I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN TRUNG
1) ĐỊA LÝ
Diện tích:
62.256,8 km². Dân số: 11.479.500 người.
Duyên hải miền trung bao gồm các tỉnh từ Đèo Ngang trở vào Bình Thuận, ứng với vương quốc Chămpa cổ, gồm có 11 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nắng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh
Thuận, Bình Thuận.
Phía Bắc giáp Hà Tĩnh (ranh
giới là Đèo Ngang).
Phía Nam giáp Đông Nam Bộ.
Phía Tây giáp Lào và Tây Nguyên.
Phía Đông giáp biển Đông (có nhiều vịnh, biển đẹp tầm quốc tế).
Thành phố trực thuộc Trung Ương là Đà Nẵng.
Địa hình có hai dạng chính: miền núi và đồng bằng thung lũng hẹp. Độ cao thấp dần từ Tây sang Đông. Có nhiều nhánh núi nhỏ đâm thẳng ra biển làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh ( cụ thể là: đèo Ngang giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh, đèo Hải Vân giữa Đà Nắng, đèo Bình Đê giữa Quảng Ngãi và Bình Định, đèo Cù Mông giữa Bình Định và Phú Yên, đèo Cả giữa Phú Yên và Khánh Hòa).
Khí hậu: từ phía Bắc đèo Hải Vân trở ra Quảng Bình (Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình) một năm có 4 mùa giống miền Bắc. Từ nam đèo Hải Vân đến Bình Thuận có mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12,kèm mưa bão (trung bình 10 lần/năm), và có lũ quét dữ dội (khác lũ hiền ở miền Tây Nam Bộ).
Sông ngòi bắt
nguồn từ dãy Trường Sơn ở phía Tây chảy về phía Đông tạo ra các cửa biển lớn
như: sông Nhật Lệ – cửa Đồng Hới, sông Bến Hải – Cửa Tùng – Quảng Trị, sông Cam Lộ –
Cửa Việt, sông Hương – Cửa Thuận An, sông Hàn – cửa Đà Nắng,
sông Thu Bồn – Cửa Đại – Hội An, sông Đà Rằng – Tuy Hòa, sông Côn – Thị Nại –
Quy Nhơn, sông Cái – Xúp Bóng – Nha Trang, sông Cà Ty – Phú Hài – Bình
Thuận. Sông có độ dốc cao, phù hợp phát triển thủy điện: thủy điện sông Hinh (Phú Yên); và nhiều công trình thủy lợi như: hồ sông Quao (Tánh Linh – Bình Thuận), sông Cam Lộ (Quảng Trị), sông Côn (Quy Nhơn). Chính các sông này bồi lắng phù sa cho các cánh đồng duyên hải tạo ra các cảng biển nổi tiếng, cảng Cửa Việt, cảng Chân Mây, cảng Tiên Sa, cảng Hội An, cảng Dung Quất, cảng Thị Nại, cảng Vũng Rô, cảng Cầu Đá (Ninh Thuận). Các con sông ở đây khô hạn triệt để vào mùa khô.
Giao thông vận tải:
Đường bộ có quốc lộ 1A xuyên suốt dọc theo biển từ Bắc xuống Nam. Hiện nay có thêm đường mòn Hồ Chí Minh công nghiệp hóa dọc theo phía Tây. Từ đây, người Pháp đã thiết kế các quốc lộ vuông góc để đến với Tây Nguyên. Đường biển là lợi thế và đã thông thương với Thế giới từ rất sớm trong lịch sử (cảng Hội An).
Đường hàng không: có sân bay quốc tế Đà Nắng, sân bay Phú Bài (Huế), sân bay Chu Lai (Quảng Nam), sân bay Phù Cát (Quy Nhơn), sân bay Đông Tác (Tuy Hòa), sân bay Cam Ranh (Khánh Hòa).
Đường sắt nằm trên trục đường Bắc Nam.
Động thực vật: có các vườn quốc gia tiêu biểu như Phong Nha – Kẽ Bàng, Bạch Mã, khu bảo tồn thiên nhiên núi Chúa (Nha Trang),… tiêu biểu cho rừng nhiệt đới khô hạn. Ở rừng Bạch Mã có các loài động vật nhiệt đới như cọp, sao trĩ,…
Tài nguyên du lịch:
Với ưu thế bờ biển dài, vịnh biển đẹp, trong xanh,
khí hậu ấm áp quanh năm nên phù hợp với loại hình du lịch nghĩ dưỡng, thể thao.
Với nền văn hóa Chăm pa rực rỡ và lịch sử nhà Nguyễn phong phú để lại nhiều di tích độc đáo, phù
hợp du lịch văn hóa, lịch sử.
Nằm ở ngã ba Đông
Nam Á (vị trí đắc đạo) phù hợp du lịch hội nghị. Là cửa ngõ của hành lang kinh
tế Đông Tây nối liền Lào, Đông Bắc Thái Lan, Miến Điện, Đông Nam Trung Quốc phù hợp du lịch thương mại, du lịch caravan.
Tài nguyên khoáng sản: mỏ vàng Bồng Miêu (Quảng Nam), mỏ cát làm thủy tinh (Quy Nhơn, Cam Ranh, Quảng Nam), mỏ Titan (Mũi Né, Hòn Rơm), mỏ dầu (biển Trường Sa).
2) LỊCH SỬ
Thời cổ đại:
Ở Quảng Trị,
Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huê người ta phát hiện nhiều trống đồng chứng tỏ vào
thời kỳ Hùng Vương ở phía Bắc, vùng
này đã có các cộng đồng thiểu số sinh sống. Họ
đã giao lưu với người Bắc
Việt ở phía Bắc. Họ có thể là các cư dân cổ của Đông Nam Á. Vào khoảng 500 năm
trước Công nguyên có một luồng cư dân từ vùng đảo Inđônêsia thuộc chủng
Polynesien hay Mã Lai – Đa Đảo đến định cư.
Sau đó họ chia làm các nhánh hướng về Tây Nguyên lập nghiệp: người Êđê, GiơRai, Churu, Rănglay. Riêng ở vùng duyên hải miền Trung là cộng đồng người Chăm có điều kiện giao lưu với thế giới bên ngoài tốt nhất. Người Chăm sớm tiếp nhận văn minh Ấn Độ. Cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ thứ III đã có chữ Phạn xuất hiện ở vùng Diên Khánh – Nha Trang. Tuy nhiên các cộng đồng người Chăm ở ven sườn núi không bị ảnh hưởng Ấn Độ giáo (người ta gọi là Chăm H'Roi). Người Chăm truyền thống đã tạo nên văn hóa rực rỡ cho riêng mình trước khi bị văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng, đó là văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi).
Thời trung đại:
Từ thế kỷ thứ IV
ở miền Trung tồn tại một vương quốc tên là Lâm Ấp (Xứ
Rừng). Từ đây đạo
Bà La Môn giáo đã được vương triều Lâm Ấp chấp nhận gần như là quốc
giáo. Tiến hành xây thánh địa Mỹ Sơn
ở thượng nguồn sông Thu Bồn, dưới chân núi Chúa. Ở đoạn giữa sông Thu Bồn là
kinh đô Simhapura (Trà Kiệu) và cuối nguồn nơi biển Cửa Đại là cảng Đại Chiêm.
Đây là trung tâm quan trọng bậc nhất của lịch
sử Chămpa
kéo dài đến thế kỷ 11. ở Mỹ Sơn đã xây dựng được gần
70 tháp, nay còn khoảng 20 tháp. Đến thế kỷ VI, vương quốc Lâm Ấp được đổi
thành vương quốc Chămpa (tên loài hoa Đại hay hoa Sứ biểu hiện sự tinh khiết
mọc nhiều ở miền Trung; là tên của một thành phố cổ – nơi xuất phát của đạo Bà
La Môn).
Từ thế kỷ
XI, vương quốc lùi
về Quy Nhơn với thành Đồ Bàn –
Quy Nhơn.
Thế kỷ thứ
VIII, IX có tiểu quốc ở xứ Kau–tha–ra (Nha Trang), Pôsanư
(Phan Thiết). Thế kỷ XIII, XIV vương triều của họ ở Panduranga
(Phan Rang) với tháp Pôklonggiarai và Pôrômê.
Thời nhà Lý, Đại Việt đã mở những trận đánh sang Chămpa,
bắt nhiều tù binh (nghệ nhân tài giỏi) về phục dịch kinh thành Thăng Long.
Đến thời Trần, vua Chế Bồng Nga đã chỉ huy đội thủy binh 3 lần
chiếm đánh Thăng Long, vua nhà Trần phãi bỏ chạy vào rừng.
Đến lần thứ 4 thì bị thất bại. Nhà Trần với tinh thần Phật giáo:
“Từ bi hỉ xả” đa˜ gả
công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân năm 1306. đổi lại vua Chế Mân dâng 2 ô
Châu, Lý (từ Quảng Bình đến Bắc sông Thu Bồn) cho Đại Việt.
Ngày nay ở Huế vẫn còn đền
thờ và lễ hội Huyền Trân tại điện Hòn Chén.
Đến thời vua Lê Thánh Tông – thế kỷ XVI, ranh giới của
Đại Việt đã tới Đèo Cả – Phú Yên (núi Đá Bia – Thạch Bia Sơn).
Đến năm 1695, Nguyễn
Hữu Cảnh dánh tan phủ Thuận Thành
ở Phan Rí, vương quốc Chămpa chính
thức suy vong.
Khi vương quốc Chămpa suy vong cũng là lúc hình
thành xứ Đàng Trong của Đại Việt vào năm
1558.
Tại Phú Xuân đã trải qua 9 đời Chúa, 13 đời Vua mở mang bờ cõi đất phương
Nam như ngày nay. Riêng ở đời
Chúa Nguyễn Phúc Ấn cuối thế kỷ XVIII, có phong trào Tây Sơn nổ ra ở Bình Định,
đã lên ngôi thay Chúa Nguyễn khoảng 25 năm, dẹp được 2 kẻ thù xâm lăng lớn nhất lúc
bấy giờ là: 29 vạn quân Thanh ở phía Bắc, và 25
vạn quân Xiêm ở phía Nan, với nhiều cải cách lớn, nhất là sự ra đời của Chữ
Nôm.
Nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản văn hóa, truyền thống ở miền Trung như Kinh thành Huế, lăng, tẩm,
đền, đài, đình, phố cổ,… Huế đã được Unesco ghi nhận là di sản văn hóa thế
giới.
1858, Pháp đánh
vào Đà Nắng chuẩn bị thôn tính nước
ta. Đến 1884, vua Tự Đức đã ký hàm
ước Pa-trơ- nốt biến Trung kỳ thành xứ
bảo hộ của Pháp, nhập vào
Liên hợp Đông Dương của Pháp
gồm 3 nước Việt Nam, Lào,
Campuchia.
Nhiều phong trào yêu
nước nổ ra như: phong trào
Cần Vương với các cụ Trần Quý Cáp, Trịnh Phong, vua Hàm Nghi, Duy Tân, phong trào của cụ
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.
Từ khi Đảng Công
sản ra đời, cách mạng miền Trung phát triển vượt bậc. Tại Huế, ngày 23 tháng
năm 1945, vua Bảo Đại chính thức trao ấn kiếm cho
chính quyền Cách mạng, chính thức thoái vị, kết thúc triều đình nhà Nguyễn ở miền Trung Việt
Nam.
Thời chống Mỹ 1954 –
1975 đây là địa bàn chiến
lược giáp ranh với
Bắc Việt nên nhiều căn cứ quân
sự hiện đại nhất của Mỹ được lập tại đây như: căn cứ Chu Lai ở Núi Thành –
Quảng Nam, Nam Ô ở Đà
Nắng.
Nhiều trận đánh nổi tiếng ở miền Trung như: trận Chu Lai. Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968, vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1986 ở Quảng Ngãi, trận
đánh ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Ngày nay với ưu thế lịch sử Chămpa để lại nhiều đền tháp đẹp, nhà Nguyễn để lại nhiều kinh thành, đền, chùa, nhiều căn cứ thời chống Mỹ cùng với các bãi biển đẹp, các món ăn ngon là điều kiện thuận lợi phát triển du lịch Miền Trung.
3) NHÂN VĂN
Đây là vùng đất thiên nhiên không ưu đãi, nhưng nhân tài thì có nhiều. Người Chăm đã để lại nghệ thuật kiến trúc đền tháp kỳ vỹ và thổ cẩm và làm gốm. Người Việt có nhiều danh nhân đóng vai trò quan trọng trong lịch sử khẩn hoang miền
Nam: Nguyễn Hữu Cảnh – Quảng Bình, Nguyễn Cư Trinh – Quy Nhơn,
Đào Duy Từ – Bình Định, Anh em Tây Sơn – Bình Định, Huỳnh Thúc Kháng,
Phạm Văn Đồng – Quảng
Ngãi, Nguyễn Văn rỗi – Quảng Nam, Võ Nguyên Giáp – Quảng Bình, Thoại Ngọc Hầu –
Quảng Nam, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh – Quảng Nam,…
Nghệ thuật bác học có Nhã nhạc Cung đình Huế. Nghệ thuật dân gian: bài chòi, hát bả trạo, hát bội. Về điêu khắc: Viện sĩ Điềm Phùng Thị, tranh làng Sừng, tranh XQ,…
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Chuyên đề về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc Chămpa.
Lịch sử 9 đời chúa,
13 đời vua triều Nguyễn.
Chuyên đề về đặc sản miền Trung như món ăn Huế, Quảng Nam: Bún bò Huế,
cơm hến, bánh nậm, bánh lọc
(Huế), cao lầu, mì Quảng, bê thui Cầu Móng (Quảng Nam), zon (Quảng Ngãi), tré, bò khô, rượu Bàu Đá (Bình Định), thịt ba chỉ (Đà Nắng).
Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. các di tích, trận đánh Cam Ranh, Phù Mỹ, Chu Lai, Quảng Trị, vĩ tuyến 17, La Bảo, Cửa Tùng, địa đạo Vĩnh Mốc, Mẹ Suốt,…
Chuyên đề lũ lụt miền Trung.
Chuyên đề về tính tiết kiệm của người dân miền Trung.
Chuyên đề du lịch biển.
Chuyên đề về các di sản Thế giới.
SƠ ĐỒ TUYẾN QUẢG NAM – ĐÀ NẴNG
GIỚI
THIỆU VỀ TỈNH QUẢNG NAM
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG
Vị trí địa lý
Quảng Nam nằm ở miền Trung của Việt Nam, cách
thủ đô Hà Nội 860 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 865 km về phía
Nam. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía đông giáp biển Đông với trên 125 km
bờ biển; phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào. Quảng Nam 18 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 02
thành phố (Tam Kỳ, Hội An) và 16 huyện (Bắc Trà My, Duy Xuyên,
Hiệp Đức, Nam Giang, Nam Trà My, Núi Thành, Phú Ninh, Phước Sơn,
Quế Sơn, Tây Giang, Thăng Bình, Tiên Phước, Đại Lộc, Điện Bàn, Đông Giang, Nông
Sơn). Thành phố Tam Kỳ là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả tỉnh.
Diện tích tự nhiên 10.406,83 km2, dân số xấp xỉ 1.5 triệu người.
Khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng nhiệt đới, nhiệt độ
trung bình hàng năm là 25,40C, nhiệt độ cao nhất ở mùa hè không quá
24°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1300 giờ. Lượng mưa trung bình hàng năm
2000mm – 2500mm nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở
miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80%
lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung
thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ở
các vùng ven sông. Độ ẩm trung bình là 84 - 85%.
Địa hình
Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng dần từ Tây
sang Đông, hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía
Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển. Vùng đồi núi chiếm 72%
diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m. Ngoài ra, vùng ven biển phía
đông sông Trường Giang là dải cồn cát chạy dài từ Điện Nam, Điện Bàn đến Tam
Quan, Núi Thành. Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngoài khá phát
triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang.
Giao thông & cơ
sở hạ tầng
Đường bộ: hiện nay có
các tuyến đường quốc lộ đi qua địa phận tỉnh Quảng Nam là đường Hồ Chí Minh,
1A, 14B, 14D, 14E với chiều dài hơn 400km. Đường tỉnh lộ gồm 18 tuyến với tổng
chiều dài gần 500 km. Đặc biệt, quốc lộ 14 là tuyến thông suốt với nước CHDCND
Lào qua cửa khẩu Đắc Ốc (huyện Nam Giang).
Đường sắt: Tuyến đường
sắt Bắc - Nam chạy qua địa bàn tỉnh Quảng Nam có chiều dài 95 km.
Đường biển: tỉnh Quảng
Nam có cảng Kỳ Hà, là một cảng nước sâu nằm trong khu kinh tế mở Chu Lai và
ngay cạnh khu kinh tế Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi). Từ đây, hàng hóa có thể vận
chuyển đến các nước, đồng thời là điểm dừng chân thuận lợi của các tuyến vận
tải hàng hải quốc tế.
Đường hàng không: Hiện nay, sân
bay Chu Lai, là một trong sáu sân bay hiện đại nhất của Việt Nam, có khả năng
phục vụ các loại máy bay có trọng tải lớn như: Boeing, Airbus... Trong tương
lai, sân bay Chu Lai sẽ phục vụ các tuyến bay quốc tế vận tải hành khách, hàng
hóa trong khu vực Bắc Á, Thái Bình Dương.
Mạng lưới y tế: tỉnh Quảng
Nam hiện có 2 bệnh viện cấp tỉnh, 24 phòng khám đa khoa, 13 bệnh viện cấp huyện
và hàng trăm trạm y tế cấp xã, phường.
Mạng lưới trường
học: Cả
tỉnh hiện có gần 10 trường trung học, cao đẳng chuyên nghiệp và nhiều trung tâm
giáo dục, dạy nghề.
TÀI NGUYÊN THIÊN
NHIÊN & TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN
Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là
1.040.683ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát
ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất
thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá,... Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm
đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công
nghiệp ngắn ngày. Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây
công nghiệp và cây ăn quả dài ngày. Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác
cho mục đích nuôi trồng thủy sản.
Trong tổng diện tích 1.040.683ha, diện tích đất lâm
nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (49,4%), kế tiếp là đất dành cho sản xuất nông
nghiệp, đất thổ cư và đất chuyên dùng. Diện tích đất trống đồi trọc, đất cát
ven biển chưa được sử dụng còn chiếm diện tích lớn.
Tài nguyên rừng
Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che
phủ đạt 40,9%; trữ lượng gỗ của tỉnh khoảng 30 triệu m3. Diện tích
rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha. Rừng giàu ở Quảng Nam
hiện có có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn
lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ
khoảng 69 m3/ha. Các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh nằm ở
sông Thanh thuộc huyện Nam Giang.
Tài nguyên thủy sản
Quảng Nam có bờ biển dài trên 125 km và thềm
lục địa rộng lớn, có nguồn hải sản phong phú thuộc vùng biển Nam Trung Bộ. Theo
số liệu của Viện Quy hoạch thủy sản thì vùng biển Nam Trung Bộ có trữ lượng cá
42 vạn tấn, khả năng đánh bắt hàng năm 20 vạn tấn, trữ lượng mực 7,000 tấn, tôm
biển 4.000 tấn. Qua đó có thể thấy Quảng Nam có điều kiện để phát triển ngành
đánh bắt xa bờ cũng như khai thác tiềm năng nuôi trồng thủy sản ở các vùng ven
sông, ven biển và ở đảo Cù Lao Chàm,...
Tài nguyên khoáng
sản
Theo đánh giá chung thì nguồn tài nguyên khoáng
sản của Quảng Nam là một tiềm năng đang được khai thác, mang lại hiệu quả kinh
tế cho tỉnh với nhiều loại đa dạng và phong phú. Trong đó đáng kể là: Than đá ở
Nông Sơn trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, đã và đang khai thác với sản lượng năm
cao nhất đạt khoảng 5 vạn tấn/năm. Ngoài ra còn có mỏ than Ngọc Kinh (trữ lượng
khoảng 4 triệu tấn), nhưng đã ngừng khai thác từ năm 1994 vì không có khả năng
khai thác công nghiệp; Vàng gốc và sa khoáng ở Bồng Miêu, Du Hiệp, Trà Dương;
riêng ở Bồng Miêu đã và đang khai thác với sản lượng khoảng vài trăm kg/năm;
Cát trắng công nghiệp là khoáng sản có trữ lượng lớn, phân bố chủ yếu ở khu vực
các huyện Thăng Bình, Núi Thành. Trên địa bàn Quảng Nam đã thăm dò được 18 mỏ nước
khoáng và nước ngọt có chất lượng tốt. Các loại khoáng sản như khí mê tan,
uranium, nguyên liệu làm xi măng (đá vôi) được đánh giá là giàu nhất trong các
tỉnh phía Nam. Ngoài ra các khoáng sản khác như đá granít, đất sét, cát
sợi titan, thiếc, cao lanh, mi ca và các loại nguyên liệu cung cấp cho xây
dựng, sành sứ, thủy tinh,... được phân bố tại nhiều nơi trong tỉnh.
Tài nguyên Du lịch
Quảng Nam có 125 km bờ biển với nhiều bãi tắm
sạch đẹp ở khu vực Điện Bàn, Hội An, Tam Kỳ; kéo dài từ Điện Ngọc đến giáp vịnh
Dung Quất hoang sơ cùng với Hồ Phú Ninh, thủy điện Duy Sơn, khu rừng nguyên
sinh phía Tây Quảng Nam, sông Trường Giang và xứ đảo Cù Lao Chàm. Ngoài ra còn
có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi, 10 hồ nước (với 6.000 ha mặt nước, khoảng
11.000 ha rừng xung quanh khu vực hồ và 40 đảo trong các hồ) là một trong những
tiềm năng lớn để phát triển du lịch Quảng Nam. Môi trường không bị ô nhiễm, độ
dốc ít, cát mịn và độ mặn vừa phải, nước biển xanh và đặc biệt khí hậu biển rất
lý tưởng cho phát triển các loại hình du lịch nghỉ biển và nghỉ cuối tuần.
Ngoài ra hai di sản văn hoá thế giới được UNESCO công
nhận là Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và nhiều địa điểm di tích lịch sử và
văn hóa (theo thống kê Quảng Nam có khoảng 61 điểm du lịch như: kinh đô cổ Trà
Kiệu, các tháp chàm Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương...ghi
lại dấu ấn rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt.) cùng với nhiều
loại hình hoạt động văn hóa (như hát tuồng, hát đối) và các quần thể kiến trúc
khác như chứng tích Núi Thành,... tạo nên những điểm thu hút khách du lịch đến
thăm quan, tìm hiểu. Bên cạnh đó các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống
độc đáo và những vùng ruộng, đồng, sông nước giữ nguyên nét điển hình của
làng quê Việt Nam, hội đủ các yếu tố phát triển du lịch đồng quê, du lịch vườn,
làm đa dạng các loại hình du lịch, tạo thêm sức hấp dẫn đối với du khách.
Các yếu tố tự nhiên kết hợp với các di sản văn hóa, truyền thống lịch sử của Quảng Nam là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mạnh ngành du lịch.
Tiềm năng thủy điện
Hệ thống sông ngòi nằm trên địa phận tỉnh Quảng
Nam có tổng chiều dài 900 km, trong đó có 337 km đã đưa vào khai thác, bao gồm
9 con sông chính. Nguồn nước mặt lớn với diện tích lưu vực sông: Vu Gia: 5.500km2,
Thu Bồn 3.350 km2, Tam Kỳ 800 km2, Cu Đê 400km2,
Túy Loan 300 km2, LiLi 280 km2..., lưu lượng dòng chảy
sông Vu Gia 400m3/s, Thu Bồn 200m3/s... Có thể nói Quảng
Nam là địa bàn có điều kiện thuận lợi về cung cấp nước cho phát triển sản xuất
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác cũng như dân sinh. Sông Quảng Nam có dòng
chảy luôn luôn thay đổi, luân chuyển dòng và bị bồi lắng hoặc xói lở vào mùa
mưa lũ. Vấn đề quan trọng là phải xây dựng các công trình thủy lợi ở thượng lưu
các con sông kết hợp xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ (thủy điện Sông
Tranh I, Sông Tranh II, Sông AVương, Sông Bung...), nhằm hạn chế lũ lụt và cung
cấp nước về mùa khô cho vùng đồng bằng ven biển, tạo tiền đề bền vững cho phát
triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, đô thị và nước sạch cho dân cư, đô
thị.
Chuyên đề
Xứ Quảng
với câu đối xưa và nay
Trong tâm thức người Quảng Nam nói riêng và người Việt
nói chung xưa và nay, nghệ thuật chơi câu đối, dùng câu đối trong giao tiếp,
ứng xử, sinh hoạt, đặc biệt trong dịp tết Nguyên Đán là một nét đặc sắc của văn
hóa dân tộc vẫn luôn được lưu giữ và trân trọng.
Thời xưa, trong dịp tết cổ truyền, một trong các nét
đặc trưng, cùng các hình ảnh, màu sắc, âm thanh, hương vị tết, “câu đối đỏ” như
là một trong các thứ tiểu khiển, là món ăn tinh thần thú vị không thể thiếu
trong Nhân dân. Tết đến, người ta thường dùng những câu đối hàm súc, viết bằng
mực Tàu trên giấy đỏ để trang trí cho nhà cửa, qua đó cũng gửi gắm lời chúc
mừng năm mới tốt đẹp đến ông bà, cha mẹ và những người thân quý của mình; hoặc
để bày tỏ ước nguyện, cầu mong, thể hiện niềm tin vào một năm mới tốt đẹp, vạn
sự như ý như:“Thiên thiêm tuế nguyệt nhân
thiêm thọ/Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường”.(dịch nghĩa:Trời thêm năm
tháng, người thêm thọ/ Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà); “Én bay ngoài ngõ xuân hạnh phúc/ Hoa nở
trong nhà tết an khang”. Cùng với những câu đối được tạc, chạm, “ký
thác” trên các phương tiện giấy, vải, gỗ, đá,… tại những nơi trang nghiêm như
đền thờ, lăng tẩm, tiền hiền, miếu mộ, gia đường,… câu đối tết ngày xưa là một
mỹ tục, gợi lên một ý niệm sống, hướng con người đến vẻ đẹp chân, thiện, mỹ,
lưu truyền những giá trị văn hóa riêng của dân tộc ta.
Ngày nay, thời đại số hóa với rất nhiều đổi mới trên tất cả các phương diện. Cái thời ông đồ cho chữ, viết câu đối tết“Bày mực Tàu giấy đỏ/ Bên phố đông người qua” (Ông đồ- Vũ Đình Liên) đã lùi sâu vào ký ức. Nhưng điều đáng trân quý, câu đối vẫn còn sức sống riêng của nó trong tâm thức Việt. Người ta chọn viết câu đối bằng chữ thư pháp trên giấy, khắc chạm trên gỗ, viết hoặc thêu trong các tấm liễn, bức tranh,… để trang trí nhà cửa hoặc đặt ở những nơi tôn nghiêm. Từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến nông thôn, tại các shop hàng mỹ nghệ, trên các tác phẩm điêu khắc, tượng gỗ, tranh ảnh, các bức hoành phi,... câu đối thường được chọn đề vào một cách thích hợp với các chủ đề phong phú, đa dạng, đã tôn hẳn giá trị cho các mẫu mã sản phẩm, tạo sức thu hút lớn. Rồi từ phố về quê và ngược lại, cùng với các phẩm vật khác, gắn với nhiều phương cách, câu đối được hiện diện trong không gian các gia đình, cộng đồng, trường học,… “Vời vợi non cao ơn dưỡng dục/ Mênh mông biển rộng đức sinh thành”;” Cây chung nghìn nhánh sinh tại gốc/ Nước chảy muôn dòng phát tại nguồn; “Lớp học năm xưa nhiều kỷ niệm /Sân trường ngày cũ lắm ước mơ”,... Và theo đó, bất cứ ở đâu, trong cảnh huống nào hễ có một vế đối, một câu đối hình thành, là ở đó có sự kết tinh của nét đẹp văn hóa cổ kim với sức sống Việt mang đến sự mới mẻ cho tâm hồn, thấm đậm chất trí tuệ.
Tại Quảng Nam, vùng đất học nổi tiếng đã xuất hiện
nhiều danh sỹ tài hoa với nghệ thuật dùng câu đối. Trong sách“Hà Đình
văn tập”của cụ Nguyễn Thuật (1842-1911) - danh sĩ và là danh thần triều
Nguyễn- người làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam (nay
là thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) có đến 244 câu
đối, “ông có nhiều thành tựu với mảng câu đối phúng điếu các anh
hùng, danh sĩ, quan chức đồng liêu, người thân, tri kỷ. Giá trị văn chương của
câu đối của cụ cũng được giới văn chương đánh giá là tuyệt hảo” 1 .Những
câu đối chúc phúc nhân mùa xuân của người con quê ở Hà Lam, Thăng Bình, vị quan
đại thần triều Nguyễn - danh nhân văn hóa Nguyễn Thuật đã trở thành mẫu mực cho
các Nho sĩ đương thời: “ Nhơn thích lạc dao phong vật mỹ/ Xuân hồi đại địa
tuế hoa tân (Người vui thích gió đồng nội cái gì cũng đẹp đẽ/ Xuân về tết
đến, hoa nở sáng lại đất bao la); “Nhơn tại xuân đài diên tuế nguyệt/ Thế tư
đức thọ phước nhi tôn” (Người sống trên đền đài, mùa xuân kéo dài năm
tháng/ Từng đời lan mãi cây đức hạnh là phước của cháu con).
1. Trích Hà Đình Nguyễn Thuật, một con người
của văn chương, nghệ thuật-Phùng Tấn Đông
Tâm đắc với câu đối, từ xưa đến nay, “ôn cố tri tân”,
người Quảng Nam vẫn thường dùng câu đối trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Cụ
Lương Bá Thiệu ( 1915-2007), quê ở xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, cán bộ lão
thành cách mạng, đã để lại câu đối sâu xa răn dạy con cháu:“Gia phong nho nhã
mỹ cảnh hương/ Quốc Tộ thái hòa hưng thiện tục”.( Nghĩa là: Nếp nhà thâm
hậu đẹp quê hương/ Vận nước yên bình, dựng nên thói tốt). Nhằm ca ngợi công
đức, tri ân tổ tiên, tiền bối thì các tác giả đã dùng các câu đối sau: “Tiên tổ
ngàn năm linh hiển/ Tử tôn vạn thuở hiếu hòa”( NS. Phan Văn Minh );
“Thuở hồng hoang tiền bối góp công lập ấp/ Thời hiện đại hậu sinh chung sức xây
làng” ( Lê Bích ). Bên cạnh đó, như món ăn tinh thần, câu đối còn được
thông dụng phong phú, đa dạng trong cuộc sống. Ví như khi quét ngõ thì cho
rằng:“Chổi rang khô quét lá khô ran” (Trần Ngọc Anh), rồi được đối lại:“ Cây
thắm tươi nở hoa tươi thắm”. Đến nơi tham quan lại thốt lên: “Ngắm
nước non bên chùa Non Nước” ( Trần Ngọc Anh), đối lại: “Sống an bình
trong xã Bình An”. Lúc ngồi vào bàn ăn, thấy món cá mó thì lại đọc vế
đối:“Có má được ăn cá mó” hoặc tương tự: “Có bà được ăn cá bò”. Khi
đón năm mới, lại nghĩ ra các vế đối, câu đối phù hợp từng niên con giáp
như:“Đón Canh Tý thử tý tửu” ( “thử”: chuột, “tý”: chỉ một lượng nhỏ và
nghĩa Hán cũng là “chuột”); “ Chào Kỷ Mão cảo thơm, cơm thảo” ( “kỷ
mão” nói lái là“ cảo mỹ”, có thể hiểu như “cảo thơm”);“ Tết Quý
Dậu chưng chậu mồng gà”; “Xuân Giáp Thìn, ăn Đào Tiên, xem múa Rồng, vui Thăng
Long khai hội”,...
Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của quê
hương Quảng Nam, trong dân gian không thể thiếu các vế đối, câu đối phản ánh sự
đổi mới, sáng tạo, khát vọng phát triển; sinh khí mới trên mảnh đất “ơn trọng
nghĩa dày” xứ Quảng :“Năm mới, đổi mới sáng tạo mới”;“Đại lộ Võ Chí Công khai
thông kết nối”; “Dân chủ, kỷ cương, đoàn kết, sáng tạo/ Đổi mới, phát
triển, hạnh phúc, văn minh”; “Tết đến trăm hoa khoe hương đất/ Xuân về vạn lộc
ngát tình quê”; “ Quả ngọt hoa thơm lan khắp nẻo/ Tình thâm,
nghĩa trọng tỏa muôn nơi”.
Rất chí lý, thời nay, chỉ cần phút giao thừa tích tắt
là người ta dễ dàng gửi qua internet, zalo, fcebook,…những vế đối hay, giàu ý
nghĩa để chúc mừng năm mới nhau:“Phúc lộc thọ tài an gia chủ/ Kiệm cần liêm
chính đắc nhân tâm”. Trong các cuộc hội ngộ đầu xuân, đó đây, bàn về câu
đối tết cũng là đề tài rôm rả, ý vị đối với những người mê câu đối. Được biết,
tại một số trường học, hằng năm, trước khi nghỉ tết, nhà trường đã tổ chức cuộc
thi viết câu đối với các chủ đề. Sau tết, tổ chức trao thưởng cho các câu đối
chuẩn và hay của học sinh, nhằm hình thành, khơi dậy và tập cho các em làm quen
với loại hình nghệ thuật ngôn từ và hiểu được một mỹ tục truyền thống là câu
đối trong văn học: “Vở sạch chữ đẹp, xuân về tô sắc thắm/ Việc tốt người hay,
tết đến nở hoa thơm”; “Kính thầy yêu bạn- vui xuân rộn rã bài ca đón tết/ Trọng
cha quý mẹ- mừng tết xôn xao câu đối chào xuân”. Trong môi trường giáo dục
nào, câu đối được dùng đúng lúc, phù hợp hoàn cảnh, chắc chắn sẽ mang đến sự
bất ngờ, lý thú và lan tỏa được các giá trị.
Có thể khẳng định, ngày nay, khi cuộc sống càng văn
minh hiện đại, câu đối Tết không chỉ vẫn luôn được lưu truyền mà còn được nhân
lên vẻ đẹp với một sức sống văn hóa riêng trong tâm hồn các thế hệ Việt Nam.
“Ơn tiền bối dựng cơ đồ vinh hiển/ Nghĩa cha ông xây sự nghiệp vững
bền/ Chí hậu sinh nuôi khát vọng phồn vinh/ Hướng con cháu mơ tương lai
hạnh phúc”, người viết xin được khép lại bằng câu đối trên như gửi đến một
lời tri ân sâu sắc các bậc tiền bối và mong ước cho câu đối- tinh hoa của
tinh hoa chữ nghĩa - luôn được trân trọng lưu giữ, truyền đời, góp
phần tô đậm thêm ý nghĩa của cuộc sống ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
Đến Quảng Nam chúng ta sẽ đi qua huyện Núi thành.
Núi Thành
Núi Thành là
một huyện ven biển thuộc phía nam của tỉnh Quảng Nam giáp với Thị xã Tam Kỳ về
phía bắc và Quảng Ngãi về phía nam. Nó có diện tích là 528,2 kilômét vuông và
dân số là 131.2000 người (1997). Là nơi đã diễn ra
trận đụng độ đầu tiên giữa
quân đội viễn chinh Mỹ và quân đội Việt Nam,
thời chiến tranh.
Đồi núi ở phía tây và đồng bằng ở phía đông.
Hai sông Trường Giang và Tam Kỳ chảy qua huyện này.
Bờ biển ở huyện này dài 37 kilômét, có cảng Kỳ Hà và căn cứ Chu Lai, chạy dài
hơn 10km, là khu quân sự của Mỹ hồi xưa, có phi trường. Ngày nay là sân bay
phục vụ dân sự và khu công nghiệp lọc dầu Dung
Quất. Hồ Phú Ninh nằm thuộc tỉnh này, có
diện tích mặt nước 4.500 hecta. Vùng đồi núi ở đây có vàng và
chì. Quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất chạy qua huyện này.
Ngay đầu huyện Núi Thành nhìn bên phải là sân bay Chu Lai.
Sân Bay Chu Lai.
Năm 1965, người Mỹ xây dựng sân bay Chu Lai nhằm mục đích phụ vụ các hoạt động quân sự ở miền Trung và Tây Nguyên. 40 năm sau, ngày 02 tháng 3 năm 2005, sân bay Chu Lai đón chuyến bay thương mại đầu tiên từ thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một sự kiện lịch sử của tỉnh. Việc sân bay Chu Lai vào hoạt động thương mại sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai) mà còn của tỉnh Quảng Ngãi (với khu công nghiệp Dung Quất). Hiện nay, mỗi tuần có hai chuyến bay đến từ thành phố Hồ Chí Minh. Trong tương lai, sẽ mở thêm đường bay đến Hà Nội. Xa hơn nữa, sân bay Chu Lai sẽ được phát triển thành sân bay quốc tế phục vụ cho việc trung chuyển hành khách và hàng hóa trong khu vực. Ngoài ra, việc đưa sân bay Chu Lai vào hoạt động sẽ giúp cho du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn dễ dàng hơn. Trong thời gian tới ngành hàng không sẽ tiếp tục mở tuyến bay Chu Lai – Hà Nội và các đường bay nội địa nối các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước với Chu Lai.
Hoang sơ Hố Giang Thơm
Nằm cách quốc lộ 1A khoảng 10km về phía Tây, hố Giang Thơm hay còn gọi là
Xen Thơm là một cụm thác nước thuộc thôn 9, xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành.
Khu vực Giang
Thơm có 3 hố nước, phân cách nhau bằng những hòn đá lồi và cao, ở đây có một
tảng đá rộng, dựa sát vào vách núi, nơi khách tham quan có thể dừng lại để nghỉ
ngơi, ngắm cảnh, thả hồn theo tiếng suối reo, sau những giờ thả bộ. Suốt dọc
con suối là những triền đá nhấp nhô. Giữa cảnh vật thiên nhiên thơ mộng, đôi
khi du khách phải dừng bước ngẩn ngơ bởi vẻ hoang sơ kỳ diệu của thiên nhiên đã
ban tặng cho con người.
Đến đây, những
du khách thích cảm giác mạnh có thể leo lên các mỏm đá để chinh phục những ngọn
thác cao. Lên tới đầu nguồn con suối, một hồ nước phẳng lặng hiện ra như gọi
mời. Khác với phía dưới luôn ào ào thác đổ, tại đây rất yên vắng và tĩnh.
Hố Giang Thơm thực sự là địa điểm lý tưởng cho loại hình du lịch sinh
thái, dã ngoại.
Lâm Đăng Khoa -Báo Du lịch
Thực trạng và giải pháp xây dựng thị trấn Núi Thành đạt chuẩn đô thị văn minh
Hiện nay, việc xây dựng đô thị văn minh được thực hiện theo Quyết
định số 04/2022/QĐ-TTg, ngày 18/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy
định tiêu chí, trình tự, thủ tục xét công nhận đạt chuẩn đô thị văn minh;
Kế hoạch số 3706/KH-UBND, ngày 09/6/2022 của UBND tỉnh Quảng Nam về triển khai
thực hiện Quyết định số 04 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng
dẫn có liên quan của tỉnh, huyện.
Theo đó, để thị
trấn Núi Thành được công nhận đạt chuẩn đô thị văn minh, theo quy
định phải đáp ứng được 09 tiêu chí, bao gồm: Quy hoạch đô thị, giao
thông đô thị; Môi trường và an toàn thực phẩm; An ninh và trật tự; Thông
tin và truyền thông đô thị; Việc làm, thu nhập và hộ
nghèo; Văn hóa, thể thao; Y tế, giáo dục; Hệ thống chính trị; Trách
nhiệm chính quyền của đô thị. Như vậy, có thể thấy để đạt
chuẩn đô thị văn minh có rất nhiều nội dung để thực hiện, đây là việc
lớn và cũng là việc khó, các tiêu chí bao quát toàn
diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong mỗi tiêu chí sẽ có nhiều
tiêu chí thành phần.
Thời gian qua,
Đảng uỷ - UBND thị trấn Núi Thành luôn xác định công tác xây dựng đô thị
văn minh là nhiệm vụ trọng tâm, với phương châm phát huy sức mạnh của cả hệ
thống chính trị, trong đó, Nhân dân là trọng tâm, là chủ thể để xây
dựng đô thị văn minh. Trong quá trình triển khai, thị trấn Núi Thành luôn
gắn xây dựng đô thị văn minh với việc thực hiện các cuộc vận động,
các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đô thị văn minh”;
phân công nhiệm vụ cho CC VHXH phụ trách theo dõi, tổng hợp, báo cáo chung và
mỗi ngành, bộ phận theo dõi, tham mưu thực hiện từng tiêu chí gắn với lĩnh vực
mình phụ trách; đặc biệt, huy động sự tham gia của MTTQVN và các tổ chức chính
trị - xã hội thị trấn, của cán bộ khối phố, nhất là công tác tuyên truyền,
vận động Nhân dân. Từ đó, Đảng ủy - UBND thị trấn tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo để khẳng định vị trí, vai trò là đô thị trung tâm của huyện, đạt
được những thành tựu nổi bật, đó là: phát triển nhanh về kinh tế, tốc độ
tăng trưởng luôn ở mức cao và ổn định, chú trọng phát triển hài hòa cân đối về
các mặt của kinh tế, văn hóa, môi trường sống, chất lượng cuộc sống của người
dân không ngừng nâng cao. Tháng 5/2022, thị trấn Núi Thành (mở rộng) đã
được Bộ xây dựng công nhận đạt tiêu chí đô thị loại 4. Tháng 2/2024, thị trấn
Núi Thành đã được UBND huyện Núi Thành công nhận đạt chuẩn đô thị văn minh năm
2023 (tại QĐ 1544/QĐ-UBND ngày 27/02/2024).
Đây là niềm vui
của Nhân dân và cán bộ thị trấn Núi Thành, cũng là tiền đề để thị trấn tiếp tục
rà soát đánh giá các tiêu chí để đề nghị công nhận lại sau 5 năm theo quy định.
Trong quá trình triển khai bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng xây dựng đôi thị văn minh không tránh khỏi tồn tại, hạn chế, khó khăn nhất định. Đối với Quy hoạch đô thị, thị trấn không có quy hoạch riêng mà là một phần của quy hoạch chung thị trấn Núi Thành mở rộng (Đô thị Núi Thành), đã được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt tại quyết định 3853/QĐ-UBND tỉnh Quảng Nam ngày 31/10/2017. Việc công khai quy hoạch đã được UBND huyện Núi Thành công khai đúng quy định. UBND thị trấn thực hiện công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tuân thủ các quy hoạch được duyệt. Tuy nhiên, là địa bàn trung tâm trong đầu tư phát triển đô thị, đầu mối giao thương quan trọng do đó chịu tác động, chi phối của nhiều yếu tố, quy hoạch, đầu tư xây dựng, triển khai thực hiện và giải quyết những tồn tại vướng mắc trên một số lĩnh vực của các cơ quan còn nhiều khó khăn, đã ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền, vận động và lãnh đạo thực hiện một số nhiệm vụ của địa phương. Công tác quản lý nhà nước về đất đai còn khó khăn, một số khu dân cư mới đầu tư xây dựng hoàn thành nhưng chưa được nhà đầu tư bàn giao cụ thể, rõ ràng và kịp thời cho địa phương, nên gây khó khăn trong công tác quản lý trật tự xây dựng.
Đối với giao
thông đô thị, hiện nay hệ thống giao thông trên địa bàn khối phố 2, khối phố 3
từng bước được kiện toàn, thể hiện được bộ mặt của đô thị, đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, đi lại của bà con. Tuy nhiên, hệ thống giao thông ở phía tây
của thị trấn, nhất là khối phố 5 và khối phố 1 mặc dù được quan tâm đầu tư nhưng
còn những tuyến chưa đạt chuẩn đô thị. Thực trạng có những tuyến đường
dân sinh hình thành từ lâu, có những đoạn nút thắt cổ chai, do đó rất khó khăn
cho việc đề xuất phê duyệt chủ trương đầu tư. Vì vậy, nhìn chung khu vực phía
tây của thị trấn đâu đó còn chưa thể hiện rõ dáng dấp của đô thị. Biển báo
tín hiệu giao thông trong lòng đô thị cũng cần được tăng cường lắp đặt đầy đủ
so với mật độ đi lại ngày càng cao của người dân.
Đối với an ninh,
trật tự đô thị, thời gian qua UBND thị trấn đã quan tâm ra quân nhiều đợt lập
lại trật tự đô thị. Tuy nhiên, tình trạng lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa hè làm
nơi kinh doanh buôn bán vẫn còn diễn ra. Đây là một trong những vấn đề được thị
trấn quan tâm hàng đầu, tuy nhiên trong điều kiện phát triển kinh tế theo hướng
thương mại, dịch vụ ngày càng mở rộng, các hoạt động kinh doanh, buôn bán của
người dân trong và ngoài địa bàn ngày càng đa dạng và sôi nổi; sau khi lực
lượng chức năng kiểm tra, nhắc nhở, xử lý, người dân vẫn còn tình
trạng tái lấn chiếm; do đó cần xác định trật tự đô thị là việc làm phải
duy trì thường xuyên, liên tục gắn với phát sinh trong đời sống xã hội. Bên
cạnh đó, một số quy định về quản lý, sử dụng vỉa hè còn thiếu sự
thống nhất cũng gây khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị. Tình
hình ANTT trên địa bàn vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, công tác quản lý nhà
nước về ANTT như: công tác quản lý cư trú, PCCC, ngành nghề kinh doanh có điều
kiện về ANTT,... đang đặt ra áp lực rất lớn cho địa phương có dân số
đông, nhất là địa bàn thuộc trung tâm kinh tế, chính trị, hành
chính của huyện.
Đối với Y tế,
giáo dục đô thị, hiện nay việc đáp ứng các tiêu chuẩn để đề nghị công nhận
lại trường đạt chuẩn quốc gia sau 5 năm của các trường gặp khó khăn, nhất là
tiêu chuẩn về cơ sở vật chất trường lớp học được quy định tại Thông tư Số:
13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là vấn đề lớn
thuộc tầm quản lý của cấp huyện, thị trấn cùng với các trường tiếp tục đề xuất
cấp trên lãnh đạo, hướng dẫn thực hiện trong thời gian tới.
Qua kết quả và
thực trạng xây dựng đô thị văn minh nêu trên, thị trấn Núi Thành đề ra các giải
pháp thực hiện như sau: Mục tiêu chung: tiếp tục đẩy nhanh phát triển kinh
tế; phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; chăm lo và nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân; giữ vững quốc phòng – an ninh;
phấn đấu được công nhận lại thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh sau 5
năm. Mục tiêu cụ thể: Thực hiện 9 tiêu chí và các tiêu chí thành
phần theo Quyết định số 04/2022/QĐ-TTg, ngày 18/02/2022 của Thủ tướng
Chính phủ. Phân công trách nhiệm cho các thành viên, ngành, bộ phận, đơn vị
thực hiện nhiệm vụ từng tiêu chí theo lĩnh vực phụ trách. Trong quá trình thực
hiện, người dân là yếu tố quyết định đến sự thành công của công tác với phương
châm “Người dân là chủ thể - Công tác tuyên truyền là giải pháp hàng đầu - Sự
đồng thuận của người dân là yếu tố quyết định”, do vậy trong thực hiện cần phát
huy vai trò chủ thể của người dân, tuyên truyền để người dân nhận thấy được lợi
ích của việc xây dựng đô thị văn minh đang tác động trực tiếp tới chất lượng
đời sống của người dân thì việc triển khai sẽ nhận được sự hưởng ứng, đồng
tình, ủng hộ cao. Qua đó, UBND thị trấn có một số đề xuất kiến nghị với
UBND huyện Núi Thành như sau:
Một là, tăng
cường hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý trong thực hiện pháp luật về
xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hoá, môi trường, quản lý đất đai, quản lý
trật tự đô thị nhằm giúp cho CBCC thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được phân công.
Tiếp tục Phát huy vai trò của các Đội liên ngành cấp huyện trong việc phối
hợp kiểm tra, xử lý các vi phạm trên các lĩnh vực văn hoá, dịch vụ văn hoá và
quản lý trật tự đô thị.
Hai là, đề xuất
huyện có kiến nghị với tỉnh có các quy định cụ thể về quản lý trật tự đô thị,
quản lý và sử dụng vỉa hè, lòng lề đường ở khu vực đô thị nhằm có cách hiểu
chung và áp dụng thực hiện văn bản thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh.
Ba là, hiện nay,
chưa có những cơ chế đặc thù hỗ trợ về nhân lực, tài chính và tổ chức hoạt
động,... để xây dựng đô thị văn minh từ các cấp. Vì vậy, trên cơ sở các tiêu
chí về xây dựng đô thị văn minh. Theo lộ trình hằng năm, đề xuất UBND Huyện
dành nguồn kinh phí từ ngân sách để đầu tư xây dựng, chỉnh trang đô thị trên
địa bàn thị trấn giống như đầu tư xây dựng nông thôn mới ở các xã để thị trấn
có điều kiện phát triển đô thị nhanh và bền vững.
Bốn là, trước hết
đề xuất UBND huyện nghiên cứu nâng cấp các vỉa hè; bảo trì, sữa chữa các tuyến
đường nội thị bị xuống cấp; lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, điện trang trí,
đèn báo hiệu giao thông đảm bảo.
Năm là, quan
tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cũng như các điều kiện cần thiết khác
để duy trì và nâng cao kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường đạt
chuẩn quốc gia cho các trường trên địa bàn.
Sáu là, đề nghị
UBMTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện tiếp tục lãnh đạo, hướng
dẫn Mặt trận, các hội đoàn thể cơ sở tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao
nhận thức của cán bộ, hội viên và Nhân dân về xây dựng đô thị văn minh, nhất là
gắn với việc triển khai có chất lượng, hiệu quả các mô hình.
Tin tưởng rằng
với sự quan tâm lãnh đạo của UBND huyện; sự phối hợp, tạo điều kiện của các cơ
quan, đơn vị thuộc huyện; sự đồng lòng, quyết tâm của hệ thống chính trị từ thị, baib trấn đến khối phố, thị
trấn Núi Thành sẽ tiếp tục thực hiện đạt kết quả các tiêu chí đô thị văn
minh./.
Tác giả: Kim Loan
Vẫn đi trên quốc lộ 1A chúng ta sẽ tới thành phố Tam Kỳ.
Thành Phố Tam Kỳ
Theo sử liệu, Tam Kỳ ngày nay là cùng đất thuộc
huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa của đạo Thừa Tuyên – Quảng Nam, được
hình thành từ năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đến năm 1906, đời vua Thành
Thái, huyện Hà Đông được nâng lên thành phủ Hà Đông và sau đó đổi thành phủ Tam
Kỳ.
Nằm ở trung tâm tỉnh Quảng Nam, thành phố Tam Kỳ không chỉ là trung tâm
hành chính – kinh tế mà còn là một địa điểm du lịch đầy hứa hẹn với sự kết hợp
hài hòa giữa nét đẹp tự nhiên và bề dày văn hóa, lịch sử. Cách thành phố Đà
Nẵng khoảng 70km về phía nam và phố cổ Hội An 40km, Tam Kỳ dễ dàng trở thành
điểm dừng chân lý tưởng cho những ai muốn khám phá vẻ đẹp bình dị nhưng đầy sức
hút của miền Trung Việt Nam.
Tam Kỳ nổi tiếng với bãi biển Tam Thanh trong xanh, những làng nghề truyền thống đặc sắc và nhiều di tích lịch sử hào hùng. Nơi đây còn được biết đến với nhịp sống yên bình, con người thân thiện và nền ẩm thực đa dạng. Thành phố là minh chứng rõ nét cho sự phát triển bền vững khi vẫn giữ được nét đẹp tự nhiên vốn có song song với việc đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại, phục vụ tốt cho cả du lịch và đời sống của người dân địa phương.
2/ Thời điểm lý tưởng để du lịch
thành phố Tam Kỳ
Tam Kỳ có khí hậu
nhiệt đới gió mùa, phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô (từ tháng 3 đến
tháng 8) và mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12).
- Mùa khô (tháng 3 – tháng 8): Đây là khoảng thời gian đẹp nhất để khám phá Tam Kỳ. Thời tiết nắng
ráo, bầu trời trong xanh, rất lý tưởng cho các hoạt động ngoài trời như tắm
biển, tham quan làng bích họa Tam Thanh hay leo núi tại các khu vực như Kỳ Anh
hoặc hồ Phú Ninh.
- Mùa mưa (tháng 9 – tháng 12): Thời gian này thường có mưa nhưng không kéo dài liên tục, tạo nên một
khung cảnh lãng mạn, yên tĩnh. Du lịch Quảng Nam nói chung và Tam
Kỳ nói riêng vào mùa mưa thích hợp cho những ai yêu
thích sự tĩnh lặng và muốn trải nghiệm vẻ đẹp khác biệt của miền Trung.
- Tháng 1 và tháng 2 cũng
là thời điểm lý tưởng để ghé thăm nếu bạn muốn tham dự các lễ hội truyền thống,
đặc biệt là các lễ hội tâm linh tại đền Cửa Ông hay chùa Đạo Nguyên.
Tam Kỳ mang đến
nhiều điểm đến hấp dẫn, từ thiên nhiên tuyệt đẹp đến những di tích lịch sử mang
đậm dấu ấn văn hóa. Dưới đây cẩm nang du lịch MIA.vn sẽ giới thiệu đến bạn một
số địa danh nổi bật.
Bãi biển Tam Thanh
nằm cách trung tâm thành phố Tam Kỳ khoảng 10km, nổi tiếng với bờ cát trắng mịn
và làn nước biển trong xanh. Đây là nơi lý tưởng để du khách thư giãn, tắm biển
và thưởng thức hải sản tươi ngon. Gần bãi biển là làng bích họa Tam Thanh, nơi
những bức tường cũ kỹ được tô điểm bằng các bức tranh sống động, biến ngôi làng
nhỏ ven biển thành một bảo tàng nghệ thuật ngoài trời đầy sắcmàu.

Bãi biển Tam Thanh với bờ cát mịn màng cùng làn nước
biển trong xanh. Ảnh: hotels
3.2 Tượng đài Mẹ Thứ
Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ là một trong những công trình văn hóa – lịch sử tiêu biểu của Tam Kỳ. Tượng đài khắc họa hình ảnh người mẹ hiền từ nhưng đầy mạnh mẽ, biểu tượng cho lòng hy sinh và tinh thần yêu nước của người Việt Nam trong kháng chiến. Khu vực xung quanh tượng đài còn là một công viên lớn, nơi lý tưởng để tham quan và tìm hiểu về lịch sử đất nước.
Tượng đài Mẹ Thứ trở thành biểu tượng cho lòng hy sinh
và tinh thần yêu nước của người dân Quảng Nam
Mẹ Thứ (quê Quảng Nam)
14 lần tiễn con cháu ra chiến trường thì 12 người không về!
Mẹ Thứ là hình
tượng tiêu biểu của Bà mẹ Việt Nam anh hùng với sự cống hiến, hy sinh vô bờ
bến; là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.
Chín lần
nhận giấy báo tử của các con trai
Mẹ VNAH Nguyễn
Thị Thứ (SN 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ mẹ SN 1902) tại xóm Rừng (thôn
Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam); mất ngày
10-12-2010 tại TP.Đà Nẵng, đại thọ 106 tuổi.
Quê nhà mẹ Thứ
những ngày này nhộn nhịp kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước. Nhà mẹ Thứ đơn sơ, yên bình. Nhiều người đến dâng hương,
tưởng nhớ mẹ và các anh hùng liệt sĩ. Trên tường nhà treo 12 bằng Tổ quốc ghi
công và trên bàn thờ hương khói của 9 người con trai mẹ Thứ.
