CLB HDV Đồng Hành Việt - Trao Trọn Niềm Tin!

Giới thiệu về CLB

Ảnh của tôi
Hồ Chí Minh, Vietnam
CLB Hướng Dẫn Viên Đồng Hành Việt được thành lập năm 2006 chuyên đào tạo hướng dẫn viên, sales tour, điều hành tour và cung cấp hướng dẫn viên, MC gala

Dịch trang

Người Đi Tìm Hình Của Nước - Chế Lan Viên

Thông Tin Du Lịch Phổ biến

Tài Liệu Thuyết Minh Phố Cổ Hội An


Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch

 Hội An

Hội An là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam có nhiều khu phố cổ được xây từ thế kỷ 16 và vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn đến nay. Trong các tài liệu cổ của phương Tây, Hội An được gọi Faifo. Hội An được công nhận là một di sản thế giới UNESCO từ năm 1999. Hiện nay chính quyền sở tại đang tích

cực khôi phục các di tích, đồng thời phát triển thành một thành phố du lịch. Hội An đã đươc công nhận là đô thị loại III và đã được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam.

Các di tích tiêu biểu của đô thị cổ Hội An : Chùa Cầu, Nhà cổ Tấn Ký, Nhà cổ Quân Thắng, Nhà cổ Phùng Hưng, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Triều Châu, Hội quán Quảng Đông, Chùa Ông, Quan âm Phật tự Minh Hương, Nhà thờ tộc Trần, Nhà thờ tộc Trương, Bảo tàng lịch sử văn hóa, Bảo tàng gốm sứ mậu dịch, Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh

Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I,II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú : Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiêm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hoá Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh.

Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng… bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Đặc biệt còn có cả những tiền đồng Trung Quốc: Ngũ Thù; Vương Mãng cùng với các đồ trang sức mã não, thuỷ tinh có gốc gác từ Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông, chứng tỏ cách đây 2000 năm, dân cư ở đây

đã có nghề trồng lúa nước, khai thác thuỷ sản và làm các nghề thủ công. Đồng thời cũng thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hoá trong nước cùng các hoạt động buôn bán với nước ngoài, lập nên một Cảng-Thị sơ khai, là nền móng cho các Cảng-Thị sau này. 

Lịch sử hình thành Hội An

Thế kỉ thứ 2 – Thế kỉ 15

Hai con mắt trên trong chùa Cầu (Lai Viễn Kiều). Rất nhiều nhà cổ ở Hội An có hai con mắt trên cửa như trong hình

Kế tiếp dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở đầu thời kì vàng son cho một Cảng-Thị hưng thịnh. Những cái tên Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại), Cachiam cùng với những tượng đá, giếng gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong các di chỉ khảo cổ học với các hiện vật gốm sứ Champa, Ả Rập, Trung Quốc; các đồ trang sức từ Trung Đông, Ấn Độ và nhiều tài liêu, thư tịch cổ Trung Quốc, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư xác nhận vùng Cửa Đại xưa kia là hải cảng chính của nước Champa. Vùng Lâm Ấp phố là nơi các chiến thuyền ngoại quốc thường ghé lấy nước ngọt từ những giếng Champa rất ngon và trong; trao đổi sản vật như trầm hương, quế, ngọc ngà, thuỷ tinh, tơ lụa, đồi mồi, xà cừ. 

Thế kỉ 15 – Thế kỉ 19

Tiếp nối thời Champa, khoảng cuối thế kỉ 15, Hội An đã có dân cư Đại Việt tới sinh sống. Trong buổi đầu cùng với việc khai hoang, lập làng, người Việt còn sáng tạo ra một số ngành nghề phù hợp với điều kiện

tự nhiên và xã hội nơi đây. Từ cuối thế kỉ 16 – thế kỉ 17, có thêm nhiều người Hoa và người Nhật đến định cư, giúp thương nghiệp Hội An phát triển. Kết hợp với vị trí địa lý phù hợp, Hội An nhanh chóng trở thành một thương cảng phồn thịnh trong nhiều thế kỉ.

Đến giữa thế kỉ 19, nền kinh tế Hội An nhanh chóng suy thoái do nhiều nguy nhân bất lợi: sự bồi cạn, sông chuyển dòng, chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến. Ngay gần đó, thương cảng Đà Nắng hiện đại do người Pháp lập nên đã lấn át hết vai trò của Hội An.

Ngày 4 tháng 12 năm1999 taị kì họp thứ 23 tổ chức tại Marrakesh (Maroc), Uỷ ban Di Sản thế giới của UNESCO đã công nhận Hội An là di sản văn hoà thế giới.

Làng mộc Kim Bồng Hội An - di sản văn hóa trăm năm tuổi

Làng mộc Kim Bồng là một trong những làng nghề truyền thống của Hội An ghi dấu nhiều công trình nghệ thuật và những sản phẩm giàu giá trị văn hóa, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước ghé tới thăm. 

Tại làng mộc Kim Bồng, các nghệ nhân thỏa sức thổi hồn vào gỗ và tạo ra những sản phẩm tinh tế, có giá trị cao. Tham quan làng mộc một ngày, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn về làng nghề truyền thống độc đáo này và trực tiếp tham gia những trải nghiệm thú vị, hấp dẫn.

Làng mộc Kim Bồng (còn gọi là Kim Bồng Châu) là một làng thủ công truyền thống ở rất gần với phố cổ Hội An. 

Làng mộc Kim Bồng bắt đầu tập trung vào nghề mộc từ thế kỷ XVI và trải qua nhiều giai đoạn phát triển mạnh mẽ theo nhịp giao thương tấp nập của cảng thị Hội An. Giai đoạn này, Hội An giao lưu sâu rộng với nước ngoài, “hấp thu” các phong cách làm mộc khác nhau, tạo tiền đề cho một sắc thái riêng của nghề mộc Kim Bồng ở Hội An. 

Đến thế kỷ XVIII, làng đã hình thành nên 3 nhóm nghề rõ rệt là: nghề mộc xây dựng, nghề mộc đóng thuyền và nghề mộc dân dụng. Ngoài ra, nghề nề đắp vẽ, chạm trổ linh vật cũng góp phần đưa tên tuổi của làng vang xa khắp mọi miền.  

Ngày nay, tuy đã qua giai đoạn vàng son nhưng những người thợ làng mộc Kim Bồng yêu nghề vẫn duy trì nếp sống cũ, chung tay góp sức trùng tu, bảo tồn các di tích phố cổ Hội An và ngược xuôi khắp nơi để xây dựng những ngôi nhà rường, nhà cổ 3 gian truyền thống. Bên cạnh đó, nghề mộc thủ công mỹ nghệ cũng phát triển hơn khi làng bắt đầu mở cửa chào đón khách du lịch. 

Để khám phá làng, du khách có thể thuê xe đạp dạo quanh đó, thăm thú cuộc sống làm nghề của người dân hoặc tham quan nhà thờ tộc. Đặc biệt, du khách còn có cơ hội ngắm nhìn và trải nghiệm quy trình đan tre, dệt chiếu và tráng bánh.  

Khi mới bước chân vào làng, điều khiến du khách ấn tượng đầu tiên chính là tiếng đục, cốc cốc, keng keng đặc trưng của nghề mộc. Đây cũng là âm thanh quen thuộc và là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân nơi đây. 

 

Ghé thăm làng mộc Kim Bồng cũng là dịp để du khách có những góc nhìn chân thực, rõ nét hơn về nghề mộc. Ấn tượng nhất chính là được trực tiếp quan sát các công đoạn sản xuất ra một sản phẩm gỗ. Và để tạo ra một thành phẩm hoàn chỉnh, phải đòi hỏi nhiều công đoạn phức tạp khác nhau. Người thì tạo phần xác, người khắc họa phần hồn để mỗi sản phẩm hoàn thành không chỉ có tính hữu dụng mà còn phải tinh tế, đẹp mắt và có giá vị văn hóa.

Các sản phẩm chủ đạo tại đây gồm có: bộ tứ linh Long - Lân - Quy - Phụng, chim công múa, các Đức Thánh và cả những vật dụng trong gia đình như bàn, ghế, tủ thờ,… Không chỉ vậy, các nghệ nhân ở đây còn có kinh nghiệm xây dựng hội quán, chùa chiền, đình làng, nhà thờ, nội ngoại thất hay “tất tần tật” những gì liên quan đến đồ gỗ. 

