gái thứ hai của Ngọc Hoàng. Trong văn hóa dân gian Việt Nam, bà được mệnh danh là một trong Tứ Bất tử huyền thoại và được người dân khắp nơi ca tụng là vị Thánh Mẫu đứng đầu Tam Phủ, Tứ Phủ thờ đạo Mẫu của người dân đất Việt. Vị trí của Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình cũng chính là nơi ghi dấu bước chân đầu tiên khi bà giáng trần.

Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình là một minh chứng sống động nhất cho sự tích về Liễu Hạnh công chúa.

 

 Kiến trúc đặc sắc của Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình

Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình có tổng diện tích 350 mét vuông và được bao bọc bốn phía bởi dãy Hoành Sơn hùng vĩ, hồ nước ngọt của xã Quảng Đông và biển cả mênh mông, bao la nằm ở phía Nam. Ngôi đền được xây dựng mang đậm phong cách Á Đông và bản sắc văn hóa dân tộc. Từ ngoài vào trong, bạn sẽ được chiêm ngưỡng nét kiến trúc đặc sắc của cả ngôi đền, đặc biệt là kết cấu của cổng tam quan được thiết kế cân đối, hài hòa nhằm thể được rõ nét sự liêm chính, ngay thẳng.

Tuy không quá cầu kỳ nhưng Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình vẫn toát lên được sự tỉ mỉ, đầy tâm huyết của người thợ tài hoa đã đổ biết bao thời gian, công sức dựng nên ngôi đền linh thiêng này. Có thể nói rằng, nghệ thuật thiết kế Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình đã rất tinh tế trong việc lồng ghép những ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống, ước muốn tốt đẹp của con người vào trong từng chi tiết trang trí.

Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình được xây dựng mang đậm phong cách Á Đông và bản sắc văn hóa dân tộc

 

Kiến trúc độc đáo mang đậm phong cách Á Đông của đền thờ

Ghé thăm Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình trong chuyến tham quan, khám phá vùng đất xinh đẹp này chắc chắn sẽ trở thành điểm nhấn đặc sắc khiến bạn khó quên. Bỏ túi ngay cẩm nang du lịch trước khi xách balo lên đường khám phá nơi đây. Chúc bạn có một chuyến đi vui vẻ, nhiều trải nghiệm mới lạ và đầy những kỷ niệm khó phai! 

Sông Nhật Lệ

Sông Nhật Lệ chảy qua địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ núi U Bò, Co Roi (Trường Sơn) chảy ra Biển Đông tại cửa Nhật Lệ.

Sông có chiều dài 85 km với hai nhánh chính: sông Long Đại (hay Đại Giang) chảy qua huyện Quảng Ninh và sông Kiến Giang chảy qua huyện Lệ Thủy, gặp nhau ở Trung Quán.

Sông Nhật Lệ cùng sông Gianh, Hoành Sơn, Đèo Ngang là những địa danh nổi tiếng của tỉnh Quảng Bình trong dòng chảy lịch sử ,văn hoá của dân tộc Việt. Sông Nhật Lệ còn có tên là Đại Uyên được đổi thành sông Nhật Lệ khoảng năm 1069-1075.

Nhật Lệ là dòng sông tuyệt đẹp của vùng đất miền Trung. Tên sông có nghĩa là “sự rực rỡ của ánh sáng mặt trời.

Qua cầu là vào tới thành phố Đồng Hới. Đoạn qua thành phố thì bên tay trái có Quảng Bình Quan còn bên phải là tượng đài mẹ suốt. Một người mẹ bất khuất trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc ta. Sau khi đi qua nhà thờ Tam Tòa, nhìn bên tay trái có con đường đi khoảng 40 km là tới Phong Nha – Kẻ Bàng. 

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là một vườn quốc gia tại huyện Bố Trạch, và Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía nam. Vườn quốc gia này giáp khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno ở tỉnh Khammouan, Lào về phía tây, cách Biển Đông 42 km về phía đông kể từ biên giới của hai quốc gia. 

Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000 ha thuộc lãnh thổ Việt Nam, khu vực lãnh thổ Lào tiếp giáp vườn quốc gia này cũng có diện tích núi đá vôi khoảng 200.000 ha. Diện tích vùng lõi của vườn quốc gia là 85.754 ha và một vùng đệm rộng 195.400 ha[3]. Vườn quốc gia này được

thiết lập để bảo vệ một trong hai vùng carxtơ lớn nhất thế giới với khoảng 300 hang động và bảo tồn hệ sinh thái bắc Trường Sơn ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam[4][5]. Đặc trưng của vườn quốc gia này là

các kiến tạo đá vôi, 300 hang động, các sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Các hang động ở đây có tổng chiều dài khoảng hơn 80 km nhưng các nhà thám hiểm hang động Anh và Việt Nam mới chỉ thám hiểm 20 km, trong đó 17 km ở khu vực Phong Nha và 3 km ở khu vực Kẻ Bàng.

Động Phong Nha là động giữ nhiều kỷ lục: Hang nước dài nhất; Cửa hang cao và rộng nhất; Bãi cát, đá rộng và đẹp nhất; Hồ ngầm đẹp nhất; Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất; Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam; Hang khô rộng và đẹp nhất thế giới.

Kiến tạo carxtơ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được hình thành từ 400 triệu năm trước, từ thời kỳ Đại Cổ Sinh do đó là carxtơ cổ nhất ở châu Á.

Trải qua nhiều thay đổi lớn về địa tầng và địa mạo, địa hình khu vực này hết sức phức tạp. Phong Nha-Kẻ Bàng phô diễn các bằng chứng ấn tượng về lịch sử Trái Đất, giúp nghiên cứu lịch sử hiểu được lịch sử địa chất và địa hình của khu vực. Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng có lẽ là một trong những mẫu hình riêng biệt và đẹp nhất về sự kiến tạo carxtơ phức tạp ở Đông Nam Á. Được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo năm 2003, Phong Nha-Kẻ Bàng đang hướng tới mục tiêu được UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học vào năm 2008. 

Động Thiên Đường - Vẻ đẹp của tạo hóa

 (TITC) - Quảng Bình là nơi được mệnh danh là “vương quốc hang động” với hàng trăm kiệt tác hang động đẹp, hoang sơ, độc đáo làm say lòng bao người. Trong đó, Động Thiên Đường là một trong những điểm đến lý tưởng cho du khách ưa thích khám phá thiên nhiên, du lịch trải nghiệm, chinh phục vẻ đẹp bất tận của tạo hóa.   

Cách thành phố Đồng Hới 60km về hướng Tây Bắc, Động Thiên Đường nằm trong vùng lõi của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bảng (xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình). Được phát hiện vào năm 2005, Động Thiên Đường được đánh giá là hang động khô dài nhất châu Á với chiều dài hơn 31,4km, chiều rộng từ 30 đến 100m, nơi rộng nhất lên đến 150m. Động có cấu trúc kỳ vĩ, tráng lệ và huyền ảo khiến những người khám phá liên tưởng đến thiên cung nơi trần thế, vì thế có tên là “Thiên Đường”.

Động Thiên Đường nằm ở độ cao 360m so với mực nước biển, có nhiệt độ chênh lệch so với bên ngoài từ 9-100C, được chia làm nhiều khoang, khoang rộng nhất có chiều rộng lên đến 150 mét, chiều cao 100 mét. Cửa hang khá hẹp, chỉ đủ cho một hai người qua, dấu kín sau những vách đá và những tản lá xanh, nhưng khi vào bên trong, du khách sẽ lạc vào trong một không gian rộng lớn, lấp lánh và cảm nhận rõ không khí cực kỳ mát mẻ, dễ chịu. Hãy men theo hệ thống cầu thang gỗ uốn lượn gần 1km trong hang động để chiêm ngưỡng hệ thống thạch nhũ được kết tinh thành những hình thú khéo léo như Tiên Ông, Phật Bà, nhà rông, ruộng bậc thang, thác nước… Nhưng chính những nét độc đáo riêng mà Động Thiên Đường xứng đáng với ngôi vị quán quân trong bảng xếp hạng hang động quốc tế vì tính thẩm mỹ, khoa học lẫn vẻ đẹp lộng lẫy, khoáng đạt cùng nhiều tầng thạch nhũ đẹp say mê lòng du khách.

Sau khi đi hết 1km cầu thang gỗ, những du khách muốn tìm hiểu thêm về động, ưa mạo hiểm, thích thử thách bản thân trước những khó khăn thì hãy trải nghiệm hành trình 7km phía trong. Trong trải nghiệm hành trình này, du khách sẽ bắt gặp những khối thạch nhũ lấp lánh. Càng đi càng thấy nhiều khối thạch nhũ đa hình, đa dạng. Đặc biệt, tại một số đoạn, bạn có thể thuê thuyền kayak để có thể ngắm các khối thạch nhũ và hệ thống suối ngầm bên trong động với dòng nước trong vắt. Và điểm đến cuối cùng của cuộc hành trình vượt qua chặng đường hiểm trở theo dòng suối cạn để đặt chân đến Giếng Trời - một hố sụt của động có đường kính hơn 30m. Cột ánh sáng mặt trời chiếu rọi vào trong động qua “Giếng Trời” càng làm nổi bật vẻ đẹp kỳ bí của Thiên Đường.

Hãy thử một lần đến để thấy tạo hóa đã ưu ái cho Động Thiên Đường như thế nào. 

Thông tin thêm:

Thời điểm tuyệt vời nhất để đi du lịch đến Động Thiên Đường chính là từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 8. Mùa này, du khách sẽ cảm nhận được sự chênh lệch đặc biệt của hang động so với bên ngoài, có khi lên tới 10-150C. Hơn nữa cảnh quan xung quanh xanh tốt giúp du khách cảm thấy thư giãn, thoải mái hơn.

Hiện tại, giá vé tham quan 1.000m đầu tiên trên hệ thống đường gỗ là 250.000 đồng/người lớn và 125.000 đồng/trẻ em, thời gian khám phá mất từ 2 giờ đến 2 giờ 30 phút. Giá tour cho trải nghiệm hành trình 7km là 2.000.000 đồng/người/ngày và sẽ được trang bị bảo hộ, hướng dẫn viên đi kèm và bữa ăn trưa.

Trung tâm Thông tin du lịch (tổng hợp) 

Không chỉ có hang động, Quảng Bình còn sở hữu:

·         Biển Nhật Lệ

Biển Nhật Lệ Với lợi thế 191 km đường bờ biển trải dài ở phía Đông, tỉnh Quảng Bình sở hữu nhiều bãi biển đẹp. Trong đó, biển Nhật Lệ nổi bật với làn nước trong xanh, bờ cát trắng mịn và vị trí thuận tiện ngay trung tâm thành phố Đồng Hới. Nơi đây mang vẻ đẹp nguyên sơ pha chút mộc mạc đời thường, mặt biển phẳng lặng, sóng rì rào vỗ nhẹ. Xa xa là những con thuyền đánh cá nối đuôi nhau ngoài khơi, mang về nguồn hải sản tươi ngon với giá cả phải chăng.

Vị trí biển Nhật Lệ nằm trải dài cạnh đường Trương Pháp trung tâm Đồng Hới, chỉ cách sân bay Đồng Hới khoảng 8km, gần ga tàu và nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng. Du khách đến biển Nhật Lệ có thể trải nghiệm các hoạt động đa dạng, từ nghỉ dưỡng, vui chơi đến hoà nhập vào đời sống thường nhật của người ngư dân miền Trung. 

Các hoạt động và trải nghiệm khi du lịch biển Nhật Lệ

Với bãi biển dài và đẹp, nước biển trong, biển Nhật Lệ là nơi lý tưởng cho những hoạt động thư giãn nhẹ nhàng đến các trò chơi thể thao biển đầy năng lượng. Dù là sáng sớm hay chiều muộn, ban ngày hay ban đêm, du khách đều có thể tận hưởng vẻ đẹp của biển Nhật Lệ theo những cách riêng. 

Tắm biển Nhật Lệ và trải nghiệm các hoạt động thể thao dưới nước

Trải dọc tuyến đường Trương Pháp, bãi biển Nhật Lệ mang đến cho du khách nhiều lựa chọn tắm biển phong phú, phù hợp với sở thích và nhu cầu nghỉ dưỡng khác nhau. Trong đó, Bãi tắm Trung tâm Nhật Lệ là điểm đến nổi bật với làn nước trong xanh, bãi cát trắng mịn sạch sẽ cùng dịch vụ tiện ích như giữ đồ và tắm nước ngọt sau khi vui chơi.

Du khách có thể bơi lội và trải nghiệm các trò chơi cảm giác mạnh như lướt ván với mô tô nước, ngồi phao bút chì với mức giá dao động từ 100.000 VNĐ. Bãi cát rộng cũng rất thích hợp để tổ chức các trò chơi tập thể như bóng chuyền bãi biển, kéo co hay những hoạt động nhóm sôi nổi khác. Du khách có thể thuê bóng với mức giá khoảng 70.000 VNĐ.

Cách bãi biển trung tâm Nhật Lệ khoảng 4.4km, Quảng Bình Sup and Camp có bãi tắm yên tĩnh hơn, là nơi du khách có thể tắm biển và trải nghiệm chèo SUP. Nơi đây còn có nhà hàng và bãi trại trên bờ biển, phục vụ nhu cầu ăn uống, cắm trại, đốt lửa trại và nướng BBQ.

Biển Nhật Lệ nằm gần trung tâm Đồng Hới nên có vị trí di chuyển khá thuận tiện 

 Trải nghiệm ăn uống hải sản biển Nhật Lệ tươi sống

Biển Nhật Lệ còn thu hút khách du lịch bởi các món hải sản tươi ngon như tôm, mực, điệp, ngao, ghẹ, đẻn biển, v.v. Sau khi vui chơi trên biển, du khách có thể đến các nhà hàng, quán hải sản, thưởng thức những món ăn nóng hổi, đặc trưng với hương vị ngọt thanh, đậm đà.

Phần lớn các quán hải sản nằm liền kề nhau dọc theo bờ biển, có không gian hướng ra bờ biển khá thoáng mát và giá cả khá phải chăng. Các nhà hàng như Lá Cọ Beach, Cánh Buồm Đỏ,... sẽ có không gian sang trọng, view rộng rãi thoải mái hơn nhưng giá thành cũng sẽ thay đổi. 

Hoạt động câu mực đêm cùng ngư dân Nhật Lệ

Du khách muốn tìm hiểu văn hoá và đời sống ngư dân tại biển Nhật Lệ có thể trải nghiệm các tour “Câu mực đêm” tại một số đơn vị như Netin Travel, Hưng Việt Travel, v.v. Tuỳ vào đơn vị mà lộ trình tour có thể kéo dài khoảng 3 giờ và giá tour có thể dao động từ 400.000 - 500.000 VNĐ.

Vào chiều tối, khoảng 5PM - 6PM, du khách sẽ khởi hành theo thuyền ngư dân ra khơi, được hướng dẫn cách giăng câu và quan sát ánh đèn thu hút mực lấp lánh giữa biển đêm. Cảm giác lênh đênh trên sóng, nghe tiếng gió biển và tiếng sóng vỗ giữa mảng đêm sẽ mang lại sự bình yên, hoài niệm, xen lẫn phấn khích. Du khách còn có thể tự câu mực và thưởng thức món mực tươi được chế biến ngay trên thuyền. Tuy nhiên, du khách nên kiểm tra dự báo thời tiết và hỏi thêm kinh nghiệm của ngư dân để đảm bảo trải nghiệm du lịch thuận lợi. 