Mẹ Thứ bên mâm có chín cái bát, chín đôi đũa dành cho 9 người con của mẹ đã hy sinh. Bức ảnh do Đại tá, nhà báo Trần Hồng chụp gây xúc động đối với bất cứ ai nhìn thấy
Vườn nhà mẹ
rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để
ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và
khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm.
Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc...
Nuôi con cháu
trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các
con ra chiến trường. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai
hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh,
cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) khi có chồng và 2
con gái là liệt sĩ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sĩ.
Hiếm có người mẹ
nào trên thế giới này mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ.
Trong chống Pháp và Mỹ, mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và
nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh.
Ngày 18-6-1948, anh Lê Tự Xuyến - chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng. Nửa tháng sau, ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. 10 ngày sau, con trai Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong trận chống càn. Con trai Lê Tự Lem tròn 20 tuổi hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4-1954. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn
Xuân Phúc thăm, dâng hương mẹ Thứ và các anh hùng liệt sĩ trong gia đình mẹ vào
năm 2017.
Con rể của mẹ là
Ngô Tường (chồng của mẹ VNAH Lê Thị Trị) tham cách mạng từ thời chống Pháp, bị
giặc Mỹ bắt năm 1956, bị tra tấn cho đến lúc tử vong, được công nhận là liệt
sĩ. Mẹ Thứ còn 2 cháu ngoại (con gái của mẹ Trị) là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt
tra hỏi, hy sinh tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào
vùng địch hậu năm 1973.
Năm 80 tuổi, mẹ
Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng
con út Lê Tự Tân cho đến khi mất ở tuổi 106 vào ngày 10-12-2010.
Sự mất mát, hy sinh của gia đình mẹ Thứ không có bút mực nào diễn tả hết. Nhiều cựu lãnh đạo, cán bộ vẫn còn kể câu chuyện, vào năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận”?
Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”. Người cựu chiến binh Hàn Quốc sững người, rưng rưng nước mắt rồi thấp người xuống, cầm tay xin lỗi mẹ…
Sừng
sững tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng
Ngày 17-12-1994,
Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH
đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ, trong đó có mẹ Thứ. Trân trọng với những gì các
Bà mẹ VNAH đã cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân, năm 2004, Đảng và Nhà đồng ý
xây dựng quần thể tượng đài Bà mẹ VNAH. Ngày 27-7-2009, công trình được khởi
công tại núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam) rộng
150.000m2 (15ha); hoàn thành ngày 24-3-2015. Đây là tượng đài Bà mẹ VNAH lớn
nhất nước.
Đặc biệt, công
trình lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ. Với ý tưởng: Mẹ là suối nguồn bao la
vô tận, là linh hồn đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra
những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ
sẽ sống mãi ngàn đời, vẫn tiếp thêm nguồn sức mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Họa sĩ Đinh Gia
Thắng đã thể hiện bức tượng mẹ Thứ (cao 18,5m, rộng 84,7m). Bên trong tượng đài
là Nhà tưởng niệm Mẹ VNAH, có bia ghi danh gần 50.000 Mẹ VNAH cả nước; giới
thiệu hình ảnh, cuộc đời và sự cống hiến của các Bà mẹ VNAH…
Trong hồi tưởng
của Bà mẹ VNAH Lê Thị Trị có đoạn viết: “Lúc Mẹ (tức mẹ Thứ -
PV) còn sống, mỗi khi tới kỳ giỗ chạp của các con hay ngày Tết Nguyên
đán, ngày Thương binh Liệt sỹ, Mẹ lọ dọ chống gậy đến bàn thờ thắp 9 ngọn nến,
9 nén hương và xếp 9 cái bát, 9 đôi đũa bên mâm cơm để gọi các con về với Mẹ…
Lại có những đêm thiếp đi trong cơn mê, Mẹ như thấy các con về, Mẹ choàng tỉnh
dậy, nước mắt lưng tròng đến trước bàn thờ gọi tên từng người con yêu quý và
thắp 9 nén hương để tưởng nhớ các con…”.
Đại tá Trần Hồng
(SN 1947, ngụ TP.Hà Nội) được biết đến là nhà báo chuyên ghi lại hình ảnh về
cuộc sống của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và chụp ảnh chân dung Mẹ VNAH là người
đã chụp bức ảnh mẹ Thứ bên mâm cơm cúng các con.
Năm 2001, ông chụp bức ảnh mẹ Thứ ngồi trước mâm cơm với 9 bộ bát đũa bày ra để tưởng nhớ các con và coi đó là sự sum vầy, rồi ông viết: “Bất chợt bữa đến nhà, tôi thấy Mẹ đang ngồi như thế này. Bà bảo tôi rằng bà vẫn đợi nó về. 9 thằng chắc chắn có một thằng về với tôi, chắc chắn thế”.
Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho đã viết về chi tiết này thành bài hát “Người mẹ Quảng Nam”: "Chín bát hương, chín khúc ruột tái tê/ Chín con ra đi không một đứa trở về/ Giọt lệ chảy dài như dòng sông quê mẹ/ Nỗi đau chất chồng cao tựa Trường Sơn… Mẹ yêu thương, mẹ anh hùng, mẹ của con/ Cả nước tự hào, ôi người mẹ Quảng Nam"...
Hoàng
Quân
3.3 Địa đạo Kỳ Anh
Địa đạo Kỳ Anh cách trung tâm thành phố khoảng 7km, là một di tích lịch sử quan trọng, nơi lưu giữ dấu ấn của cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ. Hệ thống đường hầm ngầm này được xây dựng để ẩn náu và phục kích quân địch. Bạn sẽ không chỉ được tham quan mà còn có cơ hội tìm hiểu về sự kiên cường của người dân Tam Kỳ qua những câu chuyện xúc động.
Hồ Phú Ninh là một trong những hồ nước lớn nhất miền Trung, cách trung tâm thành phố khoảng 7km. Với khung cảnh thơ mộng, rừng cây xanh mát và không gian yên bình, đây là địa điểm lý tưởng cho các hoạt động cắm trại, câu cá hoặc chèo thuyền. Điểm đặc biệt tại hồ Phú Ninh là nguồn suối nước nóng tự nhiên, nơi du khách có thể thư giãn và tận hưởng dịch vụ trị liệu sức khỏe.
Hồ Phú Ninh với khung cảnh nên thơ.
3.5 Chùa Đạo Nguyên
Nằm ngay trung tâm thành phố Tam Kỳ, chùa Đạo Nguyên là điểm đến không thể bỏ qua với những ai yêu thích du lịch tâm linh. Với kiến trúc cổ kính, khuôn viên xanh mát và không gian yên bình, nơi đây thu hút đông đảo du khách tìm đến để cầu bình an và khám phá nét đẹp văn hóa Phật giáo.
Chùa Đạo Nguyên là địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của thành phố Tam Kỳ
ẨM THỰC TP.TAM KỲ
Ẩm thực Tam Kỳ mang đậm nét đặc trưng của miền Trung với hương vị đậm đà và nguyên liệu tươi ngon. Dưới đây là những món ăn bạn nhất định phải nếm thử nếu có dịp đến với thành phố này.
1/ Cơm gà Tam Kỳ
Cơm gà Tam Kỳ là
món ăn nổi tiếng, được chế biến từ gà thả vườn và cơm nấu bằng nước luộc gà,
mang lại hương vị thơm ngon, dẻo mềm. Món ăn này thường được phục vụ cùng nước
chấm chua ngọt, rau sống và dưa leo, tạo nên sự hòa quyện hoàn hảo.
Cơm gà Tam Kỳ là món đặc sản nổi tiếng tại đây.
2/ Mì Quảng Tam Kỳ
Không giống với mì Quảng ở các địa phương khác, mì Quảng Tam Kỳ có hương vị độc đáo với sợi mì vàng óng, nước dùng đậm đà cùng các loại topping như thịt, tôm và trứng cút. Đây là món ăn thể hiện rõ nét văn hóa ẩm thực miền Trung, được rất nhiều khách du lịch yêu thích.
Mì Quảng cũng là món ăn bạn không thể bỏ lỡ.
3/ Bánh tổ
Bánh tổ là món ăn
truyền thống thường xuất hiện trong các dịp lễ Tết. Được làm từ gạo nếp, đường
và gừng, bánh có vị ngọt thanh, dẻo thơm và mang ý nghĩa may mắn, đoàn viên.
Bánh tổ có vị ngọt thanh, dẻo và thơm.
4/ Cá chuồn nướng Tam Thanh
Cá chuồn là hải sản
đặc trưng của vùng biển Tam Kỳ, thường được nướng than hoặc chế biến thành món
hấp. Hương vị ngọt tự nhiên của cá kết hợp với nước chấm đặc trưng sẽ mang lại
trải nghiệm ẩm thực khó quên.
Cá chuồn nướng Tam Thanh nướng bình dị và thơm ngon.
Đoạn qua thị trấn Duy Xuyên, phí bên trái quốc lộ có 1 con dường dẫn vào thánh địa Mỹ Sơn Thánh Địa Mỹ Sơn
Thánh địa Mỹ Sơn - Di sản văn hóa thế giới tại Quảng Nam
Thánh
địa Mỹ Sơn từ lâu đã là địa điểm du lịch nổi tiếng cả nước tại tỉnh Quảng Nam.
Nơi đây là một quần thể kiến trúc của người Chăm Pa đã có từ hàng thế kỷ trước,
hiện nay vẫn còn hơn 32 đền đài với kiến trúc “độc nhất vô nhị” được bảo tồn.
Cũng chính vì những bí ẩn thú vị này mà thánh địa Mỹ Sơn đã trở thành địa điểm
được nhiều du khách ghé thăm. Cùng Traveloka thử “chinh phục” địa danh đầy mê
hoặc này nhé!
Giới thiệu tổng quan di tích thánh địa Mỹ Sơn
Ẩn mình
giữa thung lũng xanh mướt ở xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Thánh
địa Mỹ Sơn là một trong những quần thể đền tháp cổ kính và bí ẩn bậc nhất Đông
Nam Á. Nơi đây từng là trung tâm tôn giáo và chính trị quan trọng của vương
quốc Chăm Pa, ghi dấu hơn một thiên niên kỷ lịch sử với những nét văn hóa độc
đáo.
Được xây dựng từ thế kỷ IV và phát triển rực rỡ qua các triều đại vua Chăm, Mỹ Sơn mang đậm dấu ấn kiến trúc Ấn Độ giáo với hơn 70 công trình đền tháp nguyên bản. Dù trải qua nhiều biến cố lịch sử, thánh địa vẫn giữ được vẻ kỳ bí, huyền ảo với 32 công trình còn được bảo tồn cho đến ngày nay.
Năm 1999, Thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, khẳng định giá trị lịch sử và nghệ thuật của khu di tích. Ngày nay, đây không chỉ là một địa điểm du lịch nổi tiếng mà còn là niềm tự hào của người dân Quảng Nam và cả Việt Nam. Hành trình khám phá Mỹ Sơn sẽ mang đến cho bạn những trải nghiệm đáng nhớ về một nền văn minh rực rỡ của quá khứ.
Lịch sử thánh địa Mỹ Sơn - Viên ngọc quý của
Champa cổ
Thánh
địa Mỹ Sơn là minh chứng cho sự phát triển rực rỡ của nền văn minh Chăm Pa.
Được xây dựng từ thế kỷ IV dưới triều đại vua Bhadravarman, nơi đây từng là
trung tâm tôn giáo và chính trị quan trọng của vương quốc Chăm Pa.
Thánh địa Mỹ Sơn được vua Bhadravarman cho khởi công từ thế kỷ IV và kết thúc vào cuối thế kỷ XIII. Trong suốt hơn một thiên niên kỷ này, các vua Chăm Pa đã liên tục xây dựng và mở rộng Thánh địa Mỹ Sơn, tạo nên một quần thể với hơn 70 đền tháp mang đậm dấu ấn kiến trúc Ấn Độ giáo, đặc biệt là thờ thần Shiva. Các công trình này được xây dựng trong một thung lũng có đường kính khoảng 2 km, bao quanh bởi đồi núi, tạo nên một cảnh quan hùng vĩ và linh thiêng.
Do sự tàn phá của chiến tranh mà đến năm 1975, Mỹ Sơn chỉ còn giữ lại được 32 công trình gồm 20 đền tháp là còn giữ được nét kiến trúc ban đầu.
Khám phá kiến trúc của di tích Mỹ Sơn
Về kiến trúc, các đền tháp tại Mỹ Sơn được xây dựng chủ yếu bằng gạch nung, với kỹ thuật xây dựng độc đáo mà đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn. Các công trình quay mặt về hướng đông – hướng mặt trời mọc (cũng là hướng của thần linh theo quan niệm Ấn Độ giáo). Mỗi tháp chính (Kalan) tượng trưng cho ngọn núi Meru – trung tâm của vũ trụ trong Hindu giáo, và là nơi thờ thần Siva dưới dạng Linga hoặc tượng Siva. Xung quanh tháp chính thường có các tháp phụ và công trình phụ trợ, tạo thành một tổng thể hài hòa.
Điều đặc biệt là mỗi đền tháp tại Mỹ Sơn sẽ thờ một triều đại vua hoặc một
vị thần khác nhau, chính vì điều này mà mỗi một công trình được xem là mảnh
ghép quan trọng qua từng triều đại của Chăm Pa. Khu di tích Mỹ Sơn sẽ có những
khu vực gồm:
Khu vực
A: Là khu vực đầu tiên nên đến, tại đây có thể ngắm nhìn toàn bộ thánh địa Mỹ
Sơn, nhưng hầu hết các công trình tại khu A đang trong quá trình trùng tu.
Khu vực
B: Thuộc khu vực đồi phía Tây, nơi đây có 1 tháp chính và 3 tháp phụ.
Khu vực C: Toạ lạc tại đồi phía Nam và cũng là khu vực độc đáo nhất với nhiều đền, tháp, phù điêu, bia khắc, tác phẩm vô cùng ấn tượng.
Khu di tích Mỹ Sơn sẽ có những phân khu chính
gồm:
Khu vực
A: Là khu vực đầu tiên nên đến, tại đây có thể ngắm nhìn toàn bộ thánh địa Mỹ
Sơn, nhưng hầu hết các công trình tại khu A đang trong quá trình trùng tu.
Khu vực
B: Thuộc khu vực đồi phía Tây, nơi đây có 1 tháp chính và 3 tháp phụ.
Khu vực C: Toạ lạc tại đồi phía Nam và cũng là khu vực độc đáo nhất với nhiều đền, tháp, phù điêu, bia khắc, tác phẩm vô cùng ấn tượng.
Đặc biệt nhất là phần gạch xây, các viên gạch được nung và cắt khối, rồi xếp chồng lên nhau mà không cần các chất kết dính như hiện nay. Trải qua hàng thế kỷ, chúng vẫn đứng vững và đây cũng chính là một trong những bí ẩn lớn nhất mà chưa ai lý giải được.
Thánh địa Mỹ Sơn có gì đặc biệt mà ai cũng muốn
đến?
Khám
phá những kiến trúc hàng thế kỷ
Dù chỉ
còn 32 công trình đền tháp được bảo tồn nguyên vẹn, Thánh địa Mỹ Sơn vẫn đủ sức
khiến bất kỳ ai ghé thăm phải kinh ngạc bởi sự kỳ công và kỹ thuật xây dựng
tinh xảo. Các đền tháp nơi đây là minh chứng sống động cho tài năng và sự sáng
tạo vượt thời gian của người Chăm Pa cổ đại. Đây cũng chính là điểm thu hút
nhiều du khách đến với thánh địa Mỹ Sơn nhất.
Đặc biệt nhất là phần gạch xây, các viên gạch được nung và cắt khối, rồi xếp chồng lên nhau mà không cần các chất kết dính như hiện nay. Trải qua hàng thế kỷ, chúng vẫn đứng vững và đây cũng chính là một trong những bí ẩn lớn nhất mà chưa ai lý giải được.
Ngoài sự đặc biệt trong cách xây dựng, mỗi công trình tại Mỹ Sơn còn gây ấn tượng bởi những hoa văn, phù điêu được chạm khắc tinh xảo trên bề mặt gạch. Các hình tượng thần linh, hoa sen, và các họa tiết hình học phức tạp không chỉ thể hiện tài nghệ vượt bậc của nghệ nhân Chăm Pa mà còn mang đậm ý nghĩa tôn giáo và văn hóa.
Chiêm ngưỡng con đường cổ độc đáo rộng đến 8m
ĐMột trong những điểm nhấn đặc biệt tại thánh địa Mỹ Sơn là con đường cổ rộng 8m, một kiệt tác ẩn mình trong lòng đất. Theo tài liệu ghi lại thì con đường này sẽ dẫn đến trung tâm thánh địa, là nơi có tòa tháp cổng lớn được sử dụng để cúng tế chỉ dành cho vua chúa, hoàng tộc, người có chức sắc ra vào. Ở cuối con đường, du khách sẽ tìm thấy một tòa tháp cổng lớn, nơi được cho là không gian linh thiêng nhất trong toàn bộ quần thể đền tháp Mỹ Sơn.
Mê hoặc cùng điệu múa Chăm Apsara
Tại
Thánh địa Mỹ Sơn, du khách có cơ hội thưởng thức điệu múa Apsara truyền thống
của người Chăm. Điệu múa Apsara với tựa đề “Linh hồn của đá” cùng sự biểu diễn
của những cô gái người Chăm xinh đẹp trong tiếng trống Paranưng và tiếng kèn
Saranai sẽ làm mê hoặc mọi du khách.
Các buổi biểu diễn múa Apsara thường diễn ra hàng ngày tại khu di tích, với các suất vào lúc 9h15, 10h45, 14h00 và 15h30. Du khách nên sắp xếp thời gian tham quan phù hợp để không bỏ lỡ cơ hội chiêm ngưỡng nét văn hóa đặc sắc này.
Từ thị trấn Duy Xuyên chúng ta sẽ đi tới huyện Hòa Vang.
Hòa Vang
Hòa Vang là một
huyện nằm bao bọc quanh phía tây thành phố Đà Nắng. Diện tích 737.5 km². Dân số
106.746 – năm 2005. Huyện có
diện tích bằng hơn 80% diện tích của thành phố Đà Nắng (không
kể đảo Hoàng Sa).
Hòa Vang giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế (phía bắc), quận Liên Chiểu (đông
bắc), quận Thanh
Khê, quận Ngũ Hành Sơn (phía
đông), tỉnh Quảng Nam (phía nam và phía tây).
Hòa Vang là địa
danh nổi tiếng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ.Đây là địa phương có
nhiều địa danh đẹp và thơ mộng như khu du lịch sinh thái rừng Bà Nà, Suối Mơ, hồ thủy lợi Hòa Trung, hồ thủy lợi Đồng Nghệ, sông Cu Đê mang tôm cá
vùng biển lên với đồng bào thượng nguồn và sản vật vùng cao như gỗ, nông sản về
đồng bằng.
Tới ngã 3 Điện Bàn, đi khảng 10 km là tới Hội An.
Hội An
Hội An là một
thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam có nhiều khu phố cổ được xây từ thế kỷ 16 và vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn đến nay. Trong các tài liệu cổ của phương Tây, Hội An được gọi Faifo. Hội An được công nhận là một di sản thế giới UNESCO từ năm 1999. Hiện nay chính quyền sở
tại đang tích
cực khôi phục các di tích, đồng thời phát triển thành một thành phố du lịch. Hội An đã đươc công nhận là
đô thị loại III và đã được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam.
Các di tích tiêu
biểu của đô thị cổ Hội An : Chùa Cầu, Nhà cổ Tấn Ký, Nhà cổ Quân Thắng, Nhà cổ
Phùng Hưng, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Triều Châu, Hội quán Quảng Đông, Chùa
Ông, Quan âm Phật tự Minh Hương, Nhà thờ tộc Trần, Nhà thờ tộc Trương,
Bảo tàng lịch sử văn hóa, Bảo
tàng gốm sứ mậu dịch, Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh
Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu
Xá I,II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú : Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I;
Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiêm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử
và thời văn hoá Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới
2000 năm, tức là vào giai
đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh.
Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là
các loại thuộc về công cụ sinh hoạt,
lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng… bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Đặc biệt còn có cả những tiền đồng Trung
Quốc: Ngũ Thù; Vương Mãng cùng với các đồ trang sức mã não, thuỷ tinh có gốc
gác từ Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông, chứng tỏ cách đây 2000 năm, dân cư ở
đây
đã có nghề trồng
lúa nước, khai thác thuỷ sản và làm
các nghề thủ công. Đồng thời cũng thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hoá trong nước cùng các hoạt động buôn bán với nước ngoài, lập nên một Cảng-Thị
sơ khai, là nền móng cho các Cảng-Thị sau này.
Lịch sử hình thành Hội An
Thế kỉ thứ 2 – Thế kỉ
15
Hai con mắt trên trong chùa Cầu (Lai Viễn Kiều). Rất nhiều nhà cổ ở Hội An có hai con mắt trên cửa như
trong hình
Kế tiếp dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở đầu thời
kì vàng son cho một Cảng-Thị hưng
thịnh. Những cái tên Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại),
Cachiam cùng với những tượng đá,
giếng gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong các di chỉ khảo cổ học với các hiện vật gốm sứ Champa, Ả
Rập, Trung Quốc; các đồ trang sức từ
Trung Đông, Ấn Độ và nhiều tài liêu,
thư tịch cổ Trung Quốc,
Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư xác nhận vùng Cửa Đại xưa kia là hải cảng chính
của nước Champa. Vùng Lâm Ấp phố là nơi các chiến thuyền ngoại quốc thường ghé
lấy nước ngọt từ những giếng Champa
rất ngon và trong;
trao đổi sản vật như trầm hương, quế, ngọc ngà, thuỷ tinh, tơ lụa,
đồi mồi, xà cừ.
Thế kỉ 15 – Thế kỉ 19
Tiếp nối thời Champa,
khoảng cuối thế kỉ 15, Hội
An đã có dân cư Đại Việt tới sinh sống. Trong buổi đầu
cùng với việc khai hoang, lập làng, người Việt còn sáng tạo ra một số ngành
nghề phù hợp với điều kiện
tự nhiên và xã hội nơi đây.
Từ cuối thế kỉ 16 – thế kỉ 17, có thêm nhiều người Hoa và người Nhật đến định
cư, giúp thương nghiệp Hội An phát triển. Kết hợp với vị trí địa lý phù hợp, Hội An nhanh chóng trở thành một thương cảng phồn thịnh trong
nhiều thế kỉ.
Đến giữa thế kỉ 19, nền kinh tế Hội An nhanh chóng suy thoái do nhiều nguy nhân bất lợi: sự bồi cạn, sông chuyển
dòng, chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến. Ngay gần đó, thương
cảng Đà Nắng hiện đại do
người Pháp lập nên đã lấn át hết vai trò của Hội An.
Ngày 4 tháng 12 năm1999
taị kì họp thứ 23 tổ chức tại Marrakesh (Maroc), Uỷ ban Di Sản thế giới của UNESCO đã công nhận Hội An là di sản
văn hoà thế giới.
Làng mộc Kim Bồng Hội An - di sản văn hóa trăm năm tuổi
Làng mộc Kim Bồng là một trong những làng nghề truyền thống của Hội An ghi dấu nhiều công trình nghệ thuật và những sản phẩm giàu giá trị văn hóa, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước ghé tới thăm.
Tại làng mộc Kim Bồng, các nghệ nhân thỏa
sức thổi hồn vào gỗ và tạo ra những sản phẩm tinh tế, có giá trị cao. Tham quan
làng mộc một ngày, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn về làng nghề truyền
thống độc đáo này và trực tiếp tham gia những trải nghiệm thú vị, hấp dẫn.
Làng mộc Kim Bồng (còn gọi là Kim Bồng Châu) là một làng
thủ công truyền thống ở rất gần với phố cổ Hội An.
Làng mộc Kim Bồng bắt đầu tập
trung vào nghề mộc từ thế kỷ XVI và trải qua nhiều giai đoạn phát triển mạnh mẽ
theo nhịp giao thương tấp nập của cảng thị Hội An. Giai đoạn này, Hội An giao
lưu sâu rộng với nước ngoài, “hấp thu” các phong cách làm mộc khác nhau, tạo
tiền đề cho một sắc thái riêng của nghề mộc Kim Bồng ở Hội An.
Đến thế kỷ XVIII, làng đã hình thành nên 3 nhóm nghề rõ rệt là: nghề mộc xây dựng, nghề mộc đóng thuyền và nghề mộc dân dụng. Ngoài ra, nghề nề đắp vẽ, chạm trổ linh vật cũng góp phần đưa tên tuổi của làng vang xa khắp mọi miền.
Ngày nay, tuy đã qua giai đoạn vàng son nhưng những người
thợ làng mộc Kim Bồng yêu nghề vẫn duy trì nếp sống cũ, chung tay góp sức trùng
tu, bảo tồn các di tích phố cổ Hội An và ngược xuôi khắp nơi để xây dựng những
ngôi nhà rường, nhà cổ 3 gian truyền thống. Bên cạnh đó, nghề mộc thủ công mỹ
nghệ cũng phát triển hơn khi làng bắt đầu mở cửa chào đón khách du lịch.
Để khám phá làng, du khách có thể thuê xe đạp dạo quanh đó, thăm thú cuộc sống làm nghề của người dân hoặc tham quan nhà thờ tộc. Đặc biệt, du khách còn có cơ hội ngắm nhìn và trải nghiệm quy trình đan tre, dệt chiếu và tráng bánh.
Khi mới bước chân vào làng, điều khiến du khách ấn tượng đầu tiên chính là tiếng đục, cốc cốc, keng keng đặc trưng của nghề mộc. Đây cũng là âm thanh quen thuộc và là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân nơi đây.
Ghé thăm làng mộc Kim Bồng cũng là dịp để du khách có những góc nhìn chân thực, rõ nét hơn về nghề mộc. Ấn tượng nhất chính là được trực tiếp quan sát các công đoạn sản xuất ra một sản phẩm gỗ. Và để tạo ra một thành phẩm hoàn chỉnh, phải đòi hỏi nhiều công đoạn phức tạp khác nhau. Người thì tạo phần xác, người khắc họa phần hồn để mỗi sản phẩm hoàn thành không chỉ có tính hữu dụng mà còn phải tinh tế, đẹp mắt và có giá vị văn hóa.
Các sản phẩm chủ đạo tại đây gồm
có: bộ tứ linh Long - Lân - Quy - Phụng, chim công múa, các Đức Thánh và cả
những vật dụng trong gia đình như bàn, ghế, tủ thờ,… Không chỉ vậy, các nghệ
nhân ở đây còn có kinh nghiệm xây dựng hội quán, chùa chiền, đình làng, nhà
thờ, nội ngoại thất hay “tất tần tật” những gì liên quan đến đồ gỗ.
Sau khi thỏa sức quan sát quá
trình làm ra sản phẩm gỗ của nghệ nhân mộc, du khách có thể dành chút thời gian
để thưởng lãm vẻ đẹp những sản phẩm đã hoàn thành. Nếu để ý kỹ, bạn sẽ thấy
những họa tiết, hoa văn được chạm trổ lên mỗi sản phẩm đều phản ánh được nét
văn hóa đặc trưng của con người Hội An.
Có thể kể đến như: hình ảnh con trâu, người nông dân, con đò, cây tre, chùa Cầu… Tất cả đều được chạm khắc giản dị, vô cùng mộc mạc và gần gũi. Điều này không chỉ tạo ra sự độc đáo cho các sản phẩm đến từ làng mộc Kim Bồng, mà còn khiến du khách vô cùng tò mò, hứng thú.
Ngoài ra, các sản phẩm gỗ của làng mộc Kim Bồng còn có chất liệu vô cùng bền bỉ với màu nâu óng ả đặc trưng, tạo nên những mảng gỗ với các góc màu khác nhau lúc thì tạo cảm giác sang trọng, có lúc lại mộc mạc vô cùng. Chính nhờ các kỹ thuật chạm nổi, chạm lộng, chạm thủng từ bàn tay nhuần nhuyễn, khéo léo, những người nghệ nhân đã tạo ra một thế giới đồ gỗ đầy tự nhiên và mê hoặc.
Với một làng nghề truyền thống tồn tại hàng trăm năm như
làng Kim Bồng, thì điều ý nghĩa nhất không chỉ là đến trực tiếp ngắm nghía quy
trình sáng tạo của người dân mà còn là mua một vài món đồ kỷ niệm mang về làm
quà.
Nếu trước đây nghề chính của làng là nghề đóng ghe tàu, xây dựng nhà thì giờ hướng tập trung chính là sản xuất các mặt hàng mỹ nghệ, phù điêu, câu đối gỗ, tượng trang trí, đồ thờ cúng… Du khách có thể chọn mua một vài thứ để làm kỷ niệm cho chuyến du lịch của mình.
Vì làng nghề mộc Kim Bồng không
cách phố cổ quá xa, nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn nên du khách có thể kết hợp
tham quan làng trước, sau đó di chuyển về trung tâm phố cổ để đi dạo và thưởng
thức ẩm thực. Tại Hội An, có rất nhiều món đặc sản hấp dẫn như:
cao lầu, cơm gà, bánh mì Phượng, bánh đập hến xào… và vô vàn các món ăn vặt hấp
dẫn khác. Tất cả đã tạo nên cho phố cổ Hội An một không gian ẩm
thực hấp dẫn, độc đáo.
Làng Nghề Truyền Thống Gồm Thanh Hà
Làng gốm Thanh Hà
thuộc địa bàn khối Nam Diêu - phường Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng
Nam, nằm ven tả ngạn hạ lưu sông Thu Bồn, cách khu phố cổ 3km về hướng Tây. Từ
xa xưa, dân gian xứ Quảng đã phản ánh sự phát triển sôi động của nghề gốm Thanh
Hà qua câu ca:
“Lửa chi lửa rực sáng
loà
Nghề gốm, nghề gạch
Thanh Hà là đây”
Và sách Đại Nam Nhất
thống chí - Quốc sử quán triều Nguyễn xuất bản cũng đã ghi danh nghề gốm Thanh
Hà trong phần thổ sản Quảng Nam. Do vậy có thể nói Nam Diêu - Thanh Hà là trung
tâm sản xuất gốm lớn của Quảng Nam và miền Trung.
Làng gốm Thanh Hà hình thành vào khoảng thế kỷ thứ XVI, XVII. Lúc bấy
giờ các vị thuỷ tổ tộc Nguyễn Viết, Nguyễn Văn, Nguyễn Kim, Nguyễn Đức, Bùi,
Nguỵ, Võ, Lê từ Nghệ An, Thanh Hoá đến khai phá, lập nên làng Thanh Hà ngày
nay. Thời nhà Nguyễn, Thanh Hà là đơn vị hành chính cấp xã, gồm ấp Hậu Xá, An
Bang, Nam Diểu, Thanh Chiếm, Đồng Nà, Bến Trễ, Trà Quế, Cồn Động, Bàu Ốc, Trảng
Kèo, Cửa Suối. Tương truyền, ban đầu các vị tiền nhân chọn ấp Thanh Chiếm (khối
VI - phường Thanh Hà ngày nay) nơi gần sông, có nhiều đất sét để phát nghiệp
làm gốm. Nhưng do bờ sông Thu Bồn dịch chuyển dần về phía Nam nên muộn nhất là
đầu thế kỷ thứ XIX các vị tiền nhân đã chuyển đến Nam Diêu (lò gốm ở phương
Nam) hành nghề. Thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là một trong những giai đoạn ghi dấu
nghề gốm Thanh Hà hưng thịnh. Lúc bấy giờ, miếu tổ nghề - thiết chế tín ngưỡng
của nghề gốm được xây dựng. Cũng vào thời gian này, đội ngũ lái buôn gốm bằng
ghe bầu ở Nam Diêu phát triển mạnh. Các thợ gốm cao tuổi cho biết: vào nửa đầu
thế kỷ XX, có ít nhất 30 - 40 bàn xoay chuốt gốm, 10 hộ chuốt gốm có ghe bầu,
hàng trăm người tham gia làm gốm. Đến nửa cuối thế kỷ XX, vì chiến tranh, vì sự
hiện đại hoá, cạnh tranh mạnh mẽ của đồ gia dụng nhựa, kim loại khiến sức tiêu
thụ sành, gốm yếu hẳn đi. Vào đầu thập kỷ 80, thế kỷ XX, sành không còn được
chế tác, gốm vẫn được sản xuất nhưng tiêu thụ cầm chừng. Nhiều thợ gốm chuyển
sang làm gạch, ngói, các tay chuốt, thợ lò cao tuổi nghỉ việc dần, thanh niên
lại không mặn mà với nghiệp gốm. Thế nhưng nhiều thợ gốm tâm huyết với nghề đã
cố công tìm giải pháp khôi phục nghề gốm, tiếp thu kỹ thuật tạo hình gốm bằng
khuôn đúc, tạo nên các loại gốm mỹ nghệ được thị trường chấp nhận. Năm 2001,
Trung tâm VH-TT được sự chấp thuận của UBND thị xã Hội An (nay là Thành phố) đã
đầu tư khôi phục nghề gốm Thanh Hà, lập tuyến tham quan làng gốm Thanh Hà đã
thu hút đông đảo khách đến tham quan, mở ra hướng tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm
tại chỗ. Gốm Thanh Hà đ
doanh, người dân và du khách biết đến và sử dụng nhiều hơn. Từ những
bước chuyển biến đó, nghề gốm Thanh Hà đã vượt qua khủng hoảng, số hộ làm gốm
tăng lên 23 hộ với trên 60 lao động, sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi trong nước
cũng như xuất khẩu qua Nhật Bản.
Theo truyền thống, gốm được làm trong tiết trời khô, nóng để đảm bảo
đất, phôi không bị rửa trôi, nung gốm thuận tiện, do vậy thời vụ sản xuất chính
từ tháng 1 - 7 âm lịch hàng năm. Hiện nay, vào mùa mưa, con thổi vẫn được chế
tác, sấy phơi, nung thành phẩm trong nhà. Nguyên liệu chính để làm gốm là đất
sét vàng, dẻo, có độ kết dính cao. Đất được thợ gốm mua đất được khai thác tại
Thanh Quýt, Thi Lai - Thị xã Điện Bàn, người bán đất vận chuyển bằng ghe đến
Thanh Hà.
déo.
Sản phẩm gốm truyền
thống được làm theo các công đoạn sau:
- Làm đất: đất được
dỡ, tỉa, chem., cắt rồi đạp, trộn 3 lần cho đất sạch,
- Chuốt gốm (tạo hình
phôi): thợ đẩy đẩy bàn xoay và nặn con đất trên ghế nhồi đất, thợ chuốt ngồi
cạnh bàn xoay đặt con đất vào bàn xoay (làm bằng gỗ mít, đường kính 60 - 100cm,
gắn với cột, đóng sâu vào lòng đất để giữ chặt, nó được đặt cạnh ghế nhồi đất,
hai tay áp vào con đất nặn thành phôi.
Sửa nguội: phôi được
phơi nắng cho khô dần, sau đó thợ nhắm phơ (chỉnh sửa phôi) làm cho cân đối
phôi rồi đem phơi cho cứng hẳn.
- Chất lò: cần 6,7
người, người gánh phơ (phôi), trao phơ vào lò, 2 người đàn ông chất lò (1
chính, 1 phụ).
- Nung gốm: gốm được nung trong lò bầu, cao khoảng 2 - 3m, rộng 2m, dài
3m, gồm 2 hoặc 3 cửa độ, 1 cả là ở mái. Vật liệu để đốt lò dùng củi dương liễu
(phi lao), mỗi đợt nung lò cần 5 - 10m. Thời gian nung một mẻ lò gốm là 5 ngày
và phải trải qua quy trình chung là um (chụm củi to, sưởi ấm lò), chụm thắt
(chụm nhỏ, tăng sức nóng để phôi thành phẩm).
Sản phẩm truyền thống
của gốm Thanh Hà rất đa dạng:
- Gốm gia dụng: hũ,
chậu, nồi, niêu, bình vôi, vại, trã, om..., dụng cụ sản xuất phục vụ cho nghề
dệt, nghề làm đường ở Quảng Nam như vại đê ươm tơ, âu suốt đựng chỉ dệt, cái
muống để lọc đường, gạch, ngói đất nung;
- Gốm mỹ nghệ: các mô hình tượng trang trí, mô hình các di tích kiến
trúc, lọ hoa, hộp trang sức, các linh vật trong đời sống tín ngưỡng của người
Việt... Và ngày nay, con thổi hình tượng 12 con giáp được người dân trong làng
sản xuất để làm quà lưu niệm cho du khách khi đến tham quan làng gốm cũng như
tại Khu phố cổ hàng ngày.
- Gốm trang trí: là các sản phẩm như đèn áp tường, đèn sân vườn... được
chế tác theo mẫu mã thiết kế và được thực hiện qua khuôn đúc hoặc chuốt bằng
tay.
Nghề gốm Thanh Hà không chỉ lưu giữ về nghề chế tác gốm mà còn bảo lưu
nhiều tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng nghề nghiệp. Từ xa xưa, thợ gốm, gạch,
ngói Thanh Hà đã thờ chung vị Tổ nghề, họ cùng xây dựng miếu thờ Tổ nghề tại ấp
Nam Diêu. Hàng năm, cộng đồng của làng tổ chức trang trọng lễ tế Tổ vào ngày
mồng 10 tháng Giêng âm lịch (tế xuân, khởi đầu một năm sản xuất) và ngày mồng
10 tháng Bảy âm lịch (tế thu, lễ tạ kết thúc một năm sản xuất).
Nghề gốm Thanh Hà là một trong những nghề truyền thống có bề dày lịch
sử ở Hội An, Quảng Nam còn đang hoạt động. Hiện nay, các nghệ nhân và những
người thợ gốm vừa bảo lưu kỹ thuật sản xuất truyền thống (tạo hình bằng bàn
xoay, nung gốm trong lò bầu) vừa tiếp thu kỹ thuật sản xuất mới (tạo hình bằng
kỹ thuật đúc khuôn) để tạo ra nhiều sản phẩm gốm mỹ nghệ mang nhiều giá trị văn
hoá và thể hiện sự nhạy bén nắm bắt thị hiếu văn hoá của người tiêu dùng, qua
đó, đáp ứng nhu cầu gia dụng, tín ngưỡng, trang trí nội ngoại thất và lưu niệm
cho du khách.
Làng gốm Thanh Hà được công nhận là “Làng nghề truyền thống” và nghề
gốm là “nghề thuyền thống” (theo Quyết định số 3944/QĐ-UBND ngày 15/12/2014 của
UBND tỉnh Quảng Nam). Làng gốm Thanh Hà cũng được công nhận là “Điểm du lịch”
(theo Quyết định số 864/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của UBND tỉnh Quảng Nam). Đặc
biệt, năm 2019, “Nghề gốm Thanh Hà” được Bộ VH,TT&DL công nhận là di sản
văn hoá phi vật thể quốc gia (theo Quyết định số 2965/QĐ-UBND ngày 27/8/2019
của Bộ VH,TT&DL).
Cho đến nay, làng gốm Thanh Hà vẫn tồn tại và hoạt động sản xuất thủ công với phương tiện và kỹ thuật truyền thống. Chính vì thế làng gốm Thanh Hà trở thành một bảo tàng sống, một nguồn tư liệu quý giá cho các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu về nghề gốm cổ truyền của Việt Nam nói riêng cũng như của vùng Đông Nam Á nói chung.
1/ Chùa Cầu Hội An | Biểu tượng đặc trưng của phố cổ
Chùa Cầu nằm bắc qua con sông Hoài, ngay cửa ngõ dẫn vào trung
tâm phố cổ. Tiếp giáp với con đường Trần Phú và đường Nguyễn Thị Minh Khai,
thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Tột vị trí lý tưởng, rất dễ tìm. Từ đây có thể dễ dàng tham quan phố cổ và các địa điểm nổi tiếng khác mà không cần phải đi xe máy.
Mặc dù gọi là chùa nhưng thực tế, chùa Cầu Hội An không thờ Phật mà thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ – vị thần hộ mệnh của Đạo giáo. Người dân nơi đây tôn thờ vị thần này bởi họ tin rằng thần sẽ bảo vệ họ tránh khỏi các tai ương, bão lụt.
Ngoài ra, hai phía hai đầu cầu còn thờ cúng cặp Linh Hầu – Thiên Cẩu. Đôi linh vật canh giữ và bảo vệ chùa. Cứ đến các ngày rằm, lễ, Tết người dân địa phương sẽ tới đây dâng lễ vật cầu nguyện có một cuộc sống an toàn, may mắn và sung túc hơn.
Nguồn gốc cây chùa Cầu Hội An nổi tiếng
+ Truyền thuyết về chùa Cầu
Trong truyền thuyết Nhật Bản có một tên thủy quái Mamazu dịch ra Tiếng
Việt nghĩa là con Cù. Nó chính là tác nhân gây ra các trận thiên tai ở những
vùng biển chịu sự ngự trị của nó.
Để khống chế lại, người Nhật đã cho xây dựng cây cầu với hình dàng như thanh kiếm đâm vào lưng con quái thú, không cho nó gây họa.
Thời đó, ở Hội An có con sông Thu Bồn thường xuyên xảy ra lũ lụt khiến
các thương gia người Nhật và việc làm ăn của người dân địa phương gặp nhiều khó
khăn.
Chùa Cầu Nhật Bản xuất hiện như một điểm tựa tinh thần giúp họ vượt qua
những khắc nghiệt đó để xây dựng cuộc sống mới tốt hơn.
+ Lịch sử chùa Cầu
Khoảng thế kỷ 16 – 17, nhà Nguyễn cải cách, mở rộng thông thương và
phát triển công thương nghiệp. Lúc này, Hội An được chọn làm thương cảng để gặp
gỡ và trao đổi hàng hóa với các thương lái nước ngoài. Đó cũng là thời kỳ Hội
An đông đúc, nhộn nhịp nhất.
Khi các thương nhân Nhật Bản qua sinh sống, họ đã góp tiền xây dựng
chùa Cầu để tiện cho việc đi lại. Đó cũng chính là lý do mà nó còn có tên
gọi là Cầu Nhật Bản.
+ Tên gọi chùa Cầu
Năm 1653, người Nhật cho xây thêm phần chùa ở sườn phía Bắc nhô ra giữa
cầu tạo hình chữ T nên đổi tên thành chùa Cầu Hội An. Đến năm 1791,
trong một lần chúa Nguyễn Phúc Chu đến thăm Hội An và gọi nó là Lai Viễn Kiều.
Cái tên được khắc nổi trên tấm bảng chùa cho đến nay vẫn còn.
Theo nhiều tài liệu cho rằng cầu được dựng lại vào khoảng năm 1817. Từ đó đến nay chùa Cầu đã trải qua nhiều lần trùng tu nên kiểu kiến trúc Nhật không còn lộ rõ mà thay vào đó là kiểu kiến trúc Việt và Trung.
Tháng 2/1990, chùa Cầu được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp
quốc gia. Trở thành một địa điểm nổi tiếng được nhiều du khách trong và ngoài
nước biết tới.
Bảo Tồn và Phục Hồi
Trải qua nhiều lần tu sửa và bảo dưỡng, Chùa Cầu vẫn giữ được vẻ đẹp và
giá trị lịch sử của mình. Các hoạt động bảo tồn được thực hiện nhằm đảm bảo
rằng cầu không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là một phần quan trọng trong
cuộc sống hiện đại.
Chùa Cầu Trong Nghệ Thuật và Văn Học
Chùa Cầu không chỉ là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, ảnh
nghệ thuật mà còn là đề tài cho các tác phẩm văn học, thể hiện sự quyến rũ và ý
nghĩa sâu sắc của nó trong văn hóa Việt Nam.
Chùa Cầu Hội An không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo mà còn là biểu tượng của sự hòa quyện văn hóa và lịch sử. Nó không chỉ thu hút du khách bởi vẻ đẹp và giá trị lịch sử mà còn là niềm tự hào của người dân Hội An và Việt Nam.
2/ Nhà cổ Tấn
Ký – Hội An
Nhà cổ Tấn Ký Hội An là sự kết
hợp khéo léo hài hòa giữa 3 nền kiến trúc Nhật Bản – Trung Hoa – Việt Nam, lưu
giữ rất nhiều cổ vật quý giá mang ý nghĩa nhân sinh quan tích cực nhắc nhở con
cháu đời sau những bài học quý giá về làm người, nhân – lễ - nghĩa. Chính vì
vậy mà ngôi nhà cổ đã trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn du khách trong và
ngoài nước cả đến các quan chức trong chính phủ cũng đến thưởng lãm và tham
quan.
Nhà cổ Tấn Ký là ngôi nhà cổ đầu tiên được vinh danh Di sản Quốc gia, được
xem như “bảo tàng sống” giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc đặc trưng nhà cổ Hội
An xưa.
Nhà cổ Tấn Ký có
từ lâu đời, là nơi sinh sống của 7 thế hệ nhà họ Lê. Ngôi nhà cổ đẹp nhất Hội
An này là địa điểm check-in “hot” nhất phố Hội, luôn thu hút hàng nghìn khách
du lịch đến chiêm ngưỡng kiến trúc, văn hóa và nghe giới thiệu về nhà cổ Tấn Ký
đầy ấn tượng.
*** Sau sáp nhập, hợp nhất tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà
Nẵng thành thành phố Đà Nẵng mới. Hội An là thành phố cũ của tỉnh Quảng Nam cũ.
- Địa chỉ: Số 101 Nguyễn Thái Học, phường Hội An, TP
Đà Nẵng.
Nguồn gốc lịch
sử của nhà cổ Tấn Ký Hội An
Ngôi nhà cổ được
xây dựng vào năm 1741, cuối thế kỷ XVIII. Đây là nơi
nhà họ Lê sinh sống suốt 7 đời. Từ đời thứ 2, gia
chủ bắt đầu lấy tên hiệu là Tấn Ký (mang
ý nghĩa phát đạt) cho ngôi nhà, mở rộng buôn bán, kinh doanh nông sản.
Năm 1964, xảy ra
trận lụt lịch sử, nhà cổ này cũng chịu ảnh hưởng nặng nề, bị ngập toàn bộ tầng
1, nhưng may mắn vẫn giữ được gần như nguyên vẹn các giá trị kiến trúc, văn
hóa.
Vào năm 1990, nhà cổ Tấn Ký vinh
dự được cấp bằng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia, đồng thời
được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới. Tuy nhiên,
hiện đây vẫn là nhà cổ tư nhân, gia chủ vẫn sinh sống ở tầng trên cùng, tầng
dưới mở cửa đón du khách tham quan.
Ông Lê Công – một thương nhân gốc Hoa,
làm giàu nhờ buôn bán nông sản thời bấy giờ. Ông dùng thuyền ngược sông Thu Bồn
lên miền cao lấy hàng nông sản về Hội An để buôn bán và phất lên từ đó. Đến đời
con ông, ngôi nhà được đặt tên là Tấn Ký – mang ý nghĩa phát đạt trong kinh
doanh
Phía trước nhà là con đường Nguyễn Thái
Học sầm uất buôn bán kinh doanh, phía sau nhà là con sông Thu
Bồn hiền hòa để thuận tiện cho việc nhập hàng.
Đến thế kỷ 20, sự bồi đắp phù sa của sông Thu Bồn làm cửa sông hẹp lại, các thuyền buôn lớn không vào được Hội An khiến cho thương cảng nổi tiếng một thời suy yếu dần, và việc buôn bán của gia tộc họ Lê cũng bị ảnh hưởng theo, ngày càng tàn lụi.
Những nét đặc
sắc của nhà cổ Tấn Ký ở Hội An
Ngôi nhà cổ Tấn Ký
có 2 tầng và 3 gian được xây dựng theo lối kiến trúc giao thoa giữa 03 nền văn
hóa: Nhật Bản – Trung Hoa – Việt Nam.
Phong cách kiến trúc của Nhật Bản: phòng khách được xây theo
phong thủy: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Mái ngói được lợp theo kiểu âm –
dương hòa hợp nên tạo không khí mát mẻ thoáng đãng vào mùa hè, còn mùa đông thì
ấm cúng, không lạnh.
Phong cách kiến trúc của Trung Hoa: theo kiểu hình ống đặc trưng của phố cổ
Hội An, bên trong chia nhiều gian với nhiều phòng riêng biệt. Đặc biệt ngôi nhà
không có cửa sổ, nhưng không vì vậy mà không gian nóng bức, ngột ngạt. Mặt tiền
mở cửa hiệu buôn bán. Cửa sau của ngôi nhà là con sông Thu Bồn hiền hòa chạy
ngang thuận tiện cho việc nhập hàng hóa buôn bán. Giữa nhà là giếng trời tận
dụng tối đa ánh sáng và không khí vào nhà.
Phong cách kiến trúc của Việt Nam: được thiết kế theo nhà ba gian
đúng theo kiểu truyền thống của người Việt, trần nhà lợp ngói âm dương. Điểm
nhấn chính của ngôi nhà là những cây cột cây kèo, xuyên, trính (thanh gỗ dọc
nối các cột) được chạm trổ tinh xảo với những hình ảnh đặc trưng như: “kiến
trúc đầu cá đuôi rồng” , “trái bí đỏ”, “quả lựu” hoặc những kiến trúc chạm khắc
“quả đào” mang biểu tượng của sự trường thọ, “con dơi” đong đầy hạnh
phúc,...
Gỗ là chất liệu chủ đạo xây dựng nên ngôi nhà cổ Tấn Ký này. Kèo và sườn được làm từ gỗ Lim – là loại gỗ quý; còn các cửa thì làm từ gỗ mít – loại gỗ bền chặt theo thời gian... Bên cạnh đó, gạch lót sàn và đá trang trí ngoại thất đều được mua về từ Bát Tràng, Thanh Hóa, đá non nước, … vĩnh cửu theo thời gian.
Giai đoạn đầu của thời Tự Đức, ngôi nhà chỉ có một tầng vì vua quy định các
ngôi nhà không được xây cao quá kiệu vua đi ngang qua. Tuy nhiên Hội An là vùng
thấp lụt, nên sau ngôi nhà được nâng lên hai tầng. Bên ngoài ngôi nhà có các
ván sáng, ban ngày mở ra xếp thành sạp bán hàng, ban đêm lắp lại làm ván cửa.
Ngôi nhà cổ nay vẫn còn lưu giữ nhiều
hoành phi, liễn đối tuyệt đẹp, có các bức nổi bật như:; "Tâm
thường thái" (mang ý nghĩa giữ tâm luôn yên tĩnh), "Tích đức lưu
tôn" (mang ý nghĩa dạy bảo con cháu giữ đức tốt cho thế hệ sau).
Đặc biệt ở đây còn giữ bộ liễn đối "Bách Điểu" viết bằng 100 nét, mỗi đường nét đều như chim đang bay, được giới khảo cổ đánh giá là độc nhất vô nhị.
Bước vào gian đầu tiên của nhà cổ, bạn sẽ nhìn thấy trưng
bày nhiều cổ vật và thuyền buồm, đó đều là những biểu tượng về thương cảng Hội
An sầm uất 400 năm trước.
3/ Nhà cổ Quân Thắng
Nhà cổ Quân Thắng là một trong những ngôi nhà cổ nổi tiếng tại Hội An,
Việt Nam. Nó được xây dựng vào đầu thế kỷ 19 và từng là nơi cư trú của một gia
đình thương gia giàu có.
Nhà cổ Quân Thắng có kiến trúc pha trộn giữa phong cách Trung Hoa và
Việt Nam, với các chi tiết được chạm khắc tinh xảo trên các cột, trần nhà và
các tường. Ngôi nhà này cũng có một sân vườn rộng và nhiều phòng ngủ, phòng
khách, phòng bếp và các khu vực sinh hoạt khác.
Hiện nay, nhà cổ Quân Thắng được bảo tồn và phục dựng lại để trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn tại Hội An, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và khám phá lịch sử, văn hóa và kiến trúc của Hội An.
Nhà cổ Quân Thắng được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 19, tại số 77
Trần Phú, Hội An, Việt Nam. Ngôi nhà này từng là nơi cư trú của gia đình Quân
Thắng – một gia đình thương gia giàu có của Hội An.
Trong thời kỳ đầu, nhà cổ Quân Thắng được sử dụng như một nơi để kinh
doanh buôn bán. Sau đó, ngôi nhà này đã trở thành nơi cư trú của gia đình Quân
Thắng và được sử dụng cho mục đích sống và sinh hoạt gia đình. Trong suốt quá
trình phát triển của Hội An, nhà cổ Quân Thắng đã trải qua nhiều thăng trầm
lịch sử và vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Ngôi nhà này được xây dựng theo phong cách pha trộn giữa kiến trúc
phương Tây và Trung Hoa, với các chi tiết chạm khắc tinh xảo trên các cột, trần
nhà và các tường. Ngôi nhà cũng có một sân vườn rộng và nhiều phòng ngủ, phòng
khách, phòng bếp và các khu vực sinh hoạt khác. Hiện nay, nhà cổ Quân Thắng đã
được bảo tồn và phục dựng lại để trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn tại Hội
An.
Nhà cổ Quân Thắng nằm tại số 77 Trần Phú, phường Minh An,
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Đây là một trong những điểm đến du
lịch nổi tiếng của Hội An và thường được các tour du lịch đưa vào lịch trình
tham quan.
Hiện tại, giá vé tham quan Nhà cổ Quân Thắng là 120.000 đồng cho người
lớn và 60.000 đồng cho trẻ em (dưới 1,3m). Ngoài ra, nếu bạn muốn thuê hướng
dẫn viên để có thêm thông tin chi tiết về lịch sử, kiến trúc của ngôi nhà cổ
này thì cần phải trả thêm khoảng 100.000 – 150.000 đồng tùy theo số lượng khách
và thời gian thuê. Bạn có thể mua vé tại cổng vào khu di tích hoặc qua các đại
lý vé du lịch tại Hội An.
Thời gian tham quan Nhà cổ Quân Thắng là từ 8h sáng đến 17h
chiều hàng ngày. Tuy nhiên, vào những ngày lễ tết và dịp đặc biệt khác,
thời gian mở cửa có thể sẽ thay đổi. Nếu bạn muốn tham quan vào thời gian khác
hoặc muốn thuê hướng dẫn viên riêng thì cần liên hệ trước với Nhà cổ Quân Thắng
để được hỗ trợ. Trong thời gian tham quan, bạn sẽ được tìm hiểu về lịch sử,
kiến trúc và đời sống của gia đình Quân Thắng thông qua các hướng dẫn viên chuyên
nghiệp và các tài liệu trưng bày tại khu di tích.
Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng các dịch vụ cho thuê xe du lịch, xe
đạp điện hoặc xe máy điện để di chuyển đến Nhà cổ Quân Thắng.
Nhà cổ Quân Thắng có kiến trúc pha trộn giữa phong cách Trung Hoa và Việt
Nam, đặc biệt là phong cách kiến trúc phương Đông. Ngôi nhà được xây dựng bằng
gạch nung và gỗ, với mái ngói cong tròn kiểu Trung Hoa. Các tầng của ngôi nhà
được xây dựng trên những cột gỗ lớn và có hệ thống hành lang kín gió để tạo sự
thông thoáng cho ngôi nhà.
Ngôi nhà có 3 tầng, với diện tích tổng thể khoảng 800 mét vuông, gồm
nhiều phòng ngủ, phòng khách và các phòng ăn. Trong ngôi nhà, các phòng được bố
trí hài hòa với các cửa sổ và lỗ thông gió để tạo sự thông thoáng và ánh sáng
tự nhiên cho toàn bộ ngôi nhà.