Sau khi thỏa sức quan sát quá trình làm ra sản phẩm gỗ của nghệ nhân mộc, du khách có thể dành chút thời gian để thưởng lãm vẻ đẹp những sản phẩm đã hoàn thành. Nếu để ý kỹ, bạn sẽ thấy những họa tiết, hoa văn được chạm trổ lên mỗi sản phẩm đều phản ánh được nét văn hóa đặc trưng của con người Hội An.

Có thể kể đến như: hình ảnh con trâu, người nông dân, con đò, cây tre, chùa Cầu… Tất cả đều được chạm khắc giản dị, vô cùng mộc mạc và gần gũi. Điều này không chỉ tạo ra sự độc đáo cho các sản phẩm đến từ làng mộc Kim Bồng, mà còn khiến du khách vô cùng tò mò, hứng thú. 

Ngoài ra, các sản phẩm gỗ của làng mộc Kim Bồng còn có chất liệu vô cùng bền bỉ với màu nâu óng ả đặc trưng, tạo nên những mảng gỗ với các góc màu khác nhau lúc thì tạo cảm giác sang trọng, có lúc lại mộc mạc vô cùng. Chính nhờ các kỹ thuật chạm nổi, chạm lộng, chạm thủng từ bàn tay nhuần nhuyễn, khéo léo, những người nghệ nhân đã tạo ra một thế giới đồ gỗ đầy tự nhiên và mê hoặc. 

Với một làng nghề truyền thống tồn tại hàng trăm năm như làng Kim Bồng, thì điều ý nghĩa nhất không chỉ là đến trực tiếp ngắm nghía quy trình sáng tạo của người dân mà còn là mua một vài món đồ kỷ niệm mang về làm quà. 

Nếu trước đây nghề chính của làng là nghề đóng ghe tàu, xây dựng nhà thì giờ hướng tập trung chính là sản xuất các mặt hàng mỹ nghệ, phù điêu, câu đối gỗ, tượng trang trí, đồ thờ cúng… Du khách có thể chọn mua một vài thứ để làm kỷ niệm cho chuyến du lịch của mình.   

Vì làng nghề mộc Kim Bồng không cách phố cổ quá xa, nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn nên du khách có thể kết hợp tham quan làng trước, sau đó di chuyển về trung tâm phố cổ để đi dạo và thưởng thức ẩm thực. Tại Hội An, có rất nhiều món đặc sản hấp dẫn như: cao lầu, cơm gà, bánh mì Phượng, bánh đập hến xào… và vô vàn các món ăn vặt hấp dẫn khác. Tất cả đã tạo nên cho phố cổ Hội An một không gian ẩm thực hấp dẫn, độc đáo.

 

 CÁC ĐIỂM THĂM QUAN Ở PHỐ CỔ HỘI AN

1/ Chùa Cầu Hội An | Biểu tượng đặc trưng của phố cổ

Chùa Cầu  nằm bắc qua con sông Hoài, ngay cửa ngõ dẫn vào trung tâm phố cổ. Tiếp giáp với con đường Trần Phú và đường Nguyễn Thị Minh Khai, thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Tột vị trí lý tưởng, rất dễ tìm. Từ đây có thể dễ dàng tham quan phố cổ và các địa điểm nổi tiếng khác mà không cần phải đi xe máy.

Mặc dù gọi là chùa nhưng thực tế, chùa Cầu Hội An không thờ Phật mà thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ – vị thần hộ mệnh của Đạo giáo. Người dân nơi đây tôn thờ vị thần này bởi họ tin rằng thần sẽ bảo vệ họ tránh khỏi các tai ương, bão lụt.

Ngoài ra, hai phía hai đầu cầu còn thờ cúng cặp Linh Hầu – Thiên Cẩu. Đôi linh vật canh giữ và bảo vệ chùa. Cứ đến các ngày rằm, lễ, Tết người dân địa phương sẽ tới đây dâng lễ vật cầu nguyện có một cuộc sống an toàn, may mắn và sung túc hơn.

Nguồn gốc cây chùa Cầu Hội An nổi tiếng

+ Truyền thuyết về chùa Cầu

Trong truyền thuyết Nhật Bản có một tên thủy quái Mamazu dịch ra Tiếng Việt nghĩa là con Cù. Nó chính là tác nhân gây ra các trận thiên tai ở những vùng biển chịu sự ngự trị của nó.

Để khống chế lại, người Nhật đã cho xây dựng cây cầu với hình dàng như thanh kiếm đâm vào lưng con quái thú, không cho nó gây họa. 

Thời đó, ở Hội An có con sông Thu Bồn thường xuyên xảy ra lũ lụt khiến các thương gia người Nhật và việc làm ăn của người dân địa phương gặp nhiều khó khăn. 

Chùa Cầu Nhật Bản xuất hiện như một điểm tựa tinh thần giúp họ vượt qua những khắc nghiệt đó để xây dựng cuộc sống mới tốt hơn.

+ Lịch sử chùa Cầu

Khoảng thế kỷ 16 – 17, nhà Nguyễn cải cách, mở rộng thông thương và phát triển công thương nghiệp. Lúc này, Hội An được chọn làm thương cảng để gặp gỡ và trao đổi hàng hóa với các thương lái nước ngoài. Đó cũng là thời kỳ Hội An đông đúc, nhộn nhịp nhất.

Khi các thương nhân Nhật Bản qua sinh sống, họ đã góp tiền xây dựng chùa Cầu để tiện cho việc đi lại. Đó cũng chính là lý do mà nó còn có tên gọi là Cầu Nhật Bản.

+ Tên gọi chùa Cầu

Năm 1653, người Nhật cho xây thêm phần chùa ở sườn phía Bắc nhô ra giữa cầu tạo hình chữ T nên đổi tên thành chùa Cầu Hội An. Đến năm 1791, trong một lần chúa Nguyễn Phúc Chu đến thăm Hội An và gọi nó là Lai Viễn Kiều. Cái tên được khắc nổi trên tấm bảng chùa cho đến nay vẫn còn.

Theo nhiều tài liệu cho rằng cầu được dựng lại vào khoảng năm 1817. Từ đó đến nay chùa Cầu đã trải qua nhiều lần trùng tu nên kiểu kiến trúc Nhật không còn lộ rõ mà thay vào đó là kiểu kiến trúc Việt và Trung. 

Tháng 2/1990, chùa Cầu được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia. Trở thành một địa điểm nổi tiếng được nhiều du khách trong và ngoài nước biết tới.

Bảo Tồn và Phục Hồi

Trải qua nhiều lần tu sửa và bảo dưỡng, Chùa Cầu vẫn giữ được vẻ đẹp và giá trị lịch sử của mình. Các hoạt động bảo tồn được thực hiện nhằm đảm bảo rằng cầu không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là một phần quan trọng trong cuộc sống hiện đại.

Chùa Cầu Trong Nghệ Thuật và Văn Học

Chùa Cầu không chỉ là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, ảnh nghệ thuật mà còn là đề tài cho các tác phẩm văn học, thể hiện sự quyến rũ và ý nghĩa sâu sắc của nó trong văn hóa Việt Nam.

Chùa Cầu Hội An không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo mà còn là biểu tượng của sự hòa quyện văn hóa và lịch sử. Nó không chỉ thu hút du khách bởi vẻ đẹp và giá trị lịch sử mà còn là niềm tự hào của người dân Hội An và Việt Nam.  

2/ Nhà cổ Tấn Ký – Hội An

Nhà cổ Tấn Ký Hội An là sự kết hợp khéo léo hài hòa giữa 3 nền kiến trúc Nhật Bản – Trung Hoa – Việt Nam, lưu giữ rất nhiều cổ vật quý giá mang ý nghĩa nhân sinh quan tích cực nhắc nhở con cháu đời sau những bài học quý giá về làm người, nhân – lễ - nghĩa. Chính vì vậy mà ngôi nhà cổ đã trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước cả đến các quan chức trong chính phủ cũng đến thưởng lãm và tham quan.

Nhà cổ Tấn Ký là ngôi nhà cổ đầu tiên được vinh danh Di sản Quốc gia, được xem như “bảo tàng sống” giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc đặc trưng nhà cổ Hội An xưa.

Nhà cổ Tấn Ký có từ lâu đời, là nơi sinh sống của 7 thế hệ nhà họ Lê. Ngôi nhà cổ đẹp nhất Hội An này là địa điểm check-in “hot” nhất phố Hội, luôn thu hút hàng nghìn khách du lịch đến chiêm ngưỡng kiến trúc, văn hóa và nghe giới thiệu về nhà cổ Tấn Ký đầy ấn tượng.