Ngắm biển, uống cafe và nghe nhạc trên bãi biển Nhật Lệ

Dọc bãi biển có những quán cà phê và nhà hàng nhỏ được thiết kế không gian mở hướng ra mặt biển như BlueSea QB, Quảng Bình Sup & Camp. Du khách nhâm nhi tách cà phê hoặc ly nước ép mát lạnh, vừa ngắm sóng vỗ và tận hưởng làn gió biển trong lành. Vào buổi chiều và tối, không gian trở nên lãng mạn hơn với ánh đèn vàng ấm áp, tiếng nhạc du dương hòa cùng âm thanh của biển khơi.

 

Biển Nhật Lệ trong xanh, sóng biển nhẹ và bờ cát trắng trải dài nên rất lý tưởng cho du khách muốn tắm biển, vui chơi cùng gia đình, hội nhóm 

5. Dạo dọc bờ biển và thành phố Đồng Hới

Dọc bờ biển Nhật Lệ là đường Trương Pháp, du khách có thể đi dạo dọc bờ biển, hóng gió mát rượi và ngắm cảnh biển cả mênh mông bên cạnh thành phố phồn hoa.

Khi đi dạo ở cửa biển và cầu Nhật Lệ, du khách có thể ngắm cảnh một bên là dòng sông Nhật Lệ xanh như dải lụa và một bên là cửa biển với vô số chiếc thuyền đánh cá treo cờ đỏ rực. Đặc biệt là buổi tối khi phố xá lên đèn, du khách có thể đi dạo hoặc thuê xe điện tham quan quanh biển và trung tâm thành phố Đồng Hới. Cầu Nhật Lệ ở gần cửa biển cũng sẽ được thắp sáng lung linh, một trong những điểm nhấn của thành phố Đồng Hới về đêm.

Từ cầu Nhật Lệ, du khách có thể ngắm hoàng hôn và làng chài tấp nập

Vị trí biển Nhật Lệ nằm ngay trung tâm phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, chỉ cách sân bay Đồng Hới khoảng 6km và cách ga Đồng Hới khoảng 4km. Từ trung tâm phường Đồng Hới, du khách có thể di chuyển đến biển Nhật Lệ bằng taxi, xe ôm công nghệ, xe đạp, hoặc đi bộ khoảng 2km.

Từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, du khách có thể đến Quảng Trị bằng máy bay và tàu hỏa đến sân bay hoặc ga Đồng Hới. Sau đó, du khách tiếp tục di chuyển đến biển Nhật Lệ. Từ các tỉnh thành như Huế, Đà Nẵng, Hội An, Ninh Bình, và Hà Nội, khách du lịch có thể đi đến Đồng Hới bằng tàu hoả hoặc xe khách giường nằm. 

·         Đồi cát Quang Phú

Đồi cát Quang Phú nằm giữa ranh giới thành phố Đồng Hới và xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch; nằm trên trục đường Trương Pháp nối dài. Di chuyển từ trung tâm thành phố Đồng Hới, bạn đi về phía bắc theo dọc theo đường Trương Pháp, song song với biển Nhật Lệ. Bạn sẽ đi qua tháp chuông nhà thờ Tam Tòa – nơi nhà thơ Hàn Mạc Tử đã từng rửa tội và cũng là minh chứng lịch sử cho thời kì chiến tranh kháng chiến chống Mỹ. Đi qua ngọn Hải Đăng và sau chừng 8km di chuyển, bạn sẽ tới được đồi cát Quang Phú.

Đường đi khá dễ dàng nên bạn có thể lựa chọn di chuyển bằng ô tô, xe máy hoặc cũng có thể đặt xe điện chở đi để có thể tận hưởng không khí biển mát lành và ngắm nhìn vẻ đẹp của thành phố Đồng Hới nhé.

Khi đến đồi cát Quang Phú, ấn tượng đầu tiên bạn có thể thấy là đồi cát trắng soi nắng pha lê với những trảng cát trắng chạy dài và nhìn xa xa là bãi biển xanh ngát thu trọn vào tầm mắt. Bạn sẽ bắt đầu hành trình chinh phục những đồi cát có độ cao gần 80 - 100m, đôi chỗ được điểm màu xanh của bụi cây dại, màu nâu trầm của những cành cây khô hoang sơ tĩnh lặng, mà chẳng kém phần quyến rũ.

Để trải nghiệm trượt cát, bạn sẽ cần thuê tấm ván trượt của người dân địa phương. Giá thuê ván trượt từ 20.000 - 30.000 VNĐ/ván. Sau đó chinh phục những đồi cát cao, rồi ngồi lên tấm ván trượt và thỏa thích trượt từ trên dốc xuống, tận hưởng sự thích thú mà trò chơi này mang lại. Đây cũng là một cách để người chơi tập thể dục, vận động cơ thể.

Nếu ai lần đầu tiên đi trượt ván chắc đều có cảm giác hơi sợ sệt nhưng khi bạn đã thành thạo thì trò chơi này sẽ rất "cuốn" đấy nhé, bạn sẽ sẽ vô cùng thích thú loại hình giải trí này và muốn chinh phục trượt từ những cồn cát cao nhất. 

·           Suối nước Moọc

Ẩn mình dưới tán rừng già phủ kín những vách núi đá vôi cao vút, suối Nước Moọc (xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) mang hơi gió mát lành đến cho núi rừng Phong Nha – Kẻ Bàng. Đến với suối Nước Moọc, du khách không chỉ được đắm mình trong dòng nước mát lạnh mà còn có cơ hội khám phá di sản thiên nhiên thế giới vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.   

Từ thành phố Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình), đi theo đường Hồ Chí Minh nhánh đông về phía bắc khoảng 60km, du khách sẽ gặp ngã ba Khe Gát. Rẽ vào đường Hồ Chí Minh nhánh tây khoảng 5km, du khách sẽ đến suối Nước Moọc.

Nước Moọc là một nguồn nước tự nhiên trong xanh màu ngọc bích phun trào từ chân núi tạo thành một hồ nước rộng khoảng 90m² rồi chảy về phía sông Chày. Đây là một hiện tượng thiên nhiên rất độc đáo và kỳ thú. Dòng suối mát lạnh này luồn lách giữa núi rừng với nhiệt độ thường xuyên dao động từ 16 -18°C vào mùa hè. Hạ nguồn của suối có vô số bãi đá ngầm, ghềnh và thác nước. Trong lòng suối có những tảng đá lớn, những bãi đá cuội hoang sơ như bãi Tam Hợp, bãi Đào Tiên...

Nhận thấy tiềm năng du lịch đa dạng tại khu vực suối Nước Moọc, Ban quản lý vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã đầu tư xây dựng khu du lịch suối Nước Moọc với nhiều hạng mục hấp dẫn.

Đến đây, du khách có thể tản bộ trên các cây cầu gỗ nối hai bờ suối để chiêm ngưỡng vẻ đẹp núi rừng xanh biếc bao la, hùng vĩ với khung cảnh sơn thuỷ hữu tình. Đi men theo bờ suối, du khách sẽ thấy những vạt rừng xanh bát ngát, những đàn bướm trắng bay rập rờn, lắng nghe âm thanh líu lo của đàn chim gọi nhau đi kiếm mồi rồi tíu tít bay về tổ. Đây cũng là địa điểm lý tưởng để du khách thỏa sức bơi lội dưới làn nước trong mát, chèo thuyền kayak, hay tham gia trò chơi nhảy cầu mạo hiểm.  

Đặc biệt, du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn dân dã như cá chình nướng, gà nướng, rau rừng... trên những "nhà hàng tổ chim" được thiết kế độc đáo theo hình tổ chim treo lơ lửng trên những thân cây cổ thụ cách mặt suối khoảng 5m. Những “nhà hàng tổ chim” này sử dụng những vật liệu hoàn toàn thân thiện với môi trường như tre, luồng, cọ…

Khu vực suối Nước Moọc còn là môi trường sinh trưởng của nhiều loài động, thực vật, tiêu biểu là vọoc Hà Tĩnh - loài linh trưởng có tên trong sách Đỏ Việt Nam.

Đến khu du lịch suối Nước Moọc để hòa mình trong dòng nước trong vắt, mát lạnh, với thiên nhiên hoang sơ, kỳ thú chắc chắn sẽ để lại trong lòng du khách  những phút giây thư giãn thú vị. 

·         Sông Chày – Hang Tối

Sông Chày - hang Tối được coi là tuyến du lịch khám phá, trải nghiệm vẻ đẹp thanh bình, thơ mộng của thiên nhiên kỳ thú, với loại hình du lịch mới cực hấp dẫn của ngành du lịch Quảng Bình.

Hang Tối dù không đẹp lộng lẫy như những hang động khác nhưng đi sâu vào trong lòng hang động, du khách được chiêm ngưỡng vẻ đẹp riêng biệt, hoang sơ và điều mà du khách cực kỳ thích thú là được tắm bùn thư giản ngay trong lòng hang động, bùn khoáng ở hang Tối 100% do thiên nhiên bồi tạo nên, có chứa hàm lượng lớn các hợp chất đa vi lượng khoáng với những công dụng tuyệt vời đem đến vô vàn lợi ích cho sức khỏe và làn da, tận hưởng những phút giây thư giãn thoải mái khi đắm mình vào thế giới tự nhiên, trải nghiệm các trò chơi trên sông như đu dây zipline vượt sông với chiều dài 400m, đu dây zipline ngắn, nhảy cầu mạo hiểm, chèo thuyền kayak, checkin Bè luồng, kim tự tháp, phao nổi..., thưởng thức các món ăn dân giả truyền thống mang đậm chất của người dân địa phương bên dòng sông Chày thơ mộng.

Sông Chày là một trong những phụ lưu của sông Son, sở dĩ có tên thác Chày là bởi tiếng thác chảy nghe giống như tiếng chày giã gạo. Với chiều dài chỉ khoảng 10km nhưng sông Chày có nhiều ghềnh đá đẹp và chứa đựng giá trị sinh học đa dạng với nhiều loài động vật thủy sinh đặc trưng cho Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, trong đó hai loài cá chình hoa và cá mòi cờ hoa nằm trong sách đỏ thế giới.

Hang Tối được phát hiện vào năm 1990 với chiều dài gần 6.000 m, cao 80m, hiện vẫn giữ được vẻ hoang sơ huyền bí do không có hệ thống điện chiếu sáng nhân tạo. Hang đang còn nguyên sơ với hàng ngàn cột nhũ đá hình thù đa dạng, đặc sắc và là nơi ẩn cư của nhiều loài động vật như dơi, chim én. Đặc biệt, khu vực cửa hang cũng là nơi trú ẩn của loài voọc Hà Tĩnh - một trong những loài linh trưởng có tên trong sách đỏ của Việt Nam. Do nằm ngay bên sông, độ ẩm cao nên thạch nhũ tại Hang Tối được phủ một lượng rêu phong lớn tạo nên màu xanh đặc trưng.

Sông Chày nép mình dưới rặng núi đá vôi hùng vĩ, lặng lẽ chảy bên hàng cây cổ thụ, rồi tung mình qua bãi bồi nương ngô trên vùng cao xanh thẳm, lòng sông có nơi sâu đến hai chục mét với dòng chảy êm đềm, lãng mạn cùng màu nước trong xanh như ngọc bích tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình.

Nước sông xanh kỳ lạ, tạo cho du khách có cảm giác không nước sông nào xanh bằng. Một số nhà nghiên cứu giải thích do núi đá vôi bị bào mòn, can xi hòa tan từ hàng triệu năm nay làm cho dòng nước mãi xanh bất tận. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, một thứ vi khuẩn tảo ăn vào đá vôi của con sông đã tạo ra ni tơ làm xanh nước sông. Không biết quan điểm nào đúng, nhưng có đi trên sông Chày chúng ta mới cảm nhận được màu xanh của nó biếc hơn cả da trời. Ở từng đoạn sông, dòng nước lại có nhiều màu sắc khác nhau như: xanh ngọc, xanh lục, vàng…

Hai bờ sông được kết tuyến bởi vô số bờ bãi đá vôi. Nước chảy từ ngàn xưa đã đẽo gọt đá vôi thành những “kiến trúc” trông rất lạ mắt. Buổi sáng, những tán cây sung cổ thụ soi mình xuống sông khoe dáng, đẹp như bức tranh thủy mặc. Không những đẹp, sông Chày còn chứa khu hệ cá quan trọng bậc nhất của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Những loài cá mát, cá leo, cá chình cờ hoa, cá mòi cờ hoa và hàng chục loài cá có nguồn gốc từ biển sống ở đây là sự độc đáo của con sông chảy giữa núi rừng Di Sản. Có hai loài cá nằm trong sách đỏ thế giới sống ở đây là cá chình hoa và cá mòi cờ hoa đã gây sửng sốt các nhà ngư loại học thế giới.

Ngoài chiêm ngưỡng những dãy núi hùng vĩ tiêu biểu cho địa hình ở Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, những cánh đồng ngô, du khách còn có dịp trải nghiệm đời sống sinh hoạt văn hóa của người dân bản địa tại các làng cổ ven sông như: Hà Lời, Na, Phong Nha, Trằm, Mé, Chày Lập…

Tháng 9 năm 2014, Ban Quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã xây dựng hệ thống đu dây tự do tại bến thuyền sông Chày - hang Tối. Trong chương trình Lễ hội hang động Quảng Bình năm 2015, đại diện Tổ chức kỷ lục Việt Nam đã trực tiếp trao chứng nhận cho công trình này là “công trình đu dây tự do với 02 sợi cáp dài nhất Việt Nam”. Đây là công trình duy nhất và lần đầu tiên có mặt tại Quảng Bình, đã thu hút một lượng lớn du khách tham gia, đặc biệt là khách nước ngoài.

Nổi bật tại đây là trò chơi zipline - đu dây tự do. Hoạt động này bao gồm hai hình thức là tuyến zipline 400m từ đài quan sát đến cửa hang Tối và tuyến zipline ngắn từ bờ ra giữa sông rồi thả tự do dưới làn nước sông Chày. Chỉ với hơn một phút, khách du lịch có cảm giác như được bay lượn trên quãng đường di chuyển từ đài quan sát đến cửa Hang Tối.

Chính nhờ hang Tối mà các nhà khoa học biết được khối núi đá vôi Kẻ Bàng có nguồn gốc từ đại dương cổ đại. Những vận động kiến tạo từ xa xưa đã nâng đáy biển lên, hàng tỷ tỷ loài nhuyễn thể có vỏ chết đi tạo ra khối núi đá vôi Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới hôm nay. Hang Tối còn là nơi cung cấp mẫu chuẩn nhất về loài cua hoàn toàn mới trên thế giới mà mẫu của nó hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Singapore.

Càng đi sâu vào bên trong hang càng dễ dàng cảm nhận hơi lạnh từ đá tỏa ra. Tại đây, du khách cần trang bị đèn pin đội đầu, áo phao và tuân thủ một số quy định như không mang giày dép, thức ăn, vật dụng lạ... Du khách sẽ có trải nghiệm vô cùng thú vị khi có dịp tắm bùn thiên nhiên hay bơi qua hồ Thủy Tiên, hồ Bồng Lai mát lạnh. Đặc biệt, du khách có thể thả mình vào hố bùn loãng tinh khiết được bào mòn và tinh lọc bởi các núi đá vôi. Với 15 phút để trải nghiệm hoạt động này, mọi người thường được khuyến cáo hạn chế bôi các loại kem để bảo tồn lớp bùn tự nhiên.