Nhà cổ Quân Thắng cũng được trang trí rất tinh tế và phong phú với nhiều chi tiết khắc trên gỗ, tranh cổ trang và tấm lợp ngói được trang trí với họa tiết độc đáo. Tất cả những chi tiết này đều tạo nên một không gian độc đáo và ấn tượng cho ngôi nhà cổ này.
Bên ngoài nhà cổ Quân Thắng
Bên ngoài, Nhà cổ Quân Thắng có một kiến trúc rất đặc biệt và thu hút
sự chú ý của du khách. Với màu sắc chủ đạo là màu đỏ và vàng, ngôi nhà trông
rất trang trọng và sang trọng.
Mặt tiền của ngôi nhà được trang trí với những tấm gỗ khắc họa tiết,
mang đậm nét Trung Hoa, đặc biệt là những hình ảnh hoa mai và đào, tượng trưng
cho sự thịnh vượng và tài lộc. Bên cạnh đó, cửa ra vào của nhà được thiết kế
với hình tròn lớn, tượng trưng cho sự hoàn thiện và đầy đủ.
Ngoài ra, trên mái nhà của Ngôi nhà còn được trang trí với các đồ vật
trang trí như vòng tròn gỗ, các họa tiết cổ trang và các mô tả về cuộc sống
truyền thống của người dân địa phương. Tất cả các chi tiết này tạo nên một bức
tranh độc đáo, làm cho Nhà cổ Quân Thắng trở thành một điểm đến du lịch không
thể bỏ qua khi đến Hội An.
Bên trong nhà cổ Quân Thắng
Bên trong Nhà cổ Quân Thắng, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng và khám
phá không gian sống của một gia đình giàu có thời xưa. Ngôi nhà được bố trí với
nhiều phòng khác nhau, mỗi phòng đều có chức năng và nội thất riêng biệt.
Các phòng khách và phòng ăn được bố trí rất tinh tế và sang trọng với
các đồ trang trí và nội thất đồng bộ theo phong cách truyền thống của Việt Nam
và Trung Hoa. Các tác phẩm điêu khắc trên gỗ và tranh cổ trang được trang trí
khắp ngôi nhà, tạo nên một không gian ấm cúng và đậm chất văn hóa.
Ngoài ra, tầng hai của ngôi nhà được trang bị một số cầu thang rất đẹp
và độc đáo, tạo nên sự kết nối giữa các phòng và tầng nhà. Các phòng ngủ được
bố trí rộng rãi và thoáng mát, với các cửa sổ lớn để cho ánh sáng tự nhiên và
không khí trong lành vào bên trong. Điều này giúp cho du khách có thể tận hưởng
không gian sống của người dân xưa và trải nghiệm cảm giác yên bình, bình yên
tại ngôi nhà cổ này.
Tổng thể, Nhà cổ Quân Thắng là một điểm đến thú vị và hấp dẫn cho du khách khi đến Hội An, nơi mà họ có thể tìm hiểu thêm về kiến trúc cổ điển và lịch sử của Việt Nam.
4/Nhà Cổ Phùng Hưng
Nhà
cổ Phùng Hưng “nằm gọn” trong “vòng tay” của Hội An, đã qua 240 năm tuổi. Không
chỉ là điểm đến du lịch đặc sắc, nhà cổ Phùng Hưng còn là chứng nhân lịch sử,
di tích quốc gia được nhà nước công nhận.
Không phải ngẫu nhiên mà nhà cổ Phùng
Hưng ở Hội An lại thu hút đến hàng trăm ngàn lượt du khách đến tham
quan mỗi năm. Lý do nào khiến địa điểm này trở nên nổi tiếng đến vậy? Hãy cùng
vén bức màn bí mật để giải mã sức hút bí ẩn về ngôi nhà cổ này nhé!
Du lịch đến Hội An, hỏi bất cứ người dân bản địa nào về nhà cổ Phùng Hưng, không ai là không biết. Ngôi nhà nằm ở số 4, đường Nguyễn Minh Khai, phường Minh An, Hội An, Quảng Nam. Nhà nằm kế bên chùa Cầu nổi tiếng - ngôi chùa nằm vắt mình qua một nhánh nhỏ của sông Thu Bồn, trên đoạn tiếp giáp giữa đường Minh Khai và đường Trần Phú. Du khách đi qua cầu, cách một căn nhà là đến.
Xưa kia, đây chính là một trong những vị trí đắc địa, sầm uất nhất nhì thương cảng Hội An. Thương nhân trong và ngoài nước sẽ đến đây để gặp gỡ, giao thương hàng hóa với nhau.
Nguồn gốc lịch sử và ý nghĩa tên gọi của nhà
cổ Phùng Hưng
Thời gian, thời điểm nhà cổ Phùng Hưng được xây dựng
Nhà cổ Phùng Hưng đã được Hội An “ôm ấp” suốt
hơn 240 năm qua, được xây dựng vào năm 1780. Thời điểm đó cũng là lúc đô thị
cảng Hội An đang trong thời kỳ thịnh vượng và phát triển. Chính vì thế, du
lịch Hội An, ghé thăm ngôi nhà, ta thấy một thời sầm uất, nhộn nhịp của phố
cổ xưa tưởng chừng như đang sống lại.
Ngược dòng lịch sử, ta bắt gặp chủ nhân của
ngôi nhà là một thương nhân người Việt. Ông xây dựng với mục đích trở thành nơi
kinh doanh lâu dài với các mặt hàng như quế, tiêu, muối, đồ sứ, thủy tinh,...
Mong muốn gia đình sẽ làm ăn ngày càng phát đạt, vị thương nhân đã đặt tên cho
ngôi nhà là “Phùng Hưng” - cũng là tên hiệu buôn của ông, mang nghĩa là “hưng
thịnh”.
2.2. Thiết kế nhà cổ Phùng Hưng là sự tổng hòa
của 3 trường phái kiến trúc Việt - Nhật - Trung
Với kinh tế dư dả cùng sự kết giao và vốn hiểu biết rộng, vị thương gia đã thiết kế ngôi nhà của mình theo một kiến trúc rất độc đáo và đặc biệt. Đó là kiến trúc tổng hợp của ba trường phái văn hóa Việt Nam, Nhật Bản và Trung Hoa.
Cụ thể: Hơi
hướng Trung Hoa được thể hiện qua hệ thống ban công, cửa sổ và cửa chính. Mái
lớn của gian nhà giữa là kiểu mái “tứ hải” (bốn biển) - kiểu kiến trúc quen
thuộc của Nhật Bản thời Edo. Mái gian trước và gian sau cùng hệ thống rường
cột, sườn gỗ, xà dọc, xà ngang thì mang đậm nét kiến trúc Việt Nam truyền
thống. Do được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu từ các loại gỗ quý hiếm nên trải
qua hơn hai thế kỷ, ngôi nhà dường như vẫn giữ được nguyên vẹn nét đẹp của
những ngày đầu.
2.3. Đã 8 thế hệ sinh sống ở nhà cổ Phùng Hưng
Nhà cổ Phùng Hưng đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 29/6/1993. Như một đứa con của Hội An, hơn 240 năm qua đi, ngôi nhà cũng đã chứng kiến biết bao thăng trầm tại nơi đất mẹ.
Người dân Hội An hẳn sẽ không bao giờ quên
trận lũ lụt lịch sử vào năm 1964. Khi ấy, nước dâng cao đến 2.5m, ngập lên cả
sàn gỗ gác. Ngôi nhà thời điểm đó chính là chỗ cư trú an toàn cho 160 người dân
trong suốt 3 ngày 3 đêm.
Đến năm 1999, thiên nhiên nổi giận, kéo hai
cơn đại hồng thủy đến nhấn chìm cả khu phố cổ, để lại thiệt hại nặng nề về cơ
sở vật chất và cũng khiến ngôi nhà bị ảnh hưởng. Nhờ có cửa sập thông giữa hai
tầng, chủ nhân của ngôi nhà khi ấy đã khắc phục bằng cách vận chuyển hàng hóa
lên tầng trên để giảm bớt thiệt hại.
Tham quan nhà cổ Phùng Hưng Hội An
Giờ thì hãy cùng mình tham quan chi tiết ngôi nhà nổi tiếng nhất nhì phố cổ Hội An này nhé!
Từ bên ngoài nhìn vào, nhà có dạng hình ống,
mặt tiền rộng, thể hiện rõ mong muốn và khát vọng “phát tài phát lộc” của chủ
nhân. Nhà cao 2 tầng với 2 nếp nối nhau theo hướng Tây Bắc, có 4 mái.
Thiết kế này cũng rất phù hợp và thuận lợi cho
việc kinh doanh, buôn bán thời xưa. Vật liệu chính trong xây dựng là gỗ lim và
các loại gỗ quý hiếm khác, khoác cho ngôi nhà một chiếc áo nâu trầm ấm áp và
sung túc. Ngay cửa chính của ngôi nhà là hai mắt cửa vô cùng uy nghiêm. Mắt cửa
này vừa là vật trang trí, vừa như một linh vật bảo vệ cho căn nhà. Theo quan
niệm tâm linh, nó có vai trò canh giữ cho ngôi nhà, xua đuổi những điều xấu.
3.1. Khám phá kiến trúc độc đáo tại tầng trệt
Trước đây, người chủ đầu tiên đã sử dụng tầng trệt của ngôi nhà để trưng bày, bán hàng. Hiện nay, tầng trệt là nơi lưu trữ cổ vật của gia chủ lúc sinh thời, cũng là nơi tiếp khách. Du khách đến “thăm nhà” có thể ngồi nghỉ ngơi trên bộ bàn ghế được làm từ gỗ quý, sang trọng đặt ở giữa nhà. Các bức tường xung quanh tầng trệt được trang trí bằng những bức chạm trổ đầy tinh tế và nghệ thuật. Những chi tiết chạm khắc tuyệt vời này do chính tay các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng tạo tạc.
Hệ thống cột nhà là 80 cây gỗ lim cực kỳ vững
chắc. Để làm giảm độ lún cho ngồi nhà, đồng thời tránh cho mọt mối làm hư hại,
tất cả cột nhà đều được đặt trên chân đá. Chân đá này giúp ngăn cách tiếp xúc
giữa chân cột với đất, hạn chế hư hại.
3.2. Tham quan lầu 2 nhà cổ Phùng Hưng
Bước lên tầng 2 của căn nhà, du khách sẽ thấy cảm giác linh thiêng và cổ kính bao trùm lên cả căn phòng. Đây là nơi chủ nhà đặt bàn thờ tổ tiên và bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Một chiếc bàn được đặt trước các bệ thờ. Chủ nhà luôn đặt vào đó bảy quân xúc xắc bằng đá cẩm thạch trong chén. Mỗi khi đi xa, họ gieo xúc xắc để quyết định thời gian khởi hành.
Do nằm ở vị trí gần sông, xưa kia dễ xảy ra lụt lội nên sàn gác có các ô trống hình vuông, được gọi là các “cửa sập”. Cửa này có thể dễ dàng tháo dỡ để thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa từ tầng trệt lên gác mỗi khi lụt lội.
Nhìn lên, bộ phận mái nhà được lợp ngói âm
dương. Loại ngói này:
·
Giúp cho
căn nhà được thông thoáng, mát mẻ vào mùa hè, đồng thời, giữ nhiệt tốt vào mùa
đông.
· Trên ngói được chạm khắc hình cá chép. Cá chép là biểu tượng của sự may mắn, thịnh vượng, quyền lực trong văn hóa Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc xưa kia.
Một hành lang hẹp ở gian trong cùng là lối để đi lên lầu 2. Bao quanh lầu 2 là hệ thống hành lang rộng, đều được làm bằng gỗ. Cách sắp xếp cầu thang khoa học khiến cho căn nhà trở nên rộng rãi và thoáng đãng hơn.
Tham quan nhà cổ Phùng Hưng, một cảnh quay chậm về cuộc sống của gia đình thương nhân xưa như được tái hiện lại trước mặt. Điều ấy khiến cho du khách thập phương vừa tò mò, thích thú, vừa thấy mê mẩn, xiêu lòng.
Tổng quan về nhà thờ tộc Trần Hội An
Vị trí: Nằm tại số 21 Lê Lợi, phường Minh An, Hội An, Quảng Nam, Việt
Nam.
Giờ mở cửa: 07g00 – 21g00
Lịch sử hình thành nhà thờ tộc Trần tại Hội An
Ngược dòng lịch sử cách đây hơn 200 năm, dưới thời vua Gia Long, ông Tổ
của tộc Trần là cụ Trần Tứ Nhạc được vua cử đi sứ sang Trung Hoa năm 1802. Sắp
xếp trước khi đi sứ, Cụ Trần Tứ Nhạc đã cho xây dựng nhà thờ tộc Trần để cho
con cháu đời sau có nơi hội tụ về mà cúng kiến thờ tự, có nơi để nhớ về nguồn
cội tổ tiên.
Với khuôn viên diện tích rộng 1.500m2, Nhà thờ tộc Trần nằm tĩnh lặng
trong lòng phố Hội sầm uất, như tách bạch hẳn với thế giới bên ngoài, mang đậm
nét hoài cổ. Nhà Thờ Tộc Trần không có gì khác so với các nhà thờ họ tộc khác,
cũng mái ngói âm dương và hệ thống kèo cột được điêu khắc tinh xảo mang đậm dấu
ấn rêu phong thời gian.
Với bề dày lịch sử hàng trăm năm tuổi này, nhà thờ tộc Trần là một
trong những địa điểm tham quan nổi tiếng, thu hút được sự hiếu kỳ tò mò của du
khách trong và ngoài nước khi đặt chân đến Hội An
Kiến trúc độc đáo hàng trăm năm tuổi
Tuy đã trải qua hàng trăm năm lịch sử, ngôi nhà thờ tộc Trần vẫn y
nguyên lối kiến trúc kết hợp giữa 03 nền văn hóa: kiểu nhà Việt truyền thống –
kiến trúc đặc sắc Trung Hoa – phong thủy Nhật Bản. Chính sự kết hợp hài hòa này
đã làm gia tăng giá trị truyền thống cho ngôi nhà thờ tộc Trần Hội An.
Nhà thờ tộc Trần Hội An được chia làm 02 phần rõ ràng tách biệt như
sau:
- Phần chính là gian thờ cúng lớn nhất được đặt ở chính giữa. Gian thờ
được bài trí khá trang trọng với tầng mái cao tạo không gian rộng lớn, thoáng
đãng. Bàn thờ tổ được dùng để thờ ông Tổ của tộc họ Trần, tưởng nhớ người đã có
công khai sinh ra dòng dõi họ Trần. Kiến trúc của gian thờ chính này có 3 cửa.
Cửa chính giữa là cửa lớn nhất dành cho những người lớn tuổi trong tộc. Và 02
cửa phụ còn lại ở hai bên dành cho nam nữ con cháu trong tộc còn lại nhưng vẫn
phải tuân thủ theo nguyên tắc phong kiến “nam tả, nữ hữu”. Gian thờ chính này
chỉ được mở vào dịp Tết, lễ hội, giỗ tộc.
- Phần phụ của ngôi nhà thờ tộc Trần là nơi nghỉ ngơi của trưởng tộc và
các thành viên còn lại trong họ.
Phía sau cùng của nhà thờ tộc Trần là khu hậu viên rộng rãi thoáng mát,
đặc biệt có cây khế cổ thụ cũng từng ấy năm tuổi như nhà thờ tộc, cây khế cổ
thụ to cao mà lại cho trái ngọt quanh năm, khiến cho du khách khi tham quan vô
cùng thích thú. Đây nơi chôn nhau cắt rốn của biết bao thế hệ trong họ tộc.
Tất cả kiến trúc xây dựng trên đều phải tuân thủ theo phong thủy rất
nghiêm ngặt nhưng vẫn hài hòa về bố cục đường nét.
Khi du khách bước chân vào khu thờ chính điện, sẽ gặp phải ngạch cửa
chắn lối như nhắc nhở mọi người rằng bước vào nhà là phải cuối đầu hành lễ, tỏ
rõ sự tôn kính của mình đến gia chủ.
Hằng năm, vào dịp Tết, lễ hội truyền thống, giỗ Tổ, tất cả con cháu trong dòng họ tộc đều tụ tập về đây cùng nhau cúng kiến hương khói tỏ lòng biết ơn tổ tiên. Đây cũng là dịp củng cố thêm mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên trong tộc gắn bó đoàn kết bên nhau. Nhắc nhở con cháu thế hệ sau không bao giờ được phép quên cội nguồn của dân tộc “ Uống nước nhớ nguồn”.
Có thể nói kiến trúc đặc sắc của nhà thờ tộc Trần Hội An là đại diện
cho tất cả kiến trúc nhà thờ của các dòng họ tộc khác. Tuy đã trải qua nhiều
năm, chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử, ngôi nhà thờ tộc Trần vẫn mãi
trường tồn với thời gian, vẫn đứng vững sừng sững đầy uy nghiêm trầm mặc giữa
lòng phố Hội sầm uất. Đây là dấu tích chứng minh cho một thời kỳ vàng son phát
triển trong lịch sử phố Hội. Nếu đã đặt chân đến Hội An, du khách thử một lần
bước vào tham quan nhà thờ tộc Trần để cảm nhận những cái rất riêng.
6/ Hội Quán Phúc Kiến
Hội quán Phúc Kiến (Phước Kiến) là di tích quốc gia
mang phong cách kiến trúc Á Đông đặc biệt, có thể hiện rõ sự thịnh vượng và
văn hóa chiều sâu của đô thị cổ Hội An. Nơi đây không có giá trị thẩm mỹ và
nghệ thuật cao mà còn lưu giữ những sinh hoạt tín ngưỡng và truyền thống cộng
đồng độc tố, đồng thời là biểu tượng tiêu điểm của giao dịch văn hóa Việt –
Hoa.
NGUYÊN GỐC VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Hội quán Phúc
Kiến có nguồn gốc lịch sử lâu đời gắn liền với buổi đầu thành khu phố cổ Hội
An. Tương truyền, thuở xưa xa xưa nơi đây đã từng là một ngôi chùa nhỏ có tên
Kim Sơn Tự, được dựng lên để thờ một pho tượng Phật trôi dạt vào bờ sông. Trải
qua thời gian, chùa chùa tranh đơn sơ đó tăng dần xuống cấp. Đến năm 1697 – vào
giai đoạn Hội An hưng thịnh – các thương nhân Phúc Kiến đã mua lại nền chùa cũ
này để xây dựng nên hội quán làm nơi sinh hoạt đồng hương và tín ngưỡng tự động
riêng. Ban đầu quá trình được gọi theo tên chùa cũ là Kim Sơn Tự, về sau (năm
1757) được nhân bản quy mô mở rộng và chính thức mang tên Phúc (Phước) Kiến
trúc quán quán như ngày nay
Trong những năm đầu thành lập, hội quán Phúc Kiến hoàn toàn làm bằng gỗ đơn giản. Về sau, qua nhiều lần nhân bản tu lớn nhỏ, kiến trúc lũy tiến bề thế, hiển thị cố gắng hơn so với gạch lát gạch, gạch ngói dương cổ kính (đợt trùng lặp tu lớn năm 1757 đã xây dựng lại toàn bộ gạch ngói). Đây cũng là quá trình ghi dấu ấn bàn tay tài hoa của thợ thủ công và sự đóng góp chung của cộng đồng người Hoa nơi phố Hội. Đến năm 1990, hội quán Phúc Kiến đã được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, trở thành thành niềm tự hào của người dân phố cổ.
Từ thập niên 1980 trở lại đây, hội quán mở cửa đón khách tham quan và nhanh chóng trở thành một điểm du lịch thu hút hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước mỗi năm.
GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TRÚC VÀ BIỂU TƯỢNG
Là công trình
của cộng đồng người Hoa lâu đời nhất tại Hội An, hội quán Phúc Kiến chứa đựng
nhiều giá trị văn hóa đặc sắc và sở hữu kiến trúc nguy nga, tinh chuông có.
Toàn bộ bộ tổng hợp có thể được xây dựng theo hệ thống truyền thông hình chữ
Tam của kiến trúc quán Trung Hòa. Từ cổng chính trên đường Trần Phú bước vào
là sân tiền cảnh với cây xanh và hòn non bộ, tiếp đến hai dãy nhà Đông – Tây đối
xứng, rồi đến chính điện, sân sau và hậu điện nối tiếp nhau tạo chiều sâu hun
hút. Nét đặc trưng dễ nhận thấy là tông màu đỏ chủ đạo hiện diện khắp nơi – từ
cổng tam quan, lân đá chầu cổng, các cột cho đến lồng đèn và câu đối –biểu tượng
trưng cho may mắn và thịnh vượng trong văn hóa Á Đông. Sắc đỏ rực rỡ kết hợp
cùng hoa văn cảm giác thoải mái càng thêm nổi bật giữa phố cổ, làm phong phú
thêm diện mạo kiến trúc kiến trúc của Hội An.
Cổng tam quan của hội quán Phúc Kiến là một công trình nghệ thuật đặc sắc. Xây dựng kiểu ba bờ vào cao rộng, lợp ngói âm dương cong vút, trên đỉnh bồi hình lưỡng dài chầu nguyệt. Toàn bộ mặt cổng được khảm sành sứ cầu kỳ, nổi bật dòng chữ Hán “Kim Sơn Tự” (tên gọi gốc của hội quán) ở chính giữa. Hải bên cổng đặt biểu tượng ông Nhật và bà Nguyệt – hai vị thần tượng trưng cho trời và đất, âm và dương – canh gác như chào đón khách. Ba lối cửa ra vào cổng tam quan cũng mang ý nghĩa biểu tượng lần như cho Thiên – Địa – Nhân (trời, đất và con người) hài hòa hội tụ. Bước qua cổng, du khách sẽ thấy mọi khung cảnh như phân tách chắc chắn khỏi tiếng ồn ào, phía trong là sân trời thoáng mát có đặt những chậu cây cảnh và tiểu cảnh hồ nước trong xanh, tạo cảm giác giác thanh tịnh, mát dịu.
Chính điện của hội quán Phúc Kiến là nơi trang trọng và uy nghiêm nhất, tập trung nhiều giá trị văn hóa – tâm linh. Gian chính thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu uy nghi ở vị trí trung tâm – Bà Thiên Hậu được cộng đồng ngư dân và thương nhân đi tôn kính như nữ thần biển cả phù hộ họ vượt sóng gió bình an. Hai bên hầu cận bà là tượng Thần Thiên Lý Nhãn và Thần Thuận Phong Nhĩ – hai thần với “mắt nhìn ngàn dặm, tai nghe mọi hướng” luôn đi theo phò vị Thiên Hậu cứu giúp dân chúng. Chính điện còn trưng bày mô hình một chiếc thuyền buồm cổ của thương nhân thế kỷ 19 – kỷ vật mũi nhớ những chuyến đi biển trở về xưa và xin biết ơn trời biển độ tiến cho thuyền thuyền về. Toàn bộ bố cục và trang trí trong khuôn viên hội quán đều mang tính phong thủy hài hòa, được sắp xếp với ý nghĩa cầu may mắn và thuận hòa trong vũ trụ . Du khách bước vào đây không chỉ xông hơi bởi vẻ tráng lệ, mà còn cảm nhận được bầu không khí linh thiêng trầm mặc, với mùi hương trầm thoang thoảng và ánh sáng dịu nhẹ thở ra từ những lồng đèn cổ.
Phía sau điện nằm
sâu phía sau là nơi thờ phụng đa dạng các vị thần thánh và tổ tiên, phản ánh đời
sống tín hiệu phong phú của tiền nhân. Tại gian hậu điện, du khách sẽ thấy ban
thờ Lục Tánh Vương Gia – sáu tiền hiền nhân Phúc Kiến Kiến từng có
công phò nhà Minh và tử tiết, được tôn giáo làm thần bảo bảo cộng đồng. Cạnh đó
là các tiến trình Thập Nhị Bà Mụ (12 bà mục) và Tam vị Chúa Sanh
Thái – những vị thần nữ cai quản việc sinh nở, phù hộ con cái bình an khỏe
mạnh. Việc thờ cúng nhiều vị thần khác nhau dưới thoải hội quán cho thấy niềm
tin và ước vọng đa dạng của cộng đồng người Hoa xưa: họ cầu mong sông nước
thuận hòa, làm ăn phát đạt, con đàn cháu chồng và gia đạo ấm eo.
Một nét văn
hoá đặc sắc mà du khách dễ dàng bắt gặp khi tham quan quán rượu Phúc Kiến là
hình ảnh những vòng hương trầm lớn treo trên trần tỏa hương thơm nghi
ngút. Người dân địa phương và du khách thường mua những vòng hương này, ghi lời
cầu nguyện của mình lên mảnh giấy nhỏ rồi treo lên cao. Vòng hương cháy liên tục
thông suốt nhiều tuần liền – có loại cháy đến 30 ngày –biểu tượng trưng cho lời
cầu nguyện gửi lâu dài tới thần linh. Khi hương tàn, những điều ước viết trên
giấy sẽ được nhà thần hóa vàng (đốt đi) để “gửi” đến thế giới tâm linh. Ngắm
nhìn những vòng hương treo lơ lửng trong ánh nắng nhẹ nhàng qua mái ngói, du
khách không rời khỏi bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa huyền ảo vừa thanh sạch, như
thấy mình đang sống chậm lại giữa lòng di sản.
Bên trong hội quán còn lưu giữ nhiều vật quý giá có niên đại hàng trăm năm. Tiêu biểu phải kể đến đại hồng chung (chuông đồng) đúc năm 1790, đôi trống đồng cổ, các lư hương, tượng thờ bằng gỗ thếp vàng, cùng 14 bức hoành phi khắc tinh tàn bằng chữ Hán được sơn son thếp vàng chuông. Mỗi vật chất đều là một minh chứng cho sự vinh quang của thương yêu Hội An xưa, đồng thời phản ánh tài năng nghệ thuật luyện luyện của các nghệ nhân thủ công. Nhờ có những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, hội quán Phúc Kiến được đánh giá là một trong những di sản văn hóa kiến trúc độc đáo bậc nhất của phố cổ Hội An.
Hội Quán Phúc Kiến cũng nằm trong tuyến tham quan phố cổ Hội An nên rất thuận tiện cho du khách kết hợp khám phá nhiều địa điểm một thời. Chỉ với một tấm vé tham quan phố, du khách có thể Thăm viếng quán Phúc Kiến cùng các di tích nổi lân cận như chùa Cầu, hội quán Quảng Đông, hội quán Triều Châu, nhà cổ Tấn Ký, vv Sau khi trái không gian trầm mặc của hội quán, chỉ bước vài chân là du khách lại hòa vào nhịp sống sôi động của phố Hội bên ngoài – nơi có dãy nhà cổ sơn vàng rực rỡ, đèn lồng nổi tiếng khắp nơi và rao hàng vang từ khu chợ gần đó. Hãy dành thời gian lò sưởi dọc phố Trần Phú và khu chợ Hội An ngay cạnh quán rượu để thưởng thức đặc sản Cao lầu, mì Quảng hoặc mua một vài chiếc đèn lồng làm kỷ niệm. Sự đan xen trải nghiệm văn hóa tâm linh tại quán rượu và không khí đời thường dung dị ở phố chợ chắc chắn sẽ để lại ấn tượng sâu sắc, tạo du khách thêm yêu thích vùng đất di sản Hội An.
7/ HỘI QUÁN TRIỀU CHÂU – HỘI AN
1. MỞ ĐẦU
Hội An từ lâu đã nổi tiếng là đô thị cổ mang đậm
giá trị văn hóa – lịch sử, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Trong
số các công trình kiến trúc tiêu biểu tại đây, Hội
quán Triều Châu là một điểm đến đặc sắc, phản ánh rõ nét đời sống và
tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại phố Hội.
Hội quán không
chỉ gây ấn tượng bởi vẻ đẹp kiến trúc độc đáo mà còn chứa đựng nhiều giá trị
lịch sử lâu đời, trở thành điểm tham quan văn hóa không thể bỏ qua.
2. VỊ TRÍ VÀ THÔNG TIN THAM QUAN
- Địa chỉ: 157 Nguyễn Huy Hiệu, phố cổ Hội An
- Giờ mở cửa tham khảo: 7:00 – 17:00
Hội quán nằm ngay trong khu phố cổ, thuận tiện cho việc di chuyển. Từ Chùa Cầu, du khách có thể đi bộ dọc theo đường Trần Phú khoảng 750 mét, qua Miếu Quan Công là đến nơi.
3. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Hội quán Triều
Châu được xây dựng vào năm 1845, trong bối cảnh một bộ phận
người Hoa, đặc biệt là cộng đồng Triều Châu, di cư sang Việt Nam sinh sống và
lập nghiệp.
Ban đầu, công
trình được sử dụng làm nơi:
·
Gặp gỡ,
giao lưu của cộng đồng Hoa kiều
·
Kết nối đồng
hương nơi đất khách
Về sau, hội quán còn là nơi thờ tự các vị thần có khả năng chế ngự sông nước, bão tố. Điều này xuất phát từ đặc điểm nghề nghiệp của người dân thời bấy giờ – chủ yếu làm nghề biển, luôn mong cầu sự bình an và thuận lợi.
Trải qua hơn 170
năm tồn tại, công trình đã được trùng tu nhiều lần, chuyển từ vật liệu gỗ ban
đầu sang kết hợp các vật liệu bền vững hơn, nhưng vẫn giữ nguyên giá trị văn
hóa truyền thống.
4. GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT
Hội quán Triều
Châu là một công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và trang trí của
người Hoa tại Hội An.
4.1. Mặt tiền
Mặt tiền gây ấn
tượng với các mảng tường lớn được chạm khắc tinh xảo. Các họa tiết phổ biến
gồm:
·
Cá chép
hóa rồng
·
Tứ linh
(long, lân, quy, phụng)
·
Hồ điệp
Những hình tượng
này mang ý nghĩa phong thủy, tượng trưng cho may mắn và thịnh vượng.
4.2. Nhà tiền điện
Nhà tiền điện
được xây dựng bằng gỗ và đá theo lối kiến trúc chồng rường
truyền thống.
Đặc điểm nổi
bật:
·
Các vì
kèo được chạm khắc công phu
·
Hoa văn
trang trí tinh tế, mềm mại
·
Kết cấu
đa tầng với các hình ảnh hoa, chim, nhân vật
4.3. Chính điện
Chính điện gồm 3
gian chính với:
·
Các cột
gỗ lớn, chắc chắn
·
Kết cấu
chồng rường giả thủ đặc trưng
Điểm nhấn là các
chi tiết điêu khắc hình rồng đầu cá, thể hiện sự sáng tạo và
tay nghề điêu luyện của nghệ nhân xưa.
4.4. Khu vực tiếp khách
Đây là không
gian trung gian nối giữa tiền điện và chính điện. Đồng thời, đây cũng là nơi
chuẩn bị các lễ vật trong các dịp cúng tế quan trọng.
4.5. Nghệ thuật trang trí
Hội quán nổi bật
với:
·
Nghệ
thuật chạm khắc gỗ tinh xảo
·
Kỹ thuật
đắp nổi bằng sành sứ
·
Các chi tiết
trang trí mang đậm bản sắc văn hóa Trung Hoa
Tất cả tạo nên
một tổng thể hài hòa, giàu giá trị thẩm mỹ.
5. GIÁ TRỊ VĂN HÓA – TÍN NGƯỠNG
Hội quán không
chỉ là nơi sinh hoạt cộng đồng mà còn là không gian tâm linh quan trọng.
Người dân đến
đây để:
·
Thờ cúng
tổ tiên
·
Cầu bình
an, may mắn
·
Gắn kết
cộng đồng
Công trình phản
ánh rõ nét đời sống tinh thần và tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại Hội An.
6. LỄ HỘI TIÊU BIỂU
Một trong những
hoạt động nổi bật tại hội quán là lễ Nguyên Tiêu, diễn ra vào
ngày 16 tháng Giêng âm lịch hằng năm.
Đặc điểm của lễ
hội:
·
Không
gian được trang trí rực rỡ với cờ hoa
·
Lễ vật
cúng tế phong phú: hương, hoa, trà, thức ăn
·
Nghi lễ
diễn ra trang nghiêm từ 10 – 11 giờ trưa
Sau phần lễ là các hoạt động:
·
Giao lưu
văn hóa
·
Ca hát, vui
chơi
Lễ hội góp phần
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.
7. KẾT LUẬN
Hội quán Triều Châu là một công trình
tiêu biểu, hội tụ đầy đủ các giá trị về lịch sử, kiến trúc và văn hóa.
Đây không chỉ là
điểm tham quan hấp dẫn mà còn là nơi giúp du khách:
·
Hiểu thêm
về cộng đồng người Hoa tại Hội An
·
Khám phá
nghệ thuật kiến trúc truyền thống
·
Trải
nghiệm không gian văn hóa đặc sắc
Hội quán Triều Châu vì thế luôn là một điểm dừng chân ý nghĩa trong hành trình khám phá phố cổ Hội An.
8/ Hội quán Quảng Đông - Kiến trúc đẹp tại Hội An
Một trong những
hội quán lâu đời, góp phần khiến phố cổ Hội An thêm đậm nét cổ xưa đó chính
là Hội quán Quảng Đông. Với kiến trúc đặc sắc từ phong cách của
người Trung Hoa, lại nằm ngay trung tâm phố cổ nên hội quán thu hút đông đảo du
khách trong và quốc tế đến tham quan, tìm hiểu về điểm đến thú vị này.
Nằm ở địa chỉ
176 đường Trần Phú, ngay gần với Chùa Cầu, nơi đây dễ dàng cho du khách ghé
thăm để chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo. Về lịch sử Hội quán Quảng
Đông thì hội quán này được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18. Thời
điểm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, Hội An là một trong những thương cảng chính
của nước ta, không những vậy, còn được rất nhiều người Hoa đến định cư, buôn
bán làm ăn. Và một hội thương nhân Quảng Đông Trung Quốc, khi sang đây đã quyết
định xây dựng hội quán vào năm 1885 để khiến nơi đây trở thành một nơi tín
ngưỡng và là nơi tập trung các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, hội đồng hương,
họp mặt thường xuyên để giúp đỡ nhau trong làm ăn cũng như các nhu cầu cuộc
sống khác.
Hội quán
Quảng Đông ở Hội An còn có tên gọi khác là hội quán Quảng Triệu hay
tên khác nữa là chùa Ông vì bên trong thờ Quan Công một vị tướng Trung Quốc
tượng trưng cho sáu chữ “trung, nghĩa, tín, trí, nhân, dũng”, mà 6 chữ này
chính là đạo lý cần thiết cho các thương gia có thể làm ăn phát tài. Với kiến
trúc được xây dựng độc đáo theo hình chữ quốc, từ những chất liệu gỗ và đá, hội
quán là một công trình khép kín với cổng tam quan, có sân vườn rộng trang trí
nhiều cây cảnh, vào giữa là phương đình, hai bên nhà Đông Tây, chính điện và
sân sau,… khá giống với những hội quán khác ở Hội An.
Ở giữa Hội quán Quảng Đông Hội An là chính điện rộng lớn được chia làm 3 gian: gian giữa thờ Quan Công, hai gian ở hai bên là thời Phước Đức Chánh Thần và Tài Bạch tinh quân, sử sách có ghi lại trước kia năm 1885 thì thờ bà Thiên Hậu và Đức Khổng Từ nhưng từ năm 1911 thì chuyển qua thờ Quan Công và tiền hiền. Không gian thoáng đãng, trang trí hài hòa với hệ cột kèo đồ sộ liên kết vững chắc với chồng rường. Còn rất nhiều hiện vật quý giá từ gốm sứ như cặp đôi sứ men ngọc quý hay 4 bức hoành phi lớn, một lư trầm cao 1,6m và rộng 0,6m làm bằng đồng, hình tượng mô phỏng các vở tuồng, những văn bản ghi lại cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng người Quảng Đông khi ở đây.
Hàng năm, vào rằm tháng giêng Âm lịch, Hội quán Quảng Đông tại Hội An lại tổ chức lễ hội Nguyên tiêu, với những nghi thức tế lễ truyền thống, tổ chức cúng giỗ Tiền Hiền, cầu năm mới gặp nhiều bình an, làm ăn tấn tới có tài lộc, phú quý, có cả tiệc tiếp đãi hội đồng hương nữa. Còn đến 24/6 Âm lịch thì sẽ diễn ra lễ hội vía Quan Công để bày tỏ lòng thành kính đến vị tướng tài. Những lễ hội đa phần để tưởng nhớ cũng như gắn kết cộng đồng, gìn giữ nét văn hóa truyền thống, ngoài ra cũng thu hút rất nhiều du khách ghé tìm hiểu về tín ngưỡng nơi đây.
Du lịch phố cổ, ngoài những địa điểm nổi tiếng khác thì bạn hãy nhớ ghé thăm Hội quán Quảng Đông để có thể tận mắt khám phá nét truyền thống người Hoa thời xưa, cầu bình an cho bản thân và gia đình tại chính điện, chiêm ngưỡng kiến trúc đặc sắc của hội quán này nhé!
9/Chùa Ông Hội An – Ngôi chùa thiêng gần
400 năm tuổi
Tên
gọi khác: Quán Công Miếu (hay Miếu Quan Công), nơi thờ Quan Vân Trường
(Quan Vũ), một vị tướng trung nghĩa thời Tam Quốc.
Số 24 đường Trần
Phú, phường Hội An Đông, TP Đà Nẵng.
Được
xây dựng vào giữa thế kỷ XVII (khoảng năm 1653) bởi các thương nhân người Hoa,
là công trình kiến trúc cổ và có giá trị nghệ thuật cao.
Kiến trúc nổi bật: Mang đậm phong cách kiến trúc Trung Hoa với mái ngói ống, các chi tiết chạm khắc rồng phượng tinh xảo và bức tượng Quan Công uy nghi ở chính điện.
Chùa Ông được xây dựng vào năm 1653, đây thời kỳ buôn bán phát đạt nhất của thương cảng Hội An. Ở thế kỷ XVII, Hội An là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của các thuyền buôn đến từ những quốc gia khác nhau trên thế giới. Có rất nhiều thương nhân người Hoa đến đây buôn bán và chọn Hội An (Hội An là thành phố cũ của tỉnh Quảng Nam cũ, hiện nay tỉnh Quảng Nam thuộc TP Đà Nẵng sau sáp nhập) làm quê hương thứ hai của mình.
Vì vậy, họ đã
xây dựng các đền thờ, chùa, miếu… phục vụ đời sống tâm linh của mình, chùa Ông
chính là một trong số đó. Nơi đây là địa điểm du lịch Hội An mang đậm dấu ấn
của người Hoa cổ ở Hội An.
Chùa đã được
trùng tu 6 lần vào các năm: 1753, 1783, 1827, 1864, 1904 và 1966. Chùa Ông ở
Hội An đã được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa quốc gia vào ngày 29 tháng 11
năm 1991.
Chùa Ông có tên chữ là Trừng Hán Cung, do người Minh Hương định cư tại Hội An và người Việt cùng xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Chùa thờ vị tướng tài ba thời Tam Quốc là Quan Vân Trường (Quan Vũ), ông là hình mẫu và biểu tượng cho triết lý sống cao cả của con người thời bấy giờ là: Nghĩa – Trung – Tín – Dũng. Vì vậy, việc thờ phụng Quan Công nhằm kính ngưỡng, ca tụng lòng nghĩa khí và tiết trung liệt, để người đời noi gương sáng.
Miếu Quan Công
Hội An từng được xem là trung tâm tín ngưỡng lớn của Quảng Nam xưa và là nơi
các thương nhân thường xuyên lui tới để cam kết trong việc vay nợ, buôn bán và
cầu vận may. Ngày nay, ngôi chùa đã trở thành một trong những điểm đến được
nhiều người yêu thích khi đi du lịch Hội An.
3. Các hoạt động tham quan, chiêm bái chùa
Ông Hội An hấp dẫn du khách
Toàn thể chùa
Ông gồm 4 tòa nhà, một tiền đình, hai tả, hữu vu và một chính điện rộng. Bốn
tòa cất xây theo kiểu chữ khẩu, các nếp mái nhà lợp mái ống có men màu, bờ nóc
được gắn hoa chanh đắp hình rồng, nghê bằng các mảnh sứ màu.
Ở chính điện Quan Công miếu đặt pho tượng Quan Vũ tướng quân, mặc thanh bào thêu rồng nổi kim tuyến, nét mặt oai nghiêm tươi sáng, đôi mắt sắc mà lung linh nhìn về phía trước.
Ngoài ra, ở
chính điện còn có 2 pho tượng Châu Thương, đây là người nô tì trung thành và
dũng cảm của Quan Công và tượng Quan Bình nghĩa tử; 2 con ngựa thờ cao bằng
ngựa thật, bên tả là con ngựa trắng, bên hữu ngựa xích thố – con ngựa mà Quan
Vân Trường tướng quân rất quý khi được Tào Tháo ban cho.
Hiện nay, trong chùa Ông Hội An vẫn còn lưu giữ được một số hiện vật quý như những bia đá, các hiện vật cổ đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.
Đặc biệt, chùa
Ông còn lưu lại bài thơ vịnh, bài ngụ ngôn cổ phong của Xuân Quận Công Nguyễn
Nghiễm (là cha của Đại thi hào Nguyễn Du), được ông sáng tác vào năm 1775 khi
đóng quân ở Hội An. Bên cạnh đó, 2 bài họa của Uông Sĩ Cư và Nguyễn Lệnh Tân
cũng được lưu giữ tại đây. Đây là những dấu tích lịch sử xa xưa trong giai đoạn
Trịnh – Nguyễn phân tranh còn lại ở ngôi chùa Hội An từ thế kỷ XVIII.
Chùa Ông Hội An
có rất nhiều hoạt động, lễ hội thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước ghé
thăm hằng năm:
Lễ hội chùa
Ông đầu xuân
Vào dịp đầu năm
mới mọi người thường đến chùa Ông để cầu bình an, may mắn, đặc biệt trong việc
làm ăn. Mọi người có thể xin những tờ Xuân liên cầu an, cầu may. Hay bạn có thể
viết những lời cầu bình an cho mình và người thân vào một tờ giấy nhỏ, sau đó
treo vào giữa những hương to, tròn ở chùa (khoanh hương sẽ cháy trong vòng 3
ngày).
Đi lễ chùa Ông
Hội An đầu năm là dịp để nhiều người bày tỏ lòng thành kính với các bậc tiền
hiền, cầu mong năm mới an khang thịnh vượng.
Lễ hội vía
Ông được tổ chức vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch hằng năm
Ngày vía Quan
Hiển Thành diễn ra vào ngày 24 tháng 6 âm lịch hằng năm
10/ Chùa Phật Quan Âm
Bên cạnh những
ngôi nhà gỗ với niên đại hàng trăm năm, Khu phố cổ Hội An còn nổi tiếng với
nhiều di tích tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị cao về lịch sử, văn hóa, kiến
trúc nghệ thuật. Các di tích này do người Việt, người Nhật, người Hoa, Minh
Hương… xây dựng, hình thành liên tục trong suốt chiều dài lịch sử của vùng đất
này, thể hiện sự cộng cư, đời sống văn hóa, tinh thần phong phú của các nhóm cư
dân.
Đây là bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa Hội An, vẫn được gìn
giữ, bảo tồn gần như nguyên vẹn qua nhiều thế hệ. Chùa Phật Quan Âm làng Minh
Hương (Minh Hương Phật tự, chùa Chiên Đàn, chùa Bà, tọa lạc số 13 đường
Nguyễn Huệ) là một trong số các di tích tiêu biểu minh chứng cho nhận định
này. Chùa nằm nối tiếp phía sau miếu Quan Công (Trừng Hán cung, chùa
Ông, tọa lạc tại số 24 đường Trần Phú). Hai công trình này đều đã được xếp hạng
là di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1991. Dưới đây là một số thông tin
về ngôi chùa độc đáo này.
1. Lịch sử di tích chùa Phật
Quan Âm
Hiện chưa có tư liệu xác định rõ năm khởi dựng di tích, nhưng cùng với miếu
Quan Công, chùa có lẽ được xây dựng từ khá sớm. Ở tấm bia trùng tu năm Quý Dậu
1753 (hiện để trong miếu Quan Công) có câu: “Quan Thánh đế miếu và
Quan Âm Phật tự bản xã đã xây dựng 100 năm”, nghĩa là chùa được xây dựng muộn
nhất cũng vào năm 1653. Như vậy, tính đến nay, ngôi chùa có tuổi đời khoảng 370
năm. Chùa ban đầu thờ Quan Thế Âm Bồ Tát…Tín ngưỡng Quan Thế Âm rất phổ
biến đối với tín đồ Phật giáo Đông Nam Á, nhất là đối với những người hành nghề
buôn bán bằng tàu thuyền. Tại di tích hiện có một số hoành phi, câu đối có nhắc
đến Chiên Đàn Lâm, Quảng An Phật tự, Chiên Đàn Lâm chính là tên gọi khác của
chùa Phật Quan Âm chứ không phải là một ngôi chùa nào khác ở Hội An.
Hòa thượng Thạch
Liêm qua tác phẩm Hải ngoại kỷ sự có đoạn nhắc đến chùa: “Sáng bữa
sau (tức mồng 2 tháng 7), đình trú ở chùa Di Đà. Nhà chùa chật hẹp, không đủ
chỗ chứa đông người, phải phân tán ở Quan Âm đường và các nơi khác”. Đây là sử
liệu ghi chép sớm nhất về chùa Di Đà và Quan Âm đường (觀 音 堂). Tác giả Hải ngoại kỷ sự dùng từ “đường 堂” chứ không phải “tự 寺” như sau này.
Căn cứ hai tấm bia “Chiên Đàn Phật tự” và “Quảng An Phật tự” lập năm
Giáp Thìn (1904), Thành Thái 16, làng Minh Hương tu sửa chùa cùng tượng Phật.
Năm Bảo Đại thứ 18 (1943), làng Minh Hương đứng ra trùng tu chùa Phật, cung
Trừng Hán và Tụy Tiên đường. Đó là hai lần trùng tu chùa giai đoạn gần cuối
triều Nguyễn.
Theo mô tả trong tư liệu Quảng Nam xã chí do Viện Viễn Đông Bác
cổ thực hiện năm 1943 – 1944 thì ở chùa có con đường hẻm có thể qua nhà Tiền
hiền (Minh Hương Tụy tiên đường). Hai căn nhà (dọc theo hẻm) là
hai phương trượng của chùa Phật, cạnh đó có giếng nước uống của chùa. Hiện
trạng, con hẻm không còn nữa nhưng giếng nước vẫn còn, hai phương trượng đã
được thay thế bằng nhà đông và khối công trình phụ.
Từ năm 1975 đến năm 1989: ngôi chùa được sử dụng làm trụ sở UBND phường
Minh An. Từ cuối năm 1989, Ban Quản lý Di tích (nay là Trung tâm Quản lý
Bảo tồn Di sản văn hóa Hội An) tiếp quản ngôi chùa, tiến hành tu bổ, phục
hồi bàn thờ Phật và sử dụng di tích làm Nhà trưng bày Lịch sử - Văn hóa Hội An
phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch. Trong khoảng thời
gian đó, việc thờ tự chỉ gói gọn trong phạm vi gian giữa nếp nhà sau của chính
điện. Sau lần đại trùng tu năm 2015, Nhà trưng bày được chuyển về Bảo tàng Hội
An. Ngôi chùa đã được trả lại chức năng vốn có vào năm 2016, bố trí lại không
gian thờ tự như ta thấy hiện nay.
1. Kiến trúc di tích
Ngôi chùa có mặt
tiền quay về hướng nam. Phía tây giáp đường Nguyễn Huệ, phía đông và bắc giáp
nhà dân. Tổng thể khuôn viên di tích gồm có tam quan, sân trước, chính điện và
nhà đông. Do đặc điểm tọa lạc (nằm phía sau miếu Quan Công), tam quan chùa
không nằm trên trục thần đạo như thường thấy mà nằm về phía bên phải
chùa (theo hướng quy ước). Tam quan có hình thức đơn giản với 4 trụ biểu
vuông, hai trụ giữa cao hơn hai trụ bên để chia thành ba lối đi, đỉnh trụ gắn
búp sen trang trí. Phía trên nối liền bốn trụ biểu là xà cách điệu làm trán
cổng, bên trên không có mái che. Trán cổng xây cao, hình thức như các bức hoành
phi, bên trên đắp họa tiết trang trí. Hai mặt tam quan đắp nổi nhiều Hán tự,
câu đối. Cụ thể:
* Mặt trước (hướng nhìn từ trước vào): chính giữa,
phía trên có chữ: 明 鄉 佛 寺 (Minh Hương Phật tự, tạm dịch: Chùa Phật (làng) Minh Hương). Bên
phải: 真 空 (Chân Không), bên trái: 妙 有 (Diệu Hữu).
Câu đối trên hai trụ chính giữa:
明 鏡 非 臺 參 到 真 如 憑 妙 諦
鄉 關 是 處 宏 開 般 若 紹 宗 門
Phiên âm:
Minh kính phi
đài, tham đáo Chân như bằng diệu đế
Hương quan thị
xứ, hoằng khai Bát nhã thiệu tông môn.
Tạm dịch:
Gương sáng chẳng
phải đài, tham cứu đến Chân như nhờ Diệu đế;
Quê nhà là chốn
ấy, mở mang thông Bát nhã nối Tông môn.
(Thích Quang Định
phụng dịch)
Câu đối trên hai
trụ hai bên:
廣 安 寺 碑 文 千 秋 功 德
旃 檀 林 勝 蹟 萬 眾 瞻 依
Phiên âm:
Quảng An tự bi
văn thiên thu công đức;
Chiên Đàn lâm
thắng tích vạn chúng chiêm y.
Tạm dịch:
Văn bia chùa
Quảng An nghìn năm công đức;
Thắng tích rừng
Chiên Đàn muôn chúng kính ngưỡng.
*Mặt sau: chính
giữa, phía trên cổng đắp các chữ Hán:
六 祖 師 偈
菩 提 本 無 樹
明 鏡 亦 非 臺
本 來 無 一 物
何 處 惹 塵 埃
保 大 十 六 年 夏
本 社 恭 錄
Phiên âm:
Lục Tổ sư kệ:
Bồ đề bổn vô thọ,
Minh kính diệc
phi đài.
Bổn lai vô nhất
vật,
Hà xứ nhạ trần
ai.
Bảo Đại thập lục
niên hạ, Bổn xã cung lục.
Tạm dịch:
Bài kệ của
đức Lục Tổ:
Bồ đề vốn không
cây,
Gương sáng cũng
không đài.
Xưa nay không một
vật,
Nơi nào vướng trần
ai.
Mùa hè năm Bảo Đại
thứ 16, Bổn xã kính lục.
Bên trái (hướng
nhìn từ sân chùa ra), phía trên cổng đắp chữ: 智 慧 (Trí Tuệ), bên phải: 慈 悲 (Từ Bi). Câu đối trên hai trụ chính giữa:
明 月 净 初 心 境 對 䌓 花 空 门 自 在
郷 風 敦 善 俗 地 留 古 蹟 𣑽 宇 重 光
Phiên âm:
Minh nguyệt tịnh
sơ tâm, cảnh đối phồn hoa, Không môn tự tại;
Hương phong đôn
thiện tục, địa lưu cổ tích, Phạm vũ trùng quang.
Dịch nghĩa:
Trăng sáng làu
sạch tựa mối sơ tâm, tịnh cảnh đối phồn hoa, cửa chùa luôn tự tại;
Nếp quê nhân hậu
thấm vào phong tục, đất thiêng gìn tích cũ, nhà Phật sáng hơn xưa.
(Thích Quang Định
phụng dịch)
Câu đối trên hai
trụ hai bên:
一 塵 不 到 菩 提 地
萬 善 同 歸 般 若 門
Phiên âm:
Nhất trần bất đáo
Bồ Đề địa;
Vạn thiện đồng
quy Bát Nhã môn.
Tạm dịch:
Bụi trần không
đến đất Bồ đề;
Muôn thiện cùng
về cửa Bát Nhã.
Qua tam quan là một khoảng sân nhỏ trước chùa, trang trí đơn giản với hòn
non bộ nhỏ tạo tiểu cảnh, vài cây xanh điểm xuyết. Khoảng sân này cũng giúp
phân cách ước lệ khu vực chùa và miếu (vì hai công trình này thông nhau).
Chính điện có kiểu thức nhà 3 gian, gồm 2 nếp mái (tạm chia thành nếp nhà
trước và nếp nhà sau), kết cấu: hệ khung gỗ chịu lực, tường bao xây gạch, mái
lợp ngói âm dương. Bờ nóc, bờ chảy trang trí đơn giản, cong nhẹ làm cho hệ mái
trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Hệ vì nếp nhà trước có kết cấu kiểu kết hợp
“trính chồng trụ đội” và “chồng đấu con sơn”. Các chi tiết chạm trổ giúp làm
mềm hóa sự thô cứng của các cấu kiện trính, trụ đội. Do hệ mái nếp nhà
trước khá lớn nên phần hiên được làm thêm mái giả giúp phân định không gian
chức năng và tăng thêm phần thẩm mỹ. Theo đó, chỉ ½ hệ vì ở hiên tham gia chịu
lực, ½ hệ vì còn lại mang chức năng trang trí nhiều hơn là hỗ trợ chịu
lực. Bông trính đỡ đòn tay dưới cùng ở mái hiên được tạo hình hoa sen rất
kỳ công, đoạn giữa chạm nổi đồ án “sư tử hí tiền”, kết hợp con ke hai bên chạm
thủng đồ án dây lá hóa rồng.
Con sơn đỡ thanh trính hạ cũng được chạm nổi dây lá hóa rồng, đội
đài sen. Trụ đội được chia làm ba đoạn, chạm các rãnh theo chiều dọc kiểu trái bí.
Các trụ đội liên kết với nhau và với hai đầu cột bằng các thanh gỗ được tạo
hình khum cong như vỏ cua. Từ trụ đội có các thanh gỗ vươn ra hai bên như những
cánh tay đỡ đòn tay. Hệ vì bên trong nếp nhà trước được làm tương tự hệ vì ở
hiên, tạo sự đồng nhất về hình thức kết cấu.
Nếp nhà sau có diện tích nhỏ hơn nếp nhà trước, hệ vì kèo suốt, có hình thức rất đơn giản, không chạm trổ. Bức tường ngang chia nếp nhà này thành hai khu vực: phía trước là không gian thờ tự, phía sau dùng làm kho vật dụng. Nhà đông nằm bên trái chính điện, dùng làm nơi trưng bày thư họa, chỗ nghỉ chân cho du khách.
Có thể nói, tài hoa của những người thợ đục chạm được thể hiện rõ nét
nhất, đặc sắc nhất trong công trình này là ở hệ vách gỗ mặt tiền. Chính giữa là
bộ cửa đi thượng song hạ bản 6 cánh, bản chính chạm thụ – điểu (cò – cây
đào), rồng, long mã, rùa, hổ, tùng – lộc rất chi tiết, tinh xảo. Hai gian bên
có bộ cửa đi thượng song hạ bản 4 cánh, bản chính chạm chữ 寿 (Thọ) viết theo kiểu chữ triện. Các bản nhỏ trên cửa chạm các
đồ vật trong bát bửu, dây lá hóa rồng, hoa sen và hồi văn. Các ô hộc ở liên ba (vách
ván gỗ trên đầu cửa) chạm nổi “thập bát La Hán” kết hợp một số đồ án cát tường
khác. Nhận xét một cách chủ quan của người viết, đây là một trong số ít những
bộ cửa thượng song hạ bản đẹp nhất hiện còn ở Hội An.
Về bố trí thờ tự: tường biên hai bên hiên tôn tượng Hộ
Pháp Vi Đà và Tiêu Diện Đại Sĩ. Các án thờ ở nếp nhà sau chính điện thờ bộ
tượng Di Đà Tam Tôn, gồm: gian chính giữa thờ Đức Phật A Di Đà, gian trái
thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, gian phải thờ Đại Thế Chí Bồ Tát. Ngoài ra, tường biên
bên phải gian thờ còn có hương án thờ Địa Tạng Vương Bồ tát.