*** Sau sáp nhập, hợp nhất tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành thành phố Đà Nẵng mới. Hội An là thành phố cũ của tỉnh Quảng Nam cũ.

  • Địa chỉ: Số 101 Nguyễn Thái Học, phường Hội An, TP Đà Nẵng. 

Nguồn gốc lịch sử của nhà cổ Tấn Ký Hội An

Ngôi nhà cổ được xây dựng vào năm 1741, cuối thế kỷ XVIII. Đây là nơi nhà họ Lê sinh sống suốt 7 đời. Từ đời thứ 2, gia chủ bắt đầu  lấy tên hiệu là Tấn Ký (mang ý nghĩa phát đạt) cho ngôi nhà, mở rộng buôn bán, kinh doanh nông sản.

Năm 1964, xảy ra trận lụt lịch sử, nhà cổ này cũng chịu ảnh hưởng nặng nề, bị ngập toàn bộ tầng 1, nhưng may mắn vẫn giữ được gần như nguyên vẹn các giá trị kiến trúc, văn hóa.

Vào năm 1990, nhà cổ Tấn Ký vinh dự được cấp bằng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia, đồng thời được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới. Tuy nhiên, hiện đây vẫn là nhà cổ tư nhân, gia chủ vẫn sinh sống ở tầng trên cùng, tầng dưới mở cửa đón du khách tham quan.

Ông Lê Công – một thương nhân gốc Hoa, làm giàu nhờ buôn bán nông sản thời bấy giờ. Ông dùng thuyền ngược sông Thu Bồn lên miền cao lấy hàng nông sản về Hội An để buôn bán và phất lên từ đó. Đến đời con ông, ngôi nhà được đặt tên là Tấn Ký – mang ý nghĩa phát đạt trong kinh doanh

Phía trước nhà là con đường Nguyễn Thái Học sầm uất buôn bán kinh doanh, phía sau nhà là con sông Thu Bồn hiền hòa để thuận tiện cho việc nhập hàng.

Đến thế kỷ 20, sự bồi đắp phù sa của sông Thu Bồn làm cửa sông hẹp lại, các thuyền buôn lớn không vào được Hội An khiến cho thương cảng nổi tiếng một thời suy yếu dần, và việc buôn bán của gia tộc họ Lê cũng bị ảnh hưởng theo, ngày càng tàn lụi.

 Những nét đặc sắc của nhà cổ Tấn Ký ở Hội An

Ngôi nhà cổ Tấn Ký có 2 tầng và 3 gian được xây dựng theo lối kiến trúc giao thoa giữa 03 nền văn hóa: Nhật Bản – Trung Hoa – Việt Nam.

Phong cách kiến trúc của Nhật Bản: phòng khách được xây theo phong thủy: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Mái ngói được lợp theo kiểu âm – dương hòa hợp nên tạo không khí mát mẻ thoáng đãng vào mùa hè, còn mùa đông thì ấm cúng, không lạnh.

Phong cách kiến trúc của Trung Hoa: theo kiểu hình ống đặc trưng của phố cổ Hội An, bên trong chia nhiều gian với nhiều phòng riêng biệt. Đặc biệt ngôi nhà không có cửa sổ, nhưng không vì vậy mà không gian nóng bức, ngột ngạt. Mặt tiền mở cửa hiệu buôn bán. Cửa sau của ngôi nhà là con sông Thu Bồn hiền hòa chạy ngang thuận tiện cho việc nhập hàng hóa buôn bán. Giữa nhà là giếng trời tận dụng tối đa ánh sáng và không khí vào nhà.

Phong cách kiến trúc của Việt Nam: được thiết kế theo nhà ba gian đúng theo kiểu truyền thống của người Việt, trần nhà lợp ngói âm dương. Điểm nhấn chính của ngôi nhà là những cây cột cây kèo, xuyên, trính (thanh gỗ dọc nối các cột) được chạm trổ tinh xảo với những hình ảnh đặc trưng như: “kiến trúc đầu cá đuôi rồng” , “trái bí đỏ”, “quả lựu” hoặc những kiến trúc chạm khắc “quả đào” mang biểu tượng của sự trường thọ, “con dơi”  đong đầy hạnh phúc,... 

Gỗ là chất liệu chủ đạo xây dựng nên ngôi nhà cổ Tấn Ký này. Kèo và sườn được làm từ gỗ Lim – là loại gỗ quý; còn các cửa thì làm từ gỗ mít – loại gỗ bền chặt theo thời gian... Bên cạnh đó, gạch lót sàn và đá trang trí ngoại thất đều được mua về từ Bát Tràng, Thanh Hóa, đá non nước, … vĩnh cửu theo thời gian.

Giai đoạn đầu của thời Tự Đức, ngôi nhà chỉ có một tầng vì vua quy định các ngôi nhà không được xây cao quá kiệu vua đi ngang qua. Tuy nhiên Hội An là vùng thấp lụt, nên sau ngôi nhà được nâng lên hai tầng. Bên ngoài ngôi nhà có các ván sáng, ban ngày mở ra xếp thành sạp bán hàng, ban đêm lắp lại làm ván cửa.

 2.2. Nhà cổ Tấn Ký - Nơi lưu giữ những món đồ cổ quý giá

Ngôi nhà cổ nay vẫn còn lưu giữ nhiều hoành phi, liễn đối tuyệt đẹp, có các bức nổi bật như:; "Tâm thường thái" (mang ý nghĩa giữ tâm luôn yên tĩnh), "Tích đức lưu tôn" (mang ý nghĩa dạy bảo con cháu giữ đức tốt cho thế hệ sau). 

Đặc biệt ở đây còn giữ bộ liễn đối "Bách Điểu" viết bằng 100 nét, mỗi đường nét đều như chim đang bay, được giới khảo cổ đánh giá là độc nhất vô nhị.

Bước vào gian đầu tiên của nhà cổ, bạn sẽ nhìn thấy trưng bày nhiều cổ vật và thuyền buồm, đó đều là những biểu tượng về thương cảng Hội An sầm uất 400 năm trước.

 Khám phá bên trong nhà, bạn có thể xem bản trích dịch Văn bia tại mộ ông Lê Tân Ký, người thành lập hiệu buôn Tân Ký. Nội dung văn bia là câu chuyện cảm động về cậu bé Công mồ côi, với nỗ lực vươn lên, tự lập mà trở thành người thành đạt, có tiếng tăm, tràn đầy tình yêu thương, luôn giúp đỡ người nghèo, rất được người dân quý mến. 

 Cổ vật quý giá nhất trưng bày trong nhà cổ là chiếc “Chén Khổng Tử”, niên đại từ 550-600 năm về trước, gắn với tích xưa về Khổng Tử, là chiếc chén "độc nhất" ở Việt Nam, vô cùng quý hiếm.. Cái chén này đã có mặt tại gia đình họ Lê từ 200 trăm năm trước. Chén này có hình thù kỳ lạ, nhìn trong có vẻ rất giản đơn nhưng nó mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc là khi đựng nước chỉ đựng được 8 phần nếu rót thêm thì nước sẽ tự động chảy ra ngoài. Mục đích mà người xưa hướng đến chính là mỗi người cần kiềm chế được hành vi của mình và giữ cho tâm được thanh tịnh. Theo lời kể của gia tộc họ Lê thì cái chén cô vô giá này được cụ tổ mua từ những thương nhân giàu có từ Trung Hoa mang sang đây buôn bán.

 Trong phòng khách là không gian trưng bày những cổ vật vô giá, ngoài ra, còn có hai góc nhỏ dễ thương trong ngôi nhà, gia chủ dành để trưng bày huy hiệu và những món quà lưu niệm nhỏ, đáng yêu để du khách có thể mua về làm quà cho gia đình, bạn bè.


3/ Nhà cổ Quân Thắng

Nhà cổ Quân Thắng là một trong những ngôi nhà cổ nổi tiếng tại Hội An, Việt Nam. Nó được xây dựng vào đầu thế kỷ 19 và từng là nơi cư trú của một gia đình thương gia giàu có.

Nhà cổ Quân Thắng có kiến trúc pha trộn giữa phong cách Trung Hoa và Việt Nam, với các chi tiết được chạm khắc tinh xảo trên các cột, trần nhà và các tường. Ngôi nhà này cũng có một sân vườn rộng và nhiều phòng ngủ, phòng khách, phòng bếp và các khu vực sinh hoạt khác.

Hiện nay, nhà cổ Quân Thắng được bảo tồn và phục dựng lại để trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn tại Hội An, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và khám phá lịch sử, văn hóa và kiến trúc của Hội An. 