Cây xanh trên thạch nhũ ở hang Tối là một ghi nhận mới mẻ và gây sững sốt cho người đến chiêm ngưỡng. Vì sao cây cối lại sống được ở đây là một câu hỏi thú vị. Và sự trả lời về đề bài này cũng dẫn đến những tìm hiểu lý thú.  Đó là câu chuyện truyền kỳ của cây cỏ đối với môi trường sống khắc nghiệt. Ngay sau cửa hang có một cột thạch nhũ khổng lồ, phía mặt của nó hứng ánh sáng mặt trời, chính ánh sáng đã kích thích độ ẩm và tạo điều kiện cho rêu tảo xuất hiện, từ đó những mầm sống của dương xỉ bám vào và sinh trưởng. Nhưng từ đâu những loài thực vật lại “có chân” để di biến vào hang động là một câu chuyện của các nhà nghiên cứu vừa khám phá. Chính gió đã đưa mầm sống của dương xỉ vào từng hốc ngách của thạch nhũ cổ xưa.

Du lịch sông Chày - hang Tối không chỉ giúp du khách có những phút giây thư giãn thoải mái mà còn đem lại cho những ai ưa khám phá một kho tàng kiến thức bổ ích về địa chất và sự đa dạng sinh học ở Việt Nam.

Sông Chày - hang Tối là sự lựa chọn lý tưởng, độc đáo đem đến cho du khách một trải nghiệm tuyệt vời, lý thú./.

 

4. CON NGƯỜI VÀ VĂN HÓA QUẢNG BÌNH

Người Quảng Bình nổi tiếng với tính cách:

·         Chịu thương chịu khó

·         Kiên cường trước thiên tai

·         Chân chất nhưng giàu nghĩa tình

Đây cũng là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng, tiêu biểu như:

·         Đại tướng Võ Nguyên Giáp 

 TÀI LIỆU VỀ TUYẾN THAM QUAN MỘ BÁC GIÁP

       Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng đầu tiên, Bí thư Quân ủy đầu tiên, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đầu tiên và duy nhất cho đến nay; người Cộng sản kiên trung, mẫu mực, một thiên tài quân sự đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, đã từ trần hồi 18 giờ 09 phút, ngày 04 tháng 10 năm 2013 (tức ngày 30 tháng 8 năm Quý Tỵ), tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; hưởng thọ 103 tuổi.

     Nhằm bày tỏ tình cảm yêu mến, kính trọng của tuổi trẻ đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hôm nay đoàn mình hành trình xa sôi đến đây để dâng lên người một tấm lòng biết ơn sâu sắc. Có lẽ sau mất mát lớn lao của dân tộc việt nam vì đã phải mất đi người Cha già kính yêu của dân tộc, lần nữa sau Bác hồ kính yêu của chúng ta,lần thứ hai toàn thể non sông mình lại đau đớn đi một cây "Đại Thụ" nữa 

     Thưa quý đoàn, Bác Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông xuất thân trong một gia đình nho giáo, với cụ thân sinh là ông Võ Quang Khiêm - một nhà nho đức độ, và mẹ là bà Nguyễn Thị Kiên. Gia đình 7 anh chị em, nhưng người anh cả và chị cả mất sớm nên còn lại năm, 3 người con gái và 2 người con trai là Võ Nguyên Giáp và Võ Thuần Nho, sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Gia đình cụ Nghiêm thuộc diện nghèo trong làng, quanh năm phải vay nợ nặng lãi của các nhà giàu như nhà Khóa Uy, một Hoa kiều giàu có ở làng Tuy Lộc kề bên. Võ Nguyên Giáp đã có lần theo mẹ chèo thuyền chở thóc đi trả nợ.

Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng những câu chuyện đêm đêm mẹ kể cho cậu nghe về tướng quân Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, kêu gọi các sĩ phu và dân chúng đứng lên chống Pháp bảo vệ non sông, còn cha nói về phong trào đánh Pháp qua bài vè “Thất thủ kinh đô” đầy cảm động, đã gieo vào lòng cậu bé những ấn tượng không bao giờ phai mờ, góp phần nuôi dưỡng ý chí cho sự nghiệp cách mạng sau này.

   Cha ông là một nhà Nho nên dạy dỗ con cái rất nghiêm cẩn trong sinh hoạt gia đình và học hành, giữ gìn nề nếp gia phong của đạo Khổng. Ông khuyên dạy con: "Chữ Nho là chữ của Thánh hiền, là nho sinh, các con không được nghịch ngợm, dẫm đạp lên sách vở chữ Nho". Ông dạy đám học trò cùng hai con ông: Tạm thiện tự, Ngũ thiên tự và cả Ấu học tân thư.

Võ Nguyên Giáp học chữ Nho không nhiều nhưng những đạo lý học được trong các sách của Thánh hiền Nho gia, đặc biệt là Ấu học tân thư, đã có ảnh hưởng sâu sắc trong cả cuộc đời ông. Học xong lớp 3 Võ Nguyên Giáp phải xuống thị xã Đồng Hới học tiếp. Đồng Hới khi đó thuộc tỉnh lỵ Quảng Bình, cách làng An Xá của cậu trên 20 cây số, nằm bên bờ Nhật Lệ trong xanh. Những năm học ở thị xã Đồng Hới, Võ Nguyên Giáp ở trọ nhà người quen của cụ Nghiêm.

Cậu được gia chủ quý mến coi như con cháu trong nhà, không lấy tiền trọ, cậu được học với nhà sư phạm có tiếng, thầy giáo Đào Duy Anh. Hai năm học ở tiểu học Đồng Hới, hàng tháng cậu luôn đứng đầu lớp. Tại kỳ thi tốt nghiệp bậc sơ học, cậu đỗ đầu toàn tỉnh. Về làng cậu được dân làng nể trọng, gia đình rất tự hào về cậu. Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế (ông đỗ thứ hai loại khá). 

Đường đến Cách mạng của Người:

Ngoài việc học, Võ Nguyên Giáp sớm có sự quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội, đến đất nước thưở ấy đang trong cảnh nô lệ. Năm 14-15 tuổi, hằng tuần cậu đã tìm gặp nhà chí sĩ Phan Bội Châu để nghe cụ nói chuyện. “Biệt nhãn” của cụ Phan cũng đã sớm nhận ra tinh thần cách mạng hay một thiên tư nào đó tiềm ẩn trong con người Võ Nguyên Giáp.

Trung tướng Phạm Hồng Cư kể lại “hồi đó, anh Giáp được cụ Phan chú ý và rất thương. Cụ có mấy chục bộ sách cổ kim, thấy anh Giáp hăng hái, nhiệt tình và ham học, cụ bảo: Khi nào tôi mất, tủ sách này để lại cho cậu Giáp”. TS sử học Robert J. O’Neill cho rằng: “Khi Giáp còn đi học, tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đã được hình thành một cách có sức thuyết phục và đầy cảm hứng bởi cụ Phan Bội Châu”.
Năm 1927, Võ Nguyên Giáp viết bài báo đầu tiên bằng tiếng Pháp: “À bas le tyranneau de Quoc hoc!” (“Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học!”), gửi tặng ở tờ L’Annam của luật sư Phan Văn Trường tại Sài Gòn. Bài báo tố cáo mạnh mẽ nền giáo dục ngu dân của những kẻ cai trị. Sau đó, anh tổ chức một phong trào bãi khóa để phản đối việc nhà trường đàn áp học sinh, đuổi học Nguyễn Chí Diểu, cấm học sinh đọc sách báo yêu nước… Với vai trò người cầm đầu, anh bị đuổi học.

Mùa hè năm 1928, Võ Nguyên Giáp trở lại Huế, bước vào đời của một chiến sĩ cách mạng. Tại Huế, Nguyễn Chí Diểu giới thiệu Võ Nguyên Giáp đến làm việc ở Quan Hải Tùng thư, một nhà xuất bản do Tổng bộ Tân Việt chủ trương, trụ sở đặt ở phố Đông Sa. Sáng lập viên là Đào Duy Anh. Tại đây Võ Nguyên Giáp có điều kiện tiếp xúc với những học thuyết kinh tế, xã hội, dân tộc, cách mạng. Đặc biệt là cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tờ báo “Người cùng khổ” (Le Paria) do Nguyễn Ái Quốc viết từ Pháp gửi về.

Đầu tháng 10/1930, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các giáo sư Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng...

Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế. Ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut. Tuổi 20 của Võ Nguyên Giáp, như Trung tướng Phạm Hồng Cư đã viết, là một thời kỳ sôi nổi, làm việc cật lực: “Làm nhiều việc cùng một lúc: Vừa học thi, vừa đi dạy, vừa viết báo, vừa hoạt động cách mạng. Là chiến sĩ cách mạng, là thầy giáo dạy sử, là nhà báo, là sinh viên. Với tinh thần ham mê học tập, năng lực tổ chức và khả năng làm việc gấp đôi, ba người thường, khiến Võ Nguyên Giáp luôn là một sinh viên nổi bật.

Năm 1937, ông nhận bằng Cử nhân luật. Năm 1938, do bận rộn hoạt động cách mạng,ông bỏ dở học chương trình năm thứ tư về Kinh tế Chính trị và không lấy bằng Luật sư. Từ 1936 - 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo tin tức, dân chúng. Tháng 5/1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường.

Ngày 3/5/1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hồ Chí Minh đã thấy Võ Nguyên Giáp là người triển vọng nên liên hệ với Đảng cộng sản Trung Quốc và cử anh đi học quân sự tại căn cứ địa Diên An. Trên đường tới Diên An, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh gọi quay lại vì tình hình thế giới có nhiều thay đổi lớn. Ở châu Âu, phát xít Đức đã xâm chiếm Pháp. Hồ Chí Minh nhận định tình hình Đông Dương sẽ chuyển biến nhanh, cần gấp rút trở về nước chuẩn bị đón thời cơ. 

Đường đến với những chiến công oanh liệt

Năm 1940, Võ Nguyên Giáp gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Năm 1941 đúng dịp tết Nguyên đán Tân Tỵ, Võ Nguyên Giáp cùng Hồ Chí Minh trở về Cao Bằng. Trong thời gian ở hang Pắc Bó, Hồ Chí Minh tiên đoán cách mạng sẽ thành công vào năm 1945, một dự đoán chuẩn xác, và tiến hành xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.

Ngày 22/12/1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngày 25/12/1944, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.

         Ngày 14/8/1945, Võ Nguyên Giáp trở thành Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.
Sau Cách mạng Tháng Tám, từ 28/8/1945 đến hết năm 1945, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ.

Từ 7/1947 – 7/1948: Trong Chính phủ Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp.
          Ngày 19/12/1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) trên cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ. Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28/5/1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20/1/1948, ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi 37 tuổi.
            Tháng 8/1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập. Từ tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.

Như các danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông có tên gọi là “Chiến tranh nhân dân” kế thừa quan điểm quân sự Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới, lý luận quân sự Mác-Lênin và được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân được liên tục cập nhật trong nhiều cuộc chiến tranh mà nổi bật là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Trận Điện Biên Phủ lịch sử và Danh nhân quân sự của Việt Nam

Trong 9 năm trường kỳ đánh Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan trọng để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý báu như: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung". Với chuyên gia quân sự Trung Quốc sang giúp huấn luyện quân đội, ông chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu, nghiên cứu kỹ phương pháp của nước bạn, đồng thời nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ việc tiết kiệm sinh mạng bộ đội do Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân. Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ.
           Trước khi ra trận, Hồ Chí Minh đã dặn dò: "Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua là hết vốn". Ông tự tin lên kế hoạch và chỉ huy 4 trong 6 sư đoàn bộ binh khi đó của Quân đội Nhân dân Việt Nam là 304, 308, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 tấn công Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân nhà nghề được trang bị hiện đại của Pháp.

           Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của người Pháp tại Đông Dương sau 83 năm và đã đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam.

Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp:

1.      Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)

2.      Chiến dịch Biên giới (tháng 9 - 10, năm 1950)

3.      Chiến dịch Trung Du (tháng 12/1950)

4.      Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951)

5.      Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5/1951)

6.      Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12/1951)

7.      Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9/1952)

8.      Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4/1953)

9.      Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 - 5 năm 1954). Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.

Từ 1955 – 1980: Ông làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ 1981 – 1991: Ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là Đại biểu Quốc hội từ khóa I – VII

Đại tướng và những tác phẩm quân sự bất hủ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhiều tác phẩm quân sự có giá trị nghiên cứu cao như: "Khu giải phóng" (1946), "Đội quân giải phóng" (1947), "Chiến tranh giải phóng và quân đội nhân dân, ba giai đoạn chiến lược" (1950), "Điện Biên Phủ" (1964), "Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng" (1970), "Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân" (1972), "Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc" (1979), "Tư tưởng Hồ Chí Minh và Con đường cách mạng Việt Nam" (2000)…

Với những đóng góp cực kỳ to lớn cho cách mạng và kho tàng nghiên cứu của Việt Nam, Đại tướng đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao vàng, hai Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng nhất, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, và nhiều huân chương, phần thưởng cao quý khác…

sau cuộc họp giữa Trung ương, tỉnh Quảng Bình và đại diện gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, trưởng ban tổ chức lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp và gia đình đã chính thức quyết định địa điểm an táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại khu vực biển Vũng Chùa - đảo Yến, thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đây cũng là địa điểm lúc còn sống Đại tướng đã đồng ý với gia đình để Đại tướng yên nghỉ vĩnh hằng. Gần như ngay lập tức, các đơn vị công binh và nhiều lực lượng khác đã tập trung về Vũng Chùa- Đảo Yến mở đường vào khu vực. 

Nơi An Nghỉ Của Người

Thật ra, điểm yên nghỉ của Đại tướng đã được gia đình chọn lựa từ lâu. Khu vực Vũng Chùa - Đảo Yến cũng là một huyệt đẹp hội tụ nhiều sinh khí đã được biết từ lâu. Dân xã Quảng Đông coi đây là một nơi thiêng liêng chứa đựng những điều thần bí.

Ông Phạm Xuân Hương, một bô lão trong xã kể lại chuyện xưa được lưu truyền trong nhân dân. Đó là câu chuyện một người Tàu biết đây là khu mộ huyệt đại cát, nếu an táng cha mình vào đây, con cháu sẽ phát tài, hưng vượng, liền đem hài cốt cha mình đến đây chôn trộm. Lúc đó, cả khu vực còn là rừng rậm. Anh ta chờ lúc giữa trưa mới thuê người địa phương đưa vào rừng. Thuyền vừa đỗ dưới bãi, định bước lên bờ thì bỗng trong rừng xuất hiện một đôi hổ, một con đen, một con trắng nhảy ra gầm vang đe dọa. Anh dẫn đường vội vàng đẩy thuyền chạy về.