Tại chùa Phật Quan Âm vẫn còn nhiều di vật quý được bảo lưu. Trang trí nội thất
tuy đơn giản nhưng trang trọng, tôn nghiêm với một số bức hoành phi:
- Hoành phi trên
xuyên gian giữa chính điện: 林 檀 旃 (Chiên Đàn lâm). Thượng khoản chạm thành
hai hàng dọc: 慶 德 癸 巳 歲 腊 月 榖 旦 - 信 官 簫 燧 烜 敬 立 (Khánh Đức Quý Tỵ tuế, lạp nguyệt cốc đán
- Tín quan Tiêu Toại Huyên kính lập; Tạm dịch: Ngày lành tháng chạp năm
Quý Tỵ (1653) niên hiệu Khánh Đức. Tín quan là Tiêu, Toại, Huyên kính
lập). Hạ khoản chạm một hàng ngang và một hàng dọc: 成 泰 甲 辰 本 社 重 修 (Thành Thái Giáp Thìn bổn xã trùng
tu; Tạm dịch: Năm Giáp Thìn (1904) niên hiệu Thành Thái, bổn xã trùng
tu). Bức hoành ghi được thông tin năm lập chùa và năm trùng tu 1904, từ đây
chùa lấy tên là Chiên Đàn, theo bức hoành treo gian giữa.
- Hoành phi
trên xuyên gian bên trái chính điện: 慈 恩 永 庇 (Từ ân vĩnh tí; Tạm dịch: Ơn
từ mãi che). Thượng khoản chạm: 歲 次 乙 亥 年 季 秋 下 浣 (Tuế thứ Ất Hợi niên quý thu Hạ
Hoán; Tạm dịch: Hạ Hoán cuối thu năm Ất Hợi). Hạ khoản chạm: 明 香 社 鄉 長 員 職 仝 造 (Minh Hương xã, hương trưởng, viên chức
đồng tạo; Tạm dịch: Hương trưởng, viên chức xã Minh Hương cùng lập).
- Hoành phi
trên xuyên gian bên phải chính điện: 圓 通 殿 (Viên thông điện; Tạm dịch: Điện Viên Thông,
tức điện thờ Bồ Tát Quán Thế Âm). Lạc khoản chạm theo hàng dọc: 己 亥 年 [] 一 天。弟 子 陳 玉 恩 (Kỷ Hợi niên [] nhất thiên. Đệ tử Trần Ngọc Ân; Tạm dịch: Nhất
thiên [] năm Kỷ Hợi, đệ tử Trần Ngọc Ân). Hoành phi viết bằng thảo thư cả đại tự
lẫn lạc khoản.
Hai trong số các hương án ở chính điện là di vật cổ của chùa, có kiểu
dáng, họa tiết trang trí rất đẹp, được sơn son thếp vàng. Hương án đặt trước
bàn thờ gian giữa chính điện có chân đế cao tạo dáng kiểu chân quỳ, phần đầu
hai chân đế chạm nổi hình mặt rồng. Mặt trước hương án chia thành các ô hình
chữ nhật, chạm nổi các đề tài: cúc - sóc, mai - điểu, sen - hạc, mẫu đơn -
hươu, lựu - chim… Hương án đặt trước bàn thờ gian bên phải chính điện có hình
thức tương tự hương án ở gian giữa nhưng có kích thước nhỏ hơn, trang trí có
phần đơn giản hơn.
Bên cạnh đó, tại chùa còn lưu giữ một số tượng cổ có giá trị. Tượng Phật
A Di Đà màu vàng đồng được đặt trên đài sen bằng gỗ, bên dưới là chân đế trên
bàn thờ chính giữa chính điện. Tượng ngồi xếp bằng trong tư thế tọa thiền trên
đài sen, tay bắt ấn thiền, khuôn mặt phúc hậu, mắt nhìn xuống, miệng hơi mỉm
cười. Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng gỗ, đặt trước tượng Phật A Di Đà trên bàn
thờ chính giữa chính điện trong tư thế đứng trên đài hoa sen, tay trái cầm bình
tịnh thủy. Tượng Đại Thế Chí Bồ Tát: đặt trên bàn thờ gian bên phải chính điện,
tượng bằng kim loại (làm rỗng bên trong, bề mặt sơn màu) trong tư thế
tọa thiền. Ngoài ra, còn có bộ tranh thập bát La Hán (gồm 6 bức, còn
5). Các bức đang treo tại chùa hiện nay là bản sao từ bản gốc sau khi đã
được phục chế (bản gốc đang được lưu giữ tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di
sản văn hóa Hội An).
Tạm kết
“Việc một chùa thờ Phật được thiết lập ngay tại khu phố cư dân đông đúc,
gần sông và sau này lại thêm gần chợ là hiện tượng độc đáo. Một mặt, phản ánh
giới tu hành gắn bó với đời thường, mặt khác phản ánh làng Minh Hương Hội An có
đầy đủ các thiết chế văn hóa sinh hoạt cộng đồng trong cư dân khi được các chúa
Nguyễn cho định cư ở Hội An”. Sự hiện tồn của ngôi chùa là minh chứng cho quá
trình giao lưu văn hóa, tôn giáo của thương cảng Hội An. Mang trong mình một
chiều dài lịch sử với các giá trị văn hóa, kiến trúc nghệ thuật đặc trưng, chùa
Phật Quan Âm là một trong những di tích kiến trúc Phật giáo quan trọng, góp
phần làm nên giá trị chung của di sản Phật giáo Hội An và của Khu phố cổ Hội
An.
Hiện nay, di tích là điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của người dân
địa phương. Cùng với miếu Quan Công, chùa thường xuyên mở cửa để phục vụ bà
con, du khách gần xa lễ bái, tham quan. Ngoài việc dâng hương, hoa quả vào ngày
rằm, mồng 1 hàng tháng, tại chùa còn có hai ngày lễ lớn trong năm là ngày vía
Quan Thế Âm bồ tát (19 tháng 2 âm lịch) và ngày Tết Nguyên
tiêu (16 tháng Giêng). Rất đông người dân địa phương và các khu vực lân
cận đến dâng hương, viếng chùa trong hai dịp lễ này.
Ở khu phố Hội An có hai dòng tộc Trương đều có quá trình hình thành lâu đời, có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử phát triển thương cảng Hội An là tộc Trương (Đôn Hậu đường) và tộc Trương (Đôn Mục đường). Dưới đây là những thông tin về nhà thờ tộc Trương (Đôn mục đường).
Dựa vào phả hệ tộc thì thủy tổ tộc Trương là
Tây Huyền Công người Hoa, nguyên quán Tỉnh Phước Kiến, phủ Tuyền Châu, huyện
Đồng An, xã Trung Tá, sống vào nửa đầu thế kỷ XVII đã di cư sang Quảng Nam,
Việt Nam. Địa bàn sinh sống tập trung của con cháu trong các thế kỷ XVII,
XVIII, XIX tại Trà Kiệu, Hội An. Ngay từ khi mới lập nghiệp ở Quảng Nam các vị
tiền nhân của tộc Trương đã lập nên phả hệ thi của tộc là: Duy - Minh - Hoằng -
Tấn - Tăng - Thừa - Vĩnh - Ngọc - Kim - Dư - Duy theo truyền thống của các tộc
lớn và nhằm để hậu thế dễ nhận biết thứ bậc của những người đồng tộc. Hơn 300
năm sinh sống ở Quảng Nam, đến nay tộc này đã trải qua 13 đời và con cháu sống
ở nhiều nơi trong nước Việt Nam và cả nước ngoài.
Trương tộc là tộc được kê trong phổ đồ hương hiền làng
Minh Hương(Phổ đồ được biên soạn năm 1820, sao lại vào năm 1880), Trương
Hoằng Cơ (đời thứ IV) là một trong Tam gia của làng. Tộc Trương có nhiều
đóng góp vào sự phát triển của thương cảng Hội An xưa. Năm 167, Trương Hoằng Cơ
lúc đó là một nhân sĩ có vai trò lớn trong làng đã đứng ra quyên góp, trùng tu
Chùa Cầu. Đặc biệt, một số người của tộc Trườn đã đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động hoạt động hành chính và thương mại của chính quyền tiêu biểu là
Trương Hoằng Cơ - Hương trưởng làng Minh Hương, Trương Hoằng Đạo là quan Cai
phủ, tước Tử, một vị khác làm Tri huyện Đại An(?). Tộc Trương cũng có truyền
thống về khoa bảng, nhiều người đã đỗ cử nhân, tú tài như Cử nhân Trương Tăng
Diễn, Tú tài Trương Tăng Trị...
Dựa vào minh văn bức hoành Trương Từ đường có niên đại
1831 thì chúng tôi đoán định di tích được xây dựng muộn nhất là cách ngày nay
176 năm và đã có ít nhất 3 lần tu bổ vào các năm 1912, 1957, 1990. Đợt trùng tu
1912 là đại trùng tu, kiểu dáng kiến trúc lúc bấy giờ được duy trì đến hiện
nay. Năm 1957, gia cố sắt chống đỡ hệ cột, xà, thay cột hiên. Năm 1990, trùng
tu nhỏ.
Nhà thờ tộc Trương có diện tích là 281,525m2, mặt tiền quay
về hướng Tây Nam, nằm sát đường kiệt số 54 đường Phan Chu Trinh. Bước vào di
tích là phải đi qua tam quan hình cuốn thư, hai bên thành cổng chính áp sa
thạch, hai mắt cửa hình lục giác, đề hai chữ phúc, thọ (nền đỏ chữ vàng)
được gắn ở đà trên cổng. Trên hai mắt cửa là bức hoành Trương Từ đường (đắp
nổi, nền đỏ chữ vàng). Mái cổng chính lợp ngói âm dương, 9 vồng ngói, bờ
nóc trang trí hoa văn chữ vạn, hồ lô bằng thủy tinh xanh được đặt giữa bờ nóc.
Đây là một trong những tam quan nhà thờ tộc còn được bảo tồn khá nguyên vẹn.
Bên trong tam quan là một khoảng sân rộng diện tích là 7,6 x 11,7
= 89.224m2 được lát sa thạch tím, trắng với nhiều kích cỡ khác nhau. Bậc
cấp vào ngay giữa tiền sảnh cũng được lát bằng sa thạch màu trắng, hình dáng
giống bàn đá chân quì. Các cột hiên hình vuông xây bằng gạch tô vữa vôi. Bên
trong là hệ cửa tiền đường gồm 4 cánh cửa gỗ kiểu pano. Trước đây, phía
dưới hệ cửa có đà cửa hạ bằng gỗ nhưng trong đợt trùng tu năm 1990 chủ di tích
thay thế bằng cách xây gạch tô vữa vôi - xi măng. Nội thất nhà thờ 3 gian, ba
lòng, gồm tiền đường hậu tẩm. Nền nhà thờ lát gạch hoa, tường xây vữa hợp chất
vôi, mật mía, vỏ hến. Khung chịu lực gồm có hai phần, ở lòng I là vì kèo
cột trốn kẻ chuyền, ở lòng II, III là trính chồng trụ đội, đầu và đuôi các kèo
được chạm khắc lộng lẫy các đồ án hoa dây. Ngăn cách tiền đường, hậu tẩm
là hệ cửa thượng song hạ bản. Phần hạ bản các cửa có nhiều đồ án trang trí chạm
nổi như bát bửu, chữ thọ. Hậu tẩm cũng có mái hiên tường xây bảo vệ. Khuôn viên
phía sau hậu tẩm có nhà bếp(góc phía Đông nhà thờ) và nhà vệ sinh(góc
phía Bắc nhà thờ). Án ngữ hậu tẩm là bình phong hình cuốn thư, bình phong
liên kết với tường rào bảo vệ mặt hậu di tích. Mái trước của công trình lợp
ngói âm dương, mái sau lập ngói đất nung 22v/1m2. Bờ nóc, bờ hồi tô đắp uốn
lượn theo đồ án thủy ba và có quả cầu thủy tinh xanh được đặt giữa bờ nóc.
Nhìn chung toàn bộ kết cấu công trình đều là những hạng mục
cũ được xây dựng muộn nhất trong đợt trùng tu năm 1912. Tất cả các cấu kiện gỗ
đều được làm bằng gỗ kiền kiền. Hệ cửa, con ke, đầu kèo trang thờ được chạm trổ
sắc sảo. Đặc biệt trong gian tiền đường hiện còn treo bức hoành chữ Hán “Kính
như tại” có niên đại Minh Mạng năm 12 (1831).
Không gian thờ tự trong di tích được phân bố như sau: Giữa tiền
đường là nơi đặt trang thờ lớn làm bằng gỗ được sơn son thiếp vàng, chạm trổ
tinh vi nhiều đồ án mang ý nghĩa cát tường như cá chép, bát bửu, hoành phi nhỏ
bằng chữ triện, một cặp câu đối. Trong trang thờ có đặt bảng tông đồ tộc Trương
và 15 bài vị của các vị thủy, cao, tằng, hiển tổ của tộc. Trang thờ các vị tổ
cô ở hậu tẩm, trong án thờ có bảng tông đồ các vị Tổ cô đơn chiếc, góa bụa.
Hằng năm, tại di tích diễn ra các lễ chính là: Tế xuân, ngày 15/2
âm lịch; tế thu, ngày 15/8 âm lịch; chạp mã tộc ngày 24/11, tế ông Trương Hoằng
Cơ, ngày 3/11. Các lễ tế hiện nay diễn ra theo trình tự cúng tế truyền thống
của người Việt. Vật phẩm cúng tiêu biểu là heo quay. Theo một người cao tuổi
trong tộc cho biết, cách đây 40 - 50 năm, vào dịp tế xuân, thu tại nhà thờ tộc,
đại diện làng Minh Hương đến nhà thờ dự lễ và tiến cúng heo quay và nhiều vật
phẩm khác.
Nhìn chung, Trương tộc là một trong những tộc họ người Hoa định cư
vào buổi đầu hưng thịnh của thương cảng Hội An, được cộng đồng cư dân làng Minh
Hương tôn vinh là một trong những tộc tiền hiền, đóng góp nhiều trong sự nghiệp
xây dựng làng Minh Hương - Hội An. Con cháu tộc Trương trong các thế kỷ XVII,
XVIII, XIX đã tham gia vào công tác hành chính, hoạt động quản lý thương mại
của cảng thị, tu bổ di tích qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển cảng thị Hội
An nói riêng và vùng đất Hội An nói chung.
12/ Bảo tàng Hội An
Bảo tàng Lịch
Sử-Văn Hoá Hội An nằm tại số 10B Trần Hưng Đạo. Bảo tàng này được thiết lập
ngày 10/11/1989, trước đây toạ lạc tại số 7, Nguyễn Huệ. Bảo tàng trưng bày 335
hiện vật bao gồm: 281 hiện vật gốc và 54 hình ảnh, tư liệu liên quan đến các
thời kỳ phát triển của Đô thị cổ Hội An từ thời Tiền-Sơ sử cho đến nay.
Bảo tàng Lịch Sử - Văn Hoá Hội An nằm tại số 10B Trần Hưng Đạo. Trước đây, bảo
tàng này tọa lạc tại số 7, Nguyễn Huệ, là ngôi chùa của dân làng Minh Hương
được xây dựng vào thế kỷ XVII để thờ Phật bà Quan âm. Hiện bảo tàng trưng bày
335 hiện vật, hình ảnh, tư liệu liên quan đến các thời kỳ phát triển của
Đô thị cổ Hội An từ thời tiền - Sơ sử cho đến nay: Tiền- Sơ sử (Thế kỷ
thứ II sau Công nguyên trở về trước), Champa (Thế kỷ thứ II
đến thế kỷ XV), Đại Việt ( Thế kỷ thứ XV - Thế kỷ thứ XIX) -
Đại Nam - Việt Nam.
Các chủ đề trưng bày tại bảo tàng:
1.
Thời kỳ tiền - sơ sử (là tiền Sa Huỳnh và giai đoạn hậu kỳ văn hoá
Sa Huỳnh) cách ngày nay khoảng 2000 năm. Ở chủ đề này, bảo tàng
trưng bày 102 hiện vật gốc và hình ảnh về các hố khai quật gồm các loại hình
công cụ sinh hoạt, lao đông sản xuất, chiến đấu, trang sức…bằng các chất liệu:
gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Những tiền đồng Trung Quốc: Ngũ Thù (Từ
thế kỷ thứ II trước Công Nguyên đến Thế kỷ thứ I sau Công Nguyên), Vương
Mãng (thế kỷ thứ I sau Công Nguyên) cùng với đồ trang sức mã
não, thuỷ tinh có gốc gác từ Nam Ấn Độ hoặc Trung Đông, phần nào chứng tỏ rằng
cách đây khoảng 2000 năm, những chủ nhân của mảnh đất này đã sinh sống bằng
nghề nông trồng lúa nước, khai thác chế biến sản vật sống - biển, làm các nghề
thủ công: rèn, dệt vải, mộc, chế tác đồ trang sức…Đồng thời cũng thể hiện rõ
nét mối quan hệ, giao lưu văn hoá trong nước từng có hoạt động trao đổi buôn
bán với phía Bắc, phía Nam và cả ở khu vực để lập nên một tiền Cảng – Thị sơ
khai, tạo dựng nền móng cho Cảng - Thị các thời kỳ sau tiếp tục phát triển.
Đặc biệt, một loại hình hiện vật đặc trưng của thời kỳ này là chum gốm (mộ chum) được phát hiện trong khu nghĩa địa Tin Lành, di chỉ Hậu Xá, Cẩm Hà năm 1990. Theo các nhà nghiên cứu, đây là một dạng quan tài của cư dân Sa Huỳnh cách đây hơn 2000 năm và được chôn theo người chết, phần nào thể hiện được tục cải táng người chết của cư dân này. Tuy mới chỉ là những thông tin khoa học gặt hái bước đầu, nhưng phần nào gợi mở cho chúng ta những sự nhận biết về tiến trình, về diện mạo lịch sử - văn hoá của cư dân cổ ở Hội An thời Tiền - Sơ sử.
2. Thời kỳ Champa tồn tại từ thế kỷ thứ II – thế kỷ XV với nền văn hoá rực rỡ, khởi đầu thời kỳ vàng son cho một cảng - thị hưng thịnh. Thời kỳ này nổi bật lên những địa danh Chiêm Bát Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại) cùng với những tượng đá, giếng gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong di chỉ khảo cổ học với hiện vật gốm sứ Champa, Islam, Trung Quốc… thuỷ tinh (đồ trang sức, vật dụng) có nguồn gốc từ Trung Cận Đông, Nam Ấn Độ…và nguồn tư liệu thư tịch cổ Trung Hoa, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư… xác định vùng Cửa Đại xưa là Hải cảng chính của nước Champa. Nơi đây, có Lâm Ấp phố ( Phố của người Lâm Ấp - Champa) với nhiều chiến thuyền và thương thuyền Trung Hoa, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư… thường xuyên ghé đậu lấy nước ngọt từ những giếng Chàm rất ngon, rất trong và đổi trao sản vật, mua từ đây trầm hương, quế, đồ vàng ngọc, đồ thuỷ tinh, tơ lụa, đồi mồi, xà cừ… Trong thời kỳ này, bảo tàng trưng bày 18 hiện vật gốm gồm các loại mảnh gốm, gạch Chăm, hoa văn gốm và kèm 9 hình ảnh minh chứng cho thời kỳ này. Nổi bật là bức tượng vũ công Grandhara và tượng thần tài lộc Kuberra. Hai bức tượng được chạm khắc sắc xảo, tinh tế mang đậm nét văn hoá ChămPa huyền bí. Phần nào thể hiện được một thời kỳ phồn thịnh của kinh đô Champa xưa. Người Champa có tầm nhìn về biển đúng đắng, biết cấu trúc ngành kinh tế tổng hợp đa ngành, tuy còn thô sơ nhưng vấn biết khai thác mọi tiềm năng trên rừng, dưới biển, trong lòng đất để xây dựng hưng thịnh Chiêm cảng, tạo tiền đề phát triển kinh tế - văn hoá cho thời kỳ lịch sử tiếp theo.
3. Thời kỳ Đại Việt ( Thế kỷ thứ XV - Thế kỷ thứ XIX), tiếp
sau thời Champa, muộn nhất là từ cuối thế kỷ thứ XV, mảnh đất Hội An đã định
hình những hoạt động của cư dân Đại Việt. Ở vào buổi đầu thời kỳ này, bên cạnh
việc khai hoang lập làng canh tác nông nghiệp, người Việt ở Hội An còn linh
hoạt sáng tạo mọi số ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên – xã hội từng
vùng đất: Làng Thanh Châu với nghề khai thác yến sào. Các làng chài Võng Nhi,
Đế Võng với nghề đánh bắt, chế biến hải sản. Làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh
Hà với nghề thủ công, xây dựng. Làng Hội An, Cẩm Phô với nghề buôn bán. Từ thế
kỷ XVII, cộng đồng dân cư Hội An được bổ sung thêm các kiều dân là thương khách
Hoa, Nhật và một số từ các nước khác đến đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của
các ngành nghề vốn có thêm tích ứng với cư dân thương nghiệp, nông nghiệp và
vùng quê sinh sống.
Ở vị trí địa lý phù hợp lại có thêm nhiều yếu tố nội sinh, ngoại sinh khác nên bên cạnh sự hội tụ dân cư, tụ tập tinh hoa văn hoá, kinh nghiệm nghề nghiệp từ mọi miền đất, Hội An nhanh chóng trở thành nơi phong phú hàng hoá, sản vật, phát triển nội thương tạo đà thúc đẩy ngoại thương đi lên để làm nên sự phồn thịnh ở Đô thị - Thương cảng Hội An suốt trong nhiều thế kỷ. Trong chủ đề này, bảo tàng trưng bày một số lượng lớn hiện vật gốc và hình ảnh tư liệu phong phú được tìm thấy ở Hội An qua từng giai đoạn, đặc biệt có sự so sánh rõ rệt giữa gốm Việt Nam với gốm của một số nước có mối quan hệ giao lưu buôn bán với Hội An lúc bấy giờ như: Nhật Bản, Trung Quốc. Bên cạnh đó, bảo tàng còn trưng bày một số tư liệu viết về Hội An và một số bản đồ cổ của Hội An với các tên gọi khác nhau như Faifo, Haiso, Faisfo…Một số dụng cụ dùng trong giao thương buôn bán như cán cân, quả cân, ang….Giúp cho khách tham quan phần nào hình dung được một Đô thị thương cảng tấp nập và phồn thịnh của những năm thế kỷ XVI – XVIII.
Đến giữa thế kỷ thứ XIX, nền kinh tế ngoại thương Hội An nhanh chóng suy thoái bởi những nguyên nhân bất lợi: Sự bồi cạn, chuyển dời của dòng sông, cửa biển – Chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến - Sự phát triển kỹ thuật giao thông hàng hải bằng cơ khí hơi nước vượt xa thuyền buồm. Bên cạnh đó Đà Nẵng- Cửa Hàn nổi lên thay thế dần vai trò Hội An-Cửa Đại. Thương cảng thuyền buồm Hội An nhường bước cho cảng thị tàu máy cơ khí Đà Nẵng.
13/ Bảo Tàng Gốm Sứ Mậu Dịch
Hội An
Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch ở Hội An tọa lạc tại số 80 Trần Phú được hình thành năm 1995 với sự giúp đỡ của các chuyên gia Nhật Bản. Bảo tàng hiện đang trưng bày 361 hiện vật có niên đại từ thế kỷ IX -X đến thế kỷ XIX được tìm thấy ở các điểm khảo cổ tại Hội An, phản ánh sinh động về con đường gốm sứ mậu dịch trên biển vào các thế kỷ trước, khi Hội An còn là tụ điểm giao lưu thương mại trên biển của các thương thuyền Đông - Tây - Á - Âu.
Gian trước bảo
tàng trưng bày bản đồ về Con đường gốm sứ trên biển của Thế giới, trong đó chỉ
ra các tuyến đường, các điểm dừng mà thuyền buôn chuyên chở gốm sứ đã đi qua.
Trên con đường gốm sứ ngang qua vùng biển Đông có điểm dừng tại Hội An và một
số thương cảng khác trong khu vực, đây là nơi trung gian nhận hàng và chuyển
hàng giữa hai khu vực Đông - Tây của thế giới. Bên cạnh đó là bản đồ một số lò
gốm được phát hiện ở Việt Nam và nội dung khái quát về lịch sử nền gốm sứ mậu
dịch Việt Nam. Trong đó khẳng định, bắt đầu từ thế kỉ XIV, gốm Việt gia nhập
vào thị trường gốm thương mại và phát triển rực rỡ nhất trong thế kỉ XV-XVI.
Gốm sứ thời bấy giờ được sản xuất từ các lò gốm Chu Đậu, Bát Tràng, Hợp Lễ… ở
phía Bắc và Gò Sành, Gò Trường Cửu, Gò Hời, Gò Cây Me… ở phía Nam với nhiều sản
phẩm gốm có chất lượng cao như gốm men ngọc, gốm men nâu, gốm hoa nâu, gốm men
trắng, gốm vẽ lam... Riêng khu vực miền Trung chỉ có gốm sành, không có những
lò gốm men, do đó phải nhập đồ sứ từ các nơi khác trong nước. Bước sang thế kỷ
XVIII, gốm thương mại Việt Nam đột nhiên vắng bóng trên thị trường thế giới.
Trong vòng 4 thế kỷ, gốm thương mại Việt Nam đã góp phần không nhỏ thúc đẩy sự
giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các dân tộc.
Phần lớn không gian còn lại của bảo tàng dành cho việc trưng bày các sản phẩm hoặc các mảnh gốm khai quật được từ các di chỉ khảo cổ ở Hội An. Điển hình có các hiện vật thuộc di chỉ Bàu Đà. Đây là một cồn cát được bao bọc bởi các nhánh của sông Cổ Cò, nằm cách Cửa Đại hơn 1km về phía Tây, nay thuộc xã Cẩm Thanh. Kết quả các đợt thám sát và khai quật ở đây đã thu được rất nhiều chủng loại gốm, sứ: Champa, Ả Rập, Đại Việt, Trung Quốc… có niên đại từ trước thế kỷ XV. Với lợi thế về vị trí địa lý và số lượng gốm sứ mậu dịch từ Đàng Ngoài, Trung Đông, Trung Quốc… xuất hiện khá nhiều, Bàu Đà chắc chắn đã từng là một trạm dừng đậu tàu thuyền để mua bán, trao đổi, hàng hóa, sản vật suốt trong nhiều thế kỷ.
Một địa điểm khác là Trảng Sỏi, cách sông Hội An gần 300m về phía Bắc, là điểm tụ cư buôn bán có liên quan đến khu vực Chiêm cảng xưa và sau này là Đô thị Thương cảng Hội An, ở đây tập trung khá nhiều gốm sứ Trung Quốc, Islam, Việt Nam có niên đại từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XIV. Ngoài ra có di chỉ Thanh Chiếm thuộc phường Thanh Hà đã tìm thấy một số lượng lớn gốm sứ mậu dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc (các lò Cảnh Đức Trấn, Phúc Kiến, Quảng Đông..), Nhật Bản (Hizen), cùng với đồ gốm đất nung địa phương (Thanh Hà) có niên đại khoảng thế kỷ XVII (5). Bên trong khu vực phố cổ Hội An, các nhà khoa học cũng tìm thấy nhiều dấu tích của đồ gốm sứ như là di chỉ hội quán Triều Châu phát hiện đồ gốm sứ Đại Việt thời Lê - Nguyễn, gốm sứ Trung Quốc thời Minh - Thanh, gốm sứ Nhật Bản (HIZEN) và số lượng lớn gốm sành chưa xác định được xuất xứ đều có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX. Di chỉ nhà 129 đường Phan Châu Trinh phát hiện nhiều mảnh gốm sứ Nhật (HIZEN), gốm sứ Trung Quốc và gốm sành Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Di chỉ đình ấp Tu Lễ, di chỉ đình Cẩm Phô khai quật được nhiều mảnh gốm sứ Nhật (HIZEN), gốm sứ Trung Quốc, Thái Lan và gốm sành Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.
Đặc biệt hơn cả, Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch trưng bày bộ sưu tập đồ gốm sứ vớt biển được trục vớt từ con tàu đắm cổ vùng biển Cù Lao Chàm. Theo thống kê, có khoảng 240.000 di vật đã được khai quật, trong đó ngoài một số vật dụng, đồ dùng của thủy thủ đoàn với các chất liệu khác nhau, đa phần hiện vật trục vớt được là đồ gốm sứ gia dụng thuộc thế kỷ XV-XVI, có nguồn gốc từ các lò Chu Đậu - Mỹ Xá, tỉnh Hải Dương. Các hiện vật gốm bao gồm nhiều dòng gốm với nhiều loại hình, hoa văn và đề tài trang trí phong phú, hấp dẫn. Con tàu đắm này cùng một số con tàu đắm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI ở vùng biển Philippines, Indonesia, vịnh Thái Lan và rải rác khắp phía Nam biển Đông là bằng chứng của một nền thương mại và sản xuất sôi động trong khu vực, trong đó có Việt Nam.
Sự ra đời và phát triển của thương cảng Hội An đã thu hút các tàu buôn nước
ngoài, tạo cơ hội quảng bá và xuất khẩu các sản phẩm thủ công của Việt Nam, trong
đó có nghề gốm sứ. Hội An không chỉ là một phần huyết mạch thông thương buôn
bán của những con tàu buôn quốc tế, đây còn là nơi các nền văn hóa, tôn giáo đa
dạng được kết nối và hòa quyện. Theo dòng thời gian, theo sự phát triển của
kinh tế - xã hội, “con đường gốm sứ” đã thay đổi, chuyển hóa
về nhiều mặt. Nhưng những dấu tích, những bằng chứng vẫn còn lưu lại ít nhiều
trong sử liệu, trong các bảo tàng và cả trong lòng đất sâu còn chưa khai quật
trên khắp Hội An, gợi nhắc một thời quá khứ vàng son của cảng thị cổ này.
Hãy một lần đến với Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch để tìm về các giá trị lịch sử - văn hóa của Hội An, hiểu thêm vai trò quan trọng của Hội An trong mối giao lưu thương mại của khu vực và thế giới vào các thế kỷ trước.
Làng Rau Trà Quế
Làng rau Trà Quế thuộc làng Trà Quế, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nơi đây
có khí hậu mát mẻ, dễ chịu quanh năm, rất thích hợp cho các hoạt động vui chơi,
khám phá.
Theo người dân nơi đây kể lại, làng rau Trà Quế Hội An trước kia có tên là Nhự Quế, trồng các loại rau có mùi hương như cây quế. Đến thế kỉ 18, có một vị vua triều Nguyễn ghé qua, nghe đến loại rau lạ có vị cay nồng như quế, mùi thơm dễ chịu như hoa trà cho nên đã đổi tên làng thành Trà Quế.
Làng rau Trà Quế Hội An hiện tại vẫn còn duy trì phương pháp trồng rau hữu cơ từ xa xưa. Để xứng với tên vua triều Nguyễn ban tặng, làng rau Trà Quế chỉ trồng các loại rau gia vị như hành, húng, tía tô, ngò… Cách thức chăm sóc rau xanh ở đây cũng rất tỉ mỉ. Nước tưới rau là nguồn nước sạch trong lòng đất và được bón bởi lượng rong vớt từ đầm. Đó cũng chính là nguyên nhân khiến rau ở đây luôn xanh tốt.
Làng nghề được hình thành từ thế kỷ XVI, nằm cách khu phố cổ Hội An 3km về hướng Đông Bắc. Với nét đặc thù của một đảo sông gần biển, được bao bọc bởi sông Cổ Cò và đầm Trà Quế, nơi đây có khí hậu ôn hòa, thổ nhưỡng tốt, tạo điều kiện thuận lợi để người dân sáng tạo và phát triển nghề trồng rau theo phương thức hữu cơ lâu đời. Hiện nay, làng Trà Quế có 202 hộ dân tham gia hoạt động trồng rau (với 326 lao động trực tiếp) trên diện tích 18ha đất canh tác, mang lại nguồn thu nhập ổn định. Tháng 4/2022, nghề trồng rau tại Trà Quế đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, thuộc loại hình tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống.
Tại làng Trà Quế, các di tích mang tính lịch sử như: giếng đá Chăm, miếu
Thổ thần, miếu Ngũ hành, mộ ông Nguyễn Văn Điển… hay Lễ cúng Cầu Bông cùng các
phong tục, tập quán, tín ngưỡng, văn hóa ẩm thực đang được bảo tồn và phát huy
một cách hiệu quả, là minh chứng cho quá trình phát triển lâu đời của làng.
Hoạt động du lịch tại làng rau Trà Quế bắt đầu nổi lên từ năm 2003 với tour
trải nghiệm “Một ngày làm nông dân làng rau Trà Quế”. Du khách được hóa thân
thành những nông dân thực thụ với dép lê, nón lá cùng bà con Trà Quế tự tay
cuốc đất, trồng rau, bón phân, bắt sâu, tưới nước cho rau... Sau những giờ lao
động, du khách được thưởng thức một ly nước é mát lạnh, ngâm chân bằng nước
thảo mộc, cùng người dân nấu và thưởng thức các món đặc sản ăn kèm với các loại
rau xanh của làng như bánh đập, bánh vạc, hến trộn, tôm hữu, cao lầu, mì Quảng…
Từ đó đến nay, tiếng lành đồn xa, lượng du khách đến tham quan làng rau Trà Quế
ngày càng tăng, đặc biệt là du khách nước ngoài thích khám phá, trải nghiệm văn
hóa Việt Nam.
Để đẩy mạnh du lịch tại làng rau Trà Quế, thành phố Hội An đã tiến hành các cuộc điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động và xây dựng kế hoạch khai thác tốt hơn lợi thế của làng rau, tạo không gian sinh thái phù hợp với xu hướng du lịch cộng đồng, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao ý thức cũng như vai trò của người dân trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ cảnh quan làng rau. Ngoài các hoạt động tham quan làng rau, giờ đây du khách có thể lựa chọn lưu trú tại các homestay để cùng ăn, cùng ở và cùng lao động với người dân; tham gia tour thưởng thức cà phê sáng “Bình minh trên làng rau”, “Một ngày làm nông dân Trà Quế”, “Khám phá các làng nghề truyền thống Hội An”, “Lớp học nấu ăn và thưởng thức đặc sản địa phương”, “Trải nghiệm thực tế” dành cho học sinh, sinh viên…
Nhằm tạo thuận tiện cho các đoàn khách, đặc biệt là vào mùa cao điểm, thành
phố Hội An đã đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, bãi đỗ xe, đường giao thông trong
thôn (bê tông hóa 100%), xây dựng khu vực vệ sinh hiện đại, sạch sẽ. Tất cả các
đường nội bộ trong vườn rau đều được lát gạch nên du khách tham quan làng rau
bằng xe đạp rất dễ dàng. Chính quyền đã vận động người dân địa phương không sử
dụng phương tiện cơ giới trên các tuyến đường lót gạch. Ven các tuyến đường
gạch nội bộ trong làng được trồng hoa, đu đủ, các loài cây bụi (xuyến chi), hoa
mào gà, hoa bướm... Điều thú vị là các tuyến đường này đều được đặt tên bằng
các loại rau địa phương như đường mồng tơi, đường đu đủ, đường húng quế, đường
hoa cải...
Thời gian qua, tỉnh Quảng Nam luôn xác định phát triển du lịch xanh là
chiến lược phát triển bền vững, hướng tới định vị thương hiệu du lịch của địa
phương. Từ năm 2019, Quảng Nam đã bắt đầu đưa ra thông điệp nhất quán về phát
triển du lịch xanh và trở thành địa phương đầu tiên của cả nước ban hành Bộ
tiêu chí du lịch xanh cấp tỉnh. Tính đến cuối năm 2024, tỉnh Quảng Nam đã cấp
chứng nhận du lịch xanh cho 32 đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Giải thưởng Làng du lịch tốt nhất do Tổ chức Du lịch Liên Hợp quốc dành cho làng rau Trà Quế là sự ghi nhận những nỗ lực trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa bản địa; nghề thủ công truyền thống; nếp sống, nếp sinh hoạt lâu đời; sự sáng tạo và chú trọng phát triển các loại hình du lịch - dịch vụ mang tính cộng đồng, bền vững. Giải thưởng danh giá này là cơ hội để Trà Quế vững tin bước ra thế giới và từng bước trở thành điểm sáng của Du lịch Quảng Nam nói riêng, Du lịch Việt Nam nói chung.
Cù Lao Chàm
Tới Hội An, thuê tàu hoặc mua vé tàu các bạn sẹ được chở ra Cù Lao Chàm.
Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm là nơi bảo tồn hơn 950 loài thủy sinh, được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Nơi đây hoang sơ và có hệ sinh thái phong phú, là một trong những địa điểm du lịch được du khách yêu mến. Không chỉ thế, địa điểm du lịch này có vẻ đẹp tựa như truyện cổ tích, để đi hết và khám phá vùng đất này hẳn Quý Khách sẽ cần rất nhiều thời gian.
Vị trí khu du lịch Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm là cụm đảo tọa lạc tại xã Tân
Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Trong cụm đảo này bao gồm 1 hòn đảo
chính và 8 hòn đảo nhỏ bao quanh, nhìn từ xa hòn đảo này sẽ như một cánh cung
khổng lồ.
Giống với phố cổ Hội An, Cù Lao Chàm đến ngày nay vẫn giữ vẹn nguyên vẻ đẹp vốn có ban đầu - vẻ hoang sơ mộc mạc và yên bình. Đặt chân đến đây bạn sẽ đặt chấn đến một thiên đường biển cả xanh ngát có không khí trong lành. Nếu bạn đang tìm một nơi nghỉ dưỡng để tạm trốn cái ồn ào của phố thị thì dy lịch Cù Lao Chàm là sự lựa chọn hợp lý đấy.
Cù Lao Chàm có gì đặc biệt?
Cù Lao Chàm được lấy lòng những du khách bằng những cảnh sắc thiên nhiên hiền hòa, bãi biển xanh ngát, những con đường ven biển đẹp đến nao lòng, nhưng công trình kiến trúc có ý nghĩa văn hóa cực kỳ to lớn. Đến với nơi đây, Quý Khách nhất định phải ghé thăm và check-in một số cảnh đẹp sau đây, nếu không Quý Khác sẽ rất tiếc.
Đoạn đường hoa ngô đồng
Ở Cù Lao Chàm, hoa ngô đồng nở vào độ tháng 7
đến tháng 8 hàng năm. Vào đúng thời gian này, nếu bạn đi dọc con đường Bãi Xếp,
Bãi Làng, Bãi Hương, bạn sẽ thấy một cánh đồng phủ đầy màu đỏ của hoa ngô nở
rộ. Một bên là núi, một bên là biển, cánh đồng hoa ngô nhỏ bé nằm trong lòng
biển và núi an tâm nở rộ và tỏa sắc mặc kệ mưa bão.
Khung cảnh của con đường hoa ngô đẹp tựa một bức họa do biển xanh, mây trời và những vách núi tạo nên. Nếu có dịp du lịch Cù Lao Chàm, bạn đừng quên check-in tại con đường xinh đẹp này, đảm bảo cảnh vật nơi đây sẽ khiến cho những bức ảnh của bạn ấn tượng hơn nhiều lần.
Eo gió Cù Lao Chàm
Eo gió là bờ đá ở phía sau lưng dãy núi. Eo gió nằm cách Bãi Làng
khoảng 3km, tọa lạc tại phía Đông của Cù Lao Chàm. Đây là một trong những địa
điểm đón bình minh và hoàng hôn cực đẹp tại hòn đảo này.
Từ eo gió ngắm nhìn ra phía xa xăm, bạn sẽ thấy được khung cảnh bao la của biển Đông rộng lớn và đường chân trời ngăn cách giữa biển và trời.
Hàng dừa xanh Bãi Ông
Bãi Ông là một trong những bãi tắm đẹp nhất ở Cù Lao Chàm. Tổng thể Bãi
Ông có hình dạng trăng lưỡi liềm cong vòng, nếu nhìn từ trên cao, bạn sẽ thấy
Bãi Ông như một nửa vòng tròn ôm trọn lấy bãi biển xanh mát.
Không chỉ là bãi tắm, Bãi Ông còn nổi tiếng với hàng dừa ảo diệu, nhưng cây dừa sừng sững đứng xếp hàng dọc theo bờ biển. Bạn có thể đến hàng dừa Bãi Ông kết hợp thêm chiếc ghế nghỉ và một cốc nước giải nhiệt, chắc chắn bạn sẽ một album ảnh tuyệt vời cho kì nghỉ hè đáng nhớ.
Miếu Tổ Nghề Yến
Miếu Tổ Nghề Yến tọa lạc tại Bãi Hương, Hòn Lao, Cù Lao Chàm. Nơi đây
là nơi nổi tiếng với nghề nuôi yến tự nhiên, với chất lượng yến đứng hàng đầu
Việt Nam.Nên nơi đây có Miếu Tổ Nghề Yến được dựng nên với mong muốn cầu mong
người dân được bình an, nghề yến phát triển hơn.
Miếu Tổ Nghề Yến được xây dựng theo phong cách cổ kính xa xưa, nơi đây thờ những vị thần biển cả, nhưng vị cao nhân trong nghề yến. Đến với Miếu Tổ Nghề Yến, bạn sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Cây Di Sản có tuổi đời 200 năm ất quý hiếm.
Chùa Hải Tạng
Chùa Hải Tạng là ngôi chùa có lịch sử hình thành lên đến trăm năm. Chùa được xây dựng theo kiến trúc cổ xưa nổi bật với những tường cột được điêu khắc công phu. Chùa Hải Tạng có tượng Phật Quan Âm ở giữa hồ sen, vào mùa hè nơi đây sẽ đẹp lên nhiều phần khi mùa sen nở rộ.
Ngoài những địa điểm trên, Cù Lao Chàm còn rất nhiều địa điểm tham quan
thú vị như:
Sân bay trực thăng đảo Cù Lao Chàm
Âu Thuyền
Bãi Chồng
Giếng cổ Chăm
Khu bảo tồn biển
Chợ Tân Hiệp ở Bãi Làng
Du lịch Cù Lao Chàm di chuyển như thế nào?
Nếu đi tự túc bạn có 2 cách để di chuyển ra Cù Lao Chàm:
Đi bằng tàu gỗ: Tàu gỗ có ưu điểm là có thể chở được nhiều
người ra Cù Lao Chàm (có thể chở cả xe máy), nhưng nhược điểm là đi khá lâu -
khoảng 3 tiếng và mỗi ngày chỉ có 1 chuyến ra và 1 chuyến vào. Bạn có thể bắt
tàu gỗ ở bến Hội An vào lúc 7h30 sáng hoặc ở bến Cửa Đại vào lúc 8h30 sáng.
Đi bằng Cano: bạn sẽ mất khoảng 15 phút để đến được Cù Lao Chàm, bạn nên ra bến khoảng 8h00 - 9h00 để dễ dàng bắt được cano hơn, nếu bạn ra muộn bạn có thể sẽ phải ra về vì ít du khách đi và khó ghép đoàn.
Du lịch Cù Lao Chàm nên đi lúc nào?
Thời gian đẹp nhất để du lịch Cù Lao Chàm là từ tháng 5 đến tháng 8
hàng năm, Thời gian này thời tiết không có mưa gió hay nắng gắt, không khí mát
mẻ.
Nhưng, thời điểm du lịch Cù Lao Chàm được hưởng nhiều chương trình ưu đãi nhất lại là tháng 2 - tháng 4 và tháng 8- tháng 10. Mùa này chưa phải là mùa du lịch của nơi đây, nên có rất nhiều chương trình thu hút du khách.
Ngoài ra, bạn có thể đến đây vào những dịp lễ hội của nơi đây như Lễ hội Cầu Ngư vào đầu tháng 4 âm lịch, Giỗ tổ nghề Yến vào đầu tháng 3 âm lịch.
Ăn gì ở Cù Lao Chàm?
Hải sản
Đến với Cù Lao Chàm, Quý Khách đã đến với thiên đường hải sản tươi sống nhất nhì Việt Nam. Hải sản nơi đây đặc biệt thơm ngon, bổ, rẻ, nơi đây hội tụ những món hải sản mới lạ hiếm tìm được ở thành phố như Ốc Vú Nàng, Bào Ngư, Cầu Gai, Cua Đá,...
Rau rừng
Đây là một món ăn dân dã của người dân Cù Lao Chàm, tuy dân dã nhưng
lại lấy lòng biết bao du khách vì hương vị đầu đủ cay, mặn, ngọt, bùi, đắng.
Rau rừng ở đây bao gồm rau mã đề, rau sân, rau dớn,...thường được thu hoạch
dưới chân núi vào xuân và mùi hạ.
Rau rừng được trộn chung nhiều loại, sau đó mang đi luộc. Rau sẽ được chấm cùng với mắm cá dầm tỏi ớt cay cay, nếu sang hơn nữa thì ăn cùng với thịt heo ba chỉ thái lát.
Nước lá rừng
Nước lá rừng Cù Lao Chàm được nấu từ các loại lá phơi khô như Lá Lao,
Chè Vằn, Lá Dủ De, Lá Vối, Mơ Rừng, Sâm Núi, Ngũ Gia Bì,...Nước lá rừng ban đầu
uống sẽ nghe mùi thuốc bắc và vị hơi chát, nhưng uống vài lần sẽ cảm nhận ngon
và sảng khoái.
Món thức uống này giúp thanh lọc cơ thể, tốt cho hệ tiêu hóa, hỗ trợ tăng cường sức khỏe, đặc biệt hỗ trợ phòng chống cảm sốt rất tốt. Nước có thể uống nóng hoặc uống lạnh.
Rong biển
Đây là một trong những món ăn phổ biến của người dân miền Trung nhưng
lại khó tìm ở những vùng miền khác. Rong biển ở Cù Lao Chàm được chế biến từ
rong biển thô, nên đặc biệt nhiều hàm lượng dinh dưỡng. Rong biển ở Cù Lao Chàm
thường được người dân phơi khô để bảo quản được lâu hơn. Đến Cù Lao Chàm bạn
đừng quên thử các món ngon từ rong biển như canh biển, trộn gỏi,...Bạn cũng có
thể mua rong biển mang về biếu người nhà hoặc dùng dần, vì đây là đồ khô nên dễ
đóng gói mang đi.
Ngoài ra, Cù Lao Chàm còn có những loại bánh truyền thống quen thuộc nhưng mang hương vị riêng của vùng đất Cù Lao, bạn có thể nếm thử như: bánh ít lá gai, bánh su sê, bánh bèo Cù Lao Chàm,...
Một số hoạt động trải nghiệm khi du lịch Cù
Lao Chàm
Không chỉ là những cảnh đẹp đến nao lòng, Cù Lao Chàm sẽ giúp bạn trải
nghiệm các hoạt động quen thuộc của những người dân biển cả, đó là:
Trải nghiệm lặn bình khí ngắm rạn san hô
Nổi tiếng là một vùng biển còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ vốn có, Cù Lao Chàm có rất nhiều rạn san hô xinh đẹp dưới lòng biển khơi. Bạn có thể ngắm nhìn vẻ đẹp của những rạn san hô này bằng dịch vụ lặn bình khí có sẵn. Bạn sẽ được đóng vai một người thợ lặn chuyên nghiệp và tự mình chinh phục độ sâu 6m và tận hưởng khung cảnh biển sâu cùng với nhân viên hỗ trợ trong 30 phút.
Thử thách bộ môn dù bay mạo hiểm
Môn dù bay sẽ giúp bạn trải nghiệm 10 phút lơ lửng trên bầu trời biển cả với độ cao 70m. Bộ môn này dành cho những ai đam mê sự mạo hiểm và tự do, bạn sẽ được tận hưởng cái thong dong tự tại giữa biển và bầu trời. Khi chơi bạn sẽ được trang bị đầy đủ các đai an toàn và có cano đi cùng nên bạn cứ yên tâm nhé!
Câu cá tại bãi Hòn Dái
Câu cá hay đánh bắt cá là một trong hoạt động thường nhật của người xứ
biển. Nếu bạn muốn trải nghiệm cảm giác đứng giữa biển và đánh bắt những mẻ cá
tươi ngon, bạn hãy liên hệ với bên thuê thuyền thúng câu hoặc thuyền gỗ để được
cung cấp thuyền, cần câu và mồi câu.
Dựng lều cắm trại trên bờ biển
Nếu bạn đi đông người, thì đây có lẽ là hoạt động thú vị nhất. Bạn sẽ được tận hưởng thời gian cùng nhau dựng lều trại, chơi các trò chơi đồng đội và một buổi tối đốt lửa trại cùng nhau trò chuyện và tận hưởng cái mát mẻ của gió biển.
Các điểm ăn uống ở Cù Lao Chàm
Nhà hàng Dân Trí
Địa chỉ: Cù Lao Chàm, Bãi Lăng, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Nhà hàng Dân Trí cách cảng Cù Lao Chàm chỉ khoảng 2 đến 3 phút đi bộ.
Không gia nhà hàng mang nét phong cách Vintage cổ xưa với những bảng hiệu tự vẽ
và những bộ bàn ghế hoài cổ cùng những cánh cửa gỗ gợi nhớ một Việt Nam những
năm của thế kỉ 20.
Nhà hàng Dân Trí chuyên phục vụ các món ăn đặc sản của nơi đây và các món hải sản tươi ngon kèm các món ngon truyền thống của Việt Nam.
Nhà hàng Trường Kép
Địa chỉ: Cù Lao Chàm, Bãi Ông, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Nhà hàng Trường Kép có không gian mộc mạc và đơn sơ, nhà hàng gần với bãi biển có mái nhà được lợp bằng lá dừa. Món ngon nổi tiếng của nhà hàng là món cua đá và mực một nắng. Với vẻ ngoài đậm chất một quán ăn vùng biển cùng những món ăn thơm ngon, Trường Kép là một trong những nhà hàng được du khách yêu thích ghé đến khi ở Cù Lao Chàm.
Nhà hàng Trần Khuê Cù Lao
Địa chỉ: Tổ 3, Bãi Làng, xã Tận Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Nhà hàng Trần Khuê Cù Lao là nhà hàng 3 sao có tiếng ở Cù Lao Chàm. Không gian nhà hàng được bao phủ bởi những màu gỗ mộc mạc, bình dị từ bàn ghế đến biển hiệu đều mang một màu nâu của gỗ. Nhà hàng có khả năng phục vụ khoảng 500 khách mỗi ngày. Nhà hàng phục vụ các món ngon là đặc sản của vùng Cù Lao Chàm, đặc biệt nhất ở đây chính là những món hải sản tươi ngon đánh được đánh bắt và chế biến ngay bởi người dân Cù Lao.
Nếu ở qua đêm Cù Lao Chàm thì lựa chọn khách
sạn nào?
Để có chuyến tham quan Cù Lao Chàm thuận tiện hơn, bạn có thể chọn nơi lưu trú tại với địa điểm du lịch này, sau đây là một số khách sạn ở gần Cù Lao Chàm hoặc cách khách sạn ở Tân Hiệp (Cù Lao Chàm) bạn có thể tham khảo:
Homestay Sunbay
Địa chỉ: Chợ Bãi Lăng, xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Sunbay là homestay tọa lạc tại Bãi Làng, homestay Sunbay ở gần biển và các địa điểm tham quan có tiếng như giếng Chăm, âu thuyền Cù Lao Chàm, chợ Tân Hiệp... Homestay Sunbay có kiến trúc gần gũi với thiên nhiên, không gian thoáng đãng và rộng rãi. Phòng của homestay được bố trí ấm cúng và thân thuộc, tạo cảm giác cho du khách cảm giác thoải mái như ở nhà của mình.
Nơi đây có tầm nhìn hướng ra biển nên thường hay hưởng những trận gió
biển thoáng mát. Sân thượng của homestay là địa điểm chụp ảnh cho các du khách
yêu sống ảo, với background biển cả và sự hỗ trợ của nắng vàng chắc chắn bạn sẽ
có được những bức ảnh đẹp
Homestay Lâu Thu
Địa chỉ: Tổ 2, Thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, Tỉnh
Quảng Nam
Homestay Lâu Thu phù hợp cho các nhóm du khách đông người, ở đây homestay sẽ được cho thuê cả căn, nên nếu bạn đi đông người, thì nơi đây sẽ là nơi lưu trú riêng tư rất hợp để tổ chức những bữa ăn gia đình gần gũi.Điểm lấy lòng khách của homestay này chính là tầm view hướng ra biển cả và núi nón hùng vĩ giúp du khách được những giây phút ngắm cảnh, thư thái thật sự. Homestay Lâu Thu có giá cả phải chăng vừa túi tiền, bên cạnh dịch vụ lưu trú, nơi đây còn cung cấp dịch vụ ăn và dịch vụ hướng dẫn du lịch nếu du khách cần.
Homestay Ngô Khánh
Địa chỉ: Thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Homestay Ngô Khánh tùy thời điểm sẽ có mức giá cực kì phải chăng, là địa điểm lưu trú lý tưởng nếu bạn có dự định sẽ tham quan Cù Lao Chàm vài ngày. Giá cả vừa ví nhưng chất lượng của homestay lại khiến bao du khách phải trầm trồ vì chất lượng hơn cả mong đợi. Phòng ngủ ở homestay Ngô Khánh có tông màu trắng chủ đạo, được dọn dẹp kĩ lưỡng nên rất sạch sẽ và thoáng mát. Nơi nghỉ ngơi có tầm view xanh mát với cây cối tươi tốt mang lại cho du khách cảm giác thư giãn và thoải mái. Ngoài ra, Homestay Ngô Khánh còn cung cấp dịch vụ thuê phương tiện đi lại, hỗ trợ dịch vụ dọn dẹp,...để hỗ trợ du khách.
Homestay Bãi Hương
Địa chỉ: Thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Homestay Bãi Hương là một trong những nơi lưu trú gần biển được rất nhiều du khách yêu thích. Nơi đây là một ngôi nhà 3 tầng tại mặt đường lớn rất gần với các địa điểm tham quan nổi tiếng của Cù Lao Chàm. Homestay Bãi Hương có không gian rộng rãi, một số phòng ngủ ở được 2-4 người, phòng tập thể có thể ở được tới 7 người. Homestay có cung cấp dịch vụ ăn uống, giặt ủi khi du khách cần.
Homestay Bai Huong
Cù Lao Chàm là địa điểm du lịch lý tưởng cho những ngày bạn muốn tạm rời phố thị ồn ào đến với miền đất bình yên. Nơi đây tập tụ những cảnh sắc tuyệt vời nhất của thiên nhiên, những kho tàng kiến trúc và ẩm thực khiến lòng người khó quên.
NGŨ HÀNH SƠN
Giới thiệu sơ lược về Ngũ Hành Sơn
Từ trong Sa Động đột ngột nổi lên 6 ngọn núi đá. Sông
rộng vòng phía tây, biển lớn bao phía đông,hình núi nhọn hoắt. Trời tạnh, nhìn
ra xa, sắc như gấm mây, rất đáng yêu.
Phía đông có đài Vọng Hải, phía tây có đài Vọng Giang, mỗi đài lại có
một bài văn bia ghi lại. Bên hữu chùa Tam Thai có phúc địa Động Thiên, ở đó có
hành cùng, là một đại danh thắng của một tỉnh Quảng Nam".