Nhà cổ Quân Thắng được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 19, tại số 77 Trần Phú, Hội An, Việt Nam. Ngôi nhà này từng là nơi cư trú của gia đình Quân Thắng – một gia đình thương gia giàu có của Hội An.

Trong thời kỳ đầu, nhà cổ Quân Thắng được sử dụng như một nơi để kinh doanh buôn bán. Sau đó, ngôi nhà này đã trở thành nơi cư trú của gia đình Quân Thắng và được sử dụng cho mục đích sống và sinh hoạt gia đình. Trong suốt quá trình phát triển của Hội An, nhà cổ Quân Thắng đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Ngôi nhà này được xây dựng theo phong cách pha trộn giữa kiến trúc phương Tây và Trung Hoa, với các chi tiết chạm khắc tinh xảo trên các cột, trần nhà và các tường. Ngôi nhà cũng có một sân vườn rộng và nhiều phòng ngủ, phòng khách, phòng bếp và các khu vực sinh hoạt khác. Hiện nay, nhà cổ Quân Thắng đã được bảo tồn và phục dựng lại để trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn tại Hội An.

Nhà cổ Quân Thắng nằm tại số 77 Trần Phú, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Đây là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng của Hội An và thường được các tour du lịch đưa vào lịch trình tham quan.

Hiện tại, giá vé tham quan Nhà cổ Quân Thắng là 120.000 đồng cho người lớn và 60.000 đồng cho trẻ em (dưới 1,3m). Ngoài ra, nếu bạn muốn thuê hướng dẫn viên để có thêm thông tin chi tiết về lịch sử, kiến trúc của ngôi nhà cổ này thì cần phải trả thêm khoảng 100.000 – 150.000 đồng tùy theo số lượng khách và thời gian thuê. Bạn có thể mua vé tại cổng vào khu di tích hoặc qua các đại lý vé du lịch tại Hội An.

Thời gian tham quan Nhà cổ Quân Thắng là từ 8h sáng đến 17h chiều hàng ngày. Tuy nhiên, vào những ngày lễ tết và dịp đặc biệt khác, thời gian mở cửa có thể sẽ thay đổi. Nếu bạn muốn tham quan vào thời gian khác hoặc muốn thuê hướng dẫn viên riêng thì cần liên hệ trước với Nhà cổ Quân Thắng để được hỗ trợ. Trong thời gian tham quan, bạn sẽ được tìm hiểu về lịch sử, kiến trúc và đời sống của gia đình Quân Thắng thông qua các hướng dẫn viên chuyên nghiệp và các tài liệu trưng bày tại khu di tích.

Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng các dịch vụ cho thuê xe du lịch, xe đạp điện hoặc xe máy điện để di chuyển đến Nhà cổ Quân Thắng.

Nhà cổ Quân Thắng có kiến trúc pha trộn giữa phong cách Trung Hoa và Việt Nam, đặc biệt là phong cách kiến trúc phương Đông. Ngôi nhà được xây dựng bằng gạch nung và gỗ, với mái ngói cong tròn kiểu Trung Hoa. Các tầng của ngôi nhà được xây dựng trên những cột gỗ lớn và có hệ thống hành lang kín gió để tạo sự thông thoáng cho ngôi nhà.

Ngôi nhà có 3 tầng, với diện tích tổng thể khoảng 800 mét vuông, gồm nhiều phòng ngủ, phòng khách và các phòng ăn. Trong ngôi nhà, các phòng được bố trí hài hòa với các cửa sổ và lỗ thông gió để tạo sự thông thoáng và ánh sáng tự nhiên cho toàn bộ ngôi nhà.

Nhà cổ Quân Thắng cũng được trang trí rất tinh tế và phong phú với nhiều chi tiết khắc trên gỗ, tranh cổ trang và tấm lợp ngói được trang trí với họa tiết độc đáo. Tất cả những chi tiết này đều tạo nên một không gian độc đáo và ấn tượng cho ngôi nhà cổ này.

Bên ngoài nhà cổ Quân Thắng

Bên ngoài, Nhà cổ Quân Thắng có một kiến trúc rất đặc biệt và thu hút sự chú ý của du khách. Với màu sắc chủ đạo là màu đỏ và vàng, ngôi nhà trông rất trang trọng và sang trọng.

Mặt tiền của ngôi nhà được trang trí với những tấm gỗ khắc họa tiết, mang đậm nét Trung Hoa, đặc biệt là những hình ảnh hoa mai và đào, tượng trưng cho sự thịnh vượng và tài lộc. Bên cạnh đó, cửa ra vào của nhà được thiết kế với hình tròn lớn, tượng trưng cho sự hoàn thiện và đầy đủ.

Ngoài ra, trên mái nhà của Ngôi nhà còn được trang trí với các đồ vật trang trí như vòng tròn gỗ, các họa tiết cổ trang và các mô tả về cuộc sống truyền thống của người dân địa phương. Tất cả các chi tiết này tạo nên một bức tranh độc đáo, làm cho Nhà cổ Quân Thắng trở thành một điểm đến du lịch không thể bỏ qua khi đến Hội An.

Bên trong nhà cổ Quân Thắng

Bên trong Nhà cổ Quân Thắng, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng và khám phá không gian sống của một gia đình giàu có thời xưa. Ngôi nhà được bố trí với nhiều phòng khác nhau, mỗi phòng đều có chức năng và nội thất riêng biệt.

Các phòng khách và phòng ăn được bố trí rất tinh tế và sang trọng với các đồ trang trí và nội thất đồng bộ theo phong cách truyền thống của Việt Nam và Trung Hoa. Các tác phẩm điêu khắc trên gỗ và tranh cổ trang được trang trí khắp ngôi nhà, tạo nên một không gian ấm cúng và đậm chất văn hóa.

Ngoài ra, tầng hai của ngôi nhà được trang bị một số cầu thang rất đẹp và độc đáo, tạo nên sự kết nối giữa các phòng và tầng nhà. Các phòng ngủ được bố trí rộng rãi và thoáng mát, với các cửa sổ lớn để cho ánh sáng tự nhiên và không khí trong lành vào bên trong. Điều này giúp cho du khách có thể tận hưởng không gian sống của người dân xưa và trải nghiệm cảm giác yên bình, bình yên tại ngôi nhà cổ này.

Tổng thể, Nhà cổ Quân Thắng là một điểm đến thú vị và hấp dẫn cho du khách khi đến Hội An, nơi mà họ có thể tìm hiểu thêm về kiến trúc cổ điển và lịch sử của Việt Nam.

4/Nhà Cổ Phùng Hưng

Nhà cổ Phùng Hưng “nằm gọn” trong “vòng tay” của Hội An, đã qua 240 năm tuổi. Không chỉ là điểm đến du lịch đặc sắc, nhà cổ Phùng Hưng còn là chứng nhân lịch sử, di tích quốc gia được nhà nước công nhận.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà cổ Phùng Hưng ở Hội An lại thu hút đến hàng trăm ngàn lượt du khách đến tham quan mỗi năm. Lý do nào khiến địa điểm này trở nên nổi tiếng đến vậy? Hãy cùng vén bức màn bí mật để giải mã sức hút bí ẩn về ngôi nhà cổ này nhé!

Du lịch đến Hội An, hỏi bất cứ người dân bản địa nào về nhà cổ Phùng Hưng, không ai là không biết. Ngôi nhà nằm ở số 4, đường Nguyễn Minh Khai, phường Minh An, Hội An, Quảng Nam. Nhà nằm kế bên chùa Cầu nổi tiếng - ngôi chùa nằm vắt mình qua một nhánh nhỏ của sông Thu Bồn, trên đoạn tiếp giáp giữa đường Minh Khai và đường Trần Phú. Du khách đi qua cầu, cách một căn nhà là đến.

Xưa kia, đây chính là một trong những vị trí đắc địa, sầm uất nhất nhì thương cảng Hội An. Thương nhân trong và ngoài nước sẽ đến đây để gặp gỡ, giao thương hàng hóa với nhau.

Nguồn gốc lịch sử và ý nghĩa tên gọi của nhà cổ Phùng Hưng

Thời gian, thời điểm nhà cổ Phùng Hưng được xây dựng

Nhà cổ Phùng Hưng đã được Hội An “ôm ấp” suốt hơn 240 năm qua, được xây dựng vào năm 1780. Thời điểm đó cũng là lúc đô thị cảng Hội An đang trong thời kỳ thịnh vượng và phát triển. Chính vì thế, du lịch Hội An, ghé thăm ngôi nhà, ta thấy một thời sầm uất, nhộn nhịp của phố cổ xưa tưởng chừng như đang sống lại.