Nhưng anh người Tàu vẫn không đành, anh ta mượn một thầy phù thủy đi cùng lần nữa. Lần này nghe như sợ thầy phù thủy, không thấy hổ ra dọa nữa. Trèo lên đến miếng đất bằng trên sườn núi, anh ta vội vàng đào mộ rồi đặt hài cốt cha mình xuống, nhưng lạ kỳ, hài cốt đặt xuống đáy hố thì tự nhiên đất lại đùn lên, đẩy gói hài cốt trở lại mặt đất. Thầy phù thủy bày đàn, bấm độn triệu thỉnh thổ địa lên hỏi, thổ địa trả lời: Đây là huyệt mộ đại cát, nhưng không dành cho người này. Chôn xuống sẽ bị đào lên. Anh người Tàu sợ quá, vội mang hài cốt cha mình về Tàu.

Trong sách nêu rõ vịnh La Sơn được bao bọc bởi những ngọn núi như những bức tường thành, phía đất liền là dãy Hoành Sơn “thế như rồng cuốn hổ ngồi, trùng trùng điệp điệp lan ra tận biển”, với đỉnh Mũi Rồng che chắn phía tây - bắc, ở phía đông có nhiều đảo nhỏ (dân gian gọi là hòn)...

TS Dũng cho biết quần thể danh thắng này gắn liền với rất nhiều truyền thuyết dân gian, như việc người dân vùng này không dám chặt cây chò trắng, vì đây là loại cây tương truyền được long vương dùng xây thủy cung dưới biển. Mà long vương từng nổi sóng lớn giúp dân nhấn chìm chiến thuyền của quân Chiêm khi đến quấy phá dân làng thời Đại Việt. Dân gian còn truyền miệng chuyện năm vua Lê Thánh Tông xuất thủy quân đánh Chiêm Thành, đã dừng lại nơi đây lập đàn xin thần linh phù hộ thắng giặc và chúng sinh an lành. Sau đại thắng, vua lại trở về lập đàn cáo cùng trời đất tại đây. 

Về Mặt Phong Thủy

Thuật phong thủy chỉ phương pháp tìm kiếm và chọn lựa nơi trú ngụ hoặc mai táng cát tường phú quý, phúc thọ bình yên. Giống như mọi ngành khoa học kĩ thuật cổ truyền khác ở Á Đông, thuật phong thủy cũng dựa vào dịch lí, thuyết âm dương, ngũ hành. Theo các quan niệm cổ truyền, long mạch là những dòng khí mạch chạy trong đất (giống như mạch máu trong cơ thể), nhấp nhô, uốn lượn theo thế núi sông như rồng. Điểm khởi đầu của mạch là nơi sinh khí bắt đầu phát sinh, điểm kết thúc của mạch là nơi sinh khí ngưng tụ. Tại nơi tập kết khí mạch của núi mà xây huyệt mộ sẽ mang lại nhiều điều tốt lành.

Sách Táng thư viết: “Mai táng phải chọn nơi có sinh khí. Kinh viết: Khí gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) ngăn thì dừng. Cổ nhân làm sao cho khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng”. Do vậy mà có tên là “phong thủy”. Nơi khí tụ là huyệt cát, nơi khí tán là huyệt hung. Huyệt cát phải có thế đứng huyền vũ, nghĩa là lưng dựa vào miền đất cao, hay nhất là cuối dãy núi lớn, trước mặt có khoảng trống, thấp, tốt nhất có dòng nước chảy, bên trái tả thanh long nghĩa là có dãy núi cao tỏa ra như hai cánh tay che bên trái huyệt đất, có hữu bạch hổ, nghĩa là bên phải cũng có một dãy núi, hoặc đất cao che bên trái huyệt đất, có chu tước, nghĩa là ngoài vùng nước có một miền đất cao như cái bình phong chắn gió thổi vào huyệt đất.

Cuốn Táng Kinh viết: “Hình ngăn khí tụ, hóa sinh vạn vật là đất thượng đẳng”, tức là chân huyệt. Nếu không có hình tốt tức thế đất không ngăn được khí. Khí không tụ lại được thì an táng vô nghĩa. Nhưng đất có hình rồi cũng phải có thế. Thế đất cát thì huyệt sẽ cát; huyệt cát thì nhân sẽ cát. Thông thường, an táng ở trên thế đất phình. Táng kinh có viết: Thế đất có bình phong (đằng sau huyệt mộ có đất hoặc núi cao như bức bình phong để dựa, được che chắn) chôn đúng phép, vương hầu nổi lên. Thế đất như tổ yến (tròn, vuông, cân đối) chôn đúng cách, được chia đất phong. Thế đất như rìu kép (tròn, vuông, cân đối, phẳng phiu) mộ huyệt có thể giàu có. 

Huyệt Đại Cát

Vũng Chùa - Đảo Yến nằm cách Đèo Ngang (ranh giới giữa 2 tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh) khoảng 7 km. Người dân địa phương từ lâu vẫn gọi đây là thế đất rồng cuộn hổ ngồi, nơi dãy Hoành Sơn đâm từ dãy Trường Sơn ra biển lớn. Địa điểm an táng Đại tướng là lưng chừng triền núi phía Nam mũi Rồng, cách ngọn mũi Rồng khoảng 1km. Theo anh Phan Ngọc Trang - một người dân địa phương, trong khuôn viên được chọn an táng Đại tướng đã xây dựng các tháp thiết kế như kiểu tháp chuông ở các khu tưởng niệm, có một quả chuông bằng đồng, một căn nhà kiểu văn phòng, rộng chừng 50m2 xây lên từ vài năm trước. Bên trong hàng rào là vài con đường đất sỏi và từ trước tới nay chưa có hoạt động gì, nên người dân địa phương không biết để làm gì. Đường từ Quốc lộ 1 vào địa điểm này hiện là đang được tích cực thi công và sẽ hoàn thành trước ngày 12-10-2013.

Nơi an táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm ở độ cao 110m lưng núi Vũng Chùa. Huyệt đất quay về hướng Nam. Về phía Bắc núi Vũng Chùa dựa vào dãy núi lớn cao trên 700m. Phía Tây, núi Sú kéo dài như một tay ngai, cao 136m, phía đông, như con hổ lớn ở vị trí Bạch Hổ, dãy Mũi Rồng như một cánh tay dài như một con rồng lớn chạy ra biển ở vị trí Thanh Long. Từ trên huyệt mộ nhìn xuống sẽ thấu cả một vùng biển rộng, có dòng hải lưu chảy từ hướng Tây sang phía Mũi Rồng. Qua khoảng biển rộng khoảng 400m là đảo Yến, gồm hai ngọn như chiếc bình phong chắn gió ở vị trí Chu Tước.

Mảnh đất dự kiến để chôn cất Đại tướng có hình vuông, cân đối, hơi phình như một gò nhỏ, hướng về phía Nam theo câu: “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ”. Đó chính là thế đất “Yến sào” có chỗ dựa Huyền Vũ là đỉnh cao trên 400m về phía Bắc.

Mạch khí chảy nghìn dặm từ Trường Sơn xuống dẫn mạch khí từ nghìn dặm Bắc về đến đây, gặp biển tụ lại, Biển mênh mông như một hồ lớn, nhưng trước huyệt đất lại có hải lưu dẫn khí lưu thông mà không tán. Sinh mà tụ là thế đất tuyệt vời này. Phía bên trái, theo cổ truyền là bên tả, dãy núi mũi rồng chảy ra biển, vừa xuôi xuống biển tạo ra một vòng cung chắn khí tản đông mà còn chắn gió đông, không để gió, tức phong, thổi vào huyệt mộ. Đó chính là hình tượng con rồng xanh hầu bên tả. Phía bên phải, hướng Tây núi Sú sừng sững như một con hổ chầu, che những cơn gió thổi vào huyệt đất. Đó chính là Bạch Hổ trừ mọi tai ương.

Phía nam là biển rộng, đóng vai trò minh đường tụ thủy, mạch hải lưu nhẹ cấp thêm sinh khí cho huyệt mộ. Phía xa một chút Đảo Yến như bình phong lớn làm ấm huyệt mộ. Theo người dân địa phương, đất trên núi vốn là đất núi lửa có màu đỏ hồng nhẹ, vùng mưa đều đất ẩm, cây cối xanh tươi quanh năm. Đây đúng là đất “Thái cực biên huân”, hợp với thế đất. Thêm nữa không phải bây giờ mà ngay từ ngàn xưa vùng Vũng Chùa - Đảo Yến đã là nơi chim yến tụ hội ríu rít quanh năm, đúng là đất lành chim đậu,“chim tụ hội thành đàn” đông vui, ríu rít, là đất “tụ khí tàng phong”.

Tổng hợp lại, nơi chôn cất Đại tướng Võ Nguyên Giáp là huyệt đại cát, ứng vào câu “tất phát khoa giáp, định rất phát đinh tài lưỡng vượng, phú quý miên trường, mọi người đều kính phục”. Với những chiến công vì dân vì nước, huyệt mộ đại cát, Đại tướng sẽ là một thiên tướng trấn giữ phía Đông ngăn trừ mọi ma quỷ âm mưu xâm lấn làm hại dân Việt, công đức kéo dài vạn vạn năm. 

THUYẾT MINH

VỀ VŨNG CHÙA ĐẢO YẾN

 'Núi Rồng' hay 'Vũng Chùa' trở thành những cái tên khiến nhiều người thắc mắc về một địa danh. Ngọn núi Đại tướng sẽ yên giấc ngàn thu có tên chính thức là núi U Voi bởi nhìn trong cả dải núi chạy dài, ngọn núi này có dáng dấp của phần u của một con voi.

Núi U Voi nằm trong dải núi Rồng. Sở dĩ có cái tên núi Rồng là bởi phần đầu của dải núi vô tình có 2 chiếc hang được ví tựa mắt của con rồng. Đây là 2 chiếc hang khá lớn, có vòm hang rộng từ 7 -10m, sâu chừng 30m. Hang không có những nhũ đá mà khá phẳng phiu, người dân vùng biển này vẫn thường vào đây để tham quan thưởng ngoạn.

Dải núi Rồng gồm nhiều ngọn núi thấp uốn lượn quanh eo biển. Phía trước dãy núi này là đảo Yến và bãi biển Vũng Chùa, xa xa là cảng Hòn La tạo thành một quần thể khá hữu tình. Nếu nhìn cả dãy núi này thì vị trí an táng của Đại tướng nằm ở cổ rồng.

Còn tên gọi vũng Chùa do vùng biển nơi đây yên bình như 'vũng', từ hàng trăm năm trước có một ngôi chùa rất linh thiêng nhưng qua bao bể dâu nay chỉ còn nền móng. Đảo Yến tên gốc là Hòn Nồm, gọi theo hướng gió. Sau này người dân gọi là đảo Yến bởi trên đảo có nhiều chim yến về đây làm tổ. Đảo Yến rộng khoảng 10ha cách bờ khoảng 1km, vẻ đẹp hoang sơ, như bức bình phong nổi lên giữa biển.

Trên đảo không có dân ở, chỉ có vài công nhân từ Nha Trang ra đây dựng trại để khai thác yến. Núi Thọ nối liền núi Sú tiếp nối mũi Rồng tạo thành một cánh cung vững chãi đâm ra biển Đông, che chắn gió đông bắc; dưới chân là bãi biển cát trắng vàng trải dài tít tắp, cây cối xanh tươi.

Đảo Yến cũng từng có thời gian được gọi là 'đảo Chùa' vì có ngôi chùa cổ. Ngày nay, cái tên 'đảo Yến' được dùng nhiều hơn cả bởi nơi này giờ được một đơn vị nuôi chim yến khai thác khá hiệu quả.

Vũng Chùa - đảo Yến nằm dưới chân dãy Hoành Sơn, cách đèo Ngang khoảng 10km về hướng đông nam. Từ trên đỉnh Thọ Sơn phóng tầm mắt về hướng biển là khung cảnh non nước hữu tình, biển nước mây trời bình yên và khoáng đạt.

Vũng Chùa được bao bọc bởi ba đảo là Hòn La, Hòn Gió và Hòn Nồm (đảo Yến) nên nơi đây rất kín gió. Những ngày gió bão tàu thuyền thường về đây trú ẩn.

Vũng Chùa là một trong những thắng cảnh đẹp nằm trong vịnh Hòn La mà theo sách Đại Nam dư địa chí ước biên của nhà văn hóa Cao Xuân Dục thời nhà Nguyễn gọi là vịnh La Sơn. Vịnh La Sơn được bao bọc bởi những ngọn núi vững chãi như bức tường thành, phía đất liền là dãy Hoành Sơn “thế như rồng cuốn hổ ngồi, trùng trùng điệp điệp lan ra tận biển” với đỉnh mũi Rồng che chắn phía Tây - Bắc, ở phía đông có nhiều đảo nhỏ.

Vùng biển Hòn La nổi tiếng với những sản vật dùng để cung tiến triều đình. Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, đặc sản nơi đây ngoài yến sào, sò huyết, tôm hùm còn có loài 'cửu khổng quyết minh' hay còn gọi là bào ngư, là những sản vật thường mang đi cung tiến triều đình. Vùng đất này được người dân nơi đây coi là linh thiêng bởi tương truyền năm xưa vua Lê Thánh Tông xuất thủy quân đánh Chiêm Thành đã dừng lại nơi đây lập đàn thần linh phù hộ. Khi chiến thắng trở về, nhà vua về đây lập đàn tạ ơn đất trời.

Người dân vẫn cho rằng xã Quảng Đông là một vùng đất linh thiêng bởi hiếm có nơi nào mà trong một xã có đến mấy chục ngôi miếu, đền và am thờ. Cứ đi vài trăm mét lại có một nơi để thờ cúng.

Ngày xưa, trên dãy núi Rồng cũng có 2 ngôi miếu được đặt ở phần 'đầu rồng' và 'đuôi rồng'. Tiếc rằng, trong những năm tháng chiến tranh, máy bay địch rải thảm bom qua nơi này đã khiến 2 ngôi miếu bị sập hoàn toàn.

Giờ đây, người dân ở xã Quảng Đông vẫn còn bất ngờ khi Đại tướng về yên nghỉ tại Vũng Chùa. Theo nhiều người địa phương thì khu vực Đại tướng được chọn để an táng đã được xây dựng một số hạng mục cách đây gần chục năm. Cụ thể tại đây có một căn nhà sàn, một ngôi nhà 2 tầng diện tích lớn và một miếu thờ đã được xây dựng hoàn tất.

Vùng đất nơi an táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vũng Chùa - đảo Yến (xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình) có vị trí rất đẹp. Phía đông nam Vũng Chùa là biển Đông với đảo Yến như tấm bình phong giữa biển trời che trước mặt.

Phía tây bắc là núi Mũi Rồng như tấm lưng vững chãi của non sông Việt Nam mà Đại tướng đã suốt một đời góp công gìn giữ.

Vũng Chùa là một vũng biển nhỏ, có bờ cát trắng bằng phẳng rất tốt để làm bãi tắm. Ở đây có một triền núi nhô ra biển nên người dân địa phương gọi là Mũi Rồng.

Phía nam Mũi Rồng là biển, phía bắc là đất liền. Đảo Yến gồm hai đảo nhỏ dính liền nhau, có diện tích hơn 10 ha, nằm cách bờ biển Vũng Chùa 2km, trên đảo có nhiều hang hốc nên chim yến vẫn tìm về làm tổ.