Thật vậy, Ngũ Hành Sơn nằm giữa vùng cát trắng mịn từ
biển Non Nước kéo dài đến bán đảo Tiên Sa. Theo các nhà địa chất học, cụm núi
này trước đây là các hòn đảo ở gần bờ biển do tác dụng của thủy triều phù sa
bồi đắp, nối liền với lục
Dần dà, vì bị nước mưa và khí hậu tác động xói mòn tạo ra những hang
động động và hình thù kỳ thú. Đặc biệt, đá cẩm thạch tại đây có màu ngũ sắc,
phân chia theo từng núi: đá ở Thủy Sơn thường có màu hồng, ở Mộc Sơn thường có
màu trắng, ở Hỏa Sơn thường có màu đỏ, ở Kim Sơn thường có màu thủy mặc và ở
Thổ Sơn thường có màu nâu.
Quanh Ngũ Hành Sơn, về phía đông có biển Đông với bãi cát mịn trắng
chạy dọc ven biển; ở phía tây và nam là sông Cổ Cò chảy qua hòa vào nhánh sông
Cẩm Lệ.
Ngũ Hành Sơn hay núi Non Nước là một thắng cảnh nổi
tiếng; trong ký ức của nhiều người đây còn là vùng “địa linh” của xứ Quảng xưa
nay. Ngũ Hành Sơn là một địa danh du lịch được rất nhiều du khách trong nước và
quốc tế biết đến.
Một nhà thơ đã viết về Ngũ Hành Sơn “Núi thấp hơn hết
mà danh cao hơn hết” (dịch). Thực ra tên gọi Non Nước đã có từ lâu đời, đã đi
vào ca dao như một tổng kết kinh nghiệm về thời tiết của dân chúng: “Chiều chiều
mây phủ Sơn Trà, Sấm rền Non Nước trời đà chuyển mưa”.
Trong Giáp Ngọ bình Nam đồ do Đoan quốc công Nguyễn Hoàng lập năm 1594,
sau khi được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, vẽ đường đi từ Chiêm Thành
đến biên giới Chân Lạp có ghi địa danh “Non Nước Sơn”.
Những ngọn núi này bao quanh mình với rất nhiều truyền
thuyết khác nhau. Không gian thơ mộng của phong cảnh và vẻ cổ tích của những
câu chuyện cổ xưa đã mang đến cho Ngũ Hành Sơn hương vị mà ít nơi nào có được.
Trong tư duy triết học của Trung Quốc, Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Lửa và Trái
đất là những thành phần của vũ trụ. Số 5 là một con số cực kỳ quan trọng trong
suy nghĩ và trong cuộc sống phương Đông. Nhìn như thế, trong sự trùng hợp, 5
ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hoa Sơn và Thổ Sơn chứa đựng bên trong chúng
chứa đựng những bí ẩn kỳ lạ.
Kim Sơn:
Kim Sơn nằm ở phía đông nam, bên bờ sông Cổ Cô. Đi
thuyền trên sông, du khách có thể nhìn thấy những ngọn núi, chùa trên mặt nước
phẳng lặng. Ngày xưa có Bến Ngục, nơi thuyền của vua cập bến mỗi khi đến Ngũ
Hành Sơn. Bây giờ bến cũ không còn nữa nhưng bên cạnh chùa Quan Am, người ta đã
tìm thấy một cột neo đã từng được neo trong quá khứ.
Ngay dưới chân Kim Sơn, có một hang động dài hơn 50m,
rộng gần 10m, cao khoảng 10-15m. Lối vào là những bậc đá tự nhiên, bên trong là
những nhũ đá bám vào vách đá để tạo thành hình ảnh của vị Bồ tát Quan cao Người
thật rất tinh tế. Thạch nhũ này thậm chí còn sống động hơn nhờ một nhũ đá lấp
lánh như một dải xà gồ từ vai đến gót chân. Dưới bức tượng là một con rồng cuộn
tròn trong sóng.
Đặc biệt, đằng sau Bồ tát, có một hình ảnh nhỏ hơn
trông giống như học trò Thiên Tài và bên trái là hình một con chim Nho giáo,
hai cánh dang rộng ra khắp hang. Có thể nói đây là một bức phù điêu tuyệt đẹp
mà thiên nhiên ban tặng cho Kim Sơn. Sau khi khám phá sự năng động (1950),
Thích Phách Nhân đã mở rộng lối vào hang và xây chùa Quan Thế Am. Chùa dựa vào
Kim Sơn, quay mặt ra dòng sông đầy hoa sen thơm. Hàng năm vào mùa lễ hội mùa
xuân (ngày 19 tháng 2 âm lịch), ngôi đền khai mạc lễ hội mang tên Hội m
Quan.
Mộc Sơn:
Mộc Sơn nằm ở phía đông, gần biển, gần đảo Thủy Sơn.
Phía đông và phía nam là cát, phía bắc là cánh đồng và phía tây là làng. Mặc dù
thuộc về Mộc Hạnh, nhưng ở đây có rất ít cây. Đỉnh núi đá bị cắt thành răng cưa
như trống của một con gà, vì vậy nó có thể được gọi là núi Mo Ga.
Không có ngôi đền nào trên ngọn núi này, chỉ có một
khối đá cẩm thạch trắng trông giống như một người đang ngồi. Người dân địa
phương được gọi là Bà Mu hoặc Bà Quan m. Dưới đỉnh núi 10m có một người đàn
ông lớn bằng đá chạy ngang qua phía nam. Trên núi có một cái hang nhỏ, được cho
là có một người phụ nữ tên là Trung Trung ở đó, nên nó được đặt tên là hang Bà
Trưng. Trong hai cuộc kháng chiến chống lại các quan chức Pháp và chống Mỹ và
người dân địa phương thường đến đây để tránh máy bay địch.
Thủy Sơn:
Thủy Sơn nằm ở phía đông bắc là ngọn núi đẹp nhất, du
khách thường ghé thăm phong cảnh có tên là chùa Non Nước, phong cảnh quyến rũ
có thể nói là núi Thủy Sơn trải dài từ đông sang tây với 15 ha rộng, nhiều chùa
được xây dựng. Từ lâu, có hai nhũ đá, có hai ngôi chùa đẹp của chùa Tam Thái và
chùa Linh Ứng, con đường núi được làm bằng những bậc đá, trên đỉnh ba ngọn núi
có tên là "Tam Thái" vì nó giống như "Sao Tam" Tiếng Thái
"có nghĩa là ba ngôi sao tạo nên đuôi của Ngôi sao lớn. Du khách từ bờ
biển đến thăm Linh Ứng phải bước lên khoảng 108 cấp độ, nếu đến chùa Tam Thái
nằm ở phía nam, họ phải đi xa hơn các tầng dài 156 tầng. Ngày nay hầu hết khách
du lịch đến Thủy Sơn bằng ô tô từ đường Huyền Trần, hai bên đường là những ngôi
làng chuyên điêu khắc điêu khắc, cẩm thạch.
Hoả Sơn
Hoả Sơn gồm 2 ngọn và một đường đá nhô lên nối chúng
lại với nhau. Phía tây gần Kim Sơn là Dương Hoa Sơn, nằm bên bờ sông Cổ Cô.
Ngày xưa, khi Đà Nẵng và Hội An vẫn giao tiếp bằng đường thủy, có một ngã ba
sông, thuyền, thuyền vô cùng tấp nập.
Trên sườn phía tây, quay mặt về hướng bắc, đối diện với Kim Sơn, dường như có một con sóng lớn trên bãi cát và 3 chữ Hán rất lớn được khắc vào vách đá "Dương Hòa Sơn". Ở núi Dương Hòa Sơn có hang động và chùa Phố Sơn Đà. Ở phía đông, gần đường đến Hội An là m Sơn, với đỉnh núi, có nhiều sườn núi nằm nghiêng và chạy ngang qua để tạo ra những lát cắt, mũi phía đông của núi có một hang động đá từ sườn phía nam. về phía bắc. Cây mọc xen kẽ trong những tảng đá.
Công nhận Ma
nhai tại Danh thắng Ngũ Hành Sơn là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế
giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Sáng ngày 01/3,
UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận ma nhai tại Danh
thắng Ngũ Hành Sơn là Di sản tư liệu thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực
châu Á - Thái Bình Dương.
Đến dự, về phía Trung ương có Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban UNESCO Việt Nam Hà Kim Ngọc; Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương; Trưởng ban Giáo dục Văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam Miki Nozawa. Về phía thành phố, có Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Lê Trung Chinh; Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Ngô Xuân Thắng; Phó Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Thị Anh Thi; Phó Chủ tịch UBND thành phố Ngô Thị Kim Yến, cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị trên địa bàn; lãnh đạo Quận ủy, UBND, UBMTTQVN và đại diện các phòng, ban, cơ quan, đơn vị thuộc quận Ngũ Hành Sơn,…
Phát biểu tại buổi
lễ, bà Ngô Thị Kim Yến, Phó Chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng, cho biết ma nhai ở danh
thắng Ngũ Hành Sơn mang nhiều giá trị vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia,
từ năm 2019, nhìn nhận được những giá trị lớn, quý hiếm, độc đáo của hệ thống
di sản tư liệu này, thành phố đã quyết định xây dựng hồ sơ đề cử UNESCO ghi
danh di sản tư liệu.
Đến ngày 26.11.2022, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 9 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương (gọi tắt là MOWCAP), ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn đã được công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á -Thái Bình Dương.
Theo bà Yến, đây là
niềm vinh dự, tự hào của đất nước Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng.
"Thêm một di sản văn hóa vô giá mà cha ông ta đã sáng tạo, bồi đắp,
gìn giữ, trao truyền lại cho cháu con được vinh danh, được cam kết giữ gìn để
tiếp tục tỏa sáng trong dòng chảy văn minh nhân loại. Đồng thời cũng là điểm
nhấn giúp giới thiệu quảng bá các giá trị văn hóa dân tộc, điểm đến du lịch của
địa phương đến cộng đồng trong nước và quốc tế", bà Yến nói.
Đồng thời cam kết,
thành phố sẽ nỗ lực để thực hiện tốt hơn nữa sứ mệnh bảo vệ và phát huy giá trị
ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn xứng tầm với vị thế của một di sản tư liệu
thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Bà Miki Nozaqua, Trưởng
ban Giáo dục, Văn phòng UNESCO tại Việt Nam, nhận định bộ sưu tập đã lưu giữ
những ký ức về sự giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của Việt Nam và
các nước trên con đường hàng hải xuyên khu vực cũng như vai trò của phụ nữ Việt
Nam trong hôn nhân quốc tế thế kỷ 17. Bà cho rằng, việc ma nhai tại danh thắng
Ngũ Hành Sơn được ghi danh trong danh mục của MOWCAP chính là ghi nhận ý nghĩa
và tầm vóc cấp khu vực của bộ sưu tập theo nhiều tiêu chí như: ý nghĩa lịch sử,
tính độc đáo và tính xác thực, đồng thời có tính đến sự nhạy cảm về giới của
các đề cử được gửi để đánh giá. Đồng thời cho biết, với ma nhai tại danh thắng
Ngũ Hành Sơn của Đà Nẵng, Việt Nam hiện có 9 di sản tư liệu được ghi tên vào
danh mục của Ủy ban Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á và Thái Bình
Dương (MOWCAP), trong đó có 3 di sản thế giới và 6 di sản châu Á - Thái Bình
Dương.
Trước đó, ngày 26-11-2022, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 9 của MOWCAP, ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn được công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Ma nhai là một hệ thống gồm 78 văn bản bằng chữ Hán và chữ Nôm được khắc trên vách đá và hang động của danh thắng Ngũ Hành Sơn, với nội dung đa dạng, hình thức độc đáo cùng nhiều thể loại văn học của các vị vua, quan triều Nguyễn, cao tăng, trí thức, có niên đại trải dài từ nửa đầu thế kỷ 17 đến thế kỷ 20. Nguồn di sản tư liệu này có giá trị trên nhiều phương diện, phản ánh nhiều mặt của địa phương và đất nước Việt Nam dưới thời phong kiến như: lịch sử, địa lý, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa - giáo dục. Mỗi bia ma nhai tuy có sự khác nhau về hình thức, nội dung nhưng tựu chung là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, hàm chứa những nội dung lịch sử, nhân văn quý báu, được ra đời trong sự kết hợp của tâm hồn, tài hoa của thi nhân và kinh nghiệm, kỹ nghệ của người nghệ nhân điêu khắc đá Non Nước.
Tại Lễ đón nhận, Bảo tàng Đà Nẵng đã tổ chức triển lãm 26 tác phẩm ma nhai có giá trị là thơ, văn đã được dịch thuật đầy đủ, trong đó có thác bản bia Phổ Đà sơn linh trung Phật đặc biệt có giá trị trước khuôn viên động Âm phủ. 26 tác phẩm này sau đó sẽ được trưng bày tại Lễ hội Quán Thế Âm- Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng từ ngày 8 đến ngày 10/3/2023.
Sau đó chúng ta sẽ đi vào thành phố Đà Nắng.
Thành Phố Đà
Nắng
Đà Nắng là thành
phố trực thuộc Trung ương. Thành phố Đà Nắng hiện là một
trong những đô thị loại 1
của Việt Nam.
Thành phố có diện tích 1.256,53 km
Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam,
phía đông giáp biển Đông. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764 km về phía Bắc, cách Thành
phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam, cách thủ đô thời cận đại của
Việt Nam là thành phố Huế 108 km về hướng Tây Bắc.
Đầu thế kỷ 18, vị trí tiền
cảng của Đà Nắng dần dần trở
thành thương cảng thay thế cho Hội
An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở Châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền
lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nắng dễ dàng.
Năm 1835, khi vua Minh Mạng có dụ: “Tàu Tây chỉ được đậu tại Cửa Hàn,
còn các cửa biển khác không
được tới buôn bán” thì Đà Nắng trở thành một thương cảng lớn bậc nhất miền
Trung. Đầu thế kỷ 20, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu
Tây phương. Năm 1950, Pháp trao trả Đà
Nắng cho chính quyền Bảo Đại.Tháng
3 năm 1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào
Đà Nắng và thiết lập ở đây một căn cứ
quân sự hỗn hợp lớn. Năm 1967, Đà Nắng được chính quyền Việt Nam
Cộng hòa ấn định là thành phố trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây
dựng Đà Nắng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho
vùng I và II chiến thuật.
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Đà Nắng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 15
tháng 7 năm 2003, Đà Nắng được công nhận là đô thị loại 1.
Đà Nắng nằm vào trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch
Bắc – Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường
hàng không, là cửa ngõ giao
thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên. Thành phố còn là điểm cuối
trên Hành lang kinh tế Đông – Tây đi qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào.
Thành phố Đà Nắng nằm bên
dòng sông Hàn; phía Đông vươn ra biển Đông với những bãi biển dài tăm tắp và bán đảo Sơn Trà còn rất hoang
sơ; phía Bắc và phía Tây được bao
bọc bởi đèo núi cao. Đèo Hải Vân cheo leo hiểm trở là ranh giới tự nhiên giữa
thành phố và tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Ngoài sự ưu đãi của thiên nhiên cho Đà Nắng, thành phố còn được bao bọc
bởi 3 di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn. Xa hơn một chút nữa là di
sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha
– Kẻ Bàng. Vì thế Đà Nắng được xem là
điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di sản miền Trung.
Mì Quảng: là một món ăn rất phổ biến của người miền Trung. Ngày nay khi nói đến Mì Quảng không nhất thiết là nói đến món ăn đặc sản của Quảng Nam – Đà Nắng mà là nói đến một món ăn đặc trưng của người miền Trung nói chung. Đến với Đà Nắng thì co rất nhiều đặc sản như: Bánh tráng cuốn thịt heo, Bánh xèo, Thịt bê thui, Bún chả cá, Bún mắm, Bánh khô mè, Nước mắm Nam Ô.
THUYẾT MINH DU LỊCH ĐÀ NẴNG
(Tuyến nội đô – dành cho hướng dẫn viên)
Kính
chào quý cô chú, anh chị và toàn thể quý khách!
Thay
mặt đơn vị tổ chức tour, em xin gửi đến quý khách lời chúc sức khỏe và lời chào
mừng nồng nhiệt nhất đến với thành phố Đà Nẵng – thành phố được mệnh danh là
“thành phố đáng sống nhất Việt Nam”.
Trong
hành trình hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá những nét đặc sắc về cảnh
quan, văn hóa, con người và nhịp sống của thành phố biển xinh đẹp này.
Đà
Nẵng nằm ở trung tâm miền Trung Việt Nam, là cửa ngõ kết nối ba di sản thế giới
gồm Cố đô Huế – Phố cổ Hội An – Thánh địa Mỹ Sơn. Không chỉ sở hữu vị trí chiến
lược, Đà Nẵng còn gây ấn tượng bởi sự hiện đại, sạch đẹp và tốc độ phát triển
rất nhanh.
Nếu
nhìn theo dòng sông Hàn – dòng sông biểu tượng của thành phố – thì phía Tây là
quận Hải Châu, trung tâm hành chính – thương mại; còn phía Đông là quận Sơn
Trà, nơi phát triển mạnh du lịch biển và nghỉ dưỡng.
Nhắc
đến Đà Nẵng chắc chắn không thể không nhắc đến những cây cầu nổi tiếng.
Hiện
nay thành phố có nhiều cây cầu bắc qua sông Hàn như cầu Nguyễn Văn Trỗi, cầu
Trần Thị Lý, cầu Thuận Phước, cầu quay sông Hàn và nổi bật nhất chính là cầu
Rồng.
Cầu
Rồng được xây dựng trên trục đường Nguyễn Văn Linh – tuyến đường nối thẳng từ
sân bay quốc tế Đà Nẵng ra biển. Vào tối thứ Bảy và Chủ nhật lúc 21 giờ, cầu sẽ
trình diễn phun lửa và phun nước – một hoạt động thu hút rất đông du khách.
Bây
giờ nếu quý khách nhìn theo hướng bên trái xe sẽ thấy tuyến đường Nguyễn Văn
Linh – một trong những trục giao thông đẹp và hiện đại nhất của thành phố.
Đi
tiếp về phía bờ Tây sông Hàn, chúng ta sẽ đến khu vực Bảo tàng Điêu khắc Chăm.
Đây
được xem là bảo tàng điêu khắc Chăm Pa lớn và đặc sắc nhất thế giới, lưu giữ
hàng nghìn hiện vật phản ánh nền văn minh Chăm Pa từng phát triển rực rỡ tại
miền Trung Việt Nam.
Thông
thường nếu tham quan đầy đủ, du khách sẽ cần khoảng 30 phút đến 1 giờ để tìm
hiểu.
Đối
diện bảo tàng là khu vực bến du thuyền sông Hàn. Buổi tối, quý khách có thể
trải nghiệm du thuyền, dùng bữa tối, thưởng thức âm nhạc và ngắm Đà Nẵng lung
linh về đêm.
Tiếp
tục hành trình, chúng ta sẽ đi qua khu trung tâm lâu đời của Đà Nẵng.
Tại
đây có Nhà thờ Chính tòa Đà Nẵng – thường được gọi thân mật là Nhà thờ Con Gà
do trên đỉnh tháp có biểu tượng con gà. Đây là công trình kiến trúc mang phong
cách Gothic Pháp và là một trong những điểm check-in nổi bật của thành phố.
Không
xa đó là chợ Hàn – khu chợ truyền
thống nổi tiếng với các mặt hàng đặc sản như bánh khô mè, khô mực, tré, mắm và
nhiều món quà địa phương.
Nếu
quý khách muốn trải nghiệm ẩm thực Đà Nẵng thì đừng bỏ qua:
–
Mì Quảng
–
Bánh tráng cuốn thịt heo
–
Bún mắm
–
Bê thui Cầu Mống
–
Chè truyền thống Đà Nẵng
Đặc biệt, món bánh tráng cuốn thịt heo với phần thịt hai
đầu da được xem là một trong những món ăn mang dấu ấn rất riêng của vùng đất
này.
Bên
cạnh cảnh đẹp và ẩm thực, Đà Nẵng còn được yêu mến bởi nhịp sống văn minh, thân
thiện và cảm giác dễ chịu mà thành phố mang lại cho du khách.
Và ngay sau đây,
xin mời quý khách tiếp tục đồng hành cùng em để khám phá bán đảo Sơn Trà – nơi
được ví như “lá phổi xanh” của thành phố Đà Nẵng.
Kính
thưa quý khách!
Sau
khi tham quan khu vực trung tâm thành phố, bây giờ xe của chúng ta sẽ bắt đầu
di chuyển về phía Đông Đà Nẵng – nơi có những bãi biển đẹp nhất và cũng là khu
vực phát triển du lịch nghỉ dưỡng nổi bật của thành phố.
Nếu quý khách nhìn về phía trước, chúng ta đang tiến dần về
khu vực biển Mỹ Khê – một trong những bãi biển nổi tiếng nhất Việt Nam.
Biển
Mỹ Khê từng được nhiều tạp chí du lịch quốc tế đánh giá cao nhờ đường bờ biển
dài, cát trắng mịn, nước trong xanh và độ dốc thoải nên rất thuận tiện cho hoạt
động tắm biển.
Điểm
thú vị của biển Đà Nẵng là khu vực bãi tắm công cộng được đầu tư khá đồng bộ:
có nhà tắm nước ngọt, khu gửi xe, cứu hộ và vệ sinh môi trường tương đối tốt.
Quý
khách sẽ thấy người dân địa phương có thói quen dậy sớm tập thể dục, chạy bộ,
tắm biển và ngồi uống cà phê ngắm bình minh – đây cũng là một nét sống rất đặc
trưng của người Đà Nẵng.
Phía
trước xe lúc này là tượng đài Mẹ Âu Cơ – một điểm mốc quen thuộc của khu vực
ven biển.
Nếu
rẽ trái từ khu vực này vài trăm mét sẽ đến các bãi tắm công cộng dành cho người
dân địa phương – nơi du khách có thể trải nghiệm không khí biển rất gần gũi và
đời thường.
Còn
nếu rẽ phải, quý khách sẽ thấy dọc tuyến ven biển là hàng loạt nhà hàng hải sản
với không gian mở, hướng thẳng ra biển.
Đà Nẵng là thành phố biển nên hải sản luôn là một trong
những trải nghiệm được nhiều du khách yêu thích.
Một
kinh nghiệm nhỏ là quý khách nên chọn những quán niêm yết giá rõ ràng hoặc
những nơi đông khách địa phương – đây thường là lựa chọn khá an toàn.
Bây
giờ xe sẽ tiếp tục di chuyển theo tuyến đường Hoàng Sa.
Đây
là một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Đà Nẵng.
Tuyến
đường này ôm sát chân bán đảo Sơn Trà – nơi được ví như “lá phổi xanh của thành
phố”.
Bán
đảo Sơn Trà có diện tích hơn 4.000 ha, là khu bảo tồn thiên nhiên quý giá với
hệ sinh thái rừng – biển rất đặc biệt.
Đặc biệt nơi đây còn là môi trường sinh sống của loài Voọc
chà vá chân nâu – được mệnh danh là “nữ hoàng linh trưởng”.
Nếu
may mắn, vào những khung giờ thích hợp quý khách hoàn toàn có thể bắt gặp loài
voọc này ngoài tự nhiên.
Xe
tiếp tục lên cao và điểm đến nổi bật nhất chính là Chùa Linh Ứng.
Kính
thưa quý khách!
Chùa
Linh Ứng Sơn Trà được xem là ngôi chùa nổi tiếng nhất Đà Nẵng hiện nay.
Ngôi
chùa nằm ở vị trí tựa lưng vào núi, mặt hướng ra biển – theo quan niệm Á Đông
là thế đất rất đẹp, tượng trưng cho sự bình an và thịnh vượng.
Điểm
nhấn đặc biệt của chùa là tượng Phật Quan Thế Âm cao khoảng 67 mét – thuộc nhóm
tượng Phật Quan Âm cao nhất Việt Nam.
Bên
trong tượng được bố trí nhiều tầng thờ tự và không gian chiêm bái.
Từ
khuôn viên chùa nhìn xuống, quý khách có thể quan sát gần như toàn bộ thành phố
Đà Nẵng, sông Hàn và đường bờ biển cong mềm rất đẹp.
Sau
khi tham quan chùa Linh Ứng, xe tiếp tục men theo tuyến Hoàng Sa – Trường Sa.
Dọc
tuyến này quý khách sẽ đi qua nhiều bãi biển đẹp như:
–
Bãi Bụt
–
Bãi Rạng
–
Bãi Nam
–
Bãi Bắc
Đây
đều là những địa điểm rất thích hợp cho hoạt động nghỉ ngơi, chụp ảnh và
picnic.
Một
điều thú vị là nhiều cặp đôi tại miền Trung thường chọn khu vực này để thực
hiện ảnh cưới vì vừa có biển, vừa có núi, vừa có ánh sáng tự nhiên rất đẹp.
Tiếp
tục xuôi theo đường Trường Sa, quý khách sẽ thấy khu vực tập trung rất nhiều
khu nghỉ dưỡng cao cấp.
Tuyến
đường này thường được gọi vui là “con đường 5 sao của Đà Nẵng” bởi sự hiện diện
của hàng loạt resort tiêu chuẩn quốc tế.
Nếu
tiếp tục đi thẳng, tuyến đường sẽ kết nối về khu vực Hội An – mở ra hành trình
khám phá một không gian hoàn toàn khác: cổ kính, chậm rãi và giàu chiều sâu văn
hóa.
Và
ngay sau đây, xin mời quý khách nghỉ ngơi, ngắm cảnh và chuẩn bị cho điểm tham
quan tiếp theo trong hành trình của chúng ta.
Xin cảm ơn quý khách!
Tiếp tục đi trên con đường Điện Bàn-Điện Ngọc chúng ta sẽ tới Bảo Tàng nghệ thuật Chăm.
Bảo Tàng Nghệ Thuật Điêu Khắc Chăm
Lịch sử bảo tàng
Toà nhà đầu tiên của Bảo tàng được xây dựng
vào năm 1915. Thật ra, hơn 20 năm trước đó, nhiều hiện vật điêu khắc Chăm tìm
thấy trong vùng Đà Nẵng, Quảng Nam và các tỉnh lân cận đã được tập trung về địa
điểm này, với tên gọi là “công viên Tourane”. Việc thu thập những tác phẩm điêu
khắc Chăm bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX là công lao của những người Pháp
yêu ngành khảo cổ học, đặc biệt là của những người làm việc cho Trường Viễn
Đông Bác Cổ của Pháp (L' École Française d' Extrême - Orient, viết tắt là
EFEO). Một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển về Pháp, một số khác được
chuyển ra Bảo tàng tại Hà Nội và Bảo tàng tại Sài Gòn(nay là thành phố Hồ Chí
Minh) nhưng phần nhiều những tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng.
Ý tưởng về xây dựng ở Đà Nẵng một nhà bảo
tàng cho các tác phẩm điêu khắc Chăm đã manh nha từ năm 1902 với một đề án của
của EFEO, trong đó có sự đóng góp lớn của Henri Parmentier, chủ nhiệm Khoa Khảo
cổ của EFEO. Toà nhà đầu tiên được xây dựng theo thiết kế của hai kiến trúc sư
người Pháp là Delaval và Auclair, trên cơ sở gợi ý của Parmentier về việc sử
dụng một số đường nét của kiến trúc Chăm; và mặc dù đã trải qua nhiều lần mở
rộng nhưng toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn
giữ lại cho đến ngày nayCù Lao Chàm được lấy lòng những du khách bằng những
cảnh sắc thiên nhiên hiền hòa, bãi biển xanh ngát, những con đường ven biển đẹp
đến nao lòng, nhưng công trình kiến trúc có ý nghĩa văn hóa cực kỳ to lớn. Đến
với nơi đây, Quý Khách nhất định phải ghé thăm và check-in một số cảnh đẹp sau
đây, nếu không Quý Khác sẽ rất tiếc.
Lần mở rộng thứ nhất được tiến hành vào những
năm giữa thập kỷ 1930 nhằm đủ chỗ để trưng bày thêm những hiện vật mới được thu
thập trong những năm 1920, 1930. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, gồm các Phòng Trà
Kiệu, Phòng Mỹ Sơn , Phòng Đồng Dương, Phòng Tháp Mẫm và các hành lang Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum. Năm 2002, một tòa nhà 2 tầng được xây nối
thêm vào phía sau, tăng thêm hơn 1000 m2 để trưng
bày các hiện vật sưu tầm sau năm 1975.Vào độ tháng 7-8, con đường ngô đồng ở Cù
Lao Chàm tựa như một bức Từ năm 2005, một kế hoạch nâng cấp bảo tàng đã được
khởi động. Với sự trợ giúp của các chuyên gia Pháp thuộc dự án FSP, hai phòng
Mỹ Sơn và Đồng Dương được cải tạo và khánh thành năm 2009. Đến năm 2016, một dự
án tổng thể do thành phố Đà Nẵng đầu tư đã trùng tu toàn diện các tòa nhà và
chỉnh lý, nâng cấp các phòng trưng bày với nỗ lực nhằm tạo sự liên kết các tòa
nhà của bảo tàng trong một lộ trình tham quan tổng thể, gồm phần trưng bày
chính là các bộ sưu tập điêu khắc Chăm và các phòng chuyên đề về văn khắc, gốm
và âm nhạc, lễ hội, nghề truyền thống của đồng bào Chăm hiện nay. Không gian
dành cho biểu diễn và hoạt động giáo dục được đặt ở tầng 2 và khu dịch vụ được
cải tạo bố trí ở sân vườn.
Năm 2011, Bảo tàng đã được xếp vào danh sách các bảo tàng hạng 1 tại Việt Nam, khẳng định vai trò và những đóng góp của Bảo tàng Điêu khắc Chăm trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa.
Trưng bày
thường xuyên
Ø Phòng trưng bày Trà Kiệu
Di tích Trà Kiệu thuộc
xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; cách trung tâm thành phố Đà
Nẵng 50 km về phía nam.
Những năm cuối thế kỷ
XIX và đầu thế kỷ XX, các nhà sưu tầm đã tìm thấy ở khu vực này một số
hiện vật điêu khắc đá thuộc văn hóa Champa, bao gồm các mảnh vỡ của đài
thờ, một chiếc linga và những phù điêu trang trí. Trong hai năm
1927-1928, Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã tiến hành khai quật tại Trà Kiệu,
phát hiện nhiều hiện vật điêu khắc cùng với nền móng các đền tháp và dấu vết
các tường thành. Đối chiếu những phát hiện khảo cổ với ghi chép trong tài liệu
địa chí xưa, một số nhà nghiên cứu xác định Trà Kiệu từng là kinh đô của
vương quốc Champa, tương ứng với tên gọi Simhapura được nhắc đến trong một vài
văn bia Chăm.
Phần lớn hiện vật trong
bộ sưu tập Trà Kiệu được xác định niên đại vào khoảng thế kỷ X - XI, nhưng cũng
có hiện vật được số đông các nhà nghiên cứu xác định vào thế kỷ V - VI (Yaksa,
BTC 136 – 20.2 ) hoặc cũng có hiện vật đang còn những ý kiến xác định niên đại
khác xa nhau đến 3 – 4 thế kỷ (Đài thờ, BTC 95 - 22.5). Đặc điểm nghệ thuật của
hiện vật Trà Kiệu có nét chung là tính mềm mại, sống động, và cũng hết sức đa
dạng về trang phục, trang sức, động tác.
Phòng trưng bày Mỹ Sơn
Mỹ Sơn từng là một trung tâm tín ngưỡng quan
trọng của vương quốc Champa, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay, cách di
tích Trà Kiệu – một trong những kinh đô của Champa trước đây – khoảng 30km về
phía tây. Trong không gian thâm nghiêm của một thung lũng bao bọc bởi những
ngọn núi nhỏ, tại đây có trên 70 ngôi tháp, phần lớn được xây dựng để thờ thần
Siva.
Qua các đợt khai quật và nghiên cứu đầu tiên
vào những năm 1903 – 1904, Henri Parmentier và Charles Capeaux đã sắp xếp các
ngôi tháp ở Mỹ Sơn thành các nhóm, dùng chữ cái đặt tên cho các nhóm tháp và
chữ số đặt tên cho từng ngôi tháp trong nhóm, ví dụ ngôi tháp trung tâm của
nhóm tháp chính được gọi tên là tháp A1.
Theo văn bia, tại Mỹ Sơn có thể đã có những
ngôi tháp đầu tiên xây dựng từ khoảng thế kỷ IV hoặc V, nhưng đến nay chỉ còn
lại các công trình kiến trúc có niên đại sớm nhất là khoảng thế kỷ VII (như
nhóm tháp E). Đa số các công trình được bảo tồn tốt nhất có niên đại từ thế kỷ
X đến XI (các nhóm A, B, C, Đ). Những ngôi tháp được xây dựng muộn nhất tại Mỹ
Sơn là vào khoảng thế kỷ XI đến thế kỷ XIII (nhóm tháp G và tháp trung tâm của
nhóm B).
Những hiện vật trưng bày tại phòng Mỹ Sơn
tiêu biểu cho nhiều phong cách trong quá trình phát triển của nghệ thuật điêu
khắc Chăm.
Phòng trưng bày Đồng Dương
Đồng Dương là một trung tâm Phật giáo của
Champa, nằm ở vùng đồng bằng, cách thung lũng Mỹ Sơn khoảng 20km về phía nam.
Theo văn bia, năm 875, vua Indravarman II đã
cho xây dựng ở Đồng Dương một công trình gồm tu viện và đền tháp để thờ Bồ tát
Laksmindra Lokesvara, một dạng của Bồ tát Quán thế âm. Các kiến trúc được bao
bọc bởi những vòng thành hình chữ nhật, nối tiếp nhau theo trục đông – tây. Mỗi
vòng thành có một tháp cổng mở về hướng đông, hai bên cổng có các tượng thần hộ
pháp canh giữ.
Các tác phẩm điêu khắc Phật giáo tại Đồng
Dương cho thấy sự phát triển của Phật giáo Đại thừa tại Champa. Mặc dù có một
số nét ảnh hưởng từ Trung Hoa, Ấn Độ và các nước lân cận, kiến trúc và điêu
khắc Đồng Dương mang đậm yếu tố bản địa, đã tạo nên một phong cách độc đáo,
giàu ấn tượng trong nghệ thuật Chăm.
Khu di tích này được Henri Parmentier và Charles Carpeaux nghiên cứu và khai quật vào mùa thu năm 1902. Đến nay, di tích Đồng Dương hầu như đã bị hủy hoại hoàn toàn bởi thời gian và chiến tranh, nhưng những hiện vật trưng bày ở đây cho ta hình dung phần nào sự nguy nga, tráng lệ của khu đền tháp và Phật viện này.
Phòng trưng bày Tháp Mẫm
Tháp Mẫm là tên gọi một di tích Chăm đã đổ
nát, nằm ở xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Một cuộc khai quật quy
mô lớn đã được tiến hành tại vị trí này vào năm 1934, phát hiện nền móng một
quần thể nhiều tháp trong một khu vực có tường bao quanh. Niên đại của di tích
Tháp Mẫm được xác định vào khoảng thế kỷ XII - XIII.
Khối lượng hiện vật thu thập được trong cuộc khai quật năm 1934 lên đến 58 tấn, bao gồm những tượng kích thước lớn và nhiều bộ phận trang trí kiến trúc bằng đá. Một cuộc khai quật khác được tiến hành tại đây vào năm 2011 và cũng phát hiện thêm một số hiện vật tương tự. Phong cách nghệ thuật của các hiện vật thu thập từ di tích Tháp Mẫm có nét chung ở tính phức tạp, tỉ mỉ, nhưng rơi vào khuôn mẫu, thiếu vẻ mềm mại, linh hoạt. Danh xưng “Tháp Mẫm” sau đó đã được dùng để đặt tên cho một phong cách nghệ thuật Chăm có cùng đặc trưng với nhóm hiện vật này.Sau giai đoạn Tháp Mẫm, nghệ thuật điêu khắc Chăm từng bước suy thoái dần.
Phòng trưng bày Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế
Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-
Huế nằm về phía bắc đèo Hải Vân, là vùng cực bắc của vương quốc Champa xưa. Ở
khu vực này hiện còn một ngôi tháp Chăm nhỏ, được phát hiện vào năm 2001 tại
thôn Mỹ Khánh, xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Mặc dù không có nhiều đền tháp còn đứng vững trên mặt đất, nhưng vẫn còn tìm thấy ở khu vực bắc Champa nhiều dấu tích nền móng, hiện vật điêu khắc và một số văn bia. Các văn bia có niên đại từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 10 nói đến việc xây dựng các đền tháp thờ thần Siva cũng như các công trình Phật Giáo. Phong cách nghệ thuật của điêu khắc cho thấy tính thống nhất của khu vực này với vùng lân cận phía nam, Đà Nẵng và Quảng Nam, trong các thế kỷ IX - X.
Phòng
trưng bày Đà Nẵng
Bộ sưu tập Đà Nẵng gồm nhiều hiện vật được
sưu tầm trước năm 1975 từ các di tích Phong Lệ, Quá Giáng, Xuân Dương.
Những cuộc khảo sát trong 40 năm qua, sau
1975, đã phát hiện thêm nhiều hiện vật và dấu vết kiến trúc thuộc thời kỳ
Champa ở các địa phương khác của thành phố Đà Nẵng, như các di tích An Sơn,
Khuê Trung, Gò Đùi. Đặc biệt các cuộc khai quật khảo cổ trong các năm 2012-
2014 tại di tích Phong Lệ và Cấm Mít đã phát hiện những hiện vật mang ý nghĩa
tín ngưỡng tại các lòng tháp Chăm sâu dưới mặt đất.
Những hiện vật điêu khắc, văn bia và dấu vết kiến trúc cho thấy khu vực Đà Nẵng là một vùng phát triển về kinh tế và giao thương của vương quốc Champa trong các thế kỷ IX đến XIII.
Phòng trưng bày Quảng Nam
Địa bàn tỉnh Quảng Nam là một trung tâm quan
trọng của vương quốc Champa. Nhiều khu di tích lớn đã được tìm thấy tại các địa
phương của Quảng Nam, gồm kinh thành Trà Kiệu, thánh địa Mỹ Sơn, Phật viện Đồng
Dương. Số lượng hiện vật thu thập được tại các di tích này rất lớn và được
trưng bày độc lập tại các Phòng Trà Kiệu, Phòng Mỹ Sơn và Phòng Đồng Dương.
Ngoài ra, ở Quảng Nam còn có nhiều di tích khác; một số di tích đã được khảo sát, nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX, một số được phát hiện và tiếp tục khai quật sau năm 1975, bao gồm các di tích Khương Mỹ, An Mỹ, Phú Hưng, Chiên Đàn. Các bộ sưu tập từ các di tích này thể hiện bức tranh đa dạng về nghệ thuật điêu khắc Chăm với nhiều phong cách nghệ thuật phát triển tập trung tại một địa bàn qua nhiều thời kỳ của vương quốc Champa.
Phòng trưng bày Quảng Ngãi
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ngày nay không
còn thấy các tháp Chăm như ở hai tỉnh lân cận Quảng Nam và Bình Định. Nhưng từ
đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ đã khảo sát và phát hiện những di tích Chăm ở
các địa phương của tỉnh Quảng Ngãi, như ở Đông Phúc, Phú Thọ, Cổ Lũy, Châu Sa.
Đặc biệt, cuộc khai quật năm 1904 tại di tích Chánh Lộ (nay thuộc thị xã Quảng Ngãi) đã phát hiện dấu vết một khu đền tháp lớn, có niên đại vào khoảng thế kỷ XI cùng với nhiều hiện vật. Đầu năm 2017, một nền móng tháp Chăm được phát hiện ở núi Thiên Bút, gần với di tích Chánh Lộ.
Phòng trưng bày Bình Định - Kon
Tum
Tỉnh Bình Định cách thành phố Đà Nẵng khoảng
300 km về phía nam. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng địa bàn tỉnh Bình Định ngày
nay từng là một trung tâm quan trọng của vương quốc Champa, được nhắc đến trong
một số văn bia với tên gọi Vijaya.
Tại Bình Định có những ngôi tháp Chăm còn
đứng vững cho đến ngày nay, gồm các nhóm tháp Cánh Tiên, Thủ Thiện, Dương Long,
Bình Lâm, Hưng Thạnh. Ngoài ra tại Bình Định còn có nhiều phế tích Chăm, trong
đó phế tích Tháp Mẫm đã được khai quật vào các năm 1934 và 2011, phát hiện
nhiều tượng thần và tượng vật linh kích thước lớn.
Bên cạnh gian trưng bày dành riêng cho bộ sưu tập Tháp Mẫm, các hiện vật từ các di tích khác thuộc tỉnh Bình Định được trưng bày chung trong gian trưng bày Bình Định – Kon Tum. Hầu hết các hiện vật sưu tầm từ Bình Định đều có niên đại từ thế kỷ XII về sau. Hiện vật từ địa bàn Kon Tum (BTC 167 – 3.16) có niên đại muộn nhất trong bộ sưu tập điêu khắc đá của Bảo tàng Chăm (thế kỷ XIV - XV).
Phòng trưng bày Văn khắc
Văn khắc Champa đã được tìm thấy tại một số
vách đá, trên các chi tiết trang trí kiến trúc, trên các bệ tượng thần và trên
các vật dụng bằng kim loại hoặc bằng đất nung. Tuy nhiên các bản văn quan trọng
và chi tiết chủ yếu được khắc trên các tấm bia đá. Bia đá thường được dựng
trước các ngôi tháp thờ các vị thần Hindu giáo hoặc Phật giáo, ghi lại việc xây
dựng, trùng tu đền tháp cũng như việc dâng cúng đất đai hoặc giao người trông
coi các ngôi đền tháp. Các văn bản khắc trên bia thường nhân danh các vị vua,
các người trong hoàng tộc hoặc quan lại cao cấp; nội dung văn bia cho chúng ta
biết những thông tin về đời sống xã hội và tín ngưỡng của vương quốc Champa
cũng như mối quan hệ của Champa với các nước láng giềng.
Niên đại ghi trên các văn bia là cơ sở quan
trọng để xác định thời kỳ xây dựng các ngôi tháp cũng như giúp suy đoán niên
đại của các hiện vật điêu khắc gắn liền với các công trình kiến trúc.
Các văn bia trước thế kỷ X sử dụng tiếng
Sanskrit và dùng hệ thống chữ viết Brahmi (chữ Phạn). Từ thế
kỷ X về sau, tiếng Chăm cổ được sử dụng thay thế dần cho tiếng Sanskrit trên
các văn bia.
Ø Trưng bày chuyên đề:
GỐM SA HUỲNH
“Sa Huỳnh” là tên một địa phương ở tỉnh Quảng
Ngãi, nơi các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều hiện vật đặc biệt trong một cuộc
khai quật năm 1909, và từ đó, “Sa Huỳnh” được dùng để gọi tên nền văn hóa chủ
nhân các hiện vật đó.
Văn hóa Sa Huỳnh được xác định dựa trên hình thức mai táng bằng mộ chum, đồ trang sức thủy tinh và đồ dùng chất liệu gốm. Hiện vật Sa Huỳnh có niên đại trước thế kỷ II và các nhà nghiên cứu nhận thấy nhiều khả năng có sự tiếp nối với nền văn hóa Champa, phát triển ở miền Trung Việt Nam từ thế kỷ III về sau. Mối liên hệ giữa văn hóa Sa Huỳnh và Champa thường được nhận biết qua một số đặc trưng thể hiện ở sản phẩm gốm.
GỐM CHAMPA
Bên cạnh nghệ thuật điêu khắc đá, nghệ thuật
chế tác gốm có một vị trí quan trọng trong văn hóa Champa. Gốm Champa kế thừa
nhiều đặc tính của gốm Sa Huỳnh thể hiện ở chất liệu, màu sắc, độ nung. Gốm
Chăm được sử dụng trong kiến trúc, không chỉ ở các bộ phận thông thường như
ngói lợp, gạch nền mà còn ở nhiều chi tiết trang trí ở góc tháp, trên tường và
đế tháp. Các vật dụng chất liệu gốm cũng xuất hiện nhiều trong sinh hoạt hàng
ngày của cư dân Champa, đó là là các loại nồi nấu thức ăn, các loại vò đựng
nước v.v…
Kết quả khai quật khảo cổ ở tỉnh Bình Định đã phát lộ dấu tích nhiều lò gốm có niên đại thế kỷ XIV, XV, thường được gọi là gốm Gò Sành. Với nhiều sản phẩm đa dạng, kỹ thuật và phong cách của gốm Gò Sành được xem như là cầu nối giữa gốm Champa và gốm Đại Việt, và tiếp tục được kế thừa bởi những người thợ thủ công ở miền Trung Việt Nam cho đến ngày nay.
Văn hóa Chăm Ninh Thuận
Ninh Thuận là một tỉnh cực Nam Trung bộ của
Việt Nam. Thời kỳ Vương quốc Champa, Ninh Thuận và Bình Thuận thuộc châu
Panduranga của Champa. Hiện nay, Ninh Thuận có 6 huyện, 1 thành phố tỉnh lỵ là
Phan Rang-Tháp Chàm, với số dân cả tỉnh chỉ trên 600.000 người gồm người Kinh
và 26 dân tộc thiểu số. Trong đó, người Chăm trên 67.000 người chiếm gần 12%
dân số cả tỉnh và chiếm hơn 41% số người Chăm trên cả nước.
Vốn di sản văn hóa mà người Chăm Ninh Thuận
còn để lại cho đến ngày nay tuy mất mát, mai một khá nhiều nhưng vẫn thể hiện
được những giá trị tiêu biểu về một nền văn hóa đặc sắc, gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể, là một bảo tàng sống sinh động, mang một sắc thái riêng hấp
dẫn, góp phần làm phong phú nền văn hóa đa dân tộc của Việt Nam.
Kết quả khai quật khảo cổ di
tích tháp Chăm Phong Lệ (2011 - 2018)
Khu di tích tháp Chăm Phong Lệ hiện thuộc tổ
4, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, có tọa độ
16000'08" vĩ độ Bắc và 108011'55" kinh độ Đông. Đây là một trong
những khu di tích tháp Chăm quan trọng, có giá trị lịch sử, văn hóa trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng.
Từ hơn 100 năm trước, người Pháp đã xây đồn
điền trong khuôn viên của khu di tích tháp Chăm Phong Lệ, vì vậy, một số tác
phẩm điêu khắc bằng đá đã được người Pháp thu gom và đưa về tập trung tại công
viên Tourane (nay là Đà Nẵng). Sau đó, những tác phẩm này được đưa vào trưng
bày trong Bảo tàng Henri Parmentier (nay là Bảo tàng Điêu khắc Chăm). Các tác
phẩm sưu tầm gồm linga, các phù điêu trang trí góc tháp, tấm tympan thần Siva
múa, ba phù điêu thần Visnu,... là những tác phẩm điêu khắc đẹp hiếm có trong
nền nghệ thuật Champa.
Sau một thời gian dài vì chiến tranh, nơi đây
bị bỏ hoang phế. Sau năm 1975, Hợp tác xã Nông nghiệp của địa phương đã san ủi
một phần khu di tích để làm trại chăn nuôi và một số hộ dân cũng dần dần về đây
tụ cư.
Vào tháng 4/2011, người dân địa phương khi
đào móng làm nhà đã phát lộ một tượng sa thạch hình sư tử. Để bảo vệ khẩn cấp
di tích, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng đã phối hợp với Khoa Lịch sử, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tiến hành khai quật với diện tích
206 m2; sau đó vào năm 2012, tiếp tục khai quật với
diện tích 275,5 m2. Và lần thứ ba là năm 2018 với tổng
diện tích 308 m2. Trải qua 03 cuộc khai quật đã thu
được những kết quả quan trọng về khu di tích Phong Lệ như sau:
- Về mặt bằng kiến trúc, kết quả cho thấy khu
di tích đền tháp Phong Lệ là một tổ hợp kiến trúc gồm đền tháp chính và tháp
cổng với tường bao quanh, phân bố trên một gò đất cao nằm gần một dòng chảy cổ
thuộc dòng sông Cẩm Lệ. Đền tháp chính với kết cấu kiến trúc bên trong ở giữa
lòng tháp được xây âm xuống dưới mặt đất tạo thành một “hố thiêng” có kết cấu
xây dựng và cách sắp xếp hiện vật hiếm thấy trong các cuộc khai quật đền tháp
Champa ở miền Trung Việt Nam. Ngoài ra, ở đây có thể tồn tại một số công trình
phụ trợ như nhà dài (Mandapa) và các đền tháp phụ ở trong tường bao gần đền
tháp chính. Có thể nói, đây là một công trình có quy mô lớn trong hệ thống đền
tháp Champa hiện biết ở miền Trung Việt Nam.
- Về hiện vật, qua 03 cuộc khai quật phát
hiện được gần 400 hiện vật với nhiều chất liệu như đồ đá, gốm sứ, thạch anh,
vàng... Các hiện vật tìm thấy bao gồm tượng động vật như sư tử, voi; trang trí
diềm mái như tượng người cầu nguyện, rắn thần, tai lửa, đầu tượng, chim thần,
chóp đền tháp, ngoài ra còn có rất nhiều ngói lá, gạch có điêu khắc...
Khu di tích tháp Chăm Phong Lệ được các nhà khai quật xác định niên đại xây dựng vào khoảng thế kỉ X và được người Champa duy trì thờ tự cho đến ít nhất vào thế kỉ XII.
Trưng bày ảnh: Bảo tàng Điêu
khắc Chăm: 100 năm xây dựng và phát triển
Nhân kỷ niệm 100 năm Bảo tàng mở cửa khánh
thành trưng bày lần đầu tiên (1919 - 2019), Bảo tàng Điêu khắc Chăm trân trọng
giới thiệu bộ ảnh tư liệu về những hoạt động tiêu biểu trong quá trình 100 năm
xây dựng và phát triển của Bảo tàng. Nội dung trưng bày lần này được thể hiện theo
từng chủ đề với trình tự thời gian: Hiện vật được người Pháp đem về để ở công
viên Tourane (Đà Nẵng) trước khi xây dựng Bảo tàng vào năm 1915; Hình ảnh tòa
nhà và phòng trưng bày Bảo tàng ban đầu, nhà kho bảo quản hiện vật, các vị
khách đến tham quan, cách thức vận chuyển và bảo quản hiện vật khi đưa hiện vật
về Bảo tàng giai đoạn 1916 - 1935; Quá trình cải tạo, mở rộng Bảo tàng qua các
giai đoạn 1935 - 1936, 2002 - 2009, 2016 - 2017... Ngoài ra trưng bày còn giới
thiệu các hoạt động chuyên môn tiêu biểu của Bảo tàng như Sưu tầm, Bảo quản,
Phục chế, Trưng bày, Giáo dục, Truyền thông, Quảng bá, Hợp tác quốc tế và đón
tiếp các vị khách Quốc tế tham dự Hội nghị APEC 2017, các vị nguyên thủ các
nước như Tổng thống Ấn Độ, Singapore, Quốc vương Campuchia và các nhà Lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước ta đến tham quan Bảo tàng.
Với hơn 250 hình ảnh được chọn trưng bày lần này là bằng chứng sinh động về quá trình 100 năm xây dựng và phát triển của Bảo tàng Điêu khắc Chăm.
Trưng bày Kho mở
Trong năm 2019, Bảo tàng Điêu khắc Chăm thực hiện trưng bày Kho mở với số lượng 47 hiện vật, được trưng bày theo từng chủ đề, nhằm mục đích tạo điều kiện cho khách tham quan có cơ hội tiếp cận nhiều hơn các hiện vật của Bảo tàng, qua đó phát huy tác dụng giá trị của hiện vật, hy vọng sẽ góp phần phục vụ tốt hơn cho du khách khi đến tham quan, nghiên cứu tại Bảo tàng.
Tiếp tục chúng ta sẽ tới bán đảo Sơn Trà.
Bán Đảo Sơn Trà
Sơn Trà là một đặc ân mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho Đà Nắng. Đứng bất cứ ở đâu trên
đất Đà Nắng đều có thể nhìn thấy
ngọn núi này. Trong dáng nhoài người vươn ra biển, Sơn Trà là một bức bình
phong khổng lồ che chắn bão giông cho thành phố.
Nằm cách trung tâm thành phố 10 km về phía
Đông Bắc, bán đảo Sơn Trà với độ cao 693 m so với mực
nước biển;
giống hình một cây nấm, đầu nấm là núi Sơn Trà và thân nấm là bãi cát bồi, lắng đọng, tạo nên
những bãi cát vàng đẹp đẽ, trong lành. Đây còn là một khu bảo tồn thiên nhiên
đa dạng và phong phú,
được bảo vệ
theo chế độ rừng cấm quốc
gia, nổi tiếng là nơi có thảm thực vật đặc sắc với nhiều loại thú
rừng quí hiếm như hươu, nai, khỉ, vượn, đười ươi, voọc chà vá,
gà mặt đỏ… cảnh vật thiên nhiên nơi đây rất
quyến rũ; dân gian
đồn rằng các vị tiên từ trên trời thường chọn bãi cát nơi đây để giáng trần, ca
múa, đánh cờ với nhau… nên còn có tên là Tiên Sa.
Và ngay dưới chân núi, với những bãi san hô tuyệt
đẹp, đầy màu sắc sẽ là nơi lý tưởng để phát triển
các loại hình du lịch lặn.
Chùa Linh Ứng
Sơn Trà – “Linh Ứng Tự” lớn nhất tại Đà Nẵng
Chùa Linh Ứng Bãi Bụt - Sơn Trà được xây dựng từ năm 2004, nằm trên núi Sơn Trà, Đà Nẵng. Chùa được khởi công nhằm tôn vinh giá trị văn hóa Phật giáo và phục vụ nhu cầu hành hương, chiêm bái. Sau nhiều lần tu sửa, chùa trở thành một trong những điểm du lịch tôn giáo nổi tiếng, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Đặc biệt, chùa nổi bật với tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và 18 pho tượng La Hán đá trắng.
Kiến
trúc của chùa Linh Ứng Bãi Bụt - Sơn Trà
Chùa Linh Ứng Bãi
Bụt là sự giao thoa hoàn hảo giữa nét cổ kính của kiến trúc thời Nguyễn và vẻ
đẹp hiện đại, thanh thoát. Những mái ngói lưu ly xanh cong vút, kết hợp cùng
hoa văn rồng phụng, câu đối sắc nét, tạo nên không gian mang đậm dấu ấn Phật
giáo, trang nghiêm và thanh nhã.
Tổng thể chùa được
quy hoạch theo bố cục truyền thống, trải dài từ cổng tam quan đến các không
gian thờ tự và sinh hoạt. Qua cổng là lối đi lát đá dẫn đến sân chùa rộng rãi,
nơi đặt tượng các vị La Hán và cây bồ đề được chiết từ Ấn Độ. Phía sau là chánh
điện, tổ đường và các khu vực thiền định, được bao quanh bởi cảnh quan thanh
tịnh và hài hòa.
Nổi bật giữa không gian bao la là tượng Phật Quan Âm Bồ Tát cao 67m, được UNESCO công nhận là pho tượng Quan Thế Âm cao nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Bên trong tượng có 17 tầng, thờ 21 vị Phật với các tư thế khác nhau, cùng ban thờ chính dưới đài sen thờ Ta Bà Tam Thánh. Trên đỉnh tượng là bức phù điêu Phật Tổ cao 2m, tạo nên công trình uy nghi, thu hút hàng ngàn du khách đến chiêm bái mỗi năm.
Đặc
trưng nổi bật của chùa
So với hai ngôi
chùa Linh Ứng còn lại ở Đà Nẵng, chùa Linh Ứng Bãi Bụt nổi bật hơn cả về quy
mô, kiến trúc và tầm nhìn. Vị thế địa lý vô cùng đặc biệt, chùa tọa lạc trên
lưng chừng núi Sơn Trà, ở độ cao khoảng 693m so với mực nước biển, lưng tựa núi
- mặt hướng biển, tạo thế “tựa sơn hướng thủy” vô cùng đắc địa trong phong
thủy.