Ngược dòng lịch sử, ta bắt gặp chủ nhân của ngôi nhà là một thương nhân người Việt. Ông xây dựng với mục đích trở thành nơi kinh doanh lâu dài với các mặt hàng như quế, tiêu, muối, đồ sứ, thủy tinh,... Mong muốn gia đình sẽ làm ăn ngày càng phát đạt, vị thương nhân đã đặt tên cho ngôi nhà là “Phùng Hưng” - cũng là tên hiệu buôn của ông, mang nghĩa là “hưng thịnh”.

2.2. Thiết kế nhà cổ Phùng Hưng là sự tổng hòa của 3 trường phái kiến trúc Việt - Nhật - Trung

Với kinh tế dư dả cùng sự kết giao và vốn hiểu biết rộng, vị thương gia đã thiết kế ngôi nhà của mình theo một kiến trúc rất độc đáo và đặc biệt. Đó là kiến trúc tổng hợp của ba trường phái văn hóa Việt Nam, Nhật Bản và Trung Hoa.

 

Cụ thể: Hơi hướng Trung Hoa được thể hiện qua hệ thống ban công, cửa sổ và cửa chính. Mái lớn của gian nhà giữa là kiểu mái “tứ hải” (bốn biển) - kiểu kiến trúc quen thuộc của Nhật Bản thời Edo. Mái gian trước và gian sau cùng hệ thống rường cột, sườn gỗ, xà dọc, xà ngang thì mang đậm nét kiến trúc Việt Nam truyền thống. Do được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu từ các loại gỗ quý hiếm nên trải qua hơn hai thế kỷ, ngôi nhà dường như vẫn giữ được nguyên vẹn nét đẹp của những ngày đầu.

2.3. Đã 8 thế hệ sinh sống ở nhà cổ Phùng Hưng

 Chủ nhân hiện tại của ngôi nhà là con cháu đời thứ 8 của vị thương nhân nọ. Họ vẫn sống ở đây và cố gắng giữ gìn, bảo quản cho ngôi nhà thật tốt. Một xưởng may, thêu thủ công gia đình được mở, tạo ra những món đồ lưu niệm đẹp mắt để khách du lịch ghé thăm có thể mua về làm kỷ niệm. Chủ nhà cũng chính là những vị hướng dẫn viên du lịch am hiểu nhất về ngôi nhà. Họ say sưa và tự hào thuyết minh về nhà cổ Phùng Hưng cho du khách, về các đường nét độc đáo trong kiến trúc, nội thất cổ xưa.

 Nhà cổ Phùng Hưng - Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia.

Nhà cổ Phùng Hưng đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 29/6/1993. Như một đứa con của Hội An, hơn 240 năm qua đi, ngôi nhà cũng đã chứng kiến biết bao thăng trầm tại nơi đất mẹ.

Người dân Hội An hẳn sẽ không bao giờ quên trận lũ lụt lịch sử vào năm 1964. Khi ấy, nước dâng cao đến 2.5m, ngập lên cả sàn gỗ gác. Ngôi nhà thời điểm đó chính là chỗ cư trú an toàn cho 160 người dân trong suốt 3 ngày 3 đêm.

Đến năm 1999, thiên nhiên nổi giận, kéo hai cơn đại hồng thủy đến nhấn chìm cả khu phố cổ, để lại thiệt hại nặng nề về cơ sở vật chất và cũng khiến ngôi nhà bị ảnh hưởng. Nhờ có cửa sập thông giữa hai tầng, chủ nhân của ngôi nhà khi ấy đã khắc phục bằng cách vận chuyển hàng hóa lên tầng trên để giảm bớt thiệt hại. 

Tham quan nhà cổ Phùng Hưng Hội An

Giờ thì hãy cùng mình tham quan chi tiết ngôi nhà nổi tiếng nhất nhì phố cổ Hội An này nhé!

Từ bên ngoài nhìn vào, nhà có dạng hình ống, mặt tiền rộng, thể hiện rõ mong muốn và khát vọng “phát tài phát lộc” của chủ nhân. Nhà cao 2 tầng với 2 nếp nối nhau theo hướng Tây Bắc, có 4 mái.

Thiết kế này cũng rất phù hợp và thuận lợi cho việc kinh doanh, buôn bán thời xưa. Vật liệu chính trong xây dựng là gỗ lim và các loại gỗ quý hiếm khác, khoác cho ngôi nhà một chiếc áo nâu trầm ấm áp và sung túc. Ngay cửa chính của ngôi nhà là hai mắt cửa vô cùng uy nghiêm. Mắt cửa này vừa là vật trang trí, vừa như một linh vật bảo vệ cho căn nhà. Theo quan niệm tâm linh, nó có vai trò canh giữ cho ngôi nhà, xua đuổi những điều xấu.

3.1. Khám phá kiến trúc độc đáo tại tầng trệt

Trước đây, người chủ đầu tiên đã sử dụng tầng trệt của ngôi nhà để trưng bày, bán hàng. Hiện nay, tầng trệt là nơi lưu trữ cổ vật của gia chủ lúc sinh thời, cũng là nơi tiếp khách. Du khách đến “thăm nhà” có thể ngồi nghỉ ngơi trên bộ bàn ghế được làm từ gỗ quý, sang trọng đặt ở giữa nhà. Các bức tường xung quanh tầng trệt được trang trí bằng những bức chạm trổ đầy tinh tế và nghệ thuật. Những chi tiết chạm khắc tuyệt vời này do chính tay các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng tạo tạc.

Hệ thống cột nhà là 80 cây gỗ lim cực kỳ vững chắc. Để làm giảm độ lún cho ngồi nhà, đồng thời tránh cho mọt mối làm hư hại, tất cả cột nhà đều được đặt trên chân đá. Chân đá này giúp ngăn cách tiếp xúc giữa chân cột với đất, hạn chế hư hại.

3.2. Tham quan lầu 2 nhà cổ Phùng Hưng

Bước lên tầng 2 của căn nhà, du khách sẽ thấy cảm giác linh thiêng và cổ kính bao trùm lên cả căn phòng. Đây là nơi chủ nhà đặt bàn thờ tổ tiên và bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Một chiếc bàn được đặt trước các bệ thờ. Chủ nhà luôn đặt vào đó bảy quân xúc xắc bằng đá cẩm thạch trong chén. Mỗi khi đi xa, họ gieo xúc xắc để quyết định thời gian khởi hành.

Do nằm ở vị trí gần sông, xưa kia dễ xảy ra lụt lội nên sàn gác có các ô trống hình vuông, được gọi là các “cửa sập”. Cửa này có thể dễ dàng tháo dỡ để thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa từ tầng trệt lên gác mỗi khi lụt lội.

Nhìn lên, bộ phận mái nhà được lợp ngói âm dương. Loại ngói này:

·         Giúp cho căn nhà được thông thoáng, mát mẻ vào mùa hè, đồng thời, giữ nhiệt tốt vào mùa đông.

·         Trên ngói được chạm khắc hình cá chép. Cá chép là biểu tượng của sự may mắn, thịnh vượng, quyền lực trong văn hóa Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc xưa kia.

Một hành lang hẹp ở gian trong cùng là lối để đi lên lầu 2. Bao quanh lầu 2 là hệ thống hành lang rộng, đều được làm bằng gỗ. Cách sắp xếp cầu thang khoa học khiến cho căn nhà trở nên rộng rãi và thoáng đãng hơn.

Tham quan nhà cổ Phùng Hưng, một cảnh quay chậm về cuộc sống của gia đình thương nhân xưa như được tái hiện lại trước mặt. Điều ấy khiến cho du khách thập phương vừa tò mò, thích thú, vừa thấy mê mẩn, xiêu lòng.

Tổng quan về nhà thờ tộc Trần Hội An

Vị trí: Nằm tại số 21 Lê Lợi, phường Minh An, Hội An, Quảng Nam, Việt Nam.

Giờ mở cửa: 07g00 – 21g00

Lịch sử hình thành nhà thờ tộc Trần tại Hội An

Ngược dòng lịch sử cách đây hơn 200 năm, dưới thời vua Gia Long, ông Tổ của tộc Trần là cụ Trần Tứ Nhạc được vua cử đi sứ sang Trung Hoa năm 1802. Sắp xếp trước khi đi sứ, Cụ Trần Tứ Nhạc đã cho xây dựng nhà thờ tộc Trần để cho con cháu đời sau có nơi hội tụ về mà cúng kiến thờ tự, có nơi để nhớ về nguồn cội tổ tiên.