Vũng Chùa - đảo Yến cách đèo Ngang về phía nam gần 10km. Đứng ở đầu chót đèo Ngang nhìn về phía nam có thể thấy rõ cảnh sắc của vùng biển ở Mũi Rồng. Đèo Ngang, Vũng Chùa tạo nên một quần thể non nước rất hữu tình, với núi vươn ra tận biển, sông và đường uốn lượn dưới chân đèo và biển luôn thấp thoáng những con thuyền... 

LƯU Ý: PHẦN CHỈ DẪN ĐƯỜNG VÀ CÁC LƯU Ý KHI THAM QUAN MỘ BÁC GIÁP

   Các bạn phần lớn đi tour từ đồng Hới mình cũng chia sẻ cho bạn nào chưa đi thôi: Quãng đường từ Đồng Hới đến Mộ ~~70km nhé, các bạn Qua Cầu Gianh thì thuyết minh về Bến Phà Sông Gianh hay gì gì đó thì tùy mỗi hdv sau đó đến cây cầu thứ 2 là cầu Ròn...đi thêm khoảng 3 - 4 km nữa sẽ có cái bảng chì dẫn bên phải đi vào 1,4km nữa là đến. còn các bạn đi từ ngoài bắc vào qua đèo ngang hết các bạn cũng chú ý bên táy trái có bảng chỉ dẫn đi vào. 

·         Dương Văn An

Ông Dương Văn An, 53 tuổi quê ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Thuận khóa XV, có trình độ tiến sĩ Kinh tế học, thạc sĩ Kinh tế chính trị, cử nhân Khoa học Địa lý.

Ông An từng là Bí thư Tỉnh đoàn Thừa Thiên Huế, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đoàn, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, kiêm Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban quốc gia về thanh niên Việt Nam. Năm 2014, ông được luân chuyển làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận và giữ chức này trong 6 năm. 

·         Nguyễn Hữu Cảnh

Nguyễn Hữu Cảnh (1650 - 1700), người con ưu tú của vùng đất Quảng Bình nhiều nắng gió đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử tổ chức khai phá, mở mang bờ cõi, thiết lập bộ máy hành chính Nam Kỳ, xác lập chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên vùng đất Nam bộ, định hình nước Việt Nam thành dải đất hình chữ S như ngày nay.

Công lao to lớn của ông đã được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận, phong tước hiệu Lễ Thành hầu - Khai quốc công thần- Thượng đẳng công thần.

Nguyễn Hữu Cảnh, tên thật là Nguyễn Hữu Thành, húy Kính, tộc danh là Lễ, người thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Theo các nhà nghiên cứu lịch sử thì tổ tiên của ông là Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc - vị khai quốc công thần thời nhà Đinh, hậu duệ 9 đời của Nguyễn Trãi- vị đệ nhất khai quốc công thần thời nhà Lê. Ông nội là quan tham chiến Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn, vì bất mãn với chúa Trịnh lấn át quyền hành của vua Lê, nên theo phò chúa Nguyễn vào Đàng Trong. Bước dừng chân đầu tiên của dòng Nguyễn Hữu vào năm 1609 do Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn định hướng là đất Quảng Bình, khi ấy người con trai thứ năm của ông là Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật (cha của Nguyễn Hữu Cảnh) mới được 5 tuổi. Trưởng thành, Nguyễn Hữu Dật cùng vợ Nguyễn Thị Thiện đã cùng đồng cam, cộng khổ với chúa Nguyễn trong cuộc đối đầu với chúa Trịnh. Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hữu Cảnh chuyên tâm luyện tập võ nghệ, rèn luyện bản thân với niềm hy vọng lớn lao được cống hiến sức mình cho chúa Nguyễn. Trí thông minh cùng sự nỗ lực hết mình của bản thân, ông đã lập nên nền hành chính Nam Kỳ- một trung tâm đô hội của vùng đất phía Nam.  

            Hành trình mở cõi về phía Nam của cha ông ta được tính từ thời Lý, trải qua các triều đại phong kiến lãnh thổ Đại Việt được mở rộng dần cho tới năm 1635, chúa Nguyễn Phúc Nguyên dời thủ phủ vào Kim Long, bên bờ sông Hương và Phú Xuân - Huế ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong hành trình mở cõi của dân tộc Việt Nam. Đối với vùng đất Nam Bộ cho đến thế kỷ XVII vẫn còn hoang vu, mà nhà truyền giáo Alexandre de Rhode đã mô tả “quạnh hiu, hoang mạc” và chú thích “không có vật gì thuộc về sự sống”, cuốn Phủ biên tạp lục cũng khẳng định: “…từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm” [1, tr 439-440]. Trong một thời gian khá dài (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII), vùng đất Nam Bộ “hình như đang ở trong quá trình hoang hóa do sự tan rã cơ cấu dân cư. Những nhóm người thưa thớt chỉ còn quần tụ ở một số vùng Vũng Tàu- Bà Rịa, Prei Nokor, Sóc Trăng, Trà Vinh, Thất Sơn,… Trừ một vài nhóm lẻ tẻ người Khmer nghèo khổ đi tìm cuộc sống … , trong một thời gian dài vùng hoang dã Nam Bộ là nơi bôn tẩu, ẩn nấp của những phe phái thất thế, những “phó vương”, “đệ nhị vương”,… khi tranh giành quyền lực ở triều đình Chân Lạp, nơi tụ họp của các phần tử bất hảo, nơi những người Khmer nghèo bị áp bức bóc lột đến lánh nạn,… Những người dân này không bị ràng buộc bởi một chính quyền nào” [2, tr 37]. Điều đó đã thể hiện khả năng quản lý yếu cùng với sự thờ ơ vùng đất này của Chân Lạp tạo điều kiện cho chúa Nguyễn nhanh chóng mở rộng lãnh thổ vào Đàng Trong. Năm 1691, vua Chiêm Thành thường đưa quân vượt biên giới, sát hại dân Việt ở Diên Ninh (Diên Khánh), tình hình biên giới Việt- Chiêm căng thẳng. Năm Quý Dậu (1693) vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn Phúc Chu phái quan tổng binh Nguyễn Hữu Cảnh đem binh bình định vùng biên cương, “bắt được Bà Tranh và bọn thần tử là Tả trà Viên, Kế bà Tử cùng thân thuộc là Bà Ân đem về Phú Xuân. Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận phủ, cho Tả trà Viên, Kế bà Tử làm chức Khám lý và ba người con của Bà Ân làm đề đốc giữ Thuận phủ, lại bắt phải đổi y phục theo như người Việt Nam để phủ dụ đất Chiêm Thành. Qua năm sau lại đổi Thuận phủ ra làm Thuận Thành trấn, cho Kế bà Tử làm đô đốc” [3, tr 81- 82]. Vị quan trấn thủ đầu tiên vùng đất mới mở- Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh đã nhanh chóng thiết lập hệ thống cai quản, tổ chức nhân dân khẩn hoang, ổn định cuộc sống, đề ra chính sách hòa đồng sắc tộc Chăm - Việt. Công việc bình định vừa xong, một nhóm người Thanh, đứng đầu là A Bân xúi giục bè đảng dấy loạn, ông lại nhận chỉ lệnh đi dẹp loạn và được cử làm trấn thủ dinh Bình Khương (nay là Khánh Hòa, Ninh Thuận).

Tháng hai, năm Mậu Dần (1698), vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, xác định chủ quyền của người Việt trên vùng đất mới. Theo đường biển, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến ở tại cù lao Phố còn gọi là Đông Phố (cảng sầm uất nhất miền Nam lúc bấy giờ). Ông cho đặt bản doanh tại cù lao Phố, nghiên cứu vùng đất này và nhận xét đất đai rộng mênh mông nhưng toàn là sình lầy, rừng rậm trong khi đó nhân lực thì ít, di dân lập ấp tự do không quy củ, đời sống sinh hoạt của cư dân quá khó khăn. Vùng đất đai hoang hóa, hiểm trở, sông rạch chằng chịt, gai góc ngút ngàn, đầy rẫy hang ổ của các loài mãnh thú, ác ngư, thật đúng là “ Đồng Nai địa thế hãi hùng; Dưới sông sấu lội, trên giồng cọp um…”. Với ý chí quả cảm, bất chấp tất cả mọi khó khăn, ông nhanh chóng vạch ra kế sách chiêu mộ lưu dân, khuyến khích khai hoang, ổn định dân tình, dàn xếp biên cương, thiết lập cơ sở hành chính thôn xã, lập Gia Định phủ trên phần đất từ sông Đồng Nai đến sông Tiền và chính thức cho sát nhập vào bản đồ Đại Việt (hai vùng Tân An và Gò Công chưa nội thuộc chủ quyền người Việt). Ông “lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Đặt Trấn Biên dinh (tức là Biên Hòa) và Phiên Trấn dinh (tức là Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn những người Tàu ở đất Trấn Biên (Biên Hòa) thì lập làm Thanh Hà xã; những người ở đất Phiên Trấn (Gia Định) thì lập làm Minh Hương xã. Những người ấy thuộc về sổ bộ nước ta” [3, tr 81- 82]. Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai quản. Nha thuộc có 2 ty là Xá sai ty (coi việc văn án, từ tụng, dưới quyền quan Ký lục) và Lại ty (coi việc tài chính, do quan Cai bộ đứng đầu). Quân binh thì cơ, đội, thuyền, thủy bộ binh và thuộc binh để canh phòng thôn trang và bảo vệ chủ quyền vùng đất mới mở. Phủ Gia Định lúc bấy giờ từ Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến Long An. Đất đai được mở rộng ngàn dặm, dân chúng “tứ vạn hộ” được quy tụ thành các xóm làng có sổ đinh, sổ điền. Tất cả người Hoa cùng đều nhập sổ bộ nước ta, nhưng theo cách quản lý của Nguyễn Hữu Cảnh thì người Hoa tập trung sinh sống ở hai nơi: Thanh Hà xã, huyện Phước Long (Đồng Nai, Biên Hòa) và Minh Hương xã, huyện Tân Bình (Sài Gòn, Bến Nghé). Để đảm bảo thương mại phát triển, sự giao lưu thông suốt giữa các vùng dân cư trong Phủ, ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông, lấy khu chợ nổi Nhà Bè cổ nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch, thương lưu với cù lao Phố, Bến Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cần Giuộc) và Gò Vấp. Nhờ vậy, tàu thuyền chở hàng hóa có thể ra vào một cách dễ dàng. Đặc biệt, bến tàu Châu Đại Phố của nhóm thương nhân người Hoa đã được củng cố lại, đảm bảo hoạt động quy củ với tên gọi mới cảng Đại Phố. Dân chúng được chiêu mộ chủ yếu từ châu Bố Chánh (Quảng Bình), Quảng Nam, các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn đến vùng đất mới làm ăn, bởi vậy số dân lúc bấy giờ đã lên tới 4 vạn hộ, yên tâm chung vai gánh vác công cuộc mở cõi. Cuộc sống của dân cư nhanh chóng ổn định và khá phát triển. Trong cuốn “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đề cập: Hàng năm vào tháng 11, tháng 12- tháng giã thành gạo, bán lấy tiền để ăn tết chạp. Từ tháng giêng trở đi là không làm việc xay giã. Bình thời chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa lĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp, ít có vải bố. Đất ấy nhiều ngòi lạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ. Người buôn có chở thuyền lớn thì tất đèo theo xuồng nhỏ để thông đi các kênh. Từ cửa biển đến đầu nguồn đi 6- 7 ngày, hết thảy là đồng ruộng bằng phẳng, bát ngát, rất thích hợp trồng các loại lúa nếp, lúa tẻ, gạo đều trắng dẻo.

Từng bước từng bước một, chủ quyền của người Việt được xác lập trên vùng đất Nam Bộ. Tổ chức bộ máy chính quyền từ cấp dinh, trấn cho đến tận các thôn, xã được thống nhất, Nhà nước quản lý đất đai, hộ khẩu, thu thuế và trưng thu các nguồn lợi tự nhiên. Sài Gòn- Gia Định đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng đất mới. Như vậy, tính từ thời điểm cuộc hôn nhân Chey Chetta II- Ngọc Vạn 1620, qua công chúa Ngọc Vạn (hoàng hậu Chân Lạp), người Việt được tự do vào khai hoang, kinh doanh ở Prey Nokor, Đồng Nai (Biên Hòa), Mô Xoài (Bà Rịa)… ngày càng nhiều. Mối quan hệ giữa người Chân Lạp và người Việt thân tình, thường xuyên giúp đỡ nhau; đến năm 1698, chủ quyền người Việt được xác lập chính thức từ Đồng Nai đến bên bờ tả ngạn sông Tiền, nhưng bước khai phá của người Việt đã vượt qua sông Tiền, sông Hậu tiến sát đến Cà Mau, Hà Tiên. Người Việt đã vượt biển và nhận thấy khả năng giao lưu khá thuận lợi bằng hệ thống sông rạch của vùng đất Nam Bộ. Bằng khối óc, đôi bàn tay khéo léo, mồ hôi, nước mắt, xương máu những con người đó đã biến miền đất hoang sơ thành đồng ruộng phì nhiêu, phố phường ngày càng phồn thịnh. Điều này khẳng định xu thế phát triển về phương Nam của người Việt trong lịch sử.

Năm 1699, vua Chân Lạp là Nặc Thu đắp lũy Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam cướp bóc dân buôn người Việt. Tướng Long môn là Trần Thượng Xuyên bấy giờ đóng giữ Doanh Châu (cù lao Giêng) báo lên. Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ Thành hầu

                 Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất cùng Phó tướng Phạm Cẩm Long, Tham tướng Nguyễn Hữu Khánh đem quân lính, thuyền chiến hợp cùng tướng Trần Thượng Xuyên lo việc đánh dẹp và an dân. Lực lượng thủy binh của ông đã tiến thẳng đến thành La Bích (NamVang), đánh tan quân Nặc Thu. Vua Chân Lạp đầu hàng, nơi đây Nguyễn Hữu Cảnh sử dụng chính sách đoàn kết các dân tộc, không phân biệt đối xử dù là Khmer, Hoa hay Việt, khuyến khích giữ gìn tình thân thiện, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc gặp khó khăn, hoạn nạn, dân chúng tin theo.

 Tháng 4 năm 1700, Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân tiến kéo về đóng ở cồn Cây Sao còn gọi là cù lao Sao Mộc hay Tiêu Mộc hoặc châu Sao Mộc, sau này dân địa phương nhớ ơn ông nên gọi là cù lao Ông Chưởng (nay thuộc chợ Mới, An Giang), báo tin thắng trận về kinh. Theo Gia Định thành thông chí thì tại đây, một thời gian ông bị “nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến lạo tướng sĩ, rồi bị trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14 ông kéo binh về, ngày 16 đến đến Sầm Giang (Rạch Gầm, Mỹ Tho) thì mất [4, tr 179] để lại bao nuối tiếc thương của nhân dân Đại Việt. Mộ phần của ông được an táng tại cù lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai). Năm 1802, sau khi được cải táng về địa táng tại Thác Ro, Trường Thủy, huyện Lệ Thủy theo câu sấm của tiền nhân dòng họ: “Thượng Yên Mã, hạ đùng đùng, trung trung nhất huyệt” (Trên là núi Yên Mã, dưới có phá Hạc Hải, giữa nhất quyết hạ huyệt).