Đây là nơi lý tưởng cho các nghi thức cúng dường và lễ hội Phật giáo như khóa tu mùa hè, phóng sanh, v.v. Đồng thời, nơi đây còn là biểu tượng tâm linh mang lại sự an lạc và là điểm tựa tinh thần cho cả cộng đồng Phật tử và du khách thập phương. Chùa cũng được xem là một trong các điểm du lịch Đà Nẵng không thể bỏ qua khi khám phá thành phố biển xinh đẹp này.
Khu Du Lịch Núi Thần Tài
Công viên Suối nước nóng Núi Thần Tài là dự án
làm Công ty Cổ phần DHC Suối Đôi (thành viên Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư DHC)
làm chủ đầu tư.
Với tổng vốn đầu tư lên tới gần 500 tỷ đồng, dự
án Công Viên Suối Khoáng Phổ Thần Tài với tâm nguyện của chủ đầu tư đó là mang
đến một địa điểm du lịch hấp dẫn và để duy trì một nguồn tài nguyên thiên nhiên
vô cùng quý giá cho con cháu đời sau, đó là “Nguồn nước khoáng”.
Nằm tại khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà Núi Chúa,
thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Công viên suối
khoáng nóng Núi Thần Tài có thể nói là một tuyệt tác mà thiên nhiên ban tặng
cho thủ phủ miền Trung Việt Nam, trải dài trên một tích tích hơn 160 ha. Giữa
thành phố biển nhưng nơi đây lại mang đến một khí cụ đặc biệt của Bà Nà Núi Cửu
cho 4 mùa trong ngày.
Nhắc đến suối nước nóng là chúng ta thường hình
dung đến cả một bầu trời rực lửa và không thích hợp với khí hậu trung tâm nắng
nóng giải quyết. Nhưng đến với Công viên Suối nước nóng Núi Thần Tài bạn sẽ
được trải nghiệm một cảm giác đầy khác biệt, khi được hòa mình vào thiên nhiên
hùng vĩ với những cánh rừng nguyên sinh bạc ngàn của khu bảo tồn Bà Nà Núi Chúa
và những dòng sống lạnh. Và cũng chỉ ở nơi này bạn mới có thể cảm nhận được cái
nóng của nước khoáng và cái lạnh của nguồn nguyên liệu thật sự rõ ràng.
Suối nước nóng tại Núi Thần Tài được khởi động
nguồn từ tinh thiêng Bà Nà và được bao bọc hai bên sườn bởi Thanh Long, hỗ trợ
Bạch Hổ và phát lộ tại huyệt sâu thôn Phú Túc. Suối nước nóng được tìm thấy như
một cơ duyên cho thành phố Đà Nẵng tại thời điểm mà những sản phẩm du lịch
sông, núi, biển đã được phát triển và trở nên phổ biến. Dịch vụ nghỉ dưỡng
khoáng nóng được xem là một sản phẩm khác biệt mang lại những trải nghiệm thú
vị và góp phần tái tạo năng lượng, bổ sung khoáng chất. Chính vì thế, bạn không
còn phải lo lắng vì tắm da khô sau khi ngâm mình trong tắm nước biển, ngược
lại, bạn sẽ cảm nhận được sự tươi trẻ, “thanh mát” bởi những loại nước hoa miễn
phí cần thiết cho cả sóng da và cơ có thể được bổ sung sung qua nước tắm tự
nhiên.
Đến với Công viên Suối nước nóng Núi Thần Tài
bạn sẽ được hưởng những dịch vụ của đội ngũ chuyên nghiệp, được điều hành bởi
những chuyên gia đến từ Nhật Bản, nơi được mệnh danh là quê hương của nước khóa
nóng. Riêng với du khách Việt Nam, đây sẽ là một trải nghiệm du lịch quốc tế
ngay giữa lòng Đà Nẵng, mang lại cho bạn những cảm giác khác biệt không đơn
thuần chỉ là tắm nóng.
Công viên tắm nóng núi Thần Tài được đưa vào
vận hành từ ngày 27/04/2016 với các hạng mục Giai đoạn 1 bao gồm: Khu vực tắm
nóng, nhà tắm nóng nóng VIP, khách sạn cao cấp, khu vực tắm bùn, tắm trà, tắm
cà phê, tắm sữa, spa, Khu vui chơi thiếu nhi, Động Long Tiên với dòng sông Lười
tượng, nhà hàng sang trọng, cấp cấp, hệ thống cửa hàng lưu trữ và rất nhiều
điểm tham quan dẫn khác. Đặc biệt, khách tham quan sẽ được trải nghiệm dịch vụ
“Tắm ONSEN” theo tiêu chuẩn Nhật Bản lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam.
Ngày 06/03/2016, công viên suối khoáng nóng Núi
Thần Tài chính thức khai tài khoản và đánh dấu sự hoàn thiện trong tất cả các
hạng mục, đặc biệt là hệ thống khách sạn 4 sao Ebisu Hotel để phục vụ nhu cầu
của khách tham quan khi lưu trú.
Hạng mục Công viên nước đã chính thức bắt đầu khởi động với các đường trượt thú vị, hồ tạo sóng, vũng đen vũ trụ… Công viên nước khi được đưa vào hoạt động hứa hẹn là điểm nhấn mới cho du khách khi đến Công viên khô nóng. Hạng mục dự kiến sẽ được hoàn thiện và đưa vào sử dụng vào mùa hè năm 2017.
Công Viên Suối Khoáng Nóng Núi Thần Tài Tại Đà Nẵng Có Gì Chơi?
1. Trải Nghiệm Onsen Chuẩn Nhật Bản
Ai bảo rằng phải đến tận xứ sở hoa anh đào thì mới có được trải nghiệm suối nước nóngKhôn (Onsen) chuẩn chỉnh? Hệ thống Onsen ở Công Viên Suối Khoáng Nóng Thần Tài sở hữu thiết kế lộ thiên, nằm giữa núi tổ Bà nà, núi Bạch Hổ và núi Thanh Long. Du khách có thề vừa thư giãn trong làn nước ấm áp, vừa chiêm ngưỡng mỹ cảnh thiên nhiên hữu tình. Nhiệt độ suối khoáng ở đây được điều chỉnh ở mức vừa phải, đảm bảo đạt hiệu quả thư giãn cơ bắp và trị liệu tối đa.
2. Tắm Bùn Nâng Cao Sức Khỏe
Thư giãn trong bùn và vi khoáng thiên nhiên là phương pháp trị liệu hiệu quả cho các chứng đau nhức cơ xương hoặc bệnh ngoài da. Không gian tắm bùn khoáng của Núi Thần Tài được tạo thành bởi những bồn đá tự nhiên khắc hoa văn tỉ mỉ, đan xen bởi hàng cây xanh tươi mát. Bên cạnh hiệu quả dưỡng sinh, tắm bùn khoáng còn là cơ hội tuyệt vời để #teamKlook tạo nên kỷ niệm đáng nhớ cùng bạn bè và người thân.
3. Tha Hồ Sống Ảo Ở Huyệt Long Hồ
Từ giữa đồng Bạch Hổ và đồi Thanh Long, có thể nhìn thấy một làn khói mỏng thanh thoát bốc lên nghi ngút. Đó chính là Huyệt Long Hồ - hồ nước khoáng nằm ẩn mình trong dãy đá tảng tự nhiên. Người dân địa phương tin rằng Huyệt Long Hồ hội tụ vô vàn tinh hoa của lộ thuỷ đến từ sâu trong lòng đất, mang ý nghĩa viên mãn, sung túc và hạnh phúc. Nước khoáng ở Huyệt Long Hồ sở hữu hương thơm tự nhiên dễ chịu, có công dụng an thần và dưỡng nhan nên rất được chị em phụ nữ ưa chuộng.
4. Chiêm Bái Đền Thần Tài
Với tượng Thần Tài cao hơn 5 mét cùng hàng trăm tượng thần lớn nhỏ khác, Đền Thần Tài là công trình tâm linh đặc sắc - đại diện cho niềm tin về tương lai êm ấm và tràn đầy tài lộc của người dân Đà Nẵng. Sau khi chiêm bái Thần Tài, bạn có thể dành thời gian dạo bước quanh khuôn viên rộng hơn 7 héc-ta và tận hưởng không gian thiền tịnh hiếm có.
5. "Xuyên Không Về Thời Tiền Sử" Tại Công Viên Khủng Long
Các bạn nhỏ tuổi ắt hẳn sẽ hò reo thích thú trước
hơn 100 mô hình khủng long cỡ đại được trưng bày tại Công Viên Suối Khoáng Nóng
Thần Tài. Không chỉ to lớn, những người bạn đặc biệt cao hơn 30 mét này còn có
thể cử động và phát ra âm thanh chân thật - đảm bảo mang đến trải nghiệm
độc-nhất-vô-nhị. Đây là cơ hội lý tưởng để các bạn“xuyên không” về thời Tiền Sử
và thoả thích chụp ảnh check-in đấy.
6. Đến Công Viên Nước Núi Thần Tài để “Xả Stress”
Gọi là điểm đến toàn diện cho người thích du lịch dưỡng sinh nhưng không vì vậy mà Núi Thần Tài lại thiếu vắng trải nghiệm sôi động. Ở khu du lịch sinh thái này, bạn có thể tham gia hàng loạt trò chơi trên nước đầy sáng tạo - đơn cử như hồ tạo sóng có diện tích hơn 1.532 mét vuông, đường trượt cầu vồng dài 92 mét, đường trượt Thạch Long Đoạt Ngọc Quý dài 235 mét hay hồ nước Khu Tổ Chim rộng 1.492 mét vuông. Vừa nghĩ đến thôi đã thấy trong lòng háo hức, #teamKlook nhỉ?
Cẩm Nang Ăn Uống Tại Công Viên Núi Thần Tài
Giữa khung cảnh
núi non xanh mướt và làn suối khoáng ấm áp, việc tìm một bữa ăn ngon ở Núi Thần
Tài không hề khó. Ngay bên trong khu du lịch có nhà hàng Rồng Đỏ -
địa điểm phục vụ buffet trưa với hơn 100 món ăn đa dạng từ ẩm thực Việt đến các
món Á phổ biến.
Buffet ở đây đặc
biệt được lòng du khách nhờ nguyên liệu tươi, thực đơn thay đổi theo mùa và
không gian rộng rãi nhìn ra vườn cây xanh mát. Nếu không dùng buffet, bạn có
thể chọn các phần ăn lẻ với giá hợp lý, gồm cơm gà, mì Quảng, bún bò Huế… tại
khu vực nhà hàng Long Tiên nằm gần suối khoáng ngoài trời.
Một điểm thú vị không thể bỏ qua là trứng trường thọ được luộc trực tiếp trong dòng suối khoáng nóng. Chỉ cần vài chục phút chờ trứng chín, bạn đã có ngay món ăn vừa bổ dưỡng, vừa độc đáo để nạp thêm năng lượng sau khi tắm bùn, ngâm onsen.
Khu Du Lịch Bà Nà Hills
Không biết từ bao giờ, Khu du lịch Bà Nà
Hills đã gắn liền với những mỹ danh như “tiên cảnh nơi hạ giới” hay “Châu Âu
thu nhỏ giữa lòng Đà Nẵng”. Chẳng những sở hữu khí hậu mát mẻ, vô số địa điểm
check-in đẹp tựa tranh vẽ, Bà Nà Hills còn tạo được điểm nhấn đẹp trong lòng
#teamKlook với nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm, ăn uống… thú vị.
Nằm tại thôn An Sơn, xã Hòa Ninh, huyện
Hòa Vang – cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 25km về phía Tây Nam – Bà Nà
Hills là điểm đến nổi bật giữa lòng dãy Trường Sơn kỳ vĩ. Với độ cao 1.487m so
với mực nước biển, nơi đây được mệnh danh là “chốn bồng lai tiên cảnh” nhờ sở
hữu khí hậu đặc trưng bốn mùa trong một ngày, cùng cảnh quan thiên nhiên thơ
mộng giữa mây trời lãng đãng.
Tọa lạc giữa núi rừng xanh thẳm của Đà
Nẵng, Sun World Ba Na Hills không chỉ là một điểm đến – mà là cả một vũ
trụ cổ tích khiến du khách phải lòng từ cái nhìn đầu tiên. Không ngoa
khi gọi nơi đây là “chốn bồng lai tiên cảnh” – bởi chỉ cần bước chân lên cáp
treo, bạn sẽ thấy mình như được bốc lên mây theo đúng nghĩa
đen lẫn nghĩa bóng.
Trong chiếc cabin bay vút giữa trời,
toàn cảnh núi non trập trùng hiện ra trước mắt. Biển mây lững lờ trôi bên dưới,
từng thác nước trắng xóa đổ xuống triền núi – cảnh vật yên bình mà kỳ vĩ. Và
kia rồi – Cầu Vàng hiện ra như một dải lụa óng ả vắt ngang trời, được nâng niu
bởi đôi bàn tay khổng lồ phủ rêu phong – chỉ nhìn thôi đã muốn “check-in 1000
tấm hình”.
Nhưng Bà Nà đâu chỉ có mỗi sống ảo. Bạn
còn có thể “cày” hết mình ở Fantasy Park – công viên
giải trí trong nhà lớn nhất Việt Nam, thử thách adrenaline với trò tàu lượn
siêu tốc hay lạc vào thế giới 4D sống động. Từ vườn hoa Le Jardin
d’Amour lãng mạn như châu Âu đến hầm rượu Debay cổ
kính đầy mê hoặc – mỗi bước chân là một điểm dừng chân không thể bỏ lỡ.
Chưa kể đến dàn nhà hàng với thực đơn phong phú từ buffet Á – Âu đến ẩm thực truyền thống, tha hồ nạp năng lượng trước khi tiếp tục vi vu. Bà Nà Hills là nơi bạn có thể "quẩy" tưng bừng cùng gia đình, bạn bè hay tận hưởng những khoảnh khắc lãng mạn bên "người ấy". Còn chần chừ gì nữa, hãy đến và khám phá ngay thôi!
Thời Điểm Lý Tưởng Để Du Lịch Bà Nà
Hills
Thời tiết tại Bà Nà Hills thay đổi khá
nhanh trong ngày — sáng có thể se lạnh và mưa nhẹ, trưa trời nắng trong, chiều
lại phủ sương mù. Vì vậy, bạn nên theo dõi dự báo thời tiết trước chuyến đi để
chủ động hơn trong việc chuẩn bị trang phục và lịch trình vui chơi.
Khoảng thời gian lý tưởng nhất để khám
phá Bà Nà Hills là từ tháng 4 đến tháng 9. Lúc này, thời tiết thường khô ráo,
trời nắng đẹp, rất thuận lợi để tham quan, chụp ảnh và trải nghiệm trọn vẹn
không gian của khu du lịch trên đỉnh núi.
Nếu bạn muốn hòa mình vào không khí lễ hội rộn ràng, có thể lên kế hoạch đi vào mùa xuân (tháng 1 – tháng 3) hoặc mùa đông (tháng 10 – tháng 12). Tuy nhiên, thời tiết giai đoạn này có thể lạnh và ẩm hơn, đặc biệt vào sáng sớm hoặc chiều tối. Đừng quên mang theo áo khoác mỏng, ô dù hoặc áo mưa để giữ ấm và đảm bảo chuyến đi luôn thoải mái.
Đi Cáp Treo Lên Đỉnh Núi Bà Nà
Để đặt chân đến khu công viên giải trí
Sun World Bà Nà Hills, bạn sẽ bắt đầu bằng hành trình trên tuyến cáp treo đạt
đến bốn kỷ lục thế giới, với độ dài 5.801 mét và cao 1.368 mét – một trong
những tuyến cáp treo dài và cao nhất hành tinh. Hệ thống này được thiết kế theo
tiêu chuẩn châu Âu, không chỉ đảm bảo an toàn mà còn mang đến tầm nhìn “đắt
giá” trên không trung, thu trọn cảnh quan núi rừng Bà Nà và thành phố Đà Nẵng
phía xa.
Toàn khu du lịch hiện có 5 tuyến cáp treo chính:
✅ Bà Nà – Suối Mơ
✅ Debay – Morin
✅ Thác Tóc Tiên – L’Indochine
✅ Hội An – Marseille
✅ Bordeaux – Louvre
Mỗi tuyến đều mang đến một góc nhìn
riêng biệt, trong đó tuyến Thác Tóc Tiên – L’Indochine được xem là ấn tượng
nhất. Khi cabin lướt ngang qua thác Tóc Tiên – một dòng thác xanh ngọc bích
trong veo, tuôn chảy mạnh mẽ giữa rừng sâu – bạn sẽ nghe rõ tiếng nước róc rách
và cảm nhận được sự yên tĩnh tách biệt khỏi nhịp sống thường ngày.
Đặc biệt, cảm giác thay đổi nhiệt độ và độ ẩm khi cáp treo đưa bạn lên cao là một trải nghiệm không thể nào quên. Dưới chân núi có thể là nắng rực rỡ, nhưng chỉ sau vài phút, bạn đã ở trong làn mây mát lạnh, đôi khi còn có cả mưa phùn nhẹ và sương giăng mờ ảo. Chính khoảnh khắc ấy khiến hành trình đến Bà Nà Hills trở nên kỳ diệu hơn bao giờ hết.
Đi Tàu Hỏa Leo Núi Ở Sun World Ba Na
Hills
Từ ga Debay, trước khi đến thăm quan hầm
rượu cổ Debay, vườn hoa Le Jardin d’amour và chùa Linh Ứng, du khách sẽ có
chuyến du hành ngắn trên tàu hoả leo núi của hãng Garaventa. Bạn sẽ được vi vu
qua những triền núi, ngắm nhìn toàn cảnh rừng nguyên sinh thông qua tàu hỏa leo
núi. Tàu sẽ đưa bạn đến với vườn hoa Le Jardin d'Amour, hầm rượu cổ Debay,
tượng Phật, chùa Linh Ứng.
Tàu Hỏa Leo Núi Ở Sun World Ba Na Hills:
·
Thời gian vận hành: 8h00 – 16h45 - cứ 15 phút sẽ có 1 chuyến
tàu.
·
Thời gian phục vụ: 8h00 – 17h00 (vào mùa cao điểm, phục vụ đến
18:30).
· Giá vé : Hiện này vé cáp treo đã gộp chung vé tàu hỏa nên được miễn phí.
Giờ Mở Cửa Tại Sun World Bà Nà Hills
Sun World Bà Nà Hills mở cửa đón khách
mỗi ngày từ 8:00 sáng đến 10:00 tối, cho bạn thoải mái khám phá trọn vẹn “chốn
bồng lai tiên cảnh” giữa lòng Đà Nẵng.
·
Cáp treo bắt đầu vận hành từ 8:00 sáng và ngừng nhận khách lên
đỉnh vào khoảng 5:00 chiều – đừng khởi hành quá trễ để không bỏ lỡ những khung
cảnh tuyệt đẹp trên đường đi.
·
Fantasy Park, khu vui chơi trong nhà với hàng chục trò hấp dẫn,
mở cửa từ 7:00 sáng đến 5:00 chiều.
·
Buffet trưa tại các nhà hàng bắt đầu từ 11:00 sáng đến 3:30
chiều, với thực đơn phong phú từ Á đến Âu, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi – nạp năng
lượng sau khi tham quan.
Trải Nghiệm “Bà Nà By Night” Có Gì Hấp
Dẫn?
Nếu bạn đi vào mùa lễ hội hoặc thời gian cao điểm, đừng bỏ lỡ chương trình đặc biệt “Bà Nà By Night” với buffet tối từ 17:30 đến 21:00, các show nghệ thuật ánh sáng, biểu diễn ngoài trời và không gian check-in lung linh về đêm.
📌 Lưu ý: Chương trình “Bà Nà By Night” chỉ diễn ra theo lịch riêng. Bạn nên kiểm tra trước qua Klook hoặc fanpage chính thức của Sun World Bà Nà Hills để lên kế hoạch phù hợp.
Khu du lịch Bà Nà Hills được chia thành
4 khu vực chính, mỗi nơi mang đến một hành trình khám phá rất riêng – từ văn
hóa, ẩm thực cho đến các công trình kiến trúc đặc sắc.
1. Khu Chân Núi – Khởi Đầu Hành
Trình
Tại khu vực chân núi, bạn sẽ tìm thấy
khu ẩm thực – mua sắm sầm uất với nhiều món đặc sản miền Trung, quầy lưu niệm
độc đáo và không gian check-in xanh mát. Đừng quên dừng chân tại ga Suối Mơ để
khởi hành tuyến cáp treo, và nạp năng lượng tại các nhà hàng như Hội An trước
khi bắt đầu hành trình.
2. Ga Bà Nà – Dấu Ấn Tâm Linh Và
Văn Hóa
Sau khi vượt qua chặng cáp treo đầu
tiên, bạn sẽ đến ga Bà Nà, nơi có nhiều điểm tham quan tâm linh và kiến trúc
Pháp. Ghé thăm chùa Linh Ứng để tận hưởng không khí yên bình, tản bộ trong vườn
Tịnh Tâm, chiêm ngưỡng tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, hay thưởng thức món ngon tại
nhà hàng Doumer. Đặc biệt, đừng bỏ lỡ trải nghiệm trong hầm rượu Debay – di
tích còn sót lại từ thời Pháp thuộc.
3. Ga Morin – Trái Tim Của Bà Nà
Hills
Đây chính là khu vực nhộn nhịp và hấp
dẫn nhất. Làng Pháp với kiến trúc châu Âu cổ kính sẽ đưa bạn lạc vào khung cảnh
như trời Âu, trong khi Fantasy Park lại là thiên đường giải trí với hàng loạt
trò chơi từ nhẹ nhàng đến cảm giác mạnh. Nếu muốn nghỉ chân, khách sạn Morin sẽ
là điểm dừng lý tưởng với đầy đủ tiện nghi hiện đại và view tuyệt đẹp.
4. Đỉnh Bà Nà – Hòa Mình Vào
Không Gian Linh Thiêng
Chinh phục độ cao hơn 1.400m, bạn sẽ đến với khu vực đỉnh núi – nơi có đền Lĩnh Chúa Linh Từ, tháp chuông cổ và Trú Vũ Trà Quán – không gian lý tưởng để thưởng trà, thư giãn giữa không gian mây núi hùng vĩ.
Công Viên Sun World Ba Na Hills Có Gì Chơi?
Không phải ngẫu nhiên mà Sun World Ba Na Hills được mệnh danh là “chốn bồng lai tiên cảnh” giữa lòng Đà Nẵng. Nơi đây hội tụ hàng loạt trải nghiệm đắt giá: từ cầu Vàng nổi tiếng thế giới, làng Pháp lãng mạn, Fantasy Park cực “cháy” cho đến show diễn hoành tráng và các khu tâm linh yên bình. Dù bạn là tín đồ sống ảo, mê khám phá văn hoá, hay cuồng cảm giác mạnh – Bà Nà đều có “món” dành riêng cho bạn.
1. Làng Pháp & Châu Âu Thu Nhỏ
Làng Pháp là điểm dừng chân cuối cùng
của hành trình cáp treo, toạ lạc trên đỉnh núi Chúa. Khu vực này được thiết kế
theo kiến trúc Châu Âu cổ xưa, tựa như thành phố Paris của nước Pháp mộng mơ,
với những đỉnh tháp cao vút, những lâu đài yên bình.
Không cần phải đến tận châu Âu khi bạn có thể đến Làng Pháp ở Bà Nà Hills để cảm nhận sự lộng lẫy, nguy nga tráng lệ của những tòa lâu đài cổ kính, một vẻ đẹp rất châu Âu giữa lòng Đà Nẵng. Đây được xem là một công trình được thiết kế lối kiến trúc cổ xưa của thành phố Paris. Công trình được chia làm 7 khu vực, đại diện cho 7 nốt nhạc trong bản nhạc, mô phỏng quảng trường, thị trấn của nước Pháo thơ mộng, tạo nên một bức tranh cổ tích giữa lòng thành phố Đà Nẵng.
2. Cầu Vàng - Tọa Độ Sống Ảo Cực Chất
Ở trạm dừng chân của Ga Bordeaux chính
là Cầu Vàng - biểu tượng của Bà Nà Hills. Cầu Vàng tại Bà Nà Hills là một trong
100 những điểm đến tuyệt vời nhất thế giới (được tạp chí TIME bình chọn). Mặc
dù được khánh thành vào tháng 6/2018 nhưng hiện tại, Cầu Vàng vẫn chứng tỏ sức
hút của mình với sự xuất hiện dày đặc trên tài khoản mạng xã hội của dân du
lịch.
Nằm ở độ cao 1000 mét so với mực nước
biển, cây cầu nổi tiếng thế giới này dài 150 mét và nổi bật bởi hai bàn tay đá
khổng lồ nâng đỡ cây cầu. Hai bàn tay đá này được ví như những bàn tay khổng lồ
của các vị thần kéo một dải vàng ra khỏi vùng đất. Vào những ngày sương mù, cây
cầu sẽ khiến bạn có cảm giác như đang đi qua thiên đường được bao quanh bởi
những đám mây trắng xóa.
Đến Bà Nà Hills, chắc chắn ai ai cùng sẽ muốn check-in với biểu tượng sống ảo “huyền thoại” này, vì vậy, bạn nên đến đây vào sáng sớm, hoặc buổi chiều để tránh tình trạng phải chen chúc để chụp ảnh nhé! cũng đừng quên chuẩn bị áo mưa hay ô dù vì thời tiết tại đây thay đổi rất nhanh, bạn sẽ không kịp trở tay đâu đấy!
3. Hầm Rượu Debay
Ẩn mình giữa sương mù núi rừng, hầm rượu
Debay là một công trình mang đậm dấu ấn Pháp cổ, được xây dựng từ năm 1923. Đây
không chỉ là nơi cất giữ những thùng rượu vang hảo hạng trong điều kiện lý
tưởng với nhiệt độ ổn định từ 16–20°C, mà còn là một hành trình khám phá lịch
sử và văn hóa giữa lòng đất sâu đến 100 mét.
Bước vào hầm, bạn sẽ cảm nhận được không
khí mát lạnh và mùi gỗ sồi ngấm rượu thoảng trong không gian. Tại đây, đừng
quên thưởng thức một ly vang nồng nàn tại quầy bar phong cách Châu Âu – trải
nghiệm vừa cổ điển, vừa thi vị. Và nếu muốn mang theo chút dư vị nước Pháp về
nhà, hãy ghé khu mua sắm để chọn vài món quà lưu niệm tinh tế cho bạn bè, người
thân nhé!
·
Thời gian phục vụ: 8h00 - 17h00 (mùa cao điểm, hầm rượu Debay
phục vụ đến 18h30).
4. Vườn Hoa Le Jardin D'Amour
Từ Cầu Vàng, bạn có thể đi bộ một vài
bước để đến với Vườn Hoa Le Jardin D'Amour. Trong vườn hoa Le Jardin D'Amour là
9 khu vườn mang 9 cung bậc cảm xúc khác nhau về tình yêu: vườn Uyên Ương, vườn
Bí Mật, vườn Thần Thoại, vườn Ký Ức, vườn Địa Đàng, vườn Osaka, vườn Suy Tưởng,
sườn Suối Mơ, vườn Thiêng. Hãy đến Le Jardin D'Amour để thưởng ngoạn những nét
đẹp cổ điển trong không gian âm nhạc Pháp trữ tình, thơ mộng, tạo nhng phút
giây thư thái, tuyệt diệu.
·
Thời gian mở cửa: 8h00 - 18h00.
5. Bảo Tàng Tượng Sáp Ở Công Viên Bà Nà Hills
Đây là khu trưng bày tượng sáp đầu tiên tại Việt Nam, với các bản sao tượng sáp của nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới trong các lĩnh vực như: điện ảnh, ca nhạc, thể thao, chính trị gia,… Mỗi bức tượng là một tác phẩm nghệ thuật tinh xảo được thực hiện bởi những nghệ nhân người Ý. Bạn sẽ có cơ hội gặp gỡ 49 ngôi sao, doanh nhân, chính trị gia nổi tiếng thế giới như Angelia Jolie, Steve Jobs, Barack Obama, Lady Gaga,...
6. Lâu Đài Mặt Trăng
Tương truyền, Lâu đài Mặt Trăng được xây dựng trên Hang Rồng- nơi được cho là ngôi nhà của loài Rồng lửa, sinh vật huyền bí và cổ xưa nhất của Vương quốc Mặt Trăng. Lâu đài Mặt Trăng rộng lớn với tổng diện tích mặt sàn lên đến 38.000m2, được chia thành 4 tầng với các chủ đề độc đáo như Hang Rồng, Sói Quyền Năng, Cú Tinh Anh và Quảng trường Ánh Trăng. Đặc biệt, sân khấu lớn với sức chứa 2.000 chỗ ngồi là nơi diễn ra các show diễn đẳng cấp, tạo nên những trải nghiệm đầy ấn tượng cho du khách.
7. Thác Thần Mặt Trời
Quần thể này bao gồm 43 bức tượng theo
chủ đề huyền thoại Hy Lạp, tạo nên một khung cảnh ấn tượng. Bạn sẽ bị choáng
ngợp trước sự tái hiện của các tác phẩm nổi tiếng từ những bảo tàng lớn trên
thế giới, như thần ánh sáng Apollo, thần tình yêu Venus và nữ thần chiến tranh
Athena. Đây thực sự là những "báu vật La Mã" đầy quyền năng và thu
hút sự chú ý của mọi người.
(*) Vé bảo tàng sáp không bao gồm trong , bạn cần trả phí tham quan 100.000đ tại cổng Bảo tàng tượng sáp.
8. Fantasy Park - Công Viên Trong Nhà Hàng Đầu Việt Nam
Nếu bạn đang tìm kiếm một không gian
giải trí đỉnh cao thì Fantasy Park chính là thiên đường dành cho mọi lứa tuổi.
Đây là khu vui chơi trong nhà lớn nhất Việt Nam, với hơn 100 trò chơi đa dạng,
từ nhẹ nhàng thư giãn đến các trò cảm giác mạnh “đầy adrenaline” – tha hồ bung
xoã nguyên ngày!
Điều tuyệt vời là vé vào cổng Bà Nà
Hills đã bao gồm tới 90 trò chơi tại Fantasy Park, quá hời cho một ngày “chơi
tới bến”. Từ xe điện đụng, đu quay, leo núi nhân tạo cho đến tháp rơi tự do hay
phòng chiếu phim 4D… không thiếu thứ gì để bạn trải nghiệm.
Đừng bỏ lỡ Back to Jurassic – một điểm nhấn cực chất trong khuôn viên Fantasy Park. Cảnh vật, âm thanh và mô hình khủng long siêu thực sẽ đưa bạn quay ngược thời gian về thời tiền sử, sống trọn cảm giác thám hiểm giữa rừng rậm khủng long như trong phim bom tấn!
9. Đường Trượt Đôi Tốc Độ Số 01 & 02
Một trong những trải nghiệm cảm giác
mạnh “phê” nhất định phải thử khi đến Bà Nà Hills chính là Đường Trượt Đôi Tốc
Độ cao số 01 & 02. Đây là tổ hợp máng trượt hiện đại với 2 vòng xoắn kép
liên hoàn, lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, hứa hẹn mang đến cho bạn cảm
giác “la hét đã đời” trong từng khúc cua.
Bạn sẽ được tự tay điều khiển tốc độ
máng trượt theo ý muốn – đủ để chinh phục những pha đổ dốc thần tốc nhưng vẫn
an toàn tuyệt đối. Đặc biệt, đoạn đường uốn lượn giữa thiên nhiên núi rừng Bà
Nà chắc chắn sẽ khiến tim bạn vừa hồi hộp, vừa thích thú. Đừng bỏ lỡ!
10. Thác Rơi Tự Do
Thác Rơi Tự Do – không dành cho tim yếu! Bạn sẽ được nâng lên độ cao 29 mét, sau đó… bùm! – rơi thẳng xuống trong tích tắc. Trò chơi này không chỉ là cú rơi vật lý mà còn là cú “rớt tim” đầy phấn khích. Từ hồi hộp, bất ngờ, đến hưng phấn cực độ – tất cả cảm xúc sẽ ùa đến chỉ trong vài giây ngắn ngủi. Và nếu bạn đủ tỉnh táo trong lúc đó, hãy liếc nhìn khung cảnh ngoạn mục từ trên cao – cực kỳ mãn nhãn.
11. Đu Bay Diệu Kỳ
Đu Bay Diệu Kỳ lại là một chuyến phiêu lưu khác biệt – nhưng không kém phần hồi hộp. Lấy cảm hứng từ chuyến đi huyền thoại của Phileas Fogg trong tiểu thuyết “80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới” của Jules Verne, trò chơi này sẽ đưa bạn bay lượn giữa bầu trời, mô phỏng các phương tiện giao thông mà nhân vật từng dùng. Hãy sẵn sàng cho một hành trình không tưởng, bay qua những kỳ quan thế giới – như một nhà thám hiểm thực thụ!
12. Vòng Quay Thiên Mã
Trong những hội chợ Châu Âu thời Trung
cổ, không thể thiếu trò chơi dân gian đặc trưng kèm theo những chú ngựa gỗ vui
nhộn. Hãy trở về tuổi thơ và tham gia vào trò chơi "Vòng quay Thiên
Mã" thú vị, mà mọi người mọi lứa tuổi đều có thể tham gia.
Bạn sẽ được nhảy lên một chú ngựa gỗ và trải qua những vòng quay kỳ thú, như một hành trình trở về quá khứ. Trò chơi này sẽ mang đến cho bạn những tràng cười, niềm vui và kỷ niệm đáng nhớ trong một không gian châu Âu thời Trung cổ tuyệt đẹp.
13. Rạp Chiếu Phim Airship “Mắt Bay”
Tọa lạc tại tầng 3 của Lâu đài Mặt Trăng, nơi mà nàng Cú Tinh Anh và thư viện Trí Tuệ cùng nhau ngự trị, đảm bảo sẽ khiến du khách choáng ngợp trước khối lượng tri thức về phép thuật và thế giới hiện đại. Hãy đến đây để bước vào thế giới kỳ thú của Xứ sở Khổng lồ, ngắm nhìn những cảnh tượng tuyệt vời qua ánh mắt sắc bén của nàng Cú Tinh Anh tại rạp chiếu phim Airship Mắt Bay bạn nhé!
Các Lễ Hội & Sự Kiện Sôi Động Ở Sun
World Ba Na Hills
Bà Nà Hills xứng danh thiên đường giải
trí, khi thường xuyên tổ chức các lễ hội sôi động quanh năm. Mỗi mùa, Bà Nà
Hills lại khoác lên mình một chiếc áo mới, mang đến những trải nghiệm văn hoá
độc đáo và khó quên. Cùng Klook "nghía" qua lịch trình lễ hội xịn sò
này và lên kế hoạch "quẩy" tưng bừng thôi nào!
1. Các Lễ Hội Hoa Ở Bà Nà Hills
Bạn sẽ được chiêm ngưỡng vô vàng các
loài hoa đua nhau khoe sắc như: hoa Tulip, hoa Đào chuông, hoa Cẩm tú cầu, hoa
Thanh anh (Aparang),... Đặc biệt, Lễ hội hoa Tulip với 1 triệu đóa Tulip phủ
kín vườn hoa tình yêu Le Jardin D'Amour sẽ khiến bạn ngỡ như lạc vào xứ sở thần
tiên. Lễ hội này đã được Tổ chức Kỷ lục Guiness Việt Nam công nhận là "Lễ
hội hoa Tulip lớn nhất Việt Nam", mang đến cho bạn cơ hội chiêm ngưỡng vẻ
đẹp rực rỡ của loài hoa này ngay tại quê nhà.
· Thời gian: Tháng 02 - Tháng 03 hàng năm.
2. Lễ Hội Carnival Mùa Hè Ở Bà Nà Hills
Được tổ chức vào tháng 5 hàng năm, đây
là lễ hội mang lại không khí mùa hè sôi động với những màn trình diễn, hóa
trang của các vũ công chuyen nghiệp. Không chỉ được chụp ảnh với các vũ công
trong trang phục màu sắc, bạn còn được chiêm ngưỡng các màn trình diễn công phu
từ múa, hát, xiếc, ảo thuật, hoá trang, đi cà kheo từ hơn 100 nghệ sĩ và vũ
công đến từ châu Âu thể hiện, với nhiều chủ đề khác nhau, thay đổi theo từng
năm. Đây chắc chắn là lễ hội mà bạn không thể bỏ lỡ khi đến Bà Nà Hills vào mùa
hè.
· Thời gian: Tháng 05 - Tháng 09.
3. Lễ Hội Bia B'estival Ở Bà Nà Hills
B'estival - một phiên bản khác của
Oktoberfest, được xem là Lễ hội bia có nhiều người tham gia nhất Việt Nam, với
nhiều sự kiện và hoạt động hấp dẫn dành cho du khách. Đến với B'estival, bạn sẽ
được sống trong không khí lễ hội đặc sắc, say trong men bia và thưởng thức
hương vị ẩm thực đặc trưng, hòa vào đó là những vũ điệu kết hợp với âm nhạc sôi
động.
·
Thời gian: Tháng 05 - Tháng 09 hàng năm.
4. Lễ Hội Halloween Ở Bà Nà Hills
Một lễ hội vốn không còn xa lạ ở phương
Tây, nay được tái hiện tại Bà Nà Hills qua những câu chuyện cổ tích, những bộ
phim kinh dị, và được thể hiện bằng ngôn ngữ của nghệ thuật nhảy múa lôi cuốn
của các nghệ sỹ quốc tế. Đặc biệt, những quả bí ngô sẽ không thể thiếu trong lễ
hội Halloween, đừng quên check-in với những quả bí ngô khổng lồ, bạn nhé!
· Thời gian: Tháng 9 - Tháng 10 hàng năm.
5. Lễ Hội Rượu Vang Ở Bà Nà Hills
Tại Lễ Hội Rượu Vang được tổ chức vào
mùa thu, bạn sẽ được trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất rượu nho - món
rượu trứ danh của nước Pháp. Một trong những hoạt động truyền thống rất được
yêu thích và chờ đón tại các lễ hội vang châu Âu là nghi lễ La Batalla del Vino
(Trận chiến của rượu vang). Nghi lễ này sẽ được tái hiện tại Bà Nà Hills một
cách chân thực, giúp bạn hiểu rõ hơn về món đồ uống nổi tiếng của Pháp.
· Thời gian: Tháng 5 hàng năm.
6. Lễ Hội Mùa Đông Ở Bà Nà Hills
Tận hưởng không khí Giáng Sinh tại độ
cao 1.487m, tại sao không? Bạn sẽ đắm chìm trong khung cảnh mùa đông Châu Ân
lãng mạn cùng nhiều hoạt động trải nghiệm và chương trình biểu diễn đặc sắc.
·
Thời gian: Tháng 11 - tháng 12 hàng năm.
Các Công Trình Tâm Linh Tại Sun World Ba
Na Hills Đà Nẵng
Giữa không gian mờ sương và thiên nhiên
hùng vĩ của Bà Nà Hills, những công trình tâm linh hiện lên đầy trang nghiêm và
thanh tịnh. Hãy cùng Klook khám phá các điểm đến linh thiêng tại Bà Nà, nơi tâm
hồn bạn được “chữa lành” giữa chốn mây trời.
1. Chùa Linh Ứng - Bà Nà
Nằm ở độ cao 1.500m so với mực nước
biển, chùa Linh Ứng tại Bà Nà Hills không chỉ là nơi chiêm bái linh thiêng mà
còn là điểm săn mây lý tưởng được nhiều du khách yêu thích. Cùng với hai ngôi
chùa Linh Ứng còn lại tại Ngũ Hành Sơn và Bãi Bụt Sơn Trà, ngôi chùa tạo nên
thế "kiềng ba chân" vững chắc bảo hộ cho thành phố Đà Nẵng.
Giữa không gian núi non hùng vĩ, chùa Linh Ứng nổi bật với tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni uy nghi giữa trời mây bảng lảng. Dừng chân nơi đây, bạn sẽ cảm nhận được sự bình yên lan tỏa trong từng hơi thở – một trải nghiệm vừa thanh tịnh, vừa ngoạn mục mà chỉ riêng Bà Nà mới có thể mang lại.
2. Trú Vũ Trà Quán
Khuất phía sau Làng Pháp là Trú Vũ Trà
Quán, nơi để bạn "dừng chân giữa thế gian vội vã". Trà quán được
thiết kế theo kiến trúc của miền Bắc Việt Nam, đơn giản và tinh tế.
Bên ngoài khuôn viên được trang trí với dàn cây, gần gũi với thiên nhiên, bên
trong được thiết kế theo phong cách thiền - một chiếc bàn vuông thấp, được đặt
trên chiếc chiếu mỏng, người thưởng trà sẽ ngồi trên một tấm thảm lót, thưởng
thức hương vị của nhiều loại trà khác nhau.
Đây cũng là một địa điểm ít người đến, vì nằm khuất sau Làng Pháp, đến Bà Nà Hills, hãy dành cho bản thân một không gian tĩnh lặng và cảm nhận sự an yên thông qua sự kết hợp của kiến trúc, trà đạo, âm nhạc và cảnh sắc thiên nhiên tại đây nhé!
Các Địa Chỉ Ăn Uống Xịn Sò Ở Công
Viên Bà Nà Hills - Đà Nẵng
1. Beer Plaza Ở Bà Nà Hills
Đến Bà Nà Hills mà muốn "dzô
dzô" cùng bạn bè thì nhất định phải ghé Beer Plaza! Nằm ngay trong khu
Làng Pháp, nhà hàng này được thiết kế độc đáo như một chiếc thùng bia thủy tinh
khổng lồ, lấp lánh dưới ánh nắng, phản chiếu mây trời và cảnh vật xung quanh.
Không chỉ có không gian xịn sò, Beer
Plaza còn phục vụ menu đồ ăn và bia cực đỉnh, tha hồ cho bạn lựa chọn. Đặc
biệt, buffet trưa tại đây vốn nổi tiếng với đủ món Á - Âu, hải sản tươi sống,
đảm bảo bạn sẽ no căng bụng mà vẫn muốn ăn thêm.
Giờ mở cửa:
·
Nhà hàng: 9h00 - 22h00
· Buffet: 11h00 - 15h00
2. Nhà Hàng Buffet La Lavande
Nằm sau nhà thờ Saint Denis, thuộc khu
Làng Pháp, La Lavande tạo nên một không gian ẩm thực ấm cúng cùng với hơn 70
món ăn hấp dẫn đặc trưng của Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, món Âu…
·
Thời gian phục vụ: 11h00 – 15h00.
3. Nhà Hàng Aparang
Nhà hàng Arapang nằm ở khu vực quảng
trường Du Dome. Với các quầy buffet ngon lành, được bày biện khắp nhà hàng làm
nên một bữa tiệc vị giác đúng điệu cho du khách. Các quầy thức ăn đa dạng như:
salad, thịt nguội, bánh nóng Việt Nam, món nước, chiên và đút lò, món nóng,
bánh và chè, trái cây, nước uống với hơn 70 món Việt Nam tự chọn.
· Thời gian phục vụ: 11h00 - 15h00.
4. Nhà Hàng Rosa Fried Chicken
Rosa Fried Chicken, một nhà hàng chuyên
phục vụ thức ăn nhanh, là điểm đến lý tưởng cho du khách tại Bà Nà. Với đặc sản
chính là gà rán và các loại sốt hoa hồng độc đáo, nhà hàng này mang đến những
trải nghiệm ẩm thực đặc biệt và không thể quên.
·
Giờ phục vụ: 8:30 – 16:30
·
Địa điểm: Morin Garden
5. Nhà Hàng Taiga
Nhà hàng Taiga là một địa điểm ẩm thực
độc đáo tại Bà Nà, lấy cảm hứng từ khu sinh thái rừng cây lá kim. Với 3 tầng
thiết kế theo concept Tết Buffet, nhà hàng mang đến hơn 90 món ăn chuẩn vị, đậm
đà hương vị ẩm thực truyền thống Việt Nam.
Tại Taiga, du khách sẽ được trải nghiệm
không chỉ hương vị tuyệt hảo mà còn cả những câu chuyện về các dịp Tết truyền
thống của người Việt Nam như Tết Đoan Ngọ, Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết
Thiếu Nhi, Tết Trung Thu, Tết Hàn Thực... Những món đặc trưng như Gỏi Quả su su
rừng Bà Nà, Gỏi ngó sen tôm thịt, Cá Mú hấp xì dầu, Vịt quay Nghệ Nhân, Gà Đèo
Le Nướng lá mắc mật, Lợn Sữa quay, Ba chỉ rang cháy cạnh, Bê nướng riềng mẽ...
·
Giá vé 350.000 VNĐ
· Giờ phục vụ: 10:30 – 15:00
6. Nhà Hàng Little Tokyo
Litte Tokyo in Banahills là một nhà hàng
buffet đặc biệt tại Bà Nà Hills, nổi bật với thực đơn đa dạng các món ăn truyền
thống của xứ sở Hoa Anh Đào, được chế biến với sự tinh tế và chất lượng theo
tiêu chuẩn Nhật Bản.
·
Giá vé 300.000 VNĐ
·
Giờ phục vụ: 10:30 – 15:00
7. Nhà Hàng Le Petrin
Le Petrin, một tiệm bánh độc đáo tại Bà
Nà Hills, đã trở thành điểm đến lý tưởng và được yêu thích bởi du khách nhờ hương
thơm quyến rũ của các loại bánh ngọt và bánh tươi hấp dẫn. Đặc biệt, không gian
của tiệm bánh mang đậm chất lãng mạn và tinh tế, cho phép khách hàng ngồi trong
nhà hoặc ngoài sân để tận hưởng không khí như đang lạc vào một góc trời ở châu
Âu.
·
Giờ phục vụ: 8:00 – 17:00
· Địa điểm: Làng Pháp
Chùa Bồ Đề
1. Giới thiệu chùa Bồ Đề Đà Nẵng
- Địa chỉ: Đường Hoàng Thị Loan, phường Hòa Khánh,
TP Đà Nẵng.
Nhắc đến các địa điểm du lịch Đà Nẵng, chùa Thiền Viện Bồ
Đề Đà Nẵng sẽ được nhiều du khách biết đến với vẻ đẹp nên thơ của thiên nhiên
cùng với nét đẹp tâm linh, cổ kính của các công trình kiến trúc bên
trong.
Đây là ngôi chùa được Hòa Thượng Thích Minh Tuấn khai sơn và trụ trì. Ngôi chùa được tiến hành xây dựng từ năm 1995, vì vậy không gian bên trong chùa vẫn còn rất mới mẻ. Du khách đến tham quan có thể đi qua 3 khu vực chính: Bảo tháp 12 tầng, tượng Quan Âm Bồ Tát và khu vực chính diện. Đây đều là những điểm du lịch tâm linh thanh tịnh, bạn vừa thư giãn, vừa có thể ghi lại những tấm hình check-in.
2. Bảo tháp chùa Bồ Đề Đà Nẵng với hơn
10 ngàn tượng phật
Một
trong những điểm nhấn của Thiền Viện Bồ Đề Đà Nẵng đó là bảo tháp với hơn 10
ngàn tượng phật. Cụ thể, ngôi bảo tháp này được hoàn thiện vào năm 2010 với 12
tầng. Chiều cao của tháp lên tới 65m. Tòa tháp này thờ phụng 10 ngàn tượng Đức
Phật A Di Đà.
Ngôi
chùa Bồ Đề Đà Nẵng mang đến cho du khách sự uy nghiêm, thiêng liêng khi đến
tham quan tại đây. Bước vào bên trong, bạn như lạc vào một chốn thần thiên, khi
tâm hồn được thư giãn, an yên với đất trời.
3. Tượng phật cao nhất Việt Nam tại chùa Bồ Đề Đà
Nẵng
Tượng
quan âm Bồ Tát tại chùa Bồ Đề Đà Nẵng là ngôi tượng phật cao nhất tại Việt Nam
cho tới thời điểm hiện tại. Trước tượng phật, nhà chùa thường tổ chức các khóa
tu thu hút một lượng lớn Phật tử tham gia.
Công trình được xây dựng từ những ngày đầu chùa Bồ Đề Đà Nẵng thành lập, dưới kinh phí tích lũy từ sự đóng góp của các tăng ni, phật tử, các mạnh thường quân. Dưới chân tượng phật, các khóa tu được diễn ra theo định kỳ, nơi các tăng ni, phật tử và du khách có thể nghe thuyết giảng về cuộc sống để tâm thanh tịnh, có được cuộc sống lành mạnh hơn.
Từ thành phố Đà Nắng, chạy ra ngã 3 Huế và đi về thị trấn Liên Chiểu chúng ta sẽ đến với khu du lịch Bà Nà. Đi qua cầu Nam Ô, nhìn về bên phải là biển Xuân Thiều.
Bãi Biển Xuân Thiều
Cách bãi biển Nam Ô
chừng 3 km về phía Nam là bãi tắm Xuân Thiều – một địa danh gắn liền với sự kiện
lịch sử – tháng 3 năm 1965, lữ đoàn số 9 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ
vào đây, mở đầu cho chiến lược ‘Chiến tranh cục bộ” của Mỹ tại Việt Nam.
Bãi tắm này trước năm
1975 chỉ dành riêng cho binh lính Mỹ vì đây
là khu quân sự, có sân bay dã chiến
và kho quân nhu của Mỹ, cùng hệ thống bố phòng
bảo vệ thành phố Đà Nắng từ
phía Bắc. Binh lính Mỹ
gọi bãi tắm Xuân Thiều là ‘Red Beach”
(tức Biển Đỏ – có lẽ do cảm giác trực quan khi nhìn bình minh lên và cả lúc mặt trời lặn, mặt nước biển
phản chiếu có màu đỏ).
Từ năm 1992, khu
du lịch Xuân Thiều được thành lập. Hệ thống dịch vụ tương đối liên hoàn, đầy đủ
bao gồm khách sạn, nhà hàng, một số dịch vụ vui chơi giải trí, phục vụ tắm biển… có thể đáp ứng nhu
cầu của khách.
Từ đây chúng ta sẽ tới đèo Hải Vân
Đường Hầm Xuyên Hải Vân
Hầm Hải Vân là hầm đường bộ dài nhất Đông Nam Á, xuyên qua đèo Hải Vân,
nối liền tỉnh Thừa Thiên- Huế với thành phố Đà Nắng ở miền
Trung Việt Nam. Được khánh thành vào năm 2005
Đường hầm chính: dài 6.280 m, rộng 10 m, độ cao xe cho phép đi qua là 7,5 m.
Đường hầm thoát hiểm: dài 6.280 m, rộng 4,7 m, cao 3,8 m.
Đường hầm thông
gió: dài 1.810 m, rộng 8,2 m,
cao 5,3 m.
Để bảo đảm
an toàn giao thông và ứng phó với các tình huống khẩn cấp, trong hầm được trang
bị các hệ thống: đèn chiếu sáng, thông gió, báo cháy và chữa cháy, điện thoại khẩn cấp, phát
thanh radio, camera quan sát (52 cái) cũng như hệ thống giám sát và điều khiển
giao thông.
Công trình còn chứa hầm lọc bụi tĩnh điện dài 153 m, rộng 10,2 m, cao 6,7 m. Thể tích đất đá phải đào khi xây hầm là 600.000 m³.
Qua hết đèo Hải Vân là chúng ta đã đến địa phận của tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên-Huế
Thừa Thiên-Huế
là một tỉnh ven biển nằm
ở vùng
Diện tích của
tỉnh là 5.053,99 km², dân số năm 2005 là 1.134.480 người.
Thừa Thiên-Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía
bắc, biển Đông về phía đông, thành phố
Đà Nắng, tỉnh
Quảng Nam về phía nam, Trường
Sơn và Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào về phía tây. Thừa Thiên-Huế
cách Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và Thành phố Hồ Chí Minh 1.071 km.
Thời Nguyễn,
Thừa Thiên là phủ. Thời thuộc Pháp được đổi làm tỉnh. Năm 1976, tỉnh sát nhập với Quảng
Bình và Quảng Trị thành tỉnh Bình Trị Thiên. Theo Quyết định ngày 30 tháng 6 năm 1989 tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa VIII nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ba tỉnh này lại được tách
ra như cũ, riêng tỉnh Thừa Thiên sau khi tách thì mang tên gọi mới:
Thừa Thiên-Huế.
Khi tới Huế, theo quốc lộ 1A chúng
ta sẽ đi qua huyện Phú
Lộc. Phía bên phải quốc lộ 1A là Lăng Cô
Lăng Cô
Khu du lịch Lăng Cô là một trong bốn vùng du lịch trọng điểm quốc gia. Với diện tích gần 14.000
m2, địa điểm này kết hợp được vẻ
hoang sơ của rừng núi và không gian thoáng đãng của biển cả.
Nằm gần khu du lịch sinh thái vườn quốc gia Bạch Mã,
Lăng Cô kết hợp được không khí hoang sơ của
rừng núi và đặc trưng ồn ào,
nhộn nhịp của vùng biển nhiều tàu thuyền qua lại. Du khách đến với
Lăng Cô theo nhiều nhóm khác nhau,
người đến để câu cá, lặn biển, người khác muốn leo núi, thăm rừng. Cũng có cả
những du khách lớn tuổi ghé Lăng Cô đơn giản là để tĩnh dưỡng. Con người
hiền hòa, khí hậu lúc mưa không mưa nhiều, khi nắng không nắng quá, cảnh quan
trật tự, ngăn nắp. Khu nghỉ dưỡng Lăng Cô có
khoảng 70 phòng, trong đó 45 phòng là dạng biệt thự
có kiến trúc theo kiểu nhà
vườn Huế. Cây xanh xen lẫn cảnh vật, nơi đây đầy đủ
tiêu chuẩn của khu nghỉ mát 4 sao. Với những du khách mới đến, từng nhịp cầu
cong đặt bên những chiếc ô che kiểu Hawaii, tán thông xanh mơ màng ngay cạnh
những gốc cau cảnh… mang một vẻ đẹp rạng ngời, giống y như màu nắng và màu cát
trắng nơi đây.
Ở Lăng Cô, ẩm thực của Huế và Đà Nắng hòa hợp với nhau nhịp nhàngvà ăn ý. Món bánh canh ngọt lịm vị chả cua, đĩa ghẹ luộc nguyên con đỏ au mời gọi, bát bún riêu có thêm miếng càng cua đã bóc vỏ trắng muốt ăn cho vui miệng… Ăn xong thì hiểu thế nào là miếng ngon nhớ đời
Ngay phía bên phải quốc lộ là đầm Lăng Cô.
Vịnh Lăng Cô Huế - khám phá một
trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới
Vịnh Lăng Cô
Huế được mệnh danh là một trong những vịnh biển đẹp nhất hành tinh. Nơi đây nổi
tiếng với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt mỹ có cả sông, núi, biển và đầm phá say
đắm lòng người. Vịnh Lăng Cô là vịnh biển gần như
nguyên sơ, khung cảnh non nước hữu tình và là một trong những thắng cảnh du
lịch nổi tiếng của Thừa Thiên Huế. Địa danh “Lăng Cô” có người cho rằng là do
người Pháp đọc trại tên “An Cư”, vốn là làng chài ở phía nam đầm. Cũng có người
cho rằng lúc trước ở Lăng Cô có nhiều đàn cò, nên được gọi là Làng Cò, sau đó
được dân địa phương đọc trại lại là Lăng Cô.