Với khuôn viên diện tích rộng 1.500m2, Nhà thờ tộc Trần nằm tĩnh lặng trong lòng phố Hội sầm uất, như tách bạch hẳn với thế giới bên ngoài, mang đậm nét hoài cổ. Nhà Thờ Tộc Trần không có gì khác so với các nhà thờ họ tộc khác, cũng mái ngói âm dương và hệ thống kèo cột được điêu khắc tinh xảo mang đậm dấu ấn rêu phong thời gian.

Với bề dày lịch sử hàng trăm năm tuổi này, nhà thờ tộc Trần là một trong những địa điểm tham quan nổi tiếng, thu hút được sự hiếu kỳ tò mò của du khách trong và ngoài nước khi đặt chân đến Hội An

Kiến trúc độc đáo hàng trăm năm tuổi

Tuy đã trải qua hàng trăm năm lịch sử, ngôi nhà thờ tộc Trần vẫn y nguyên lối kiến trúc kết hợp giữa 03 nền văn hóa: kiểu nhà Việt truyền thống – kiến trúc đặc sắc Trung Hoa – phong thủy Nhật Bản. Chính sự kết hợp hài hòa này đã làm gia tăng giá trị truyền thống cho ngôi nhà thờ tộc Trần Hội An.

Nhà thờ tộc Trần Hội An được chia làm 02 phần rõ ràng tách biệt như sau:

- Phần chính là gian thờ cúng lớn nhất được đặt ở chính giữa. Gian thờ được bài trí khá trang trọng với tầng mái cao tạo không gian rộng lớn, thoáng đãng. Bàn thờ tổ được dùng để thờ ông Tổ của tộc họ Trần, tưởng nhớ người đã có công khai sinh ra dòng dõi họ Trần. Kiến trúc của gian thờ chính này có 3 cửa. Cửa chính giữa là cửa lớn nhất dành cho những người lớn tuổi trong tộc. Và 02 cửa phụ còn lại ở hai bên dành cho nam nữ con cháu trong tộc còn lại nhưng vẫn phải tuân thủ theo nguyên tắc phong kiến “nam tả, nữ hữu”. Gian thờ chính này chỉ được mở vào dịp Tết, lễ hội, giỗ tộc.

- Phần phụ của ngôi nhà thờ tộc Trần là nơi nghỉ ngơi của trưởng tộc và các thành viên còn lại trong họ.

Phía sau cùng của nhà thờ tộc Trần là khu hậu viên rộng rãi thoáng mát, đặc biệt có cây khế cổ thụ cũng từng ấy năm tuổi như nhà thờ tộc, cây khế cổ thụ to cao mà lại cho trái ngọt quanh năm, khiến cho du khách khi tham quan vô cùng thích thú. Đây nơi chôn nhau cắt rốn của biết bao thế hệ trong họ tộc.

Tất cả kiến trúc xây dựng trên đều phải tuân thủ theo phong thủy rất nghiêm ngặt nhưng vẫn hài hòa về bố cục đường nét.

 Các giá trị nhân văn

Khi du khách bước chân vào khu thờ chính điện, sẽ gặp phải ngạch cửa chắn lối như nhắc nhở mọi người rằng bước vào nhà là phải cuối đầu hành lễ, tỏ rõ sự tôn kính của mình đến gia chủ.

Hằng năm, vào dịp Tết, lễ hội truyền thống, giỗ Tổ, tất cả con cháu trong dòng họ tộc đều tụ tập về đây cùng nhau cúng kiến hương khói tỏ lòng biết ơn tổ tiên. Đây cũng là dịp củng cố thêm mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên trong tộc gắn bó đoàn kết bên nhau. Nhắc nhở con cháu thế hệ sau không bao giờ được phép quên cội nguồn của dân tộc “ Uống nước nhớ nguồn”.

Có thể nói kiến trúc đặc sắc của nhà thờ tộc Trần Hội An là đại diện cho tất cả kiến trúc nhà thờ của các dòng họ tộc khác. Tuy đã trải qua nhiều năm, chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử, ngôi nhà thờ tộc Trần vẫn mãi trường tồn với thời gian, vẫn đứng vững sừng sững đầy uy nghiêm trầm mặc giữa lòng phố Hội sầm uất. Đây là dấu tích chứng minh cho một thời kỳ vàng son phát triển trong lịch sử phố Hội. Nếu đã đặt chân đến Hội An, du khách thử một lần bước vào tham quan nhà thờ tộc Trần để cảm nhận những cái rất riêng. 

6/ Hội Quán Phúc Kiến

Hội quán Phúc Kiến (Phước Kiến) là di tích quốc gia mang phong cách kiến ​​trúc Á Đông đặc biệt, có thể hiện rõ sự thịnh vượng và văn hóa chiều sâu của đô thị cổ Hội An. Nơi đây không có giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật cao mà còn lưu giữ những sinh hoạt tín ngưỡng và truyền thống cộng đồng độc tố, đồng thời là biểu tượng tiêu điểm của giao dịch văn hóa Việt – Hoa.

NGUYÊN GỐC VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

Hội quán Phúc Kiến có nguồn gốc lịch sử lâu đời gắn liền với buổi đầu thành khu phố cổ Hội An. Tương truyền, thuở xưa xa xưa nơi đây đã từng là một ngôi chùa nhỏ có tên Kim Sơn Tự, được dựng lên để thờ một pho tượng Phật trôi dạt vào bờ sông. Trải qua thời gian, chùa chùa tranh đơn sơ đó tăng dần xuống cấp. Đến năm 1697 – vào giai đoạn Hội An hưng thịnh – các thương nhân Phúc Kiến đã mua lại nền chùa cũ này để xây dựng nên hội quán làm nơi sinh hoạt đồng hương và tín ngưỡng tự động riêng. Ban đầu quá trình được gọi theo tên chùa cũ là Kim Sơn Tự, về sau (năm 1757) được nhân bản quy mô mở rộng và chính thức mang tên Phúc (Phước) Kiến trúc quán quán như ngày nay

Trong những năm đầu thành lập, hội quán Phúc Kiến hoàn toàn làm bằng gỗ đơn giản. Về sau, qua nhiều lần nhân bản tu lớn nhỏ, kiến ​​trúc lũy tiến bề thế, hiển thị cố gắng hơn so với gạch lát gạch, gạch ngói dương cổ kính (đợt trùng lặp tu lớn năm 1757 đã xây dựng lại toàn bộ gạch ngói). Đây cũng là quá trình ghi dấu ấn bàn tay tài hoa của thợ thủ công và sự đóng góp chung của cộng đồng người Hoa nơi phố Hội. Đến năm 1990, hội quán Phúc Kiến đã được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, trở thành thành niềm tự hào của người dân phố cổ.

Từ thập niên 1980 trở lại đây, hội quán mở cửa đón khách tham quan và nhanh chóng trở thành một điểm du lịch thu hút hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước mỗi năm. 

GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TRÚC VÀ BIỂU TƯỢNG

Là công trình của cộng đồng người Hoa lâu đời nhất tại Hội An, hội quán Phúc Kiến chứa đựng nhiều giá trị văn hóa đặc sắc và sở hữu kiến ​​trúc nguy nga, tinh chuông có. Toàn bộ bộ tổng hợp có thể được xây dựng theo hệ thống truyền thông hình chữ Tam của kiến ​​trúc quán Trung Hòa. Từ cổng chính trên đường Trần Phú bước vào là sân tiền cảnh với cây xanh và hòn non bộ, tiếp đến hai dãy nhà Đông – Tây đối xứng, rồi đến chính điện, sân sau và hậu điện nối tiếp nhau tạo chiều sâu hun hút. Nét đặc trưng dễ nhận thấy là tông màu đỏ chủ đạo hiện diện khắp nơi – từ cổng tam quan, lân đá chầu cổng, các cột cho đến lồng đèn và câu đối –biểu tượng trưng cho may mắn và thịnh vượng trong văn hóa Á Đông. Sắc đỏ rực rỡ kết hợp cùng hoa văn cảm giác thoải mái càng thêm nổi bật giữa phố cổ, làm phong phú thêm diện mạo kiến ​​trúc kiến ​​trúc của Hội An.