 Sự khai phá, xác định chủ quyền người Việt ở vùng đất mới của Nguyễn Hữu Cảnh là cơ sở để chúa Nguyễn từng bước thu phục các vùng đất khác. Từ khi Gia Định phủ ra đời, thế lực của chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ phát triển ngày càng mạnh, ngược lại thế lực của Chân Lạp đang suy yếu do mâu thuẫn nội bộ tranh giành ngai vàng, quân Xiêm đang ngày đêm trông chờ cơ hội để chen vào can thiệp. Mạc Cửu nhận thấy cần phải dựa vào chúa Nguyễn để tiếp tục củng cố và mở rộng thế lực vùng đất Hà Tiên, nên xin dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn (1708). Sự kiện đất Hà Tiên được sát nhập vào lãnh thổ của chúa Nguyễn, mở ra bước ngoặt cho hành trình mở cõi, chỉ trong vòng nửa thế kỷ mà chúa Nguyễn đã chiếm lĩnh trọn đất đồng bằng sông Cửu Long. Năm Đinh Sửu (1757), chúa Nguyễn tiếp quản vùng đất Tầm Phong Long do Nặc Ông Tôn dâng tặng (tức vùng từ Sa Đéc lên đến vùng biên giới đầu nguồn, từ phía Bắc đến phía Nam sông Tiền, sông Hậu hiện nay), lập nên các đơn vị hành chính miền Tây Nam Bộ: đạo Tân Châu, đạo Châu Đốc, đạo Đông Khẩu. Lần lượt 5 phủ phía Tây Hà Tiên là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh thuộc về chúa Nguyễn. Hà Tiên và Tầm Phong Long được sát nhập lãnh thổ Đàng Trong đánh dấu hành trình mở cõi về phía Nam hoàn thành, góp phần ngăn chặn tham vọng “Đông tiến” của người Xiêm, đập tan âm mưu khuynh đảo, cát cứ của đám người Hoa lưu vong, hoạch định biên giới quốc gia của cha ông ta tạo nên sự ổn định an ninh khu vực Đông Nam Á trong thế kỷ XVIII.

Nguyễn Hữu Cảnh- vị tướng khai biên xuất sắc, nhà chính trị tài giỏi, nhân hậu, yêu quê hương, đất nước tha thiết. Công đức và nhân cách của ông ấn đọng sâu sắc trong tiềm thức của người dân và mãi mãi được lưu truyền hậu thế. Nhân dân vùng đất mới khai phá, người Việt cũng như người Hoa, Chăm… đều nhớ ơn ông- người đã giúp họ khai hoang- mở đất- an cư- lạc nghiệp và đã lập đền thờ hoặc lập bài vị ông ở nhiều nơi: Nam Vang (Cam- pu- chia), Quảng Bình, Quảng Nam, Biên Hòa, Long Xuyên, Châu Đốc… Vùng đất mới mở rộng mãi mãi là một phần đất của nước Việt, chủ quyền lãnh thổ của nước Việt Nam được khẳng định. Thế hệ con cháu chúng ta hôm nay và mai sau luôn có ý thức phấn đấu hết sức mình gìn giữ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh./. 

Quảng Bình hiện còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa phi vật thể và các lễ hội truyền thống đặc sắc như lễ hội cầu ngư, đua thuyền trên sông Kiến Giang, hát bài chòi miền Trung…

 

5. ẨM THỰC QUẢNG BÌNH

Đến Quảng Bình, quý khách đừng bỏ qua những món đặc sản nổi tiếng:

·         Bánh bột lọc Quảng Bình

Quảng Bình không chỉ nổi tiếng với hàng loạt địa danh nổi tiếng như Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình mà nơi đây còn được xem là tỉnh thành sở hữu danh sách món ngon được chế biến dân dã nhưng lại khiến không ít người nhớ mãi. Và một trong những đặc sản không thể thiếu khi ai đó hỏi: “Ăn gì khi du lịch Quảng Bình?” chính là món Bánh bột lọc Quảng Bình.

Bánh bột lọc, tên gọi khác của bánh lọc, vốn là đặc sản nổi tiếng của Cố đô Huế. Tuy nhiên, khi đến với Quảng Bình thì nó được biến tấu bởi một vài hương vị khác, cũng vì thế mà Bánh bột lọc Quảng Bình đã trở thành một món đặc sản hấp dẫn ở nơi này. Có thể nói, không ai đến Quảng Bình mà lại không muốn trải nghiệm loại bánh này và mua về làm quà cho người thân, bạn bè cơ đấy. Đặc biệt, giá bánh không cao, chỉ có vài chục nghìn nên bạn tha hồ mua với số lượng lớn mà không bị “cháy túi" nha. 

Cái tên Bánh bột lọc Quảng Bình thoạt nghe có vẻ kỳ lạ, nên hầu hết ai cũng sẽ nghĩ rằng nó được chế biến khá kỳ công và phức tạp. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không đúng đâu nè. Nguyên liệu làm Bánh bột lọc Quảng Bình khá đơn giản và đặc biệt rất gần gũi với người dân, đồng thời nó khá giống với nguyên liệu để làm Bánh bèo Quảng Bình. Bánh bột lọc được làm chủ yếu từ bột sắn tươi cùng với đó là hỗn hợp nhân bánh gồm: mộc nhĩ, tôm, thịt, đậu xanh và một vài gia vị khác. Và điều quan trọng nhất là bánh được gói bằng lá chuối mang một màu sắc rất dân dã. Chỉ với ngần ấy nguyên liệu nhưng Bánh bột lọc Quảng Bình cũng đủ khiến mọi người nhớ mãi vị ngon đậm đà của nó. 

Để thưởng thức Bánh bột lọc Quảng Bình ngon và đúng chuẩn nhất, bạn nhớ ăn cùng hỗn hợp nước chấm được pha chế đậm đà nhé. Thông thường, công thức nước chấm ăn kèm của các quán sẽ bao gồm vị cay nồng của ớt, chút vị ngọt của đường hoà lẫn với nước mắm thơm. Chỉ cần kết hợp với nước chấm khi ăn thôi là trải nghiệm thưởng thức món Bánh bột lọc Quảng Bình của bạn chắc hẳn sẽ rất khó quên bởi vị ngon rất tuyệt. 

Là một món đặc sản trứ danh, Bánh bột lọc Quảng Bình được bán nhiều tại các gánh hàng rong hay tại một số địa điểm cụ thể. MIA.vn gợi ý cho bạn một vài địa chỉ quán ngon bên dưới đây nhé:

Quán Mệ Xuân, địa chỉ: Đường Lê Thành Đồng, TP Đồng Hới

Quán Hoài Dương, địa chỉ: Đường Lê Thành Đồng, TP Đồng Hới

Quán Dì Thái, địa chỉ: Số 11 đường Đồng Hải, TP Đồng Hới

Quán Dì Thuỷ, địa chỉ: Số 11 đường Thanh Niên, TP Đồng Hới

Nhà hàng Cube, địa chỉ: Số 35 đường Lê Thành Đồng, TP Đồng Hới

Quán Mẹ Như, địa chỉ: Số 10 đường Đồng Hải, TP Đồng Hới

Quán Tứ Quý, địa chỉ: Số 17 đường Cô Tám, TP Đồng Hới

Quán Cô Thường, địa chỉ: Số 11 đường Bà Triệu, TP Đồng Hới 

·         Cháo canh Quảng Bình

Khi nhắc đến ẩm thực miền Trung, không thể không nhắc đến Cháo Canh Quảng Bình – một món ăn độc đáo mang đậm hương vị quê hương. Được coi như “linh hồn” của ẩm thực Quảng Bình, cháo canh không chỉ đơn thuần là một món ăn mà còn chứa đựng cả tình cảm, văn hóa của con người nơi đây. Để chuyến đi du lịch Quảng Bình của bạn trọn ven hơn.Hãy cùng khám phá hương vị đặc trưng của cháo canh Quảng Bình và lý do tại sao nó lại làm say lòng bao thực khách.

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Cháo Canh

 

Sự Kết Hợp Độc Đáo

Cháo canh là sự kết hợp giữa hai món ăn quen thuộc: cháo và canh. Tuy nhiên, nó không giống hoàn toàn với bất kỳ món cháo hay canh nào khác.

Món ăn này được người dân Quảng Bình sáng tạo dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có và điều kiện sống khắc nghiệt của vùng đất miền Trung.

Biểu Tượng Văn Hóa Địa Phương

Cháo canh không chỉ là một món ăn mà còn là biểu tượng cho sự giản dị, mộc mạc và tình người ấm áp của người dân Quảng Bình.

Mỗi bát cháo canh đều chứa đựng tinh hoa ẩm thực, sự khéo léo và tâm huyết của người nấu.

Thành Phần Và Cách Chế Biến Cháo Canh Quảng Bình

 

1. Nguyên Liệu Chính

Bột mì hoặc bột gạo: Dùng để làm sợi bánh canh.

Thịt lợn, tôm hoặc cá lóc: Tạo độ ngọt tự nhiên cho nước dùng.

Hành tím, hành lá, ngò rí: Tăng hương vị và màu sắc cho món ăn.

Gia vị: Nước mắm, muối, tiêu, đường, ớt. 

2. Chế Biến Sợi Bánh Canh

Nhào bột: Trộn bột mì hoặc bột gạo với nước ấm, thêm chút muối, nhào đến khi bột dẻo mịn.

Cán bột và cắt sợi: Cán mỏng bột, sau đó cắt thành sợi dài, độ dày tùy ý.

Luộc sợi bánh: Thả sợi bánh vào nước sôi, nấu đến khi nổi lên và chín đều. 

3. Nấu Nước Dùng

Xào nguyên liệu: Phi thơm hành tím, cho thịt lợn, tôm hoặc cá vào xào săn.

Đun nước dùng: Thêm nước vào nồi, đun sôi, nêm gia vị vừa ăn.

Tinh chỉnh hương vị: Nấu nhỏ lửa để nguyên liệu chín mềm, nước dùng ngọt thanh. 

4. Hoàn Thiện Món Cháo Canh

Kết hợp sợi bánh và nước dùng: Cho sợi bánh đã luộc vào bát, chan nước dùng nóng hổi lên trên.

Trang trí: Rắc hành lá, ngò rí, thêm chút tiêu và ớt để tăng hương vị. Khám Phá Hương Vị Độc Đáo Của Cháo Canh Quảng Bình. 

Hương Vị Đặc Trưng Của Cháo Canh Quảng Bình

 

Sợi Bánh Mềm Dai

Tự làm thủ công: Sợi bánh canh được làm từ bột mì hoặc bột gạo, tạo độ dai mềm tự nhiên.

Hấp dẫn: Khi ăn, sợi bánh thấm đẫm nước dùng, mang lại trải nghiệm thú vị cho vị giác. 

Nước Dùng Đậm Đà

Vị ngọt tự nhiên: Nước dùng được nấu từ xương và hải sản, tạo độ ngọt thanh, không cần dùng nhiều gia vị.

Hương thơm đặc trưng: Kết hợp mùi thơm của hành tím, hành lá và ngò rí. 

Sự Hòa Quyện Hoàn Hảo

Đậm đà nhưng không ngấy: Cháo canh Quảng Bình mang đến cảm giác no bụng nhưng không hề ngán.

Phù hợp với mọi thời tiết: Món ăn thích hợp cho cả ngày hè và mùa đông, mỗi thời điểm lại mang đến cảm nhận khác nhau. 

Địa Chỉ Thưởng Thức Cháo Canh Quảng Bình Chính Gốc

1. Quán Mệ Luận

Địa chỉ: 179 Lý Thường Kiệt, Đồng Hới, Quảng Bình.

Đặc điểm: Quán gia đình với hương vị truyền thống, giá cả phải chăng.

2. Cháo Canh Bà Hồng

Địa chỉ: 51 Nguyễn Hữu Cảnh, Đồng Hới, Quảng Bình.

Đặc điểm: Nổi tiếng với nước dùng đậm đà, sợi bánh dai mềm.

3. Quán Gia Bảo

Địa chỉ: 8 Lê Thành Đồng, Đồng Hới, Quảng Bình.

Đặc điểm: Không gian sạch sẽ, phục vụ nhiệt tình, món ăn chuẩn vị. 

·       Bánh Bèo Quảng Bình

Đôi nét về Bánh bèo Quảng Bình

Quảng Bình luôn được người dân nhắc đến với niềm tự hào bởi những địa danh nổi tiếng như Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bên cạnh đó, họ cũng không quên ngợi ca danh sách món ngon bình dân như mắm lẹp hay Mắm ruốc Quảng Bình… Và dĩ nhiên, Bánh bèo Quảng Bình là cái tên không thể thiếu trong danh sách các món ngon được khen ngợi rồi nè. Chỉ với một đĩa bánh bèo tròn đều được sắp xếp đầy đủ hình bông hoa, có các món thịt tôm vàng ươm rải đều cùng chút tóp mỡ chắc chắn sẽ khiến bạn nhớ mãi.

Là một trong những món đặc sản được thưởng thức chủ yếu vào mỗi ngày thức giấc, Bánh bèo Quảng Bình chẳng khác nào “lời chào" tiếp thêm năng lượng cho chiếc bao tử của thực khách, chuẩn bị cho một ngày mới tràn đầy năng lượng. Với mức độ ưa chuộng như vậy, bạn có thể bắt gặp những hàng quán phục vụ Bánh bèo Quảng Bình ở rất nhiều cung đường khác nhau. 

 

Có gì đặc sắc trong đĩa Bánh bèo Quảng Bình?

Đặc sản Quảng Bình có khá nhiều món được chế biến từ nguyên liệu bột gạo như: Bánh bột lọc Quảng Bình hay Bánh khoái Quảng Bình, và bánh bèo cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, mỗi loại đặc sản đều có những hỗn hợp nguyên liệu khác nhau và hình dạng thành phẩm cũng có nét riêng biệt. 

Để làm được những chiếc Bánh bèo Quảng Bình có hình dạng giống nhau như đúc thì chủ quán thường sẽ sử dụng chiếc khuôn bằng nhôm, có nhiều ô tròn khác nhau. Cách làm bánh bèo khá đơn giản, bạn chỉ cần đổ hỗn hợp bột và nước đã hoà vào nhau trước đó vào khuôn bánh đang được bắt trên bếp, bật lửa đun nhỏ cho đến khi nào bánh chín thì có thể nhấc ra rồi nè. Đặc biệt, phần nhân bánh được làm từ tôm biển tươi được luộc qua và bóc sạch vỏ, sau đó chúng được giã nhỏ và cho vào ngấm với gia vị và rải đều lên những chiếc bánh chín đã được xếp trên đĩa. Nhờ vào quy trình chế biến tỉ mỉ mà phần nhân bánh khiến không ít thực khách phải say mê vì vị ngon đậm đà của nó. 

 

Ngoài những chiếc khuôn lớn, người dân Quảng Bình vẫn thường dùng chén để tạo nên những phần bánh bèo hấp dẫn. Ảnh: @songloan

Một trong những điểm nhấn của Bánh bèo Quảng Bình chính là phần nước mắm được pha loãng với ớt cay tuỳ theo khẩu vị của mỗi người. Khi ăn, các bạn nhớ dùng thìa lấy vừa đủ lượng nước mắm, đổ đều lên từng chiếc bánh và từ từ thưởng thức nhé. Thú vị hơn là gần đây người dân Đồng Hới còn biến tấu thêm món bánh bèo đế dày, nguyên liệu thì vẫn đầy đủ bột gạo, tôm và tóp mỡ nè. Tuy nhiên, bánh được đúc sáng tạo hơn bằng những khuôn bánh có hoa văn đặc sắc khác với những chiếc bánh bình thường. Bánh bèo đế dày thường sẽ khiến các bạn có cảm giác nhanh no hơn, do đó bạn có thể cân nhắc và chọn loại bánh bèo theo sở thích của mình nhé. 

 

Gợi ý địa điểm thưởng thức Bánh bèo Quảng Bình đúng chuẩn

Quán Cô Vân - Địa chỉ: Số 80 đường Lê Thành Đồng, TP Đồng Hới

Quán Dì Tiếp - Địa chỉ: Số 27 đường Lê Thành Đồng, TP Đồng Hới 

Quán Tứ Quý - Địa chỉ: Số 17 Cô Tám, TP Đồng Hới

Quán Cô Nhơn - Địa chỉ: Đường Đồng Hải, TP Đồng Hới

Quán bánh bèo Mệ Hải - Địa chỉ: Số 23 Phan Đình Phùng, TP Đồng Hới

Quán bánh bèo Anh Đào - Địa chỉ: Số 11 Đồng Lực, TP Đồng Hới 

·         Khoai deo

Khoai deo - món đặc sản dân dã mà độc đáo của vùng đất Quảng Bình

Bạn sẽ cảm nhận được một hương vị ngọt bùi đang tan ngay trên đầu lưỡi khi ăn khoai deo Quảng Bình vừa thơm vừa dẻo. 

Khoai deo ngon phải là loại khô nhưng dẻo như mạch nha. Khoai lang là món ăn dân dã, thường được chế biến thành nhiều món khoai lang nướng, nấu súp, làm mứt, chiên… rất quen thuộc và ai cũng biết. Nhưng ở Quảng Bình, có một món ăn độc đáo, đặc sản nổi tiếng chế biến từ khoai lang là khoai deo. 

 

Cách chế biến khoai deo

Nguyên liệu được lựa chọn để làm ra khoai deo là loại khoai lang đỏ được tròng ở các triền cát trắng tại xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh, Quảng Bình). Củ khoai có hình dạng giống củ sâm và được trồng trên đất cát.

Vì muốn tạo nên một món ăn chơi, người dân đã chế biến ra khoai deo để có thể bảo quản được lâu. Dần dần, nhờ hương vị độc đáo và khác biệt mà cái tên này đã trở thành một đặc sản níu chân thực khách.

Thôn Tân Định là cái nôi sản xuất khoai deo nức tiếng của Hải Ninh và cũng là nơi sản xuất khoai deo lớn nhất ở Quảng Bình.

Để cho ra những lát khoai deo mềm, dẻo, ngọt thì khâu quan trọng nhất là khâu ủ khoai. Khoai Lang đỏ sau khi được thu hoạch phải được đem phơi khoảng 2 giờ ngoài trời sau đó đặt ở một nơi thoáng mát, che bóng, che phủ và ủ trong khoảng 10 ngày. Người dân phải bảo quản ở nơi thật khô thoáng để chúng không không bị mọc mầm.

Khi nào thấy khoai hết độ căng mọng, người dân sẽ đem đi rửa sạch và luộc chín. Khi khoai mềm mới xắt thành từng lát mỏng theo chiều dọc rồi lại đem đi phơi nắng thật to. 

 

Nguyên liệu được lựa chọn để làm ra khoai deo là loại khoai lang đỏ.

Lát khoai cắt ra phải được phơi cao ráo trên nền cát, dưới được lót bằng một lớp cây rười (một loài cây mọc trên vùng cát) thì mới không bị dính vào giá phơi.

Khoai phải phơi từ 10-12 nắng cho đến khi miếng khoai săn thịt và chuyển hẳn sang màu cánh gián, gọi là lát deo.

 

Đến Quảng Bình, đừng bỏ lỡ món đặc sản lẩu cá khoai nức tiếng

Là món một món ăn ngon và bổ dưỡng, đại diện cho nền  ẩm thực rất phong phú của Quảng Bình, lẩu cá khoai đã được bình chọn là một trong 100 món ăn ẩm thực tiêu biểu nhất Việt Nam.

Tính từ khi còn tươi cho đến lúc thành phẩm, khoai deo mất chừng một tháng và trải qua nhiều công đoạn. Trong suốt quá trình chế biến khoai, nếu không may gặp phải một trận mưa, mẻ khoai đó coi như mất trắng.

Hiện nay, tại xã Hải Ninh, có khoảng 250 hộ dân đang làm nghề khoai deo tập trung phần lớn tại hai thôn Tân Định và Hiển Trung. Trung bình mỗi năm có thể sản xuất gần 300 tấn khoai deo để xuất bán khắp cả nước.

 

Thưởng thức khoai deo ngon đúng điệu 

Khoai deo ngon phải là loại khô nhưng dẻo như mạch nha, có màu đỏ vàng tựa mật ong và vị ngọt mát giống đường phèn.

Cái hay của việc thưởng thức khoai deo Quảng Bình cũng làm người ta nhớ mãi. Bạn sẽ cảm nhận được một hương vị ngọt bùi đang tan ngay trên đầu lưỡi khi ăn khoai deo Quảng Bình vừa thơm vừa dẻo.

Lúc đầu, bạn sẽ thấy hơi bất ngờ với độ cứng kỳ lạ chẳng giống khoai chút nào của chúng. Để thưởng thức món ăn này đúng cách, bạn phải từ tốn, chầm chậm nhấm nháp và cảm nhận từng chút một hương vị.

Khi miếng khoai đã dần mềm ra, chúng ta sẽ bắt đầu nhai và thấy được cái dẻo thơm của khoai đang lan tỏa trong cuống họng. Đó là chút hương vị bùi bùi, thơm thơm tinh tế hòa quyện vào nhau khiến người ta cứ muốn chìm đắm mãi. Bạn có thể thử nhâm nhi từng lát khoai bên ly trà nóng, giữa không gian tiết trời lành lạnh.

Những lợi ích của khoa deo

Cải thiện bệnh tiểu đường: Tác dụng của khoai lang phải kể đến đầu tiên là cải thiện bệnh tiểu đường. Khoai lang có chỉ số glycemic thấp hơn so với khoai tây. Nó còn chứa nhiều chất xơ (khoảng 5g trong 3/4 mỗi chén khoai) giúp cơ thể tiêu hóa chậm và đem lại cảm giác no lâu hơn. 

Tốt cho người mắc bệnh tăng huyết áp: Để hạ huyết áp, việc duy trì lượng natri thấp trong cơ thể là rất cần thiết. Tuy nhiên, bạn đừng quên hấp thụ nhiều kali cho cơ thể cũng rất quan trọng. Nếu cung cấp đủ lượng kali thiết yếu cho cơ thể, bạn sẽ giảm được nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp. Trung bình một củ khoai chứa 542 mg kali cho cơ thể, do đó khoai lang rất tốt cho người mắc bệnh tăng huyết áp.

Tốt cho hệ tiêu hóa: Một trong những tác dụng của khoai lang đối với sức khỏe là chức năng cải thiện hệ tiêu hóa. Với lượng lớn chất xơ có tác dụng ngăn ngừa chứng táo bón, đồng thời thúc đẩy đường tiêu hóa hoạt động tốt hơn. Vitamin C và các axit amin chính là thành phần giúp kích thích nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa thức ăn trở nên nhanh hơn, chống tình trạng đầy bụng, khó tiêu và ngăn ngừa táo bón./. 

·         Bánh khoái Đồng Hới

Bên cạnh những điểm đến hấp dẫn, tuyệt đẹp, Quảng Bình còn là một "thiên đường ẩm thực" với vô vàn món ăn đặc sản nức tiếng, làm say lòng bao thực khách. Không chỉ có bánh lọc, bánh nậm dẻo thơm, hay món cháo canh đậm đà, nơi đây còn một món ăn dân dã nhưng đầy cuốn hút đã trở thành biểu tượng của ẩm thực địa phương: bánh khoái.

 

Bánh khoái là gì?

Bánh khoái là một món bánh truyền thống, dân dã, thường bị nhầm lẫn với bánh xèo ở miền Nam. Tuy nhiên, dù có hình thức khá tương đồng, bánh khoái Quảng Bình lại mang một nét rất riêng, không thể trộn lẫn.

So với bánh xèo Nam Bộ, bánh khoái thường có kích thước lớn hơn, vỏ bánh dày và giòn rụm hơn. Nguồn gốc tên gọi "khoái" cũng rất thú vị, được cho là gắn liền với cảm xúc "thích thú", "khoái khẩu" của người ăn khi thưởng thức món bánh nóng hổi, giòn tan.

Bánh khoái hấp dẫn nhất ở sự hòa quyện hoàn hảo của từng thành phần. Lớp vỏ bánh giòn tan, vàng ruộm bao bọc lấy phần nhân tôm thịt, trứng, giá đỗ thơm béo, đậm đà.

Tuy nhiên, yếu tố làm nên tên tuổi của món bánh khoái là ở nước lèo chấm độc đáo. Khác với nhiều loại nước chấm bánh xèo khác, nước lèo bánh khoái được chế biến từ gan heo xay nhuyễn, đậu phộng rang giã nhỏ, mè rang và các gia vị bí truyền. Sự kết hợp này tạo nên một thứ nước chấm sền sệt, béo ngậy, thơm lừng và đậm đà khó cưỡng, mang lại sự khác biệt rõ nét và nâng tầm món bánh.

Cách ăn đúng "chuẩn Quảng Bình" là bạn sẽ dùng tay xé từng miếng bánh, cuộn cùng các loại rau sống thanh mát, một lát chuối chát và chấm ngập trong chén nước lèo sánh mịn. Hương vị hòa quyện giữa vị giòn của bánh, ngọt của nhân, thanh mát của rau và đậm đà của nước chấm sẽ khiến bạn phải xuýt xoa.

 

Cách làm bánh khoái chuẩn vị

Để tạo nên món bánh khoái Quảng Bình trứ danh, người dân địa phương đã khéo léo kết hợp những nguyên liệu đơn giản nhưng tinh túy. Vậy bánh khoái làm từ gì và cách làm bánh khoái Quảng Bình truyền thống có gì đặc biệt?

Nguyên liệu chính gồm có:

Bột gạo được xay từ loại gạo ngon, tạo nên độ giòn đặc trưng cho vỏ bánh.

Nhân bánh đa dạng với tôm tươi, thịt heo ba chỉ thái mỏng, trứng gà và giá đỗ.

Các loại rau sống ăn kèm như xà lách, rau thơm, chuối chát, dưa chuột...

Điểm làm nên sự khác biệt của bánh khoái chính là cách pha bột đặc trưng cùng phương pháp chiên giòn tài tình, giúp vỏ bánh luôn vàng ươm, thơm lừng và giữ được độ giòn rụm hoàn hảo. Nhưng linh hồn của món bánh khoái lại nằm ở nước chấm "thần thánh". Đây không chỉ là nước mắm pha thông thường mà là một loại nước lèo đặc biệt, mang đến hương vị béo ngậy, đậm đà khó quên.

 

Top quán bánh khoái ngon tại Quảng Bình

Đến Quảng Bình mà không thưởng thức bánh khoái thì quả là một thiếu sót lớn. Dưới đây là danh sách những quán bánh khoái ngon Quảng Bình mà bạn nên ghé thăm, đặc biệt là ở trung tâm Đồng Hới:

Bánh Khoái Tứ Quý: Nổi tiếng với hương vị truyền thống và nước lèo đậm đà, được nhiều thực khách địa phương và du khách yêu thích. Quán có địa chỉ tại 17 Cô Tám - Đồng Hải - Đồng Hới - Quảng Bình, mở cửa từ 7h00 đến 22h00 hàng ngày.

Bánh bèo cô Vân: Quán có địa chỉ tại 80 đường Lê Thành Đồng - Bắc Lý - Đồng Hới - Quảng Bình, mở cửa từ 7h00 đến 21h00 hàng ngày. 

·         Đẻn biển

Đẻn biển món ngon tại Quảng Bình nhưng ít người biết đến. Nếu ai về quê hương bên dòng sông Nhật Lệ hẳn sẽ có dịp thưởng thức những món ngon từ đẻn biển – vị lạ, vị ngon, vị bổ của nó khiến du khách càng thêm háo hức tò mò…

 

Thưởng thức Đẻn biển tại Quảng Bình

Đẻn biển chính là một loài rắn biển, thân nhỏ và thon dài từ 1 đến 2 mét, có vảy, mình vằn da nhám, đầu nhỏ đuôi dẹt. Đẻn biển là một loài có giá trị cao trong thực phẩm cũng như chữa bệnh.

Những món từ đẻn biển được đánh giá là tươi ngon và bổ dưỡng. Tuy được chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng được người ta biết đến nhiều nhất ở thành phố này là tiết đẻn và ram đẻn.

 

Ram đẻn nóng hổi

Thông thường một con đẻn biển thường được chế biến nhiều món, nhưng không thể thiếu món ram đẻn. Ram đẻn được chế biến từ thịt đẻn kết hợp các gia vị sau đó rán lên. Trên thị trường có bán riêng các ram đẻn này. Tuy nhiên để món ram đẻn được ngon bạn nên thưởng thức nó khi vừa mới chế biến, bởi một con đẻn biển khá nhỏ, số lượng ram hạn chế. Mỗi nhà hàng có một cách chế biến món ram này khác nhau.

Thịt của đẻn chứa nhiều protid và acid amin nên rất ngon và bổ dưỡng. Vị đặc trưng của ram đẻn tại Đồng Hới Quảng Bình thật khó để diễn tả hết bằng lời. Những con đẻn được làm sạch sẽ, lấy hết ruột và huyết đen trên sống lưng, băm thật nhuyễn rồi cho gia vị vào trộn đều.

Ướp được một lúc cho thấm thì đem cuốn lại thành từng chiếc ram nhỏ, bắc lên chảo rán đều. Khi ấy, bạn sẽ cảm nhận một mùi thơm bốc lên thật cuốn hút, chưa ăn nhưng cũng thấy thòm thèm! Một đĩa ram đẻn nóng hổi thơm ngon sẽ khiến du khách bốn phương muốn ở mãi không về.

 

Tiết đẻn

Tiết đẻn (hải xà huyết) là thứ mà du khách bốn phương tò mò muốn thưởng thức hơn cả. Người ta thường lấy tiết đẻn vừa hứng được đem pha với rượu, rất thơm mà còn chữa được bệnh nhức xương. Bạn cũng có thể dễ dàng bắt gặp những bình rượu ngon được trưng bày, bên trong là những con đẻn được ngâm ít nhất 3 đến 5 ngày trước đó.

Hãy một lần nhấm nháp hương vị của rượu tiết đẻn, bạn sẽ cảm thấy cái vị ấm nồng và hơi chát hòa lẫn tạo nên cảm giác rất khó quên. Đẻn còn rất tốt cho phụ nữ, giúp giảm chóng mặt, đau lưng và điều hòa cơ thể, an thần, giúp bạn ăn ngủ tốt hơn.