Được ví như một trong những điểm đến nghỉ dưỡng lý tưởng bởi vịnh nằm lọt
thỏm giữa nhánh của dãy Trường Sơn đâm ra biển, một bên là đèo Hải Vân, một bên
là đèo Phú Gia, Lăng Cô hiện lên là một dãy cồn cát tuyệt đẹp và chạy dài gắn
liền với những khu rừng nhiệt đới, những con đường đèo uốn cong, những dãy núi
đá cong vút cùng với những cuộc khám phá kỳ thú lên rừng xuống biển; trải
nghiệm các loại hình du lịch biển khác nhau như tắm biển, lặn biển hay nghỉ
dưỡng…
Thời điểm lý tưởng để đến với Lăng Cô là vào mùa hè, từ tháng 4 đến tháng
7, du khách dễ dàng tận hưởng một kỳ nghỉ tuyệt vời. Ngoài ra, ẩm thực ở Lăng
Cô rất phong phú, đa dạng với các món hải sản tươi ngon hấp dẫn. Đặc biệt nhất
là con hàu. Hàu ở Lăng Cô có vị ngọt mặn đậm đà lẫn với vị beo béo khác lạ.
Với vị trí thuận lợi và sở hữu cho mình phong cảnh thiên nhiên hữu tình cùng với nhiều khu nghỉ dưỡng nổi tiếng, vịnh Lăng Cô – một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới, là điểm đến lý tưởng được nhiều du khách lựa chọn trong chuyến du lịch hè.
1. Giới thiệu về vịnh Lăng Cô Huế
Vịnh Lăng Cô thuộc địa phận huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm cạnh quốc lộ 1A, ngay dưới chân đèo Hải Vân, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 60km và thành phố Đà Nẵng 20km. Vịnh có chiều dài 42,5 km, bãi tắm Lăng Cô có bãi cát đẹp mịn màng dài tới hơn 10km, mặt nước biển trong xanh, nơi có nhiều khu nghỉ mát.
Năm 2009, vịnh Lăng Cô Huế từng được đánh giá là một trong những vịnh biển đẹp nhất trên thế giới do Worldbays bình chọn. Nơi đây dường như là địa điểm hội tụ tất cả những gì hoàn mỹ nhất, từ núi non hùng vĩ, bãi cát trắng trải dài, cho đến biển xanh mênh mông và nắng vàng lung linh, ấm áp.
2. Những địa điểm tham quan nổi tiếng
khi đến vịnh Lăng Cô Huế
Vịnh Lăng Cô Huế có rất nhiều địa điểm du lịch thú vị
mang đến những trải nghiệm khó quên cho du khách. Sau đây là một số địa điểm
hấp dẫn mà du khách không nên bỏ qua khi đến vịnh biển đẹp nhất thế giới này.
Biển Cảnh
Dương
Cảnh Dương là một bãi biển Lăng Cô nằm ngay phía dưới
Laguna, bên cạnh cảng Chân Mây. Bãi biển Lăng Cô Beach này đã khiến biết bao du
khách phải say đắm bởi vẻ đẹp hoang sơ với hình ảnh bãi cát trắng mịn hình vòng
cung ôm ấp và vỗ về biển cả mênh mông.
Một trải nghiệm không nên bỏ lỡ khi đến biển
Cảnh Dương đó chính là ngắm nhìn bình
minh dần xuất hiện phía đường chân trời. Đây là khoảnh khắc tuyệt vời, không
chỉ khiến người nhìn có cảm giác mãn nhãn mà còn là thời điểm lý tưởng để có
những bức ảnh sống ảo cực phẩm.
Khép mình bên vịnh nước sâu Chân Mây (TP.Huế), sát khu
resort Laguna đắt giá, làng biển Cảnh Dương đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu
tình với núi thẳm, biển xanh, cát vàng thơ mộng...
Địa thế trời
ban
Cảnh Dương nằm
hai bên sông Bù Lu, có núi, có bãi cát dài tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp. Làng ven biển này thuộc địa phận xã Chân Mây - Lăng Cô, TP.Huế (nguyên
là xã Lộc Vĩnh, H.Phú Lộc cũ). Sông Bù Lu (tên chữ là Phú Xuyên) xuất phát từ
đỉnh Cam Thủy sườn đông nam dãy Bạch Mã chảy về, trước khi hòa vào Biển Đông đã
men theo núi Cù Dù uốn lượn tạo nên cảnh sắc sơn thủy hữu tình.
Núi Cù Dù là điểm cuối của dãy núi kéo dài từ Bạch Mã qua đèo Phước Tượng vươn ra biển ở mũi Chân Mây Tây, trong khi dãy núi Phú Gia phía nam vòng ra mũi Chân Mây Đông đã khép vòng cung tạo nên vịnh nước sâu Chân Mây đang được khai thác cảng biển với hàng trăm tàu hàng, tàu du lịch cập cảnh mỗi năm.
Vẻ đẹp của Cảnh Dương không chỉ dừng lại ở cảnh sắc thiên nhiên và sự
phát triển du lịch. Ngôi làng này còn chứa đựng một bề dày lịch sử.
Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán
triều Nguyễn chép: "Bắt nguồn từ núi Cam Thủy, chảy theo hướng đông, đến
cầu nước Ngọt trên đường trạm là sông Phú Xuyên; lại chảy theo hướng đông, đến
phía nam núi Hoài An độ một dặm rồi chảy theo hướng bắc đổ vào cửa biển Cảnh
Dương".
Dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, cửa biển Cảnh
Dương luôn được chú trọng bố phòng, là 1 trong 5 cửa biển quan trọng của tỉnh
Thừa Thiên - Huế (cũ). Theo tác giả Mai Văn Được (giảng viên Khoa Lịch sử -
Trường ĐH Khoa học, ĐH Huế), làng Cảnh Dương được thành lập vào khoảng cuối thế
kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18. Làng Cảnh Dương từng có tên gọi hành chính là phường,
sau đó đổi thành ấp, và cuối cùng là thôn như ngày nay. Ngôi làng được
chia thành 3 xóm: xóm Trảng, xóm Giữa và xóm Quán. Trải qua nhiều biến thiên
của lịch sử, nhiều tư liệu bị mất mát, nhưng giá trị văn hóa và truyền thống
vẫn được người dân Cảnh Dương gìn giữ, phát huy.
Lựa chọn cho
những trải nghiệm lãng mạn
Làng có cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp, nằm trong Khu du
lịch quốc gia Lăng Cô - Cảnh Dương (thuộc Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô) trong
quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Lăng Cô - Cảnh Dương đến năm
2025, tầm nhìn đến năm 2030 theo Quyết định số 1774/QĐ-TTg ngày 19.12.2018 của
Thủ tướng Chính phủ.
Nhưng đến nay, tiềm năng du lịch của Cảnh Dương vẫn chưa được đánh thức và khai thác xứng tầm.
Nằm sát bên khu du lịch 5 sao Laguna nổi tiếng được đầu
tư hiện đại, làng biển Cảnh Dương vẫn là một làng quê thuần biển với người dân
quanh năm đánh bắt hải sản gần bờ.
Ông Bùi Ngọc Thơ, trưởng thôn Cảnh Dương, cho biết làng
có 803 hộ với hơn 3.000 khẩu, từ bao đời nay sống nhờ "đầu sóng, ngọn
gió". Những năm gần đây, với sự phát triển của du lịch, đời sống bà con đã
có nhiều khởi sắc.
"Nhiều người mạnh dạn đầu tư hàng quán, làm thay đổi bộ mặt của vùng biển nghèo, thu hút rất đông du khách, đời sống bà con cũng dần cải thiện," ông Thơ chia sẻ.
Hiện tại, biển Cảnh Dương đã có 11 nhà hàng và 8 địa điểm
lưu trú, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người dân địa phương. Tuy nhiên, du
lịch địa phương vẫn chủ yếu khai thác dịch vụ tự phát, chưa có sự đầu tư bài
bản. Bờ biển hiện tại được người dân thuê mặt bằng của xã để mở nhà hàng nhưng
cũng chỉ kinh doanh được 6 tháng mùa nắng.
Chưa được đầu tư xứng tầm, nhưng biển Cảnh Dương vẫn là
lựa chọn yêu thích của giới trẻ. Sở hữu đường bờ biển dài gần 4km, bãi cát mịn
rộng trải dài hơn 200m, nước biển hiền hòa, trong vắt quanh năm, không khí ở
đây trong lành, mát mẻ, không khói bụi.
Nghỉ đêm với lều bạt trên bãi biển Cảnh Dương thơ mộng là một trào lưu mới của nhiều gia đình và nhóm bạn trẻ. Buổi chiều, sau khi thỏa thích bơi lội trong làn nước biển trong veo, mát lạnh và tham gia các trò chơi sôi động, tối đến du khách có thể đốt lửa ca hát cùng bạn bè và thưởng thức tiệc ngoài trời với những món hải sản nướng thơm lừng - một lựa chọn không thể hoàn hảo hơn.
Biển Cảnh Dương kinh doanh theo mô hình du lịch sinh
thái. Khi đến đây, bạn có thể trải nghiệm những cảm giác mới lạ khi tự mình
nhóm bếp, nấu nướng bên bờ biển hay dựng lều nằm nghỉ mà bên tai vẫn nghe được
tiếng sóng vỗ bờ.
Đêm xuống, đi dạo hóng gió biển sẽ khiến bạn khoan khoái tận hưởng những làn gió mát mang hương vị mặn mòi của biển cả, rồi nằm nghe tiếng sóng biển "thầm thì". Và sáng sớm, khi tỉnh giấc, bạn chỉ cần kéo khóa lều là có thể lập tức chiêm ngưỡng bức tranh bình minh trên biển tuyệt đẹp.
Không chỉ được trải nghiệm những giây phút nghỉ ngơi cùng
bờ biển đẹp, tôm cá tươi ngon, Cảnh Dương còn chào đón bạn với nụ cười thân
thiện hiếu khách của người dân quê thuần hậu.
"Chúng tôi tự hào khi được du khách khắp nơi tìm
đến. Hy vọng rằng Cảnh Dương sẽ được các cấp, chính quyền quan tâm, đầu tư để
du lịch ở đây phát triển bài bản và mạnh mẽ hơn như: đường sá được mở rộng, có
bãi đỗ xe, bãi tắm có thêm những trò chơi hiện đại… Du lịch phát triển, người
dân chúng tôi cũng có thêm thu nhập để cuộc sống ngày một đi lên, quê hương
ngày càng giàu đẹp", chị Phạm Thị Ánh Giàu, một người buôn bán ở làng Cảnh
Dương, kỳ vọng.
Đầm Lập An
Sở hữu vẻ đẹp được ví như bài thơ “Thu Điếu” của Nguyễn Khuyến với hình ảnh “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” giữa làn nước xanh biếc, đầm Lập An cũng là một địa điểm du lịch lý thú ở Lăng Cô. Trong quá khứ, đầm Lập An là nơi câu cá yêu thích của vua Khải Định và Bảo Đại mỗi dịp hè về.
Đầm Lập An tọa lạc bên cầu
Phú Gia (trên con đường quốc lộ 1A, đoạn qua thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc,
tỉnh Thừa Thiên Huế). Với diện tích 800ha, thiên nhiên không chỉ ban tặng nơi đây
một con đường uốn lượn chạy quanh đầm như dải lụa mềm mại mà còn là hệ thống
thủy sản phong phú, độc đáo.
Nằm nép mình dưới chân Hải Vân Quan huyền thoại, được che chở bảo vệ bởi những đồi núi cao cao hùng vỹ của dãy Bạch Mã, hòa cùng với làn nước trong xanh mát mẻ của biển Lăng Cô, cảnh sắc Lập An là vẻ đẹp tĩnh lặng, yên bình và mộng mơ "rất Huế", từ lâu được ví von như chốn tiên cảnh lạc giữa trần gian.
Tại đây, một loài thủy sản được mệnh danh là “đặc sản”, “ngọc của trời”… đó là hàu. Không biết từ bao giờ, người dân nơi đây đã biết tận dụng lốp cao su hỏng để bắt hàu. Việc nuôi hàu rất đơn giản, mỗi hộ chỉ cần mua những chiếc vỏ lốp xe máy đã hỏng được thải ra, đem về dùng bót chà thật sạch, sau đó đem xẻ lốp làm đôi. Các lốp xe này được móc vào một thanh tre, rồi đóng những chiếc cọc xuống lòng đầm, treo thanh tre nằm ngang, những chiếc lốp xe nằm sâu dưới nước, cách đáy đầm chừng 10cm, lốp cách lốp khoảng 30cm. Sau khi con hàu bám vào lốp xe sẽ sinh sôi, phát triển thành từng chùm. Theo số liệu của UBND huyện Phú Lộc, hiện nay tại đầm Lập An có hơn 100 hộ dân nuôi hàu. Hàu là loài thủy sản có giá trị dinh dưỡng rất cao, có nhiều công dụng tuyệt vời như chống lại mệt mỏi, tăng khả năng miễn dịch của cơ thể và tăng cường quá trình trao đổi chất. Thịt hàu ở đầm Lập An lại nổi tiếng thơm ngon, béo bùi, có thể chế biến thành nhiều món ngon hấp dẫn như hàu nướng trui, cháo hàu, hàu xào hành tây, gỏi hàu... nên rất được lòng du khách gần xa. Tuy có cực nhọc vì phần lớn các công đoạn sản xuất đều bằng thủ công nhưng đây vẫn được xem là nghề “xóa đói giảm nghèo” cho vùng đất này.
Đầm Lập An đẹp nhất trong những buổi chiều tà, đã khiến bao du khách ngẩn ngơ, và nếu không kịp bấm máy thì bất cứ ai cũng mong muốn nhìn ngắm để ghi lại được thật nhiều khoảnh khắc tuyệt mỹ của tạo hóa. Bởi vậy, dù hành trình của bạn bằng phương tiện gì, nếu có thể ghé hoặc dừng chân tại nơi đây, chắc chắn sẽ là điểm cộng cho hành trang khám phá cảnh đẹp Việt Nam của bạn.
Núi Bạch Mã
Từ TP. Huế, theo quốc lộ 1A khoảng 40km về phía nam đến thị trấn Cầu Hai (huyện Phú Lộc), sau đó rẽ phải khoảng 19km, du khách sẽ đến vườn quốc gia Bạch Mã. Nằm ở phần cuối cùng của dãy Trường Sơn Bắc kéo dài từ biên giới Việt – Lào ra tận biển Đông, ở độ cao 1.450m so với mực nước biển, khu vực núi Bạch Mã có khí hậu trong lành, mát mẻ và được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một trong những vùng núi có khí hậu dễ chịu nhất ở Đông Dương.
Trong 22.031ha diện tích
tự nhiên, vườn quốc gia Bạch Mã có tới 16.900ha rừng nguyên sinh che phủ. Trong
rừng có 1406 loài thực vật, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: trò chỉ, kiền,
giẻ hương, gõ, tùng... (nhiều cây đường kính 80 - 100cm) và trên 300 loài cây
thuốc quý như: ba gạc, bình vôi, lá khôi, cây 7 lá 1 hoa...
Hệ động vật ở Bạch Mã có
tới 931 loài, bao gồm 83 loài thú, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: gấu,
báo, hổ, sao la...; 333 loài chim, 31 loài bò sát, 21 loài ếch nhái, 39 loài
cá, 218 loài bướm, 178 loài côn trùng cánh cứng ăn lá, 28 loài mối. Ðặc biệt,
Bạch Mã là nơi cư trú của loài chim quý như trĩ sao và gà lôi lam mào trắng.
Đến với vườn quốc gia Bạch Mã, du khách sẽ có dịp khám phá những tuyến đường mòn thiên nhiên kỳ thú, như đường mòn Trĩ Sao dẫn đến thác Trĩ Sao - nơi có nhiều chim trĩ sao sinh sống; đường mòn Đỗ Quyên dẫn đến thác Đỗ Quyên, quanh năm tung bọt trắng xóa xuống các khe suối; đường mòn Ngũ Hồ dẫn đến 5 hồ nước nằm nối tiếp nhau được hình thành từ một con suối lớn; đường mòn Vọng Hải Đài dẫn đến đài ngắm cảnh trên đỉnh Bạch Mã. Đứng từ đây, du khách có thể ngắm toàn cảnh đèo Hải Vân, núi Túy Vân, đầm Cầu Hai, cửa Tư Hiền, vũng Chân Mây sát bờ biển Ðông và cả không gian huyền ảo, lắng đọng của thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng lúc đêm về. Ngoài ra, du khách có thể khám phá đường mòn dài 300m xuyên qua rừng chò đen, nơi có khá nhiều cây cổ thụ, nhiều cây có đường kính trên 1m và cao tới hơn 30m. Không chỉ có vậy, vườn quốc gia Bạch Mã còn có khu vườn sưu tập lan – nơi tập trung hàng trăm loài hoa lan với nhiều màu sắc và kiểu dáng độc đáo.
Hiện nay, khu biệt thự cổ
đã được Ban Quản lý vườn quốc gia Bạch Mã cho trùng tu, tôn tạo thành khu nghỉ
dưỡng cho du khách, mang tên Đỗ Quyên, Sao La, Kim Giao... Những ngôi biệt thự
này vẫn lưu giữ nét kiến trúc kiểu Pháp, thường chỉ cao 2 tầng, có cầu thang
vòng và hành lang khá rộng, cửa sổ lớn hướng ra phía đỉnh núi tạo không gian
thoáng đãng, vừa cổ kính vừa hiện đại.
Thời gian đẹp nhất để du khách đến thưởng ngoạn Bạch Mã là vào mùa hạ và đầu mùa thu bởi thời điểm này, không khí mát mẻ, thậm chí hơi se lạnh của Bạch Mã sẽ khiến cho hành trình khám phá, chinh phục của du khách trở nên thi vị hơn. Ở đây, thắng cảnh và di tích hòa quyện vào nhau tạo thành một nét duyên riêng vô cùng hấp dẫn.
Đèo Hải
Vân
Cung đường di sản đẹp nhất
Việt Nam
Được mệnh danh là Cung đường di sản đẹp nhất Việt Nam, dèo Hải Vân còn có tên là đèo Ải Vân nằm ở độ cao gần 500m so với mực nước biển với chiều dài đường đèo là 21km vắt ngang qua những ngọn núi cao của dãy Trường Sơn hùng vĩ.
Hải Vân trở thành ranh giới tự nhiên của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam, như sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã chép: “Hải Vân dưới sát bờ biển, trên chọc tầng mây, là giới hạn của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam”.Tới năm 1470, vua Lê Thánh Tông thân chinh mang quân đi đánh Chăm Pa. Khi tới đèo Hải Vân, ấn tượng và xúc động trước cảnh quan hùng vĩ, vua đã cảm tác làm thơ và đặt tên nơi này là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Cái tên ấy lưu truyền mãi trong dân gian về một địa danh đặc biệt trên đường thiên lý Bắc – Nam.
Tọa lạc trên đỉnh đèo giữa
mây ngàn gió lộng gần hai thế kỷ là công trình Hải Vân Quan với vọng gác, cổng
thành, cửa trông về hướng Thừa Thiên Huế đề ba chữ “Hải Vân Quan”, cửa trông về
hướng Đà Nẵng đề “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” (đây là từ đề tặng của vua Lê
Thánh Tông khi dừng chân ngắm cảnh nơi này vào thế kỷ 15).
Hải Vân Quan không chỉ là một công trình kiến trúc đặc biệt mang đậm dấu ấn lịch sử mà còn là vị trí chiến lược quân sự quan trọng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Tại đây vẫn còn lưu giữ những tàn tích của một số lô cốt do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1826.
Khung cảnh mộng mơ với một
bên giáp núi, một bên là biển, qua đèo, qua suối khiến nơi đây trở thành cung
đường di sản đẹp nhất Việt Nam. Đứng ở trên Hải Vân Quan, bạn sẽ ngắm nhìn được
toàn cảnh đèo Hải Vân dưới sự phủ mờ của mây trắng, những cung đường ngoạn mục,
đồi núi trải đầy thảm xanh.
Nói về sự hùng vĩ của đèo Hải Vân, ở thế kỷ XVIII, Ngô Thì Chí đã viết: “Ngọn núi này khí át sông Ngân, thế nuốt bờ biển, tảng đá trập trùng khó vịn, cây cối sum suê rợp bóng, sóng vỗ ầm ầm như tiếng sấm vang trời, suối chảy rào rào như tuôn nước từ lưng chừng trời đổ xuống”.
Với địa thế cao chênh
vênh, đường đèo quanh co, khúc khuỷu men theo triền núi, uốn lượn như dải lụa
vắt ngang giữa trời mây, ẩn hiện giữa cây rừng, đá núi, đèo Hải Vân như một bức
tranh thiên nhiên hoành tráng do kỳ công của tạo hóa và bàn tay của con người
tạo ra đến mức hài hoà. Tuy địa hình đường đèo khá hiểm trở do núi cao, vực
sâu, song nơi đây lại là một nơi thưởng ngoạn lý tưởng của du khách thích khám
phá loại hình du lịch mạo hiểm.
Lên đỉnh Hải Vân vào những
ngày nắng đẹp, nhìn bao quát về phía bắc là cảnh đồi núi trập trùng với mây
trắng bay là đà, xa xa là đầm Lập An, làng chài Lăng Cô đẹp như tranh vẽ. Nhìn
về phía nam, du khách có thể thấy rõ toàn cảnh thành phố Đà Nẵng, Cảng Tiên Sa -
Bán đảo Sơn Trà, Cù Lao Chàm... và những bãi cát vàng chạy dài ôm lấy mặt nước
bao la trong xanh của biển.
Càng thú vị hơn khi chạy
dọc đường đèo, biển xanh sẽ luôn hiện diện trong tầm nhìn của du khách, khi thì
trải rộng ra đến muôn trùng, khi lại ở rất gần, rì rào và xanh thẳm... Ở những
đoạn đèo thích hợp, du khách có thể đứng trên đèo và nhìn xuống đoạn đường
ngoằn ngoèo, gấp khúc mình vừa đi qua phía dưới, trông vô cùng ngoạn mục.
Toàn cảnh đèo Hải Vân dưới sự phủ mờ của mây trắng, những cung đường ngoạn mục, đồi núi trải đầy thảm xanh.
Do địa hình phức tạp, độ
dốc tương đối cao, đường quanh co liên tục với nhiều đoạn cua rất mạo hiểm, nên
kể từ tháng 6/2005, khi công trình hầm Hải Vân được hoàn thành và đưa vào hoạt
động, làm cho giao thông giữa Thừa Thiên Huế và TP Đà Nẵng trở nên thuận tiện,
an toàn hơn rất nhiều, hầu hết các phương tiện đều lựa chọn phương án đi qua
đường hầm.
Cung đường “Kết nối di sản miền Trung”
Mới đây Tổng công ty Đường
sắt Việt Nam đã chính thức mở bán vé tàu Huế - Đà Nẵng trên toàn hệ thống và
chính thức chạy tàu trên khu đoạn này từ ngày 26/3 trên 2 đôi tàu với tên gọi
“Kết nối di sản miền Trung”.
Theo lịch trình được Tổng công ty Đường sắt Việt Nam công bố, hàng ngày sẽ có 2 đôi tàu mang số hiệu HĐ1/2 và HĐ3/4 giữa Huế - Đà Nẵng hoạt động với hình thức kinh doanh vận tải kết hợp khai thác dịch vụ du lịch.
Đặc biệt, trên hành trình,
các tàu sẽ dừng đỗ tại ga Lăng Cô 10 phút để du khách chiêm ngưỡng vẻ đẹp,
check-in, chụp ảnh vịnh Lăng Cô - một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới.
Trước mắt, đoàn tàu sẽ bao gồm 5 toa xe ghế mềm điều hòa và 1 toa xe sinh hoạt cộng đồng nhằm phục vụ các chương trình văn hóa và ẩm thực địa phương,… Đặc biệt trong tháng khai trương, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam áp dụng giá vé ưu đãi 150 nghìn đồng/vé; giá vé tháng 900 nghìn đồng/vé (riêng vé tháng mua tại các nhà ga) và giảm giá từ 10 đến 50% đối với hành khách là đối tượng chính sách.
Ngay sau khi thông tin về
lịch mở bán vé cung đường Huế - Đà Nẵng được đăng tải đã thu hút sự quan tâm
rất lớn từ những tín đồ yêu du lịch. Bởi từ lâu, cung đường Huế - Đà Nẵng với
"thiên hạ đệ nhất hùng quan" đèo Hải Vân hay vịnh Lăng Cô - xứng danh
những vịnh biển đẹp nhất hành tinh,... đã góp phần khiến nơi đây trở
thành cung đường di
sản đẹp nhất Việt Nam.
Với hệ thống cơ sở hạ tầng
ngày càng được nâng cấp, đèo Hải Vân đã trở thành một cung đường du lịch đối
với du khách trong nước và quốc tế.
Phá Tam
Giang
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là hệ đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á với 21.600 ha diện tích mặt nước, chiếm 48,2% diện tích mặt nước đầm phá ven bờ biển Việt Nam. Nó chạy dài khoảng 27 km bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương, thuộc địa phận của ba huyện là Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Theo các nhà nghiên cứu,
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một trong những đại diện hiếm hoi của hệ sinh
thái ven biển nhiệt đới với môi trường phức tạp và đa dạng; chứa trong mình
vùng đồng bằng châu thổ, vùng nước nông mở, vùng nước với đệm cỏ, các cửa sông
và những nhánh sông bao quanh bởi những đụn cát chắn. Chính vì thế, Tam Giang -
Cầu Hai có tính đa dạng sinh học rất cao, xứng đáng là một bảo tàng nước, bảo
tàng sinh học. Kết quả điều tra gần đây đã thống kê được tổng số loài tại khu
vực này là 1.296 loài; trong đó có 41 loài quý hiếm, gồm 295 loài thực vật phù
du, 50 loài thực vật bậc cao, 73 loài rong và thực vật thủy sinh (bao gồm 7
loài cỏ biển), 119 loài động vật phù du, 215 loài động vật đáy, 361 loài cá và
137 loài chim.
Đường đi đến phá Tam Giang
rất dễ, thuận tiện, chỉ cách trung tâm thành phố Huế khoảng chừng 15km. Du lịch
phá Tam Giang chỉ cần 1 ngày tham quan là đủ rồi, tuy nhiên bạn có thể thử trải
nghiệm qua đêm tại đây cũng thú vị lắm đấy. Đã đến đây, tốt nhất là đừng suy
nghĩ quá nhiều, hãy bật sẵn máy ảnh, điện thoại để ghi lại những khoảnh khắc
tuyệt vời nhất của Tam Giang mà không thể bỏ lỡ được. Trải nghiệm thú vị
nhất là khi bạn được lênh đênh trên chiếc đò, băng qua hệ đầm phá để mà choáng
ngợp bởi vẻ đẹp hoang sơ, phóng khoáng mà phảng phất hơi thở trầm mặc khi ngắm
ánh nắng bình minh vào sáng sớm hay lúc chiều hoàng hôn buông. Hoàng hôn có lẽ
là cảnh đẹp ngoạn mục nhất trên phá Tam Giang mà rất nhiều du khách, nhiếp ảnh
gia cố chụp cho được tấm hình chiều buông rủ trên con phá mênh mông sông nước
này.
Khi đã du lịch đến đây thì
làng chài Thái Dương Hạ, rừng ngập mặn Rú Chá, chợ nổi... là những địa điểm
nhất định bạn phải ghé thăm. Làng chài Thái Dương - một ốc đảo nhỏ cổ
kính, xung quanh làng bao phủ bốn bề là nước, mang lại cảm giác bình dị, yên
tĩnh. Người dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy hải sản.
Các thương lái trên chợ nổi đều là những ngư dân sinh sống trong các làng chài
như Thái Dương Hạ, Ngư Mỹ Thạch... Chợ nổi làng Ngư Mỹ Thạch tồn tại đến nay
cũng khoảng vài trăm năm. Chợ nổi trên phá Tam Giang luôn diễn ra êm ả nhưng
không kém phần sinh động, người bán cũng rất đa dạng, điều này cho thấy nét văn
hóa đặc sắc ở vùng đất này đã có từ lâu và trở thành thói quen của ngư dân
cùng sông nước Tam Giang. Không chỉ hình thành để buôn bán, phiên chợ này còn
là nơi trao đổi, sinh hoạt của những người dân vùng sông nước với nhiều điều
thú vị.
Rú Chá là khu rừng nguyên
sinh quý hiếm của Phá Tam Giang. Muốn tham quan Rú Chá tất tần tật thì bạn phải
đi thuyền vào sâu bên trong. Một không gian thoáng mát, yên bình với những loại
cây ngập mặn như sú, vẹt, mắm… như kiểu bạn đang tách biệt hoàn toàn với thế
giới quen thuộc ngoài kia luôn, hơn nữa đi thuyền vào Rú Chá còn đánh bay cái
nắng gay gắt của những ngày hè oi ả. Đến đây, bạn có thể dạo quanh con
đường bê tông nhỏ với vài nhánh rẽ ngắn, hoặc men theo những con đường đất
chiêm ngưỡng những bộ rễ chá ma mị, những cành chá hai bên uốn cong đan xen vào
nhau như thánh đường khiến rất nhiều cặp đôi tìm đến đây để lưu lại khoảnh khắc
đáng nhớ trong đời.
Sau một hồi đi thuyền dọc
ngang con phá, không gì thú bằng ghé lại một quán ăn ngay đầu con đò ngang, hay
xin lên những gian nhà chồ nằm rải rải trên mặt nước, uống một ly nước và chờ
mấy bác ngư dân đi ngang. Tôm cá, ghẹ nhảy tanh tách tươi ngon chỉ ở đầm phá
mới có. Món cá hấp đã ngon, ngao cũng không kém phần thơm ngọt dù ngao ở vùng
phá này nhỏ hơn ngao ngoài biển. Ghẹ đặc biệt nhỏ chỉ bằng 3 ngón tay, nhưng
ngọt, chắc và giá cả sẽ khiến bạn giật mình vì chỉ rẻ bằng nửa so với ghẹ ngoài
biển.
Chỉ cần một ngày trải nghiệm tại đây, bạn cũng đủ cảm nhận được nét đẹp của vùng đầm phá, yêu vô cùng xứ sở này dẫu chỉ một lần ghé ngang./.
Ẩm thực vịnh Lăng Cô
Du lịch Huế nhất định không thể bỏ qua trải nghiệm thưởng
thức ẩm thực. Mảnh đất Cố đô luôn níu chân du khách bởi nhiều món ăn hấp dẫn,
thơm ngon, mang nhiều đặc trưng của địa phương. Riêng tại vịnh Lăng Cô Huế, bạn
có thể dùng bữa với những món ngon như sau:
Ghẹ hấp sả: đã đến vịnh Lăng Cô Huế thì không thể không thưởng thức những món hải sản tươi ngon, hấp dẫn. Một trong số đó là món ghẹ hấp sả. Món ăn với cách chế biến đơn giản, giữ lại được vị ngọt, hương thơm vốn có của thực phẩm.
Hàu nướng phô mai: thêm một món ăn ngon từ hải sản
cho du khách khi đến Lăng Cô chính là hàu nướng phô mai. Hàu nướng phô mai hấp
dẫn thực khách bởi cái vị thơm thơm, béo béo và cảm giác cực đã khi kéo phô mai
chảy còn nóng rất đẹp mắt.
Bánh canh chả cua: đây được xem là món ăn có một
không hai ở Huế. Tô bánh canh chả cua ở đây có bánh canh dai ngọt, thịt cua
chắc nịch, thơm ngon, cùng chút hành và rau sống tươi mát, mang đến hương vị
đậm đà, lạ miệng và khó quên cho thực khách.
Là một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới, vịnh
Lăng Cô Huế hứa hẹn sẽ mang đến nhiều trải nghiệm thú vị, hấp dẫn cho du
khách thập phương. Để chuyến đi được trọn vẹn nhất, du khách nên tìm hiểu kỹ về
địa điểm lưu trú, nghỉ dưỡng.
Qua khỏi đầm Cầu Hai
một đoạn, cũng về phía bên trái phải là sân bay Phú bài.
Sân Bay Quốc Tế Phú Bài
Sân bay quốc tế Phú Bài được xây dựng từ thời
còn thực dân Pháp, người
Pháp xây dựng sân bay này
nhằm phục vụ kinh thành Huế. Nó được sửa chữa
nâng cấp nhiều lần như kéo dài đường băng để tiếp nhận các máy bay lớn; hệ thống đường
lăn, sân đỗ, hệ thống thoát nước, hệ thống đèn dẫn đường.
Cách 15 km về phía nam thành phố Huế, (thuộc thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thuỷ – tỉnh Thừa Thiên-
Huế), Việt Nam. Sân bay quốc tế Phú Bài hiện
có đường băng dài 2800 m, rộng 45 m,
có đèn chiếu sáng phục vụ
các chuyên bay đêm.
Sân bay này có
thể tiếp nhận các máy bay tầm trung như Airbus A320, Boeing 747.
Năm 2007, sân bay
này tiếp nhận 800.000
hành khách. Dự kiến năm 2010, số lượng
khách thông qua sân bay này sẽ vượt quá 1 triệu người. Sân bay này xếp
thứ 4 tại Việt Nam về số lượng khách (sân bay
xếp thứ 5 là Sân bay quốc
tế Cam Ranh với lượng khách xấp xỉ 500.000 trong năm 2007 và có tốc độ tăng trưởng
nhanh hơn). Đi qua sân bay một
đoạn chúng ta se tới thành phố Huế.
Huế
Vì sao nhà
Nguyễn chọn Huế làm kinh đô?
Huế là một thành phố ở miền Trung và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên-Huế. Là kinh đô một thời của Việt
Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn
liền với cảnh quan thiên nhiên.
Sự xuất hiện
của địa danh “Huế”
Hiện chưa có nguồn thông tin nào khẳng
định địa danh “Huế”
chính thức xuất hiện lúc nào,
Đến với Huế, một
mãnh đất gắn liền với lịch sử. Triều Nguyễn đã để lại cho nơi đây rất nhiều các công trình kiến trúc cổ, có giá trị tiêu biểu là kinh thành Huế, Lăng Minh Mạng, Lăng Khỉa Định, chùa Thiên
Mụ…. Bên cạnh đó, được thiên nhiên ban tặng cho những thắng
cảnh tự nhiên rất đẹp. Và dưới đây là các
điểm tham qua tiêu biểu của Huế.
Nhà Nguyễn (1802–1945) chọn Phú Xuân (Huế) làm
kinh đô chủ yếu vì vị trí địa lý chiến lược ở trung tâm đất nước, thuận lợi
kiểm soát cả Bắc Hà và Gia Định, cùng địa thế phòng thủ tự nhiên vững chắc.
Ngoài ra, đây là vùng đất "căn cơ" gắn liền với quá trình mở cõi và
xây dựng cơ nghiệp của các chúa Nguyễn trước đó.
Dưới đây là các lý do chi
tiết:
·
Vị trí địa lý trung tâm: Huế nằm giữa đất nước, giúp
triều đình dễ dàng kết nối, quản lý và điều hành các khu vực rộng lớn từ Bắc
vào Nam, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giao thông thời xưa còn khó khăn.
·
Địa thế phòng thủ kiên cố: Huế có thế "tọa sơn
hướng thủy" với dãy Trường Sơn phía sau, biển Đông phía trước, phía Bắc có
Hoành Sơn, phía Nam có Bạch Mã, tạo thành hệ thống phòng thủ tự nhiên vững
chắc.
·
Căn cơ của chúa Nguyễn: Phú Xuân là nơi chúa Nguyễn
Phúc Khoát đã từng đặt thủ phủ, và là vùng đất gắn bó sâu sắc với lịch sử dòng
họ Nguyễn, nơi khởi đầu công cuộc mở cõi phương Nam.
·
Ý nghĩa tâm linh và phong thủy: Việc chọn đất đóng đô
dựa trên nguyên tắc phong thủy để đảm bảo sự hưng thịnh lâu dài cho vương
triều.
·
Thuận lợi giao thương: Gần cảng Đà Nẵng, thuận tiện
cho việc giao thương, ngoại giao và phát triển quân cảng.
Vua Gia Long đã chính thức chọn Phú Xuân làm
kinh đô vào năm 1802 và xây dựng thành Huế quy mô lớn, tồn tại qua 13 triều
vua.
CÁC CHUYÊN ĐỀ THUYÊT MINH
1/ Chuyên đề lịch sử – triều
Nguyễn
Lịch sử hình thành vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân
Triều Nguyễn và kinh đô Huế
Các vị vua triều Nguyễn
Biến cố thất thủ Kinh đô năm 1885
Phong trào Cần Vương tại Huế
2/ Chuyên đề kiến trúc cung đình
Đại Nội Huế
Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Tử Cấm Thành
Nghệ thuật phong thủy trong kiến trúc Huế
Kiến trúc thành quách kiểu Vauban
Biểu tượng rồng trong cung đình Nguyễn
Chuyên đề lăng tẩm vua Nguyễn
Lăng Minh Mạng – uy nghiêm, chuẩn mực Nho giáo
Lăng Tự Đức – thơ mộng, lãng mạn
Lăng Khải Định – giao thoa Đông Tây
So sánh phong cách kiến trúc các lăng vua Nguyễn
3/ Chuyên đề văn hóa tâm linh
Chùa Thiên Mụ
Phật giáo xứ Huế
Tín ngưỡng dân gian miền Trung
Vai trò chuông chùa, sông Hương trong đời sống tinh thần người Huế
4/ Chuyên đề văn hóa nghệ thuật
Nhã nhạc cung đình Huế
Ca Huế trên sông Hương
Thơ ca và âm nhạc xứ Huế
Áo dài Huế và nét đẹp phụ nữ Huế
Nghệ thuật pháp lam, khảm sành sứ
5/ Chuyên đề ẩm thực Huế
Bún bò Huế
Cơm cung đình
Bánh bèo – nậm – lọc
Văn hóa ăn cay người Huế
Trà cung đình Huế
6/ Chuyên đề sông Hương – núi Ngự
Sông Hương trong thơ ca và âm nhạc
Núi Ngự Bình và yếu tố phong thủy
Cầu Trường Tiền – biểu tượng Huế
Chuyên đề làng nghề truyền thống
Làng hương Thủy Xuân
Làng nón Tây Hồ
Tranh làng Sình
Hoa giấy Thanh Tiên
7/Chuyên đề du lịch hiện đại
Festival Huế
Du lịch xanh ở Huế
Du lịch cộng đồng vùng phá Tam Giang
Huế – thành phố di sản
Một số hướng xây dựng bài thuyết minh hấp dẫn
Kể chuyện vua chúa thay vì đọc dữ kiện
Dùng thơ, ca dao, nhạc Huế mở bài
So sánh kiến trúc các lăng
Lồng giai thoại lịch sử
Tạo cảm xúc “Huế mộng – Huế buồn – Huế sâu lắng”
Nếu anh muốn, em có thể làm tiếp:
KỊCH BẢN THUYẾT MINH DU LỊCH HUẾ
Tuyến điểm di sản cố đô Huế
1. THUYẾT MINH ĐẠI NỘI HUẾ
Đại Nội Huế
MỞ BÀI TRÊN XE
“Kính thưa quý khách,
Nhắc đến Huế, người ta thường nhớ đến một vùng đất trầm mặc, cổ kính với
những mái ngói rêu phong và dòng sông Hương thơ mộng. Và điểm đến quan trọng
nhất của vùng đất cố đô chính là Đại Nội Huế – trung tâm quyền lực của triều
Nguyễn suốt hơn 140 năm lịch sử.”
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Đại Nội được xây dựng năm 1805 dưới thời vua Gia Long.
Là kinh đô của triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng Việt Nam.
Diện tích toàn khu khoảng 520 ha.
Năm 1993 được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.
THUYẾT MINH NGỌ MÔN
Ngọ Môn
“Trước mặt quý khách là Ngọ Môn – cổng chính phía Nam của Hoàng thành Huế.
Đây được xem là bộ mặt quyền lực của triều Nguyễn.
Ngọ Môn được xây dựng dưới thời vua Minh Mạng năm 1833 gồm hai phần:
Phần đài bên dưới xây bằng đá và gạch.
Phần lầu phía trên gọi là Lầu Ngũ Phụng.
Sở dĩ gọi là Ngũ Phụng vì trên lầu có kết cấu mái giống năm con chim phượng
đang tung cánh.
Ngày xưa:
Cửa chính giữa chỉ dành cho vua.
Quan văn đi cửa bên trái.
Quan võ đi cửa bên phải.
Binh lính và voi ngựa đi hai cửa phụ.”
GIAI THOẠI
“Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại đã đọc chiếu thoái vị tại chính nơi đây, đánh
dấu sự kết thúc của chế độ phong kiến Việt Nam.”
2. ĐIỆN THÁI HÒA
Điện Thái Hòa
“Điện Thái Hòa được xem là trái tim quyền lực của triều Nguyễn.
Đây là nơi:
Tổ chức lễ đăng quang.
Tiếp đón sứ thần.
Diễn ra các đại lễ quan trọng.
Tên gọi ‘Thái Hòa’ mang ý nghĩa:
Thiên địa hài hòa.
Quốc thái dân an.
Điểm nổi bật nhất bên trong là:
80 cột gỗ lim sơn son thếp vàng.
Hình tượng rồng xuất hiện dày đặc tượng trưng cho quyền lực hoàng đế.”
ĐIỂM NHẤN CẢM XÚC
“Nếu để ý kỹ, quý khách sẽ thấy màu vàng xuất hiện rất nhiều trong cung
đình Huế vì ngày xưa màu vàng là màu độc quyền của nhà vua.”
3. CHÙA THIÊN MỤ
Chùa Thiên Mụ
MỞ ĐIỂM
“Kính thưa quý khách,
Nếu Đại Nội là biểu tượng quyền lực của Huế thì chùa Thiên Mụ chính là biểu
tượng tâm linh của vùng đất cố đô.”
THUYẾT MINH
Chùa xây năm 1601 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng.
Gắn với truyền thuyết bà tiên áo đỏ báo mộng sẽ có chân chúa đến lập chùa
để tụ linh khí.
THÁP PHƯỚC DUYÊN
“Ngọn tháp cao 21m phía trước gọi là tháp Phước Duyên gồm 7 tầng tượng
trưng cho 7 kiếp giác ngộ của Đức Phật.”
GIAI THOẠI
“Người Huế có câu:
‘Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.’
Tiếng chuông chùa đã đi vào thơ ca như một phần linh hồn của xứ Huế.”
4. LĂNG MINH MẠNG
Lăng Minh Mạng
GIỚI THIỆU
“Lăng Minh Mạng được xem là lăng đẹp và chuẩn mực phong thủy nhất triều
Nguyễn.”
Xây dựng từ năm 1840.
Hoàn thành dưới thời vua Thiệu Trị.
Có hơn 40 công trình lớn nhỏ.
ĐẶC ĐIỂM
Bố cục cân đối.
Kết hợp hài hòa giữa núi và hồ nước.
Thể hiện tư tưởng Nho giáo nghiêm cẩn của vua Minh Mạng.
CÂU CHUYỆN
“Vua Minh Mạng nổi tiếng là vị vua có nhiều con nhất Việt Nam với:
142 người con.
Trong đó có 78 hoàng tử.”
5. LĂNG TỰ ĐỨC
Lăng Tự Đức
MỞ ĐIỂM
“Trong các vị vua Nguyễn, vua Tự Đức được xem là vị vua thi sĩ.”
THUYẾT MINH
Lăng xây từ năm 1864.
Đây không chỉ là nơi an nghỉ mà còn là nơi vua nghỉ dưỡng lúc sinh thời.
ĐẶC ĐIỂM
Không gian thơ mộng.
Hồ sen và rừng thông bao quanh.
Mang nét buồn sâu lắng đúng chất Huế.
GIAI THOẠI
“Vua Tự Đức có tài văn thơ nhưng lại không có con nối dõi. Đây cũng là một trong những nỗi buồn lớn nhất cuộc đời ông.”
6. LĂNG KHẢI ĐỊNH
Lăng Khải Định
GIỚI THIỆU
“Khác hoàn toàn với các lăng trước, lăng Khải Định mang phong cách giao thoa Đông – Tây.”
ĐẶC ĐIỂM
Xây dựng suốt 11 năm.
Vật liệu đưa từ Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản.
ĐIỂM ĐẶC SẮC
Nghệ thuật khảm sành sứ cực kỳ tinh xảo.
Nội thất cung Thiên Định rất lộng lẫy.
SO SÁNH HAY CHO KHÁCH
“Nếu lăng Minh Mạng là sự uy nghiêm của Nho giáo, lăng Tự Đức là chất thơ thì lăng Khải Định lại giống một cung điện châu Âu thu nhỏ.”
7. SÔNG HƯƠNG – CA HUẾ
Sông Hương
MỞ ĐIỂM
“Dòng sông trước mặt quý khách chính là dòng Hương Giang nổi tiếng đi vào
thơ ca nhạc họa Việt Nam.”
THUYẾT MINH
Dài khoảng 80 km.
Chảy qua trung tâm Huế.
Gắn liền với đời sống văn hóa người dân cố đô.
CA HUẾ
“Ca Huế là loại hình âm nhạc kết hợp giữa dân gian và cung đình.”
TƯƠNG TÁC VỚI KHÁCH
“Quý khách có thể thử nhắm mắt vài giây để cảm nhận tiếng đàn tranh, đàn nguyệt vang lên giữa dòng sông Hương về đêm – một trải nghiệm rất riêng của Huế.”
8. KẾT TOUR HUẾ
“Kính thưa quý khách,
Huế không quá sôi động nhưng lại khiến người ta nhớ rất lâu.
Người ta nhớ Huế bởi:
Một dòng sông dịu dàng,
Một tiếng chuông chùa xa vắng,
Một mái cung thành rêu phong,
Và cả sự nhẹ nhàng trong giọng nói con người nơi đây.
Hy vọng chuyến tham quan hôm nay sẽ để lại trong lòng quý khách những cảm
xúc thật đẹp về vùng đất cố đô.”
BỘ CÂU CHUYỆN – GIAI THOẠI HẤP DẪN CHO TOUR HUẾ
Dành cho Hướng dẫn viên du lịch tuyến Huế
1. CHUYỆN VUA MINH MẠNG CÓ 142 NGƯỜI CON
Dùng tại: Lăng Minh Mạng
Kể
chuyện
“Kính
thưa quý khách,
Nhắc
đến vua Minh Mạng, người ta thường nhớ đến hai điều:
Một
vị vua cực kỳ giỏi trị quốc,
Và…
có số lượng con nhiều nhất lịch sử Việt Nam.
Theo
sử sách, vua Minh Mạng có:
142
người con,
Trong
đó có 78 hoàng tử và 64 công chúa.
Ngày
xưa trong Hoàng cung Huế có câu vui:
‘Nhất
dạ lục giao sinh ngũ tử’
ý
nói sức khỏe và hậu cung của vua rất đặc biệt.”
Chốt
cảm xúc
“Điều
thú vị là dù đông con, vua Minh Mạng vẫn nổi tiếng là người rất kỷ luật và
nghiêm khắc trong giáo dục hoàng tộc.”
Vua Minh Mạng triều Nguyễn có rất nhiều vợ, ông nổi tiếng với phương thuốc
giúp một đêm có thể làm 5 bà mang thai.
Theo Nguyễn Phúc Tộc thế phả, vua Minh Mạng sinh năm 1791, tên Nguyễn Phúc Đảm và là con thứ tư của Gia Long. Ông lên ngôi năm 1820 - vị vua thứ 2 của triều Nguyễn được miêu tả là thông minh, hiếu học, giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, rất chăm lo việc triều chính.
Trong cuốn Kể chuyện các
đời vua nhà Nguyễn do ông Nguyễn Viết Kế biên soạn có viết, khi nghỉ
ngơi vua có 5 bà vợ hầu hạ. "Một bà vấn thuốc têm trầu, bà quạt, bà đấm
bóp, người ru và một để sai vặt. Mỗi bà một canh, hết 5 canh thì danh sách các
bà được chuyển giao cho Tôn Nhơn phủ giữ để tiện theo dõi việc khai hoa nở nhụy
của họ".
Danh sách này thống kê, vua
Minh Mạng đã ăn nằm với 43 phi tần, sinh hạ được 142 người con. Trong đó có 78
hoàng nam, 64 hoàng nữ. Ông cũng là vị vua có nhiều phi tần và đông con nhất
trong số 13 vua triều Nguyễn.
Vua Minh Mạng là người được
hưởng nhiều vui thú nhất trong các vua Nguyễn ở chốn phòng the. Số phi tần ăn
nằm với vua có con là 43 người, song theo nhiều tài liệu trong cung vua có đến
500-600 người. Vợ ông phần lớn là con gái miền Nam.
Hai vương phi được sủng ái nhất
là Hiền phi Ngô Thị Chính và bà Lệ Tân Nguyễn Gia Thị. Hiền phi sinh được 4
hoàng tử, 2 công chúa còn Nguyễn Gia Thị sinh được 7 hoàng tử và 3 công chúa.
Hai bà thường xung đột nhau, Ngô Thị Chính cậy mình được vua yêu mến thường
đánh ghen các bà khác. Vua Minh Mạng cũng nhiều lần đau đầu vì khó xử.
Theo một số sách, lúc lên ngôi
năm 29 tuổi, vua Minh Mạng yếu về đường sinh dục do hưởng thụ sớm. Ông khi đó
ra lệnh cho các quan ngự y phải giúp mình lấy lại sức khỏe.
Họ làm ra thang thuốc bổ ngâm
rượu để vua dùng hằng ngày có tên Minh Mạng thang gồm 20 bài (có tài liệu ghi
24 bài). Trong đó, 2 bài nổi tiếng nhất là "nhất dạ lục giao sinh ngũ
tử" (một đêm quan hệ 6 lần, sinh 5 con trai) và "nhất dạ ngũ giao
sinh tứ tử" (một đêm quan hệ 5 lần, sinh 4 con trai).
Hiệu nghiệm thuốc rõ rệt, vua
Minh Mạng vì thế có đến hơn trăm người con. Thuốc cũng giúp vua thêm trí tuệ,
minh mẫn để xử lý việc triều chính hằng ngày.
Giống cha, nhiều người con của
vua Minh Mạng cũng sinh hạ hàng chục con. Trong đó, Thiệu Trị kế ngôi có 64
người con, đặc biệt nhất là Thọ Xuân Vương Miên Định có đến 144 người con, hơn
cả cha mình. Một người con khác của Minh Mạng là Miên Trinh có 114 con. Tuy
nhiên, cháu nội ông sau này là vua Tự Đức có đến 300 bà nhưng không sinh được
con.
Minh Mạng được xem là vị vua
anh minh của triều Nguyễn. Dưới thời của ông kinh tế ổn định, đời sống của
người dân có phần sung túc sau nhiều năm chiến tranh. Hồi đó lãnh thổ Việt Nam
được mở rộng hơn bao giờ hết. Vua Minh Mạng cũng đưa ra hàng loạt cải cách
trong bộ máy chính quyền, giáo dục, nông nghiệp...
Vua Minh Mạng qua đời ngày 28/12/1841, thọ 50 tuổi, ở ngôi 21 năm. Lăng mộ ông hiện vẫn lưu giữ gần như nguyên vẹn ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Nghi gian lận thi
cử, Vua Minh Mạng thẳng tay đánh trượt “thần đồng” Vua Minh Mạng tử
hình bố vợ vì tham nhũng 30.000 quan tiền
Minh Mạng tên thật là
Nguyễn Phúc Đảm (1791-1841), là vị vua thứ hai của triều Nguyễn. Ông là vị vua
làm việc rất chăm chỉ. Đại Nam dưới thời trị vì của ông là quốc gia hùng mạnh
bậc nhất trong khu vực, khiến ngoại bang nể sợ.
Người đóng thế tài giỏi
Theo sách Chín đời chúa
mười ba đời vua triều Nguyễn, Minh Mạng là con vợ thứ của vua Gia Long. Khi ông
lớn lên, người anh cả Nguyễn Phúc Cảnh, con trai của Nguyên phi Tống Thị Lan,
đã trưởng thành, có nhiều công trạng, được nhiều đại thần ủng hộ.
Hoàng tử Cảnh tỏ ra là
người dũng cảm, thông minh, nhân hậu, rất được lòng dân chúng và quân sĩ. Không
may, ông mất vì mắc bệnh đậu mùa, khiến vua Gia Long và triều thần đau xót
"trong ngoài ai nấy đều khóc".
Hoàng tử Cảnh qua đời sớm,
vaua Gia Long có ý chọn người kế nghiệp lớn tuổi, để mong muốn bình yên cho xã
tắc. Vì thế, hoàng tử Đảm đã được vua cha lựa chọn.
Khi bà Nguyên phi Tống Thị
Lan qua đời, vua Gia Long sai Nguyễn Phúc Đảm đọc văn tế, một số công thần bài
bác, cho rằng không hợp lệ, vì hoàng tử Đảm không phải đích tử. Vua Gia Long đã
tỏ rõ thái độ bằng cách nghiêm giọng mắng át đi: "Con thay cha để tế mẹ,
có gì mà không hợp?”.
Việc chọn người nối ngôi đã rõ, khi vua Gia Long băng
hà, Nguyễn Phúc Đảm theo di chiếu lên ngôi, tức vua Minh Mạng. Để xứng đáng sự
kỳ vọng của cha, ông đã đem hết tài năng của mình vào công cuộc trị nước.
Xử tử bố vợ tham nhũng
Minh Mạng nổi tiếng là vị vua nghiêm khắc, khắc tinh
của tham nhũng. Để đối phó nạn sâu mọt hại nước, hại dân, vua thường xử phạt
rất nặng quan lại có hành vi tham nhũng, kể cả hoàng thân quốc thích.
Theo sách Đại Nam thực lục, năm 1823, Lý Hữu Diệm làm
quan tại phủ nội vụ lấy trộm hơn một lạng vàng. Theo luật bị xử tử nhưng vì có
công trạng, người này được Bộ Hình xử tội bắt đi đày viễn xứ.
Khi án được tâu lên, Minh Mạng không chấp nhận đề nghị
giảm án. Ông ra lệnh phải đem can phạm ra trước chợ Đông Ba chém đầu làm gương.
Tháng 11/1831, Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức Tuyên lại
ăn bớt nhựa thơm, rồi lấy mật trộn lẫn vào, để ít hóa nhiều. Gian dối bị phát
hiện, vua ra lệnh chặt tay treo ở kho để làm gương cho kẻ khác.
Năm 1834, mặc dù không có công trình nào lớn xây dựng,
vua Minh Mạng thấy gỗ trong Bộ Công hết rất nhanh, liền sai Bộ Hộ và Viện Đô
sát tra xét kỹ. Kết quả điều tra cho thấy Quản mộc Hồ Văn Hạ thông đồng với thợ
thuyền tham ô, vua lập tức đưa ra xử chém. Không chỉ có vậy, liên đới trách
nhiệm, Đốc công Trần Văn Hiệu không quản lý không sát sao cũng bị nhà vua cách
chức, bắt làm việc chuộc tội.
Cùng năm nay, Tuần phủ Trịnh Đường tham ô một nghìn
quan tiền nhưng lại nói dối bị giặc lấy mất. Đến khi vụ việc bị phát hiện, vua
Minh Mạng tức giận, tuyên dụ tội giảo quyết (thắt cổ cho chết ngay).
Trong các vụ tham nhũng thời Minh Mạng, việc ông chuẩn
y bản án tử hình bố vợ là Phó tổng trấn Gia Định Huỳnh Công Lý năm 1821 vì tham
nhũng tới hơn 30.000 quan tiền gây chấn động thời bấy giờ. Đồng thời, nó cũng
cho thấy tính nghiêm khắc của vua Minh Mạng.
Giữ phép nước diệt thân
Theo Đại Nam thực lục, hoàng tử Miên Phú được răn dạy
cẩn thận, nhưng tính tình phóng khoáng, chỉ thích ăn chơi, hưởng lạc, không
chịu học hành, không biết noi gương vua cha để thành người có ích. Hoàng tử
thường thích kết giao với phường "du thủ du thực", ỷ thế làm điều càn
bậy.
Tháng 11/1835 (Ất Mùi), Miên Phú cùng các thuộc hạ là
Hoàng Văn Vân, Bùi Văn Nghị, Bùi Văn Quế tổ chức đua ngựa ở ngoài hoàng thành,
gây náo loạn đường phố. Một bà lão không tránh kịp đã bị ngựa của Hoàng Văn Vân
xéo chết.