Cổng tam quan của hội quán Phúc Kiến là một công trình nghệ thuật đặc sắc. Xây dựng kiểu ba bờ vào cao rộng, lợp ngói âm dương cong vút, trên đỉnh bồi hình lưỡng dài chầu nguyệt. Toàn bộ mặt cổng được khảm sành sứ cầu kỳ, nổi bật dòng chữ Hán “Kim Sơn Tự” (tên gọi gốc của hội quán) ở chính giữa. Hải bên cổng đặt biểu tượng ông Nhật và bà Nguyệt – hai vị thần tượng trưng cho trời và đất, âm và dương – canh gác như chào đón khách. Ba lối cửa ra vào cổng tam quan cũng mang ý nghĩa biểu tượng lần như cho Thiên – Địa – Nhân (trời, đất và con người) hài hòa hội tụ. Bước qua cổng, du khách sẽ thấy mọi khung cảnh như phân tách chắc chắn khỏi tiếng ồn ào, phía trong là sân trời thoáng mát có đặt những chậu cây cảnh và tiểu cảnh hồ nước trong xanh, tạo cảm giác giác thanh tịnh, mát dịu.

Chính điện của hội quán Phúc Kiến là nơi trang trọng và uy nghiêm nhất, tập trung nhiều giá trị văn hóa – tâm linh. Gian chính thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu uy nghi ở vị trí trung tâm – Bà Thiên Hậu được cộng đồng ngư dân và thương nhân đi tôn kính như nữ thần biển cả phù hộ họ vượt sóng gió bình an. Hai bên hầu cận bà là tượng Thần Thiên Lý Nhãn và Thần Thuận Phong Nhĩ – hai thần với “mắt nhìn ngàn dặm, tai nghe mọi hướng” luôn đi theo phò vị Thiên Hậu cứu giúp dân chúng. Chính điện còn trưng bày mô hình một chiếc thuyền buồm cổ của thương nhân thế kỷ 19 – kỷ vật mũi nhớ những chuyến đi biển trở về xưa và xin biết ơn trời biển độ tiến cho thuyền thuyền về. Toàn bộ bố cục và trang trí trong khuôn viên hội quán đều mang tính phong thủy hài hòa, được sắp xếp với ý nghĩa cầu may mắn và thuận hòa trong vũ trụ . Du khách bước vào đây không chỉ xông hơi bởi vẻ tráng lệ, mà còn cảm nhận được bầu không khí linh thiêng trầm mặc, với mùi hương trầm thoang thoảng và ánh sáng dịu nhẹ thở ra từ những lồng đèn cổ.

Phía sau điện nằm sâu phía sau là nơi thờ phụng đa dạng các vị thần thánh và tổ tiên, phản ánh đời sống tín hiệu phong phú của tiền nhân. Tại gian hậu điện, du khách sẽ thấy ban thờ Lục Tánh Vương Gia – sáu tiền hiền nhân Phúc Kiến Kiến từng có công phò nhà Minh và tử tiết, được tôn giáo làm thần bảo bảo cộng đồng. Cạnh đó là các tiến trình Thập Nhị Bà Mụ (12 bà mục) và Tam vị Chúa Sanh Thái – những vị thần nữ cai quản việc sinh nở, phù hộ con cái bình an khỏe mạnh. Việc thờ cúng nhiều vị thần khác nhau dưới thoải hội quán cho thấy niềm tin và ước vọng đa dạng của cộng đồng người Hoa xưa: họ cầu mong sông nước thuận hòa, làm ăn phát đạt, con đàn cháu chồng và gia đạo ấm eo.

Một nét văn hoá đặc sắc mà du khách dễ dàng bắt gặp khi tham quan quán rượu Phúc Kiến là hình ảnh những vòng hương trầm lớn treo trên trần tỏa hương thơm nghi ngút. Người dân địa phương và du khách thường mua những vòng hương này, ghi lời cầu nguyện của mình lên mảnh giấy nhỏ rồi treo lên cao. Vòng hương cháy liên tục thông suốt nhiều tuần liền – có loại cháy đến 30 ngày –biểu tượng trưng cho lời cầu nguyện gửi lâu dài tới thần linh. Khi hương tàn, những điều ước viết trên giấy sẽ được nhà thần hóa vàng (đốt đi) để “gửi” đến thế giới tâm linh. Ngắm nhìn những vòng hương treo lơ lửng trong ánh nắng nhẹ nhàng qua mái ngói, du khách không rời khỏi bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa huyền ảo vừa thanh sạch, như thấy mình đang sống chậm lại giữa lòng di sản.

Bên trong hội quán còn lưu giữ nhiều vật quý giá có niên đại hàng trăm năm. Tiêu biểu phải kể đến đại hồng chung (chuông đồng) đúc năm 1790, đôi trống đồng cổ, các lư hương, tượng thờ bằng gỗ thếp vàng, cùng 14 bức hoành phi khắc tinh tàn bằng chữ Hán được sơn son thếp vàng chuông. Mỗi vật chất đều là một minh chứng cho sự vinh quang của thương yêu Hội An xưa, đồng thời phản ánh tài năng nghệ thuật luyện luyện của các nghệ nhân thủ công. Nhờ có những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến ​​trúc và nghệ thuật, hội quán Phúc Kiến được đánh giá là một trong những di sản văn hóa kiến ​​trúc độc đáo bậc nhất của phố cổ Hội An.

Hội Quán Phúc Kiến cũng nằm trong tuyến tham quan phố cổ Hội An nên rất thuận tiện cho du khách kết hợp khám phá nhiều địa điểm một thời. Chỉ với một tấm vé tham quan phố, du khách có thể Thăm viếng quán Phúc Kiến cùng các di tích nổi lân cận như chùa Cầu, hội quán Quảng Đông, hội quán Triều Châu, nhà cổ Tấn Ký, vv Sau khi trái không gian trầm mặc của hội quán, chỉ bước vài chân là du khách lại hòa vào nhịp sống sôi động của phố Hội bên ngoài – nơi có dãy nhà cổ sơn vàng rực rỡ, đèn lồng nổi tiếng khắp nơi và rao hàng vang từ khu chợ gần đó. Hãy dành thời gian lò sưởi dọc phố Trần Phú và khu chợ Hội An ngay cạnh quán rượu để thưởng thức đặc sản Cao lầu, mì Quảng hoặc mua một vài chiếc đèn lồng làm kỷ niệm. Sự đan xen trải nghiệm văn hóa tâm linh tại quán rượu và không khí đời thường dung dị ở phố chợ chắc chắn sẽ để lại ấn tượng sâu sắc, tạo du khách thêm yêu thích vùng đất di sản Hội An.

7/ HỘI QUÁN TRIỀU CHÂU – HỘI AN

1. MỞ ĐẦU

Hội An từ lâu đã nổi tiếng là đô thị cổ mang đậm giá trị văn hóa – lịch sử, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Trong số các công trình kiến trúc tiêu biểu tại đây, Hội quán Triều Châu là một điểm đến đặc sắc, phản ánh rõ nét đời sống và tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại phố Hội.

Hội quán không chỉ gây ấn tượng bởi vẻ đẹp kiến trúc độc đáo mà còn chứa đựng nhiều giá trị lịch sử lâu đời, trở thành điểm tham quan văn hóa không thể bỏ qua.

2. VỊ TRÍ VÀ THÔNG TIN THAM QUAN

  • Địa chỉ: 157 Nguyễn Huy Hiệu, phố cổ Hội An
  • Giờ mở cửa tham khảo: 7:00 – 17:00

Hội quán nằm ngay trong khu phố cổ, thuận tiện cho việc di chuyển. Từ Chùa Cầu, du khách có thể đi bộ dọc theo đường Trần Phú khoảng 750 mét, qua Miếu Quan Công là đến nơi.

3. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Hội quán Triều Châu được xây dựng vào năm 1845, trong bối cảnh một bộ phận người Hoa, đặc biệt là cộng đồng Triều Châu, di cư sang Việt Nam sinh sống và lập nghiệp.

Ban đầu, công trình được sử dụng làm nơi:

·         Gặp gỡ, giao lưu của cộng đồng Hoa kiều

·         Kết nối đồng hương nơi đất khách

Về sau, hội quán còn là nơi thờ tự các vị thần có khả năng chế ngự sông nước, bão tố. Điều này xuất phát từ đặc điểm nghề nghiệp của người dân thời bấy giờ – chủ yếu làm nghề biển, luôn mong cầu sự bình an và thuận lợi.

Trải qua hơn 170 năm tồn tại, công trình đã được trùng tu nhiều lần, chuyển từ vật liệu gỗ ban đầu sang kết hợp các vật liệu bền vững hơn, nhưng vẫn giữ nguyên giá trị văn hóa truyền thống.

4. GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT

Hội quán Triều Châu là một công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và trang trí của người Hoa tại Hội An.

 

4.1. Mặt tiền

Mặt tiền gây ấn tượng với các mảng tường lớn được chạm khắc tinh xảo. Các họa tiết phổ biến gồm:

·         Cá chép hóa rồng

·         Tứ linh (long, lân, quy, phụng)

·         Hồ điệp

Những hình tượng này mang ý nghĩa phong thủy, tượng trưng cho may mắn và thịnh vượng.

4.2. Nhà tiền điện

Nhà tiền điện được xây dựng bằng gỗ và đá theo lối kiến trúc chồng rường truyền thống.

Đặc điểm nổi bật:

·         Các vì kèo được chạm khắc công phu

·         Hoa văn trang trí tinh tế, mềm mại

·         Kết cấu đa tầng với các hình ảnh hoa, chim, nhân vật

4.3. Chính điện

Chính điện gồm 3 gian chính với:

·         Các cột gỗ lớn, chắc chắn

·         Kết cấu chồng rường giả thủ đặc trưng

Điểm nhấn là các chi tiết điêu khắc hình rồng đầu cá, thể hiện sự sáng tạo và tay nghề điêu luyện của nghệ nhân xưa.

4.4. Khu vực tiếp khách

Đây là không gian trung gian nối giữa tiền điện và chính điện. Đồng thời, đây cũng là nơi chuẩn bị các lễ vật trong các dịp cúng tế quan trọng.

4.5. Nghệ thuật trang trí

Hội quán nổi bật với:

·         Nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo

·         Kỹ thuật đắp nổi bằng sành sứ

·         Các chi tiết trang trí mang đậm bản sắc văn hóa Trung Hoa

Tất cả tạo nên một tổng thể hài hòa, giàu giá trị thẩm mỹ.

5. GIÁ TRỊ VĂN HÓA – TÍN NGƯỠNG

Hội quán không chỉ là nơi sinh hoạt cộng đồng mà còn là không gian tâm linh quan trọng.

Người dân đến đây để:

·         Thờ cúng tổ tiên

·         Cầu bình an, may mắn

·         Gắn kết cộng đồng

Công trình phản ánh rõ nét đời sống tinh thần và tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại Hội An.

 

6. LỄ HỘI TIÊU BIỂU

Một trong những hoạt động nổi bật tại hội quán là lễ Nguyên Tiêu, diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch hằng năm.

Đặc điểm của lễ hội:

·         Không gian được trang trí rực rỡ với cờ hoa

·         Lễ vật cúng tế phong phú: hương, hoa, trà, thức ăn

·         Nghi lễ diễn ra trang nghiêm từ 10 – 11 giờ trưa

Sau phần lễ là các hoạt động:

·         Giao lưu văn hóa

·         Ca hát, vui chơi

Lễ hội góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.

 

7. KẾT LUẬN

Hội quán Triều Châu là một công trình tiêu biểu, hội tụ đầy đủ các giá trị về lịch sử, kiến trúc và văn hóa.

Đây không chỉ là điểm tham quan hấp dẫn mà còn là nơi giúp du khách:

·         Hiểu thêm về cộng đồng người Hoa tại Hội An

·         Khám phá nghệ thuật kiến trúc truyền thống

·         Trải nghiệm không gian văn hóa đặc sắc

Hội quán Triều Châu vì thế luôn là một điểm dừng chân ý nghĩa trong hành trình khám phá phố cổ Hội An.

8/ Hội quán Quảng Đông - Kiến trúc đẹp tại Hội An

Một trong những hội quán lâu đời, góp phần khiến phố cổ Hội An thêm đậm nét cổ xưa đó chính là Hội quán Quảng Đông. Với kiến trúc đặc sắc từ phong cách của người Trung Hoa, lại nằm ngay trung tâm phố cổ nên hội quán thu hút đông đảo du khách trong và quốc tế đến tham quan, tìm hiểu về điểm đến thú vị này.

Nằm ở địa chỉ 176 đường Trần Phú, ngay gần với Chùa Cầu, nơi đây dễ dàng cho du khách ghé thăm để chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo. Về lịch sử Hội quán Quảng Đông thì hội quán này được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18. Thời điểm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, Hội An là một trong những thương cảng chính của nước ta, không những vậy, còn được rất nhiều người Hoa đến định cư, buôn bán làm ăn. Và một hội thương nhân Quảng Đông Trung Quốc, khi sang đây đã quyết định xây dựng hội quán vào năm 1885 để khiến nơi đây trở thành một nơi tín ngưỡng và là nơi tập trung các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, hội đồng hương, họp mặt thường xuyên để giúp đỡ nhau trong làm ăn cũng như các nhu cầu cuộc sống khác.

Hội quán Quảng Đông ở Hội An còn có tên gọi khác là hội quán Quảng Triệu hay tên khác nữa là chùa Ông vì bên trong thờ Quan Công một vị tướng Trung Quốc tượng trưng cho sáu chữ “trung, nghĩa, tín, trí, nhân, dũng”, mà 6 chữ này chính là đạo lý cần thiết cho các thương gia có thể làm ăn phát tài. Với kiến trúc được xây dựng độc đáo theo hình chữ quốc, từ những chất liệu gỗ và đá, hội quán là một công trình khép kín với cổng tam quan, có sân vườn rộng trang trí nhiều cây cảnh, vào giữa là phương đình, hai bên nhà Đông Tây, chính điện và sân sau,… khá giống với những hội quán khác ở Hội An.

Ở giữa Hội quán Quảng Đông Hội An là chính điện rộng lớn được chia làm 3 gian: gian giữa thờ Quan Công, hai gian ở hai bên là thời Phước Đức Chánh Thần và Tài Bạch tinh quân, sử sách có ghi lại trước kia năm 1885 thì thờ bà Thiên Hậu và Đức Khổng Từ nhưng từ năm 1911 thì chuyển qua thờ Quan Công và tiền hiền. Không gian thoáng đãng, trang trí hài hòa với hệ cột kèo đồ sộ liên kết vững chắc với chồng rường. Còn rất nhiều hiện vật quý giá từ gốm sứ như cặp đôi sứ men ngọc quý hay 4 bức hoành phi lớn, một lư trầm cao 1,6m và rộng 0,6m làm bằng đồng, hình tượng mô phỏng các vở tuồng, những văn bản ghi lại cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng người Quảng Đông khi ở đây.

 

Hàng năm, vào rằm tháng giêng Âm lịch, Hội quán Quảng Đông tại Hội An lại tổ chức lễ hội Nguyên tiêu, với những nghi thức tế lễ truyền thống, tổ chức cúng giỗ Tiền Hiền, cầu năm mới gặp nhiều bình an, làm ăn tấn tới có tài lộc, phú quý, có cả tiệc tiếp đãi hội đồng hương nữa. Còn đến 24/6 Âm lịch thì sẽ diễn ra lễ hội vía Quan Công để bày tỏ lòng thành kính đến vị tướng tài. Những lễ hội đa phần để tưởng nhớ cũng như gắn kết cộng đồng, gìn giữ nét văn hóa truyền thống, ngoài ra cũng thu hút rất nhiều du khách ghé tìm hiểu về tín ngưỡng nơi đây.

Du lịch phố cổ, ngoài những địa điểm nổi tiếng khác thì bạn hãy nhớ ghé thăm Hội quán Quảng Đông để có thể tận mắt khám phá nét truyền thống người Hoa thời xưa, cầu bình an cho bản thân và gia đình tại chính điện, chiêm ngưỡng kiến trúc đặc sắc của hội quán này nhé!

9/Chùa Ông Hội An – Ngôi chùa thiêng gần 400 năm tuổi

Tên gọi khác: Quán Công Miếu (hay Miếu Quan Công), nơi thờ Quan Vân Trường (Quan Vũ), một vị tướng trung nghĩa thời Tam Quốc.

Số 24 đường Trần Phú, phường Hội An Đông, TP Đà Nẵng.

Được xây dựng vào giữa thế kỷ XVII (khoảng năm 1653) bởi các thương nhân người Hoa, là công trình kiến trúc cổ và có giá trị nghệ thuật cao.

Kiến trúc nổi bật: Mang đậm phong cách kiến trúc Trung Hoa với mái ngói ống, các chi tiết chạm khắc rồng phượng tinh xảo và bức tượng Quan Công uy nghi ở chính điện.

Chùa Ông được xây dựng vào năm