 

Đẻn biển xào sả ớt

Thịt đẻn biển dai ngon khi xào cùng sả ớt sẽ săn lại, dậy mùi thơm đặc trưng và vị ngọt đẻn. Lai rai trên bàn nhậu có đĩa đẻn biển xào sả ớt thì thú vị không gì bằng. Món ngon này cũng hao cơm phải biết.

Đẻn biển sau khi sơ chế sạch, cắt miếng vừa ăn. Ướp cùng một chút gia vị như muối, dầu hào, sả ớt băm. Làm nóng dầu, phi thơm hành và cho đẻn vào xào. Thêm sả xắt lát cùng ớt thái lát vào đảo đều. Nêm nếm lại cho vừa miệng. Đổ ra đĩa, thưởng thức nóng.

Các món ăn khác được chế biến từ Đẻn biển

Đẻn gồm rất nhiều loại như đẻn kim, đẻn cá, đẻn sọc, đẻn bông, đẻn gai… Mỗi loại đẻn khi chế biến lại có hương thơm và vị ngọt khác nhau. Nào là cháo đẻn, đẻn hầm sả ớt, đẻn bằm xúc bánh đa, chả đẻn, đẻn nướng cuốn lá lốt và đẻn hầm thuốc bắc… Vì thế mà con đẻn luôn được du khách “thích mê”, trước khi thưởng thức những món khác tại các nhà hàng Quảng Bình ven bờ Nhật Lệ.

 

Thưởng thức Đẻn Biển ở đâu

Do khó đánh bắt và chế biến kỳ công nên chỉ có 1 số nhà hàng tại biển Nhật Lệ mới có món đẻn biển tươi này. Thường những con đẻn biển còn sống sau khi được du khách chọn, chủ nhà hàng mới bắt đầu chế biến.

Các nhà hàng có đẻn Biển ngon như Phương Mận, Trung tâm, Cánh Buồm đỏ, Đức Hạnh… Các món ăn được đưa lên dần từng món một để du khách có thể thưởng thức nóng hổi. 

·         Hải sản vùng biển Nhật Lệ

Người Quảng Bình có câu:

“Ai qua Quảng Bình quê ta

Dừng chân một bữa đậm đà tình quê.”

Với lợi thế 191 km đường bờ biển trải dài ở phía Đông, tỉnh Quảng Bình sở hữu nhiều bãi biển đẹp. Trong đó, biển Nhật Lệ nổi bật với làn nước trong xanh, bờ cát trắng mịn và vị trí thuận tiện ngay trung tâm thành phố Đồng Hới. Nơi đây mang vẻ đẹp nguyên sơ pha chút mộc mạc đời thường, mặt biển phẳng lặng, sóng rì rào vỗ nhẹ. Xa xa là những con thuyền đánh cá nối đuôi nhau ngoài khơi, mang về nguồn hải sản tươi ngon với giá cả phải chăng.

Vị trí biển Nhật Lệ nằm trải dài cạnh đường Trương Pháp trung tâm Đồng Hới, chỉ cách sân bay Đồng Hới khoảng 8km, gần ga tàu và nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng. Du khách đến biển Nhật Lệ có thể trải nghiệm các hoạt động đa dạng, từ nghỉ dưỡng, vui chơi đến hoà nhập vào đời sống thường nhật của người ngư dân miền Trung.

 

Các hoạt động và trải nghiệm khi du lịch biển Nhật Lệ

Với bãi biển dài và đẹp, nước biển trong, biển Nhật Lệ là nơi lý tưởng cho những hoạt động thư giãn nhẹ nhàng đến các trò chơi thể thao biển đầy năng lượng. Dù là sáng sớm hay chiều muộn, ban ngày hay ban đêm, du khách đều có thể tận hưởng vẻ đẹp của biển Nhật Lệ theo những cách riêng.

Tắm biển Nhật Lệ và trải nghiệm các hoạt động thể thao dưới nước

Trải dọc tuyến đường Trương Pháp, bãi biển Nhật Lệ mang đến cho du khách nhiều lựa chọn tắm biển phong phú, phù hợp với sở thích và nhu cầu nghỉ dưỡng khác nhau. Trong đó, Bãi tắm Trung tâm Nhật Lệ là điểm đến nổi bật với làn nước trong xanh, bãi cát trắng mịn sạch sẽ cùng dịch vụ tiện ích như giữ đồ và tắm nước ngọt sau khi vui chơi.

Du khách có thể bơi lội và trải nghiệm các trò chơi cảm giác mạnh như lướt ván với mô tô nước, ngồi phao bút chì với mức giá dao động từ 100.000 VNĐ. Bãi cát rộng cũng rất thích hợp để tổ chức các trò chơi tập thể như bóng chuyền bãi biển, kéo co hay những hoạt động nhóm sôi nổi khác. Du khách có thể thuê bóng với mức giá khoảng 70.000 VNĐ.

Cách bãi biển trung tâm Nhật Lệ khoảng 4.4km, Quảng Bình Sup and Camp có bãi tắm yên tĩnh hơn, là nơi du khách có thể tắm biển và trải nghiệm chèo SUP. Nơi đây còn có nhà hàng và bãi trại trên bờ biển, phục vụ nhu cầu ăn uống, cắm trại, đốt lửa trại và nướng BBQ.

 

Trải nghiệm ăn uống hải sản biển Nhật Lệ tươi sống

Biển Nhật Lệ còn thu hút khách du lịch bởi các món hải sản tươi ngon như tôm, mực, điệp, ngao, ghẹ, đẻn biển, v.v. Sau khi vui chơi trên biển, du khách có thể đến các nhà hàng, quán hải sản, thưởng thức những món ăn nóng hổi, đặc trưng với hương vị ngọt thanh, đậm đà.

Phần lớn các quán hải sản nằm liền kề nhau dọc theo bờ biển, có không gian hướng ra bờ biển khá thoáng mát và giá cả khá phải chăng. Các nhà hàng như Lá Cọ Beach, Cánh Buồm Đỏ,... sẽ có không gian sang trọng, view rộng rãi thoải mái hơn nhưng giá thành cũng sẽ thay đổi.

Hoạt động câu mực đêm cùng ngư dân Nhật Lệ

Du khách muốn tìm hiểu văn hoá và đời sống ngư dân tại biển Nhật Lệ có thể trải nghiệm các tour “Câu mực đêm” tại một số đơn vị như Netin Travel, Hưng Việt Travel, v.v. Tuỳ vào đơn vị mà lộ trình tour có thể kéo dài khoảng 3 giờ và giá tour có thể dao động từ 400.000 - 500.000 VNĐ.

Vào chiều tối, khoảng 5PM - 6PM, du khách sẽ khởi hành theo thuyền ngư dân ra khơi, được hướng dẫn cách giăng câu và quan sát ánh đèn thu hút mực lấp lánh giữa biển đêm. Cảm giác lênh đênh trên sóng, nghe tiếng gió biển và tiếng sóng vỗ giữa mảng đêm sẽ mang lại sự bình yên, hoài niệm, xen lẫn phấn khích. Du khách còn có thể tự câu mực và thưởng thức món mực tươi được chế biến ngay trên thuyền. Tuy nhiên, du khách nên kiểm tra dự báo thời tiết và hỏi thêm kinh nghiệm của ngư dân để đảm bảo trải nghiệm du lịch thuận lợi.

Ngắm biển, uống cafe và nghe nhạc trên bãi biển Nhật Lệ

Dọc bãi biển có những quán cà phê và nhà hàng nhỏ được thiết kế không gian mở hướng ra mặt biển như BlueSea QB, Quảng Bình Sup & Camp. Du khách nhâm nhi tách cà phê hoặc ly nước ép mát lạnh, vừa ngắm sóng vỗ và tận hưởng làn gió biển trong lành. Vào buổi chiều và tối, không gian trở nên lãng mạn hơn với ánh đèn vàng ấm áp, tiếng nhạc du dương hòa cùng âm thanh của biển khơi.

Biển Nhật Lệ trong xanh, sóng biển nhẹ và bờ cát trắng trải dài nên rất lý tưởng cho du khách muốn tắm biển, vui chơi cùng gia đình, hội nhóm.

 

Dạo dọc bờ biển và thành phố Đồng Hới

Dọc bờ biển Nhật Lệ là đường Trương Pháp, du khách có thể đi dạo dọc bờ biển, hóng gió mát rượi và ngắm cảnh biển cả mênh mông bên cạnh thành phố phồn hoa.

Khi đi dạo ở cửa biển và cầu Nhật Lệ, du khách có thể ngắm cảnh một bên là dòng sông Nhật Lệ xanh như dải lụa và một bên là cửa biển với vô số chiếc thuyền đánh cá treo cờ đỏ rực. Đặc biệt là buổi tối khi phố xá lên đèn, du khách có thể đi dạo hoặc thuê xe điện tham quan quanh biển và trung tâm thành phố Đồng Hới. Cầu Nhật Lệ ở gần cửa biển cũng sẽ được thắp sáng lung linh, một trong những điểm nhấn của thành phố Đồng Hới về đêm. Từ cầu Nhật Lệ, du khách có thể ngắm hoàng hôn và làng chài tấp nập.

 

Các địa điểm ăn uống ở biển Nhật Lệ

Biển Nhật Lệ không chỉ đẹp mà còn có nguồn hải sản dồi dào, ẩm thực phong phú và đậm đà hương vị miền Trung. Buổi tối, dọc theo bờ biển có rất nhiều quán hải sản tươi như Thanh Thanh, Minh Lưu, Phú Quý, v.v. Du khách có thể thưởng thức những món đặc sản như mực nhảy, mì tôm mực, cháo hàu, sò hấp, ngao xào, đẻn biển,... được đánh bắt tươi rói và có vị ngọt tự nhiên, hấp dẫn và giá thành phải chăng.

Bên cạnh hải sản, du khách không thể bỏ lỡ các món đặc sản trứ danh của Quảng Bình như bánh bột lọc, bánh khoái, cháo canh cá lóc, lẩu cá khoai,... Các quán ăn như Mệ Xuân, Dì Thái, Hoài Hương,.. ở chợ đêm Đồng Hới sẽ là lựa chọn hàng đầu cho món bánh bột lọc Quảng Bình chuẩn vị. Du khách muốn mua bánh bột lọc cấp đông về làm quà nên đặt trước ít nhất một ngày vì các quán nổi tiếng thường rất đông khách.

 

Kính thưa quý khách,

Quảng Bình không chỉ là điểm đến của cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ mà còn là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và tinh thần quật cường của con người miền Trung.

Nếu Việt Nam được ví như một dải lụa mềm bên bờ Biển Đông, thì Quảng Bình chính là viên ngọc xanh nơi thiên nhiên và lịch sử gặp nhau – nơi mỗi bước chân khám phá đều mở ra một câu chuyện đáng nhớ.

Xin kính chúc quý khách sẽ có những trải nghiệm thật đẹp tại Quảng Bình – vùng đất của gió Lào, cát trắng và những kỳ quan trong lòng đất. 

Động cách Đồng Hới 50 km và là một dải kỳ quan nằm sâu trong lòng núi, cách đỉnh núi 800 – 900 m. Dài 7729 m, động có 14 hang do dòng sông ngầm dài 13.969 m hoà tan đá vôi tạo thành.

Chúng ta sẽ đi qua huyện Lệ Thủy, phía bên phải của quốc lộ là Ao Sen. Qua Ao Sen một đoạn sẽ đi qua cầu Qán Hàu bắc qua sông Nhạt Lệ. 

Và đèo Ngang là ranh giới cuối cùng kết thúc tour miền trung của chúng ta.

Đèo Ngang

Đèo Ngang là tên một con đèo nằm ở ranh giới của hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Đây là một thắng cảnh nổi tiếng của miền Trung Việt Nam. 

Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A, trên dãy Hoành Sơn đoạn dãy Trường Sơn chạy ngang ra biển Đông. Đèo dài 2.560 m, đỉnh cao khoảng 250 m (750 ft), phần đất phía Quảng Bình thuộc xã Quảng Đông,

huyện Quảng Trạch, phần đất phía Hà Tĩnh thuộc xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh. Đèo Ngang cách thị trấn Ba Đồn 24 km, sông Gianh 27 km, thị xã Đồng Hới 80 km về phía Nam, cách thị xã Hà Tĩnh 75 km về phía Bắc. Đây là ranh giới cũ giữa Đại Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập (939) và

trước thời kỳ Nam Tiến của người Việt (1069). Thời Pháp thuộc đèo có tên trên bản đồ là Porte d'Annam.

Trên đỉnh đèo Ngang hiện còn “Cổng Trời” di tích của cửa ải Hoành Sơn Quan bằng gạch đá được xây

vào năm 1833 thời vua Minh Mạng để kiểm soát việc qua đèo. Đứng trên đỉnh Ngoạn Mục để ngắm biển thì tuyệt đẹp, núi non kỳ vĩ, biển trời mênh mông. 

Gần đèo Ngang về phía Quảng Bình có đền thờ bà Liễu Hạnh di tích kiến trúc – nghệ thuật – tôn giáo, các bãi tắm Hòn La, Quảng Đông, Cảnh Dương với rừng dương xanh mướt, cát vàng óng ánh và các đảo ở ngoài khơi như Hòn La, Hòn Vụng Chùa, Hòn Cỏ, Hòn Gió, đảo Yến tạo thành những thắng cảnh tuyệt

đẹp. Gần đèo Ngang về phía Hà Tĩnh có bãi tắm đèo Con sạch đẹp, thoải và kín gió. Đền thờ bà Bích Châu hay còn gọi là đền thờ bà Hải gần núi Cao Vọng, núi Ô Tôn, núi Bàn Độ, vũng Áng, là quần thể danh thắng du lịch bắc đèo Ngang. 

Ngày nay, khách qua đèo Ngang thường đi bằng đường hầm xuyên núi. Công trình này có chiều dài 2.849m gồm cả phần hầm và đoạn tuyến hai đầu do Tổng Công ty Sông Đà đầu tư, thi công và khánh thành thông xe ngày 21/8/2004.

Miền Trung có may mắn được Sở hữu những bờ biển đẹp nhất VN, có 5/7 di sản văn hóa và thiên nhiên

thế giới của Việt Nam, có hệ sinh thái gồm biển đảo – đầm phá – rừng nhiệt đới…, miền Trung được xem là “vùng đất thiên đường” để phát triển du lịch. Nhưng thiên đường ấy chưa được hình thành ở miền Trung.

Thống kê sơ bộ, dọc duyên hải miền Trung từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận có không dưới 200 dự án resort, khách sạn biển cao cấp đã và đang được xây dựng. Tất cả đều lấy chung một slogan rất kêu là

“Thiên đường trong mơ”.

Miền Trung là một vùng bờ biển tuyệt đẹp kéo dài hơn 1.000km với nước xanh cát trắng, vô số vịnh và hải đảo vẫn còn hoang sơ. Đó là chưa kể dải Trường Sơn chạy song song bờ biển, chứa trong mình biết bao nguồn lợi về sinh thái, tạo cho miền Trung một thiên nhiên hết sức đa dạng.

Đến với miền Trung quý khách sẽ được ngắm nhìn nhựng cảnh đẹp của thiên nhiên, của con người tạo ra với sự đa dạng và độc đáo của các nền văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo- Chăm Pa như tháp chăm, lăng tẩm, đền chùa…

Bên cạnh đó đến nơi đây quý khách còn được thưởng thức những món ăn đặc sản cực kỳ hấp dẫn của từng địa phương mà bạn đi