Biết tin, vua Minh Mạng sai một số đại thần điều tra.
Khi vụ việc sáng tỏ, vua ra chỉ dụ trách mắng, ra lệnh tước mũ áo của Miên Phú,
cắt lương bổng hàng năm, giam lỏng ở nhà riêng để tự sửa lỗi, không cho ra
ngoài một bước, không được dự vào hàng các hoàng tử, chỉ được gọi tên là Phú
(Miên là tên đệm của các hoàng tử con Minh Mạng), phải bồi thường cho người bị
hại 200 lạng bạc.
Những thuộc hạ của Miên Phú có tội đều bị xử theo các
mức độ khác nhau. Hoàng Văn Vân bị xử chém, anh em Bùi Văn Nghị, Bùi Văn Quế bị
đày đi phát vãng nơi xa, khi tới nơi còn bị đánh 100 gậy.
Minh Mạng cần mẫn và hết lòng vì nước, vì dân, là tấm
gương sáng cho các bậc đế vương noi theo. Một lần vua bị bệnh nằm liệt giường,
các hoàng tử phải luân phiên túc trực, vua vẫn cho đem tấu sớ tới xem xét, kiểm
duyệt.
Theo sách Minh Mạng chính yếu, có năm trong kinh kỳ ít
mưa, nhà vua lo lắng, ra chỉ dụ cho quan Thượng Bảo Khanh là ông Hoàng Quỳnh
rằng: "Hai ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp. Trẫm nghĩ tự đâu đến thế
nhưng chưa tìm ra nguyên nhân, hoặc là thâm cung cung nữ quá nhiều, âm khí uất
tắc mà nên như vậy ư? Nay bớt đi, cho ra 100 người, ngõ hầu có thể giải trừ
thiên tai từ đây”.
2. CHUYỆN VUA TỰ ĐỨC BUỒN VÌ
KHÔNG CÓ CON
Dùng tại: Lăng Tự Đức
Kể chuyện
“Trái ngược với vua Minh Mạng, vua Tự Đức dù có rất nhiều phi tần nhưng lại
không có con ruột.
Đây được xem là nỗi buồn lớn nhất cuộc đời ông.
Vua Tự Đức là người rất giỏi văn thơ, sống nội tâm và thường đến khu lăng
này để:
Làm thơ,
Ngắm trăng,
Câu cá,
Tâm sự cùng thiên nhiên.”
Câu nói hay
“Có người từng nói:
‘Lăng Tự Đức không giống nơi an nghỉ của một vị vua, mà giống một bài thơ
buồn bằng kiến trúc.’”
Bi kịch của
vị hoàng đế Việt Nam 105 vợ mà không có con nối dõi
Là người yêu nước thương dân, triều đại của Vua Tự Đức
kéo dài tới 36 năm, là vị hoàng đế ngồi trên ngai vàng lâu nhất lịch sử nhà
Nguyễn. Nhưng vì mắc bệnh đậu mùa từ nhỏ nên dù hậu cung đầy mỹ nữ, ông cũng
không sinh nổi 1 mụn con.
Vua Tự Đức (1829-1883) là con trai của Vua Thiệu Trị và Nghi Thiên Chương Hoàng hậu (tức Hoàng thái hậu Từ Dũ). Ông là người chăm chỉ, cần mẫn, giỏi thơ văn nhưng từ nhỏ đã đau ốm liên miên. Ông là vị hoàng đế duy nhất của triều Nguyễn không có con nối dõi.
Chính Vua đã thừa nhận sức khỏe yếu ớt trong bài Khiêm
Cung Ký khắc trên tấm bia do chính vua lập trước lăng của mình. Nội dung bài
này có đoạn: ''Ta bẩm sinh bạc nhược, lúc mới ra đời thì mẹ ta lâm bệnh, đau
đến hàng tháng mới lành, vú nuôi của ta không được cẩn thận, sạch sẽ. Mặc dù mẹ
ta la quở, tính vẫn không chừa. Người sợ ta hôn ám nên năm lên ba, liền dứt
ngay, không cho bú nữa và tự ẵm bồng nuôi lấy. Từ đấy, ta ốm đau dai dẳng,
nhiều phen lâm nguy, mẹ ta mai tối ôm ấp, hết sức cực nhọc".
Lấy vợ từ năm 15 tuổi nhưng mãi vẫn không có con
Trong cuốn ký sự Một chiến dịch ở Bắc Kỳ, bác sĩ quân
y kiêm nghệ sĩ nhiếp ảnh người Pháp Charles-Édouard Hocquard đã viết: "Tự
Đức có một trăm lẻ tư bà phi tần''.
Vào năm 15 tuổi, ông được ''phong công tước, xuất phủ
và cưới vợ''. Sau đó lại lấy thêm cả trăm thê thiếp nhưng không có con. Sử sách
mô tả ông mắc bệnh đậu mùa, bệnh vô sinh do giảm thiểu tinh binh, bệnh thiểu
năng tuyến sinh sản tiên phát dẫn đến giảm nội tiết tố nam.
Sự thiếu vắng nội tiết tố nam khiến tính cách của Vua Tự Đức khá ủy mị, dành nhiều thời gian cho thơ phú ngay cả khi đất nước trải qua nhiều chiến tranh biến động. Ông mắc bệnh hay ''than'', thường xuyên kể lễ, xin lỗi và bộc lộ sự yếu đuối của mình trong các chỉ dụ.
Ngay cả tấm bia lập ở lăng mộ, vốn được dùng để khắc
nội dung đề cao công lao, đức hạnh của vị hoàng đế thì Vua Tự Đức lại dành rất
nhiều diện tích để than van, chẳng hạn đoạn: ''Đất nước nhiều chuyện đại sự mà
bản thân lại thêm ngày một quá ốm yếu. Rồi bỗng nhiên lâm bệnh nguy kịch cơ hồ
chết đi sống lại. Từ đó, mắt hoa đầu váng, chân yếu, bụng trệ, các hư chứng nổi
lên, không thể thân hành tế tự và siêng năng việc triều chính được. Và cũng do
đó mà ta mang lỗi và bị người chỉ trích", hay đoạn ''Ta thân thể thường
ốm, khí huyết suy nhược, đang lúc tuổi trẻ vô sự mà việc nối dõi tự thấy thật
khó khăn, không an ủi được nổi lòng mong mỏi của cha mẹ, thật lấy làm
thẹn".
Kiên trì tìm thuốc chữa vô sinh
Dù hiểu rõ bệnh tình của mình nhưng vua Tự Đức cũng là
người kiên trì trong việc chạy chữa vô sinh. Theo yêu cầu của nhà vua, Thái y
viện đã dựa vào ''Minh Mạng thang'' để nghiên cứu ra 2 toa thuốc "nhất dạ
lục giao sinh ngũ tử" và "nhất dạ lục giao sinh tứ tử" nhưng
thất bại. Thuốc tẩm bổ không xong, các ngự y lại bào chế các thuốc đặc trị như
"Khởi dương thang", "Hà linh vạn thọ đơn", "Diên niên ích
thọ bất lão đơn"... Thậm chí vua Tự Đức còn dùng cả "Ích thọ vĩnh
chân cao" của Thái y viện nước Triều Tiên nhưng kinh hỉ vẫn không tới.
Cung đình bất tài, Vua Tự Đức không ngại xin thuốc bí
truyền trong nhân dân. Theo Đại Nam Thực lục Chính biên, vào năm Bính Tý 1876,
vua ra chỉ dụ: ''Không cứ quan lại, sĩ thứ, xa gần trai gái, người nào chữa
khỏi bệnh đau mắt và sinh nhiều con nối, quả thực kiến hiệu thì thưởng cho chức
quan tam phẩm, ban thưởng 5000 lạng bạc".
Song song với việc săn lùng thuốc trị bất lực, Vua Tự Đức còn tuyển vào hậu cung cả trăm phi tần mỹ nữ. Theo một giai thoại, nhà vua còn hạ cố lấy một phụ nữ đã qua một đời chồng, nhưng rốt cuộc vẫn không thể sinh con rồng.
Vua Tự Đức còn không ngừng cầu tự tại các đền chùa
linh thiêng. Ông sợ chữ Thiên phạm húy với Trời nên đổi tên một số chùa ở Huế
như Thiên Mụ đổi thành Linh Mụ, Thiên Ấn đổi thành Từ Ân… để Trời thương mà cho
con nối dõi.
Đáng tiếc mọi nỗ lực của nhà vua đều thất bại, cuối
cùng ông đành chọn 3 người cháu là Ưng Chân, Ưng Đăng, Ưng Kỷ đưa vào cung
phong làm hoàng tử, sau chính là các vua Dục Đức, Kiến Phúc và Đồng Khánh.
Vua Tự Đức dù giỏi văn chương, chính triều siêng năng
nhưng lại là người thiếu quyết đoán và không nhìn xa trông rộng, lại bảo thủ
không nghe lời khuyên cải cách của các triều thần Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ
Trạch, Bùi Viện... khiến Đại Nam ngày càng lạc hậu, bị các nước phương Tây nhòm
ngó. Chính trong thời kỳ trị vì của mình, Vua Tự Đức đã để đất nước ta
rơi vào tay thực dân Pháp. Mất nước và không có người nối dõi được xem là những
tội lớn của vua Tự Đức.
Hoàng Quỳnh rằng: "Hai ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp. Trẫm
nghĩ tự đâu đến thế nhưng chưa tìm ra nguyên nhân, hoặc là thâm cung cung nữ quá nhiều, âm khí uất
tắc mà nên như vậy ư? Nay bớt đi, cho ra 100 người, ngõ hầu có thể giải trừ thiên tai từ đây”.
3. CHUYỆN MA ÁM TRONG TỬ CẤM
THÀNH
Dùng tại: Đại Nội Huế
Kể chuyện tạo tò mò
“Người dân Huế truyền tai nhau rằng vào ban đêm, khu vực Tử Cấm Thành từng
xuất hiện:
Tiếng guốc đi,
Tiếng đàn,
Và cả tiếng khóc của cung nữ.
Tất nhiên đây chỉ là giai thoại dân gian, nhưng nó khiến Đại Nội Huế càng
thêm huyền bí.”
Chuyển ý chuyên nghiệp
“Thực tế, nơi đây từng chứng kiến:
Những cuộc tranh quyền,
Những bi kịch hậu cung,
Và sự kết thúc của cả một triều đại.”
4. CHUYỆN VUA KHẢI ĐỊNH “TÂY
NHẤT” TRIỀU NGUYỄN
Dùng tại: Lăng Khải Định
Kể chuyện
“Trong các vua Nguyễn, vua Khải Định được xem là vị vua chịu ảnh hưởng
phương Tây mạnh nhất.
Ông thích:
Kiến trúc châu Âu,
Đồ Tây,
Trang phục Tây,
Và từng sang Pháp nhiều lần.
Chính vì vậy lăng Khải Định có sự pha trộn:
Ấn Độ,
Pháp,
La Mã,
Và kiến trúc truyền thống Việt Nam.”
Điểm gây ấn tượng
“Có du khách nói vui:
‘Đây giống như một lâu đài châu Âu đặt giữa núi rừng Huế.’”
5. TRUYỀN THUYẾT BÀ THIÊN MỤ
Dùng
tại: Chùa Thiên Mụ
Kể
chuyện
“Tương
truyền ngày xưa, tại ngọn đồi bên sông Hương thường xuất hiện một bà lão mặc áo
đỏ.
Bà
nói:
‘Sau
này sẽ có chân chúa đến đây lập chùa để tụ linh khí cho đất nước.’
Ít
lâu sau, chúa Nguyễn Hoàng đi ngang vùng này và cho xây chùa.”
Về
nội dung truyền thuyết, các sử sách triều Nguyễn cơ bản đều ghi lại tương tự
nhau. Sách Đại Nam nhất thống chí (NXB Thuận Hóa, 2006) chép: “… Chúa thượng (Nguyễn
Hoàng - NV) đến xã Hà Khê (nay là xã An Ninh), thấy đồng bằng nổi đất cao như
hình con rồng ngoảnh đầu trông lại, phía trước trông ra sống cái, phía sau liền
với hồ, phong cảnh đẹp tốt, nhân hỏi người địa phương, họ nói gò này rất
thiêng. Tương truyền ngày trước có người trông thấy một bà già mặc áo đỏ quần
xanh ngồi trên gò nói: 'Phải có chân chúa đến dựng chùa ở đây, mà thu góp khí
thiêng để giữ vững long mạch'. Nói xong thì biến mất, nên gọi là núi Thiên Mụ.
Chúa thượng bèn dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ”.
Chốt
cảm xúc
“Vì
vậy chùa có tên là Thiên Mụ – nghĩa là ‘bà tiên trời’.”
6. CHUYỆN TÌNH SÔNG HƯƠNG
Dùng tại: Sông Hương
Kể
chuyện nhẹ nhàng
“Người
Huế có câu:
‘Sông
Hương nước chảy lơ thơ
Dưới
dòng nước chảy có cô chèo đò.’
Ngày
xưa, sông Hương không chỉ là dòng sông thơ mộng mà còn là nơi chứng kiến rất
nhiều chuyện tình lãng mạn.”
Tạo
cảm xúc
“Ban
đêm nghe Ca Huế trên sông Hương, nhiều người nói rằng:
Chưa
nghe thì chưa hiểu Huế,
Nghe
rồi sẽ nhớ Huế rất lâu.”
7. CHUYỆN CẦU TRƯỜNG TIỀN 6 VÀI 12 NHỊP
Dùng tại: Cầu Trường Tiền
Kể
chuyện
“Cầu
Trường Tiền được người Pháp xây dựng cuối thế kỷ XIX.
Người
Huế thường gọi:
‘Cầu
Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp.’
Cây
cầu này từng:
Bị
chiến tranh phá hủy,
Bị
bão đánh sập,
Nhưng
rồi lại được dựng lên như chính tính cách kiên cường của người Huế.”
8. GIAI THOẠI CẤM YÊU TRONG HOÀNG CUNG
Dùng tại: Tử Cấm Thành
Kể
chuyện
“Ngày
xưa cung nữ trong hoàng cung bị quản lý rất nghiêm ngặt.
Nhiều
người vào cung từ nhỏ và cả đời không được kết hôn.
Chính
vì vậy đã xuất hiện nhiều câu chuyện tình buồn trong cung cấm Huế.”
Tạo
chiều sâu
“Đằng
sau vẻ đẹp vàng son của cung đình là rất nhiều số phận cô đơn.”
9. CHUYỆN GIỌNG NÓI NGƯỜI HUẾ
Dùng trên xe
Kể
chuyện vui
“Người
Huế nói nhẹ đến mức nhiều du khách miền Bắc và miền Nam phải nghe… lần thứ hai
mới hiểu.
Có
câu vui:
Người
Huế giận cũng nói nhỏ,
Mà
thương cũng nói nhỏ.”
Tương
tác khách
“Quý khách thử nghe một cô gái Huế nói ‘dạ’ thôi là đã thấy chất thơ rồi.”
Giọng nói người Huế là di sản văn hóa phi vật thể đặc trưng, nổi tiếng với sự nhẹ nhàng, trầm bổng, mượt mà và sâu lắng, thường được ví như âm nhạc. Xuất phát từ kinh đô phong kiến, giọng Huế pha trộn sự đài các và nét hiền lành, tuy khó nghe với người vùng khác nhưng lại rất đằm thắm.
Đặc
điểm nổi bật của giọng Huế:
Trầm
và nặng: Giọng Huế thường trầm hơn so với
giọng Bắc và Nam, nhiều từ ngữ được phát âm nhấn mạnh, nặng dấu, tạo cảm giác
tâm tình, thủ thỉ.
Văn
hóa "thưa gửi": Người Huế rất
tôn trọng lễ nghi, câu nói thường kèm theo các từ đệm như "dạ",
"thưa", "hí", "mô", "tê",
"răng", "rứa".
Phân
loại giọng địa phương: Giọng Huế cũng
có sự phân hóa: giọng Dinh (nội thành nhẹ nhàng), giọng Hạ Bạn (vùng biển nặng
hơn), và giọng Mỹ Lợi (lạ lùng, giống giọng Quảng nhưng gốc Thanh).
Sự
tinh tế: Dù âm hưởng nặng, nhưng giọng
nói Huế vẫn gợi cảm giác kín đáo, tao nhã, phản ánh tâm hồn thanh cao, không ồn
ào của người dân cố đô.
Một
số từ ngữ và câu nói đặc trưng:
Từ
vựng: Mô (đâu), Tê
(kia), Răng (sao), Rứa (thế), Hí/Dạ (nhé/vâng - từ đệm
cuối câu), Nớ (ấy).
Ví
dụ: "Rứa khi mô anh vô trong nớ
thì cho em gởi lời hỏi thăm người thân với hí?".
Giọng Huế không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là niềm tự hào, là "đặc sản" văn hóa khiến người đi xa luôn nhớ về.
10. CHUYỆN ẨM THỰC CUNG ĐÌNH HUẾ
Dùng tại nhà hàng
Kể
chuyện
“Ẩm
thực Huế nổi tiếng vì cầu kỳ.
Ngày
xưa món ăn dâng vua:
Không
chỉ ngon,
Mà
còn phải đẹp như tác phẩm nghệ thuật.”
Ví
dụ hấp dẫn
“Một bữa ăn cung đình có thể có hàng chục món nhỏ với màu sắc tượng trưng cho ngũ hành.”
Ẩm
thực cung đình Huế là đỉnh cao của văn hóa ẩm thực Việt Nam, kết tinh sự tinh
túy từ nguyên liệu, sự khéo léo chế biến và trình bày nghệ thuật, từng phục vụ
vua chúa triều Nguyễn. Đặc trưng bởi hương vị thanh tao, ít dầu mỡ, trình bày
cầu kỳ theo nguyên lý âm dương-ngũ hành, các món ăn nổi tiếng bao gồm nem công,
chả phượng, cơm sen, yến sào và các loại chè cung đình.
Đặc điểm nổi bật
Tinh
tế và Cầu kỳ: Không chỉ để ăn no, mỗi món ăn là một tác phẩm nghệ thuật, sử
dụng chén ngọc, đĩa sứ có hoa văn rồng phượng.
Hương
vị thanh tao: Ưu tiên hương vị tự nhiên, thanh tao, dịu nhẹ, không quá đậm đà,
ít dầu mỡ.
Triết
lý Ngũ hành: Màu sắc món ăn được phối hợp hài hòa (xanh, đỏ, vàng, trắng, đen),
thể hiện sự cân bằng âm dương.
Nguyên liệu quý hiếm: Thường bao gồm "Bát trân" (8 món ngon quý
hiếm nhất) như nem công, chả phượng, da tây ngưu, bàn tay gấu, gân
nai....
Các món ăn Cung đình Huế tiêu biểu
Nem
Công - Chả Phượng: Món ăn đứng đầu trong Bát trân, nổi tiếng với kỹ thuật chế
biến không dùng lửa.
Cơm
Sen: Cơm gói lá sen thơm lừng, bên trong có hạt sen, tôm, thịt, là món ăn hoàng
gia nổi tiếng.
Yến
Sào: Món ăn bổ dưỡng cao cấp, được chế biến từ tổ yến.
Chè
hạt sen long nhãn: Món chè tinh tế, thường được dùng để tiến vua.
Da
tây ngưu (da tê giác), Gân nai: Những món ăn quý hiếm ngày xưa.
Sự giao thoa văn hóa
Ẩm
thực cung đình Huế chịu ảnh hưởng từ văn hóa Việt Cổ, ẩm thực Champa xưa và
triều đình Trung Hoa (thông qua các món hầm/ninh như vịt, chim bồ câu). Bên
cạnh đó, văn hóa Phật giáo sâu đậm ở Huế cũng ảnh hưởng lớn, tạo nên nét thanh
tịnh, nhẹ nhàng.
Ngày nay, ẩm thực cung đình Huế đã trở thành di sản văn hóa, được tái hiện tại các nhà hàng cao cấp để thực khách có thể trải nghiệm không khí hoàng cung xưa.
MẸO DÙNG GIAI THOẠI CHO HDV
Không
nên
Kể
quá dài
Kể
sai lịch sử
Kể
kiểu đọc thuộc lòng
Nên
Kể
như trò chuyện
Có
nhịp cảm xúc
Thêm
chút hài nhẹ
Kết
thúc bằng câu đọng cảm xúc
CÂU CHỐT “ĂN TIỀN” CHO TOUR HUẾ
“Huế
đẹp không phải vì quá rực rỡ,
mà vì nơi đây khiến người ta chậm lại để cảm nhận.”
MẪU MỞ BÀI & KẾT BÀI “CỰC CUỐN” CHO THUYẾT MINH
HUẾ
Dành cho Hướng dẫn viên du lịch
MẪU MỞ BÀI “CỰC CUỐN” CHO THUYẾT MINH HUẾ
1.
Mở bài cảm xúc – thơ mộng
“Kính thưa quý cô chú, anh chị và
các bạn!
Người ta thường nói: nếu Hà Nội khiến người ta nhớ, Sài Gòn khiến người ta
thương… thì Huế lại khiến người ta vấn vương.
Hôm nay, rất vui được đồng hành cùng đoàn trên hành trình khám phá Huế – vùng đất của di sản, của tiếng chuông chùa
ngân trong sương sớm, của tà áo tím nhẹ bay bên dòng Hương Giang thơ mộng.”
2.
Mở bài kiểu kể chuyện
“Thưa quý khách, có một vị vua từng
nói rằng:
‘Huế nhỏ thôi… nhưng giữ cả hồn dân tộc Việt Nam.’
Quả thật, trên mảnh đất cố đô này, mỗi mái ngói rêu phong, mỗi nhịp cầu, mỗi
món ăn đều mang trong mình một câu chuyện lịch sử hàng trăm năm tuổi.
Và hôm nay, em xin mời quý khách cùng mở cánh cửa thời gian để trở về với Huế của triều Nguyễn, của cung đình vàng son và
nét đẹp rất riêng không nơi nào có được.”
3.
Mở bài hoạt náo – tạo tương tác
“Trước khi bắt đầu hành trình, em
xin hỏi nhỏ đoàn mình một câu nhé:
Ở đây có ai từng nghe câu:
‘Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ’ chưa ạ?
(Vỗ tay – tương tác)
Và hôm nay, thay vì nghe qua câu hát, chúng ta sẽ trực tiếp bước vào bức tranh
ấy – nơi có sông Hương, núi Ngự, có nhã nhạc cung đình và cả những món ăn khiến
người ta nhớ mãi không quên.”
4.
Mở bài sang trọng – chuyên nghiệp
“Kính chào quý khách!
Rất hân hạnh được đồng hành cùng đoàn trong hành trình khám phá Huế – Di sản Văn hóa Thế giới được UNESCO công nhận.
Không chỉ là kinh đô cuối cùng của Việt Nam, Huế còn là nơi hội tụ tinh hoa
kiến trúc, âm nhạc, ẩm thực và văn hóa cung đình đặc sắc.
Hy vọng chuyến đi hôm nay sẽ mang đến cho quý khách thật nhiều trải nghiệm đáng
nhớ.”
5.
Mở bài hài hước – duyên dáng
“Thưa quý khách, người Huế nổi
tiếng nhẹ nhàng, nói nhỏ nhẹ… nhưng đồ ăn Huế thì lại cay ‘hết hồn’!
Hôm nay, ngoài việc tham quan di tích, em mong quý khách chuẩn bị sẵn tinh thần
để:
ăn cay hơn, chụp hình đẹp hơn… và yêu Huế nhiều hơn!”
6.
MỞ BÀI KIỂU “ĐIỆN ẢNH – CÓ HÌNH ẢNH”
“Kính thưa quý khách!
Nếu Việt Nam là một bản nhạc…
Thì Huế chính là đoạn nhạc sâu lắng nhất.
Ở nơi đây có:
Dòng sông Hương mềm như dải lụa,
Núi Ngự đứng trầm mặc giữa trời,
Những mái cung son đã nhuốm màu
thời gian,
Và những tà áo tím khiến cả thành
phố như một bài thơ.
Chuyến đi hôm nay sẽ không quá ồn
ào…
Bởi Huế không chinh phục người ta bằng sự náo nhiệt.
Huế chinh phục bằng chiều sâu.”
7.
MỞ BÀI KIỂU “ĐÁNH THỨC CẢM XÚC”
“Thưa quý khách…
Có những vùng đất người ta đến để vui chơi.
Có những nơi người ta đến để check-in.
Nhưng riêng Huế… người ta đến để cảm.
Cảm cái chậm của thời gian…
Cảm tiếng chuông chùa ngân giữa chiều mưa…
Cảm nét trầm mặc của kinh thành cũ…
Và cảm cả một miền ký ức rất Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn sau bao biến thiên
lịch sử.
Hôm nay, em không chỉ đưa quý khách
đi tham quan Huế…
Mà xin được cùng quý khách chạm vào linh hồn của vùng đất cố đô.”
8.
MỞ BÀI “SANG – ĐẲNG CẤP – RẤT TOUR VIP”
“Kính chào quý khách!
Rất vinh dự được đồng hành cùng đoàn trong hành trình khám phá Huế — vùng đất
từng là kinh đô của triều Nguyễn suốt 143 năm.
Không nơi nào ở Việt Nam còn lưu
giữ được:
cả một quần thể cung đình,
hệ thống lăng tẩm,
nhã nhạc cung đình,
cùng chiều sâu văn hóa hoàng gia
một cách nguyên vẹn như Huế.
Chính vì vậy, UNESCO đã công nhận
Huế là Di sản Văn hóa Thế giới.
Và hôm nay, xin mời quý khách cùng
bước vào một hành trình mang màu sắc hoàng cung giữa đời thực.”
MẪU KẾT BÀI THUYẾT MINH HUẾ
1.
Kết bài cảm xúc sâu lắng
“Thưa quý khách, hành trình khám
phá Huế của chúng ta đến đây xin được khép
lại.
Hy vọng rằng sau chuyến đi hôm nay, Huế sẽ không chỉ còn là một điểm đến trên
bản đồ… mà sẽ trở thành một miền ký ức đẹp trong lòng quý khách.
Xin kính chúc quý khách thật nhiều sức khỏe, niềm vui và hẹn gặp lại trên những
hành trình tiếp theo.”
2.
Kết bài kiểu thơ – nghệ thuật
“Xin được mượn vài câu thơ để thay
lời chào tạm biệt:
‘Ai ra xứ Huế mộng mơ
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà
Huế đi để nhớ để thương
Để nghe sâu lắng vấn vương một đời…’
Xin cảm ơn quý khách đã đồng hành
cùng em trong chuyến tham quan hôm nay.”
3.
Kết bài chuyên nghiệp
“Kính thưa quý khách,
Chương trình tham quan Huế đến đây đã hoàn
thành.
Thay mặt công ty và cá nhân em, xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, đúng giờ và
tinh thần rất tuyệt vời của đoàn trong suốt hành trình.
Kính chúc quý khách nhiều sức khỏe và mong sẽ tiếp tục được phục vụ quý khách
trong những chương trình tiếp theo.”
4.
Kết bài tạo dư âm
“Người ta nói:
Đến Huế thì dễ… nhưng quên Huế mới khó.
Hy vọng sau hôm nay, mỗi khi nghe một điệu hò, thấy một tà áo tím hay nhắc đến
dòng sông Hương, quý khách sẽ nhớ rằng mình đã từng có một ngày thật đẹp ở Huế.”
5.
Kết bài hoạt náo vui vẻ
“Trước khi chia tay, em xin kiểm
tra nhanh nhé:
Ai hôm nay thích Huế thì cho em một tràng pháo tay thật lớn nào!
(Cả đoàn vỗ tay)
Cảm ơn quý khách rất nhiều. Chúc đoàn luôn vui vẻ, bình an và có thật nhiều
chuyến đi đáng nhớ!”
V. MẸO CHUYÊN NGHIỆP
Không
nên:
Mở
bài quá dài
Dùng
quá nhiều số liệu
Đọc
như học thuộc
Nên:
Có
cảm xúc
Có
hình ảnh
Có
nhịp điệu
Có
câu “đọng”
CÂU CHỐT DÀNH CHO HDV HUẾ
“Người
hướng dẫn viên giỏi không chỉ giúp khách nhìn thấy cảnh đẹp…
mà còn giúp khách cảm được linh hồn của vùng đất ấy.”
Các điểm tham quan ở Huế
Quần thể di tích Cố đô Huế - Di sản văn hoá thế
giới (giới thiệu sơ bộ)
Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, Việt Nam, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993.
Ngày nay, Quần thể di tích cố đô Huế đã được Thủ tướng chính phủ Việt Nam
đưa vào danh sách xếp hạng 95 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam.
Quần thể di tích Cố đô Huế được phân chia thành 2 cụm: cụm công trình ngoài
Kinh thành Huế và trong Kinh thành Huế.
Cụm công trình trong Kinh thành Huế:
Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công
xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng, kéo dài
suốt 27 năm.
Các di tích trong kinh thành gồm:
1. Kỳ Đài
Còn gọi là Cột cờ, nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình. Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời gian xây dựng kinh thành Huế. Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840. Trong lịch sử, kỳ đài thường là nơi đánh dấu các sự kiện quan trọng và sự thay đổi thể chế chính quyền ở Huế.
2. Trường Quốc Tử Giám
Năm 1803 vua Gia Long xây dựng Đốc Học Đường tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương. Đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay).
Với vai trò trường kinh sư, tồn tại đến cuối triều Nguyễn, mặc dù bị chi phối do những biến động về mặt xã hội... nhưng Văn Miếu - Quốc Tử Giám Huế là một tổ chức giáo dục tương đối kỷ cương, là nơi đã đào tạo cho đất nước nhiều hiền tài (293 tiến sĩ) với những tên tuổi như: Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Phan Thúc Trực, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền...
3. Điện Long An
Điện Long An là cung điện đẹp nhất trong kinh thành Huế đã tồn tại gần 150
năm nay. Tên tuổi của điện Long An được gắn liền với Bảo Định Cung, hành cung
của vua Thiệu Trị được xây dựng năm 1845.
Điện được xây dựng vào năm 1845, thời vua Thiệu Trị với tên gọi là Điện Long An trong cung Bảo Định, phường Tây Lộc (Huế) làm nơi nghỉ của vua sau khi tiến hành lễ Tịch điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân. Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, ngâm vịnh.
4. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế
Tọa lạc tại số 3, Lê Trực, thành phố Huế, Tòa nhà chính của viện bảo tàng chính là điện Long An xây năm 1845 dưới thời vua Thiệu Trị. Hiện bảo tàng trưng bày hơn 300 hiện vật bằng vàng, sành, sứ, pháp lam Huế, ngự y và ngự dụng, trang phục của hoàng thất nhà Nguyễn. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế giúp người tham quan một cái nhìn tổng thể về cuộc sống cung đình Huế.
5. Đình Phú Xuân
Đình Phú Xuân được xây dựng nửa đầu thế kỷ XIX ở tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế; nay thuộc phường Tây Lộc, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố 2 km về phía Bắc.
6. Hồ Tịnh Tâm
Hồ Tịnh Tâm là một di tích cảnh quan được kiến tạo dưới triều Nguyễn. Trước đây, hồ nguyên là vết tích của đoạn sông Kim Long chảy qua Huế. Đầu thời Gia Long, triều đình cho cải tạo một số đoạn sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Hai bãi nổi trong hồ này được dùng làm nơi xây dựng kho chứa thuốc súng và diêm tiêu. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính tham gia vào việc cải tạo hồ. Năm 1838, vua Minh Mạng cho di dời hai kho sang phía đông, tái thiết nơi này thành chốn tiêu dao, giải trí và gọi là hồ Tịnh Tâm. Dưới thời vua Thiệu Trị đây được xem là một trong 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh.
7. Tàng thư lâu
Tàng thư lâu là được xây dựng năm 1825 trên hồ Học Hải trong kinh thành Huế, dùng làm nơi lưu các công văn cũ của cơ quan và lục bộ triều đình nhà Nguyễn. Đây có thể coi là một Tàng Kinh Các của Việt Nam dưới triều Nguyễn lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều đình và biến đổi của đất nước. Chỉ riêng số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến 12.000 tập. Có thể nói Tàng thư lâu rất quan trọng trong việc chứa các tài liệu và địa bạ, giấy tờ quan trọng lúc bấy giờ.
8. Viện Cơ Mật - Tam Tòa
Là cơ quan tư vấn của nhà vua gồm bốn vị đại thần từ Tam Phẩm trở lên, là Đại Học Sĩ của các điện Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển và Cần Chánh. Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng vùng với toà Giám Sát (của người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà. Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc phường Thuận Thành, ở góc Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.
9. Cửu vị thần công
Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, khi lên ngôi, vua Gia Long liền cho các nghệ nhân đương thời tập trung tất cả chiến lợi phẩm là binh khí và vật dụng bằng đồng để đúc thành 9 khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. Công việc đúc chính thức từ năm 1803 và hoàn thành vào năm 1804.
10. Hoàng thành Huế
Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan
trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm
Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành thường
được gọi chung là Đại Nội.
Các di tích trong Hoàng Thành gồm:
• Ngọ Môn
Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng Thành Huế được xây dựng vào năm Minh Mạng 14 (1833). Ngọ Môn có nghĩa đen là Cổng giữa trưa hay Cổng xoay về hướng Ngọ, là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế. Về mặt từ nguyên học, "Ngọ Môn" có nghĩa là chiếc cổng xoay mặt về hướng Ngọ, cũng là hướng Nam, theo Dịch học là hướng dành cho bậc vua Chúa.
• Điện Thái Hoà và sân Đại Triều Nghi
Điện Thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế. Điện cùng với sân chầu là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm của đất nước. Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn.
• Triệu Tổ Miếu
Triệu Tổ miếu còn gọi là Triệu Miếu, được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804).
Miếu này nằm ở phía bắc của Thái Miếu trong hoàng thành Huế, là miếu thờ Nguyễn
Kim, thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
• Hưng Tổ Miếu
Hưng Tổ Miếu còn gọi là Hưng Miếu là ngôi miếu thờ cha mẹ vua Gia Long (ông Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn) và bà Nguyễn Thị Hoàn), vị trí ở Tây Nam Hoàng thành Huế|hoàng thành (cách Thế Miếu chừng 50 mét về phía Bắc).
• Thế Tổ Miếu
Thế Tổ Miếu thường gọi là Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn. Đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới trong triều (kể cả hoàng hậu) không được đến tham dự các cuộc lễ này.
• Thái Tổ Miếu
Thái Tổ Miếu còn gọi là Thái Miếu là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc Đông Nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía Tây Nam.
• Cung Diên Thọ
Cung Diên Thọ tên ban đầu là cung Trường Thọ, các tên khác là Từ Thọ, Gia Thọ, Ninh Thọ; được bắt đầu xây dựng năm 1803 để làm nơi sinh hoạt của Hoàng Thái Hậu của triều Nguyễn.
• Cung Trường Sanh
Cung Trường Sanh hay Cung Trường Sinh (còn có tên gọi khác là Cung Trường Ninh), được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ nhất (1821) ở phía Tây Bắc Hoàng thành với vai trò ban đầu là hoa viên, nơi các vua triều Nguyễn mời mẹ mình đến thăm thú ngoạn cảnh. Về sau cung được được chuyển thành nơi ăn ở sinh hoạt của một số bà hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu. Trong thời kỳ rực rỡ nhất, kiến trúc cảnh quan của Cung Trường Sanh được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ bảy của thắng cảnh đất Thần Kinh.
• Hiển Lâm Các
Hiển Lâm Các được xây dựng vào năm 1821 và hoàn thành vào năm 1822 thời vua Minh Mạng nằm trong khu vực miếu thờ trong hoàng thành Huế, cao 17m và là công trình kiến trúc cao nhất trong Hoàng Thành. Đây được xem là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích của các vua nhà Nguyễn và các quan đại thần có công lớn của triều đại.
• Cửu Đỉnh
Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng đặt ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu, phía Tây Nam Hoàng hành Huế. Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.
• Điện Phụng Tiên
Điện Phụng Tiên là một ngôi điện nằm ở gần cửa Chương Đức, phía trước Cung Diên Thọ, cửa tây của Hoàng Thành được vua Gia Long và vua Minh Mạng xây dựng dùng để thờ cúng các vua triều Nguyễn. Khác với Thế Miếu, điện này tuy cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà Nguyễn nhưng nữ giới trong triều được phép đến đây cúng tế. Ngoài ra, nó còn là nơi lưu trữ nhiều bảo vật của nhiều đời vua nhà Nguyễn. Tháng 2 năm 1947, toàn bộ điện bị đốt cháy, hiện nay chỉ còn lại cửa Tam Quan và vòng tường thành còn tương đối nguyên vẹn.
• Tử Cấm thành
Tử Cấm Thành nguyên gọi là Cung Thành là vòng tường thành thứ 3 của Kinh đô Huế, giới hạn khu vực làm việc, ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia.
Các di tích trong Tử cấm thành gồm:
Tả Vu và Hữu Vu
Tả Vu và Hữu Vu được xây dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo vào năm 1899. Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ; đây là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của cơ mật viện, nơi tổ chức thi đình và yến tiệc.
Vạc đồng
Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời. Trong số đó, 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời Minh Mạng.
Điện Kiến Trung
Điện Kiến Trung trong Tử Cấm thành (Huế) được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923 cùng thời gian với xây lăng để làm nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung. Sau này, vua Bảo Đại cho tu sửa lại điện, tân trang các tiện nghi Tây phương và cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại đây.
• Điện Cần Chánh
Điện Cần Chánh trong Tử Cấm thành (Huế), được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804), sau còn được tu bổ nhiều lần. Điện là nơi vua thiết triều, thường tiếp sứ bộ ngoại giao, tổ chức yến tiệc của hoàng gia và triều đình của triều Nguyễn, hiện nay đã trở thành phế tích do bị phá huỷ từ năm 1947.
Hoàng đế Khải Định làm việc ở Cần Chánh điện. Nguồn: Trung tâm bảo tồn di
tích cố đô Huế lưu trữ
Thái Bình Lâu
Thái Bình Lâu được vua Khải Định cho xây dựng vào năm 1919, đến năm 1921 thì hoàn thành, là nơi để nhà vua có thể nghĩ ngơi lúc rảnh rỗi, cũng là chỗ để nhà vua đọc sách, viết văn, làm thơ, thư giản.
Duyệt Thị Đường
Duyệt Thị Đường - theo như các tài liệu và thư tịch cổ hiện còn lại cho
biết - là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam. Đây là nhà hát của
hoàng cung, nơi dành cho vua và những người trong hoàng tộc thưởng thức các
loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật tuồng cổ. Nhà hát
Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826).
Từ năm 2004, Duyệt Thị Đường được Trung tâm bảo tàng di tích cố đô Huế khôi
phục và đưa vào hoạt động biểu diễn nhã nhạc cung đình Huế phục vụ khách du
lịch.
Các di tích ngoài kinh thành:
1. Lăng Gia Long
Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ Lăng bắt đầu được xây dựng từ năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn tất. Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này.
2. Lăng Minh Mạng
Tháng 2 năm 1820 vua Gia Long băng hà, con trai thứ tư là Phúc Kiểu, húy là Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu Minh Mạng. Minh Mạng là ông vua có nhiều đóng góp vào việc ổn định và xây dựng vương triều Nguyễn, mở mang đất nước, củng cố nền thống nhất quốc gia…Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng. Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km.
3. Lăng Thiệu Trị
Lăng Thiệu Trị nằm ở địa phận làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, cách Kinh thành chừng 8km. Ở ngôi vua được 7 năm, vua Thiệu Trị lâm bệnh mất ngày 4-11-1847 (thọ 41 tuổi). Sinh thời, nhà vua chưa nghĩ đến cái chết của mình và không muốn binh, dân hao tổn quá nhiều sức lực và của cải, nên ông chưa xây cất sơn lăng.
Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy. Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chôn cất vua cha Thiệu Trị. là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị. So với lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn
4. Lăng Tự Đức
Lăng Tự Đức được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng. Lăng có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.
5. Lăng Đồng Khánh
Lăng Đồng Khánh được xây dựng trên vùng đất thuộc làng Cư Sĩ, nay là thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Xung quanh lăng này có rất nhiều lăng mộ của bà con quyến thuộc nhà vua.
Lăng Ðồng Khánh còn gọi là Tư Lăng tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, thành phố Huế). Nguyên trước đây là Ðiện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ cha mình là Kiên Thái Vương. Khi Ðồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời. Vua Thành Thái (1889-1907) kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Ðồng Khánh.
6. Lăng Dục Đức
Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng là một di tích trong quần thể di tích cố đô
Huế, là nơi an táng vua Dục Ðức, vị vua thứ 5 của triều đại nhà Nguyễn.Lăng Dục
Đức cũng chính là nơi Thiên Táng của vua Dục Đức khi xưa
Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng tọa lạc tại thôn Tây Nhất, làng An Cựu, xưa thuộc huyện Hương Thủy, nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố chưa đầy 2 km; là nơi an táng của 3 vua nhà Nguyễn: Dục Ðức, Thành Thái và Duy Tân. Dục Đức lên ngôi năm 1883 được 3 ngày thì bị phế trất và mất, sau này con ông là vua Thành Thái (lên ngôi năm 1889) cho xây lăng để thờ cha đặt tên là An Lăng. Năm 1954, khi vua Thành Thái mất, thi hài được đưa về chôn tại địa điểm hiện nay trong khu vực An Lăng và được thờ ở ngôi điện Long Ân. Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về an táng cạnh lăng Thành Thái.
7. Lăng Khải Định
Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là lăng mộ của vua Khải Định
(1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, tọa lạc tại xã Thủy Bằng, huyện
Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách Tp. Huế 10km.
Lăng Khải Định còn gọi là Ứng Lăng toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi
là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định, vị vua thứ 12
của triều Nguyễn. Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên
ngôi. Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng
kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi sự pha trộn kiến trúc Đông Tây Kim Cổ lạ
thường, với các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo.
Các di tích khác
8. Trấn Bình đài
Trấn Bình đài nằm ở vị trí Đông Bắc kinh thành Huế bên ngoài cửa Trấn Bình được xây dựng năm Gia Long thứ 4 (1805), lúc đầu gọi là đài Thái Bình, đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) đổi thành Trấn Bình đài, dân gian gọi là đồn Mang Cá. Đây là cái pháo đài thứ 25 của Kinh thành Huế, một thành phụ của Kinh thành, cách thành chính chỉ một đoạn hào chung.
9. Phu Văn Lâu
Phu Văn Lâu nằm trên trục chính của Hoàng thành Huế phía trước Kỳ Đài, được
xây dựng vào năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết những chỉ
dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình
tổ chức. Năm 1829, vua Minh Mạng dùng nơi đây làm địa điểm tổ chức cuộc đấu
giữa voi và hổ, năm 1830 ông lại tổ chức cuộc vui chơi yến tiệc suốt 3 ngày để
mừng sinh nhật của mình.
10. Tòa Thương Bạc
Tòa Thương Bạc tọa lạc bên bờ Nam sông Hương, bên ngoài cổng Thượng Tứ được vua Tự Đức cho xây dựng năm 1936, tại vị trí hiện nay, cách vị trí Thương Bạc Viện cũ khoảng 100m để ghi nhớ di tích Thương Bạc Viện. Đây là trụ sở để đón tiếp các sứ thần nước ngoài. Công trình này được xây bằng vật liệu mới như xi măng, sắt thép; mặt nền hình bát giác, mái chia 2 tầng lợp ngói lưu ly, cấu trúc thanh nhã, hài hòa với cảnh vật xung quanh.
11. Văn miếu
Văn Miếu còn gọi là Văn Thánh Miếu là nơi thờ Khổng Tử và dựng bia tiến sĩ.
Miếu được chính thức xây dựng vào năm 1808 dưới triều vua Gia Long và có quy mô
uy nghi đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An
Ninh, phía Tây Kinh thành Huế.
12. Võ Miếu
Võ Miếu hay Võ Thánh miếu tại Huế được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) thời Minh Mạng tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Đây là nơi thờ phụng và ghi danh những danh tướng Việt Nam, những tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới triều Nguyễn, đây còn là nơi thờ một số danh tướng Trung Quốc.
13. Đàn Nam Giao
Đàn Nam Giao triều Nguyễn được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đây là nơi các vua Nguyễn tế trời.
14. Hổ Quyển
Hổ Quyền còn đọc là Hổ Khuyên tọa lạc tại địa phận thôn Trường Đá, xã Thủy
Biều, thành phố Huế; được xây dựng năm Minh Mạng thứ 11 (1830), là một chuồng
nuôi hổ và là một đấu trường độc đáo. Dưới triều Nguyễn đây là đấu trường của
những cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu
cầu giải trí tiêu khiển cho vua, quan lại và người dân.
15. Điện Voi Ré
Điện Voi Ré nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía Tây-Nam, cách Hổ Quyền khoảng 400m, trên địa phận thôn Trường Đá thuộc xã Thủy Biều, thành phố Huế. Tương truyền, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhân dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ cho một con voi của một dũng tướng chết trận, gọi là mộ Voi Ré. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng bên cạnh mộ con voi một ngôi điện thờ với tên gọi là Long Châu Miếu để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Từ truyền thuyết và sự kiện lịch sử như vậy, dân gian quen gọi ngôi miếu này là điện Voi Ré.
16. Điện Hòn Chén
Điện Hòn Chén tọa lạc trên núi Ngọc Trản, thuộc làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Núi Ngọc Trản xưa có tên là Hương Uyển Sơn, sau mới đổi tên là Ngọc Trản (có nghĩa là chén ngọc), dân gian vẫn quen gọi là Hòn Chén vì nó ngay ngắn tròn trĩnh như hình chén úp. Cũng vì vậy, người ta quen gọi ngôi điện thờ Thánh mẫu tọa lạc giữa lưng chừng núi là điện Hòn Chén. Ðiện Hòn Chén là nơi ngày xưa người Chàm thờ nữ thần PoNagar, sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà dưới xưng Thánh Mẫu Thiên Y A Na.
17. Chùa Thiên Mụ
Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía tây. Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong. Đây là ngôi quốc tự dưới thời Nguyễn, cũng là ngôi chùa cổ nhất của Huế.
18. Trấn Hải Thành
Trấn Hải Thành (Thành trấn giữ mặt biển) là một thành lũy dùng để bảo vệ kinh đô triều Nguyễn được xây dựng ở cửa ngỏ Phía Đông kinh thành Huế, cách đó 10 km đường sông và 13 km đường bộ. Cửa biển này người ta gọi là yêu Hải Môn - hay Cửa Eo (Cửa Lấp). Năm 1813, Gia Long cho xây dựng Trấn Hải Đài và đổi tên Cửa Eo thành Cửa Thuận An. Đến năm 1834, vua Minh Mạng cho đổi tên Trấn Hải đài ra Trấn Hải thành.
19. Nghênh Lương Đình
Nghênh Lương Đình hay Nghênh Lương Tạ là một công trình nằm trên trục dọc từ Kỳ đài ra đến Phu Văn Lâu được xây dựng dưới triều vua Tự Đức thứ 5 (1852), dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát.
20. Cung An Định
Cung An Định tọa lạc bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát - Thị xã Huế, nay tại số 97 đường Phan Đình Phùng, Thành phố Huế, là cung điện riêng của vua Khải Định từ khi còn là thái tử đến khi làm vua, sau này được Vĩnh Thuỵ thừa kế và từng sống ở đây sau khi thoái vị.
Giá trị nổi bật
Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới, Colombia từ ngày 6 đến
11/12/1993, UNESCO đã công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá
thế giới với tiêu chí (Ciii): là là biểu trưng cho sự nổi bật về uy quyền của
một đế chế phong kiến đã mất của Việt Nam vào thời kỳ hưng thịnh nhất của nó
đầu thế kỷ 19; và tiêu chí (Civ): là một điển hình nổi bật của một kinh đô
phong kiến phương Đông, gồm 16 hạng mục, trong đó đáng chú ý là hệ thống Cung
điện trong tử cấm thành, Hoàng Thành, Kinh Thành, các lăng tẩm, đàn Nam Giao,
Văn Miếu, Võ Miếu, Chùa Thiên Mụ, Hồ Quyền…
Năm 1993, UNESCO đã công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá
thế giới, là biểu trưng cho sự nổi bật về uy quyền của một đế chế phong kiến đã
mất của Việt Nam vào thời kỳ hưng thịnh nhất của nó đầu thế kỷ XIX.
Một sự kiện trọng đại trong lịch sử văn hoá Việt Nam, tài sản đầu tiên của
Việt Nam được ghi tên vào danh mục Di sản thế giới, khẳng định giá trị mang
tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế. Theo đánh giá của UNESCO, quần
thể di tích Cố đô Huế đã hội đủ các yếu tố:
- Tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, những kiệt tác do bàn
tay con người tạo dựng.
- Có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc trong
một kế hoạch phát triển đô thị hay một chương trình làm đẹp cảnh quan tại một
khu vực văn hoá của thế giới.
- Một quần thể kiến trúc tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử quan trọng.
- Kết hợp chặt chẽ với các sự kiện trọng đại, những tư tưởng hay tín ngưỡng
có ảnh hưởng lớn, hay với các danh nhân lịch sử./.
Nguồn: http://khamphahue.com.vn/
Giới thiệu chi tiết các công trình kiến trúc lăng tẩm, đền đài
|
1.
Ngọ Môn 2.
Cửa Hiển Nhơn 3.
Cửa Chương Đức 4.
Cửa Hòa Bình 5.
Cầu Trung Đạo 6.
Hồ Thái Dịch 7.
Sân Đại Triều 8.
Điện Thái Hòa 9.
Triệu Miếu 10. Thái
Miếu 11. Hưng
Miếu 12. Thế
Miếu 13. Cửu
Đỉnh 14. Hiển
Lâm Các 15. Điện
Phụng Tiên |
16. Cung
Diên Thọ 17. Tả
Trà 18. Tịnh
Minh Lâu 19. Trường
Du Tạ 20. Phước
Thọ Am 21. Điện
Thọ Ninh 22. Cung
Trường Sanh 23. Phủ
Nội Vụ 24. Vườn
Cơ Hạ, Điện Khâm Văn 25. Đại
Thọ Sơn 26. Am
Bắc Đẩu 27. Lầu
Tứ Phương Vô Sự 28. Đại
Cung Môn 29. Vạc
Đồng 30. Tả
Hữu Vu |
31. Điện
Cần Chánh 32. Điện
Văn Minh 33. Điện
Võ Hiển 34. Đông
Các 35. Điện
Càn Thành 36. Cung
Khôn Thái 37. Lầu
Kiến Trung 38. Ngự
Tiền Văn Phòng 39. Hồ
Ngự Hà 40. Thái
Bình Lâu 41. Vườn
Thiệu Phương 42. Duyệt
Thị Đường 43. Thị
Vệ Trực Phòng 44. Đông
Kinh Các 45. Lục
Viện |
xà dọc trên đầu
cột cái để tạo nên hệ thống liên ba (nội thất) và cổ diềm (ngoại thất), tứ
tượng là bốn đường cầu phong mái hạ; bát quái là tổng các lớp mái của một ngôi
nhà. Điện Long An cũng giữ "niêm luật" ấy, nhưng tinh tế và có
"thần" riêng. Có lẽ một chặng đường phát triển của kiến trúc cung
điện Huế đến điện Long An thì thật sự định hình, thật sự điêu luyện. Nhiều ô
hộc được bó lại trong một dải liên ba, nhiều liên ba được nối lại trọn vẹn
trong một nội thất. Sự gom góp ấy cũng là một cái gì đó của riêng kiến trúc
Nguyễn, của riêng Huế. Một bài thơ, một bức tranh, một chữ triện không chỉ được
khắc, chạm mà còn được khảm cẩn bằng ngà, bằng xương. Màu trắng vàng nổi lên
giữa màu nền gỗ nâu đậm tạo nên cho điện Long An tự nó đã trở thành Bảo tàng Mỹ
thuật đặc sắc.
Thiệu Trị mất,
Tự Đức lên nối ngôi, điện Long An trở thành nơi thờ phụng vị vua tiền nhiệm và
là nơi bảo tồn hàng trăm áng văn thơ và báu vật cung đình. Sau biến cố thất thủ
kinh đô (1885), điện Long An bị bỏ quên đến năm 1909 vua Duy Tân cho tháo dỡ về
lắp lại tại vị trí hiện nay để làm "tân thơ viện". Từ năm 1923 được
biến thành viện bảo tàng.
Mặc dầu đã bị
mất mát quá nhiều bởi chiến tranh, số hiện vật (động sản) cung đình vẫn còn
hàng ngàn đơn vị với chất liệu và chủng loại khác nhau chứa một lượng thông tin
phong phú và đa dạng.
Đó là "cành
vàng lá ngọc" được đặt trong khay bằng pháp lam, biểu tượng quyền quý. Đó
là bức trấn phong bằng đá chạm lộng phong cảnh và văn thơ vua Minh Mạng; đó là
những sản phẩm khảm tam khí của một nghề thủ công cổ truyền; đó là chiếc kiệu,
là hoàng bào, là vô số đồ "ngự dụng"... thể hiện tài nghệ của nhiều
lớp người có mặt trên đất nước ở những thế kỷ đã qua.
Thăm bảo tàng cổ
vật Huế, và các công trình kiến trúc cung điện của cố đô lịch sử này mỗi người
đều có thể tổng hợp nên lời nhận xét riêng về di sản văn hóa Huế và, rộng hơn,
về Việt Nam thế kỷ XIX.
Những lăng vua ở Huế.
13 vua Nguyễn
trị vì ở Kinh đô Huế suốt 143 năm (1802 - 1945) nhưng do hoàn cảnh khác nhau
nên chỉ để lại 7 khu lăng của 10 vua mà thôi. Đó là:
1/ Thiên Thọ
Lăng (Lăng Gia Long) 2/ Hiếu Lăng (Lăng Minh Mạng) 3/ Xương Lăng (Lăng Thiệu
Trị) 4/ Khiêm Lăng (Lăng Tự Đức, Kiến Phúc) 5/ An Lăng (Lăng Dục Đức, Thành
Thái, Duy Tân) 6/ Tư Lăng (Lăng Đồng Khánh)
2/ Hiếu Lăng
(Lăng Minh Mạng)
3/ Xương Lăng
(Lăng Thiệu Trị)
4/ Khiêm Lăng (Lăng Tự Đức, Kiến Phúc)
5/ An Lăng (Lăng Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân)
6/ Tư Lăng (Lăng Đồng Khánh)
7/ Ứng Lăng
(Lăng Khải Định)
Từ quan niệm
sinh ký tử quy (sống gửi chết về) nên mỗi ông vua từ khi còn trên ngai vàng
thường đã nghĩ đến việc xây lăng cho mình và coi đó mới là cõi sống vĩnh hằng.
Vì thế mỗi khu lăng như là một thế giới riêng. Sân chầu với tượng văn võ bá
quan bằng đá, cung kính, thần phục, mặt không dám ngẩng quá tầm nhìn ngang.
Những con voi, ngựa cũng bằng đá, trầm tư và bâng khuâng giữa “cõi sống” của
con người đã chết. Nhà bia với tấm bia đá đồ sộ, chạm khắc công phu ghi tiểu sử
và công đức chủ nhân khu lăng; Điện thờ, mộ táng với một số công trình kiến
trúc phối thuộc... là những hợp thể tạo thành một lăng vua hoàn chỉnh. Các khu
lăng này đều nằm về phía tây hoặc tây nam kinh đô Huế như là một quy ước rằng
thiên tử tức con trời. Con trời như mặt trời, sinh ra từ phương đông và lặn
khuất về phương tây. Biểu tượng mặt trời lặn ở “Thiên Định Cung” của lăng Khải
Định cũng mang ẩn dụ ấy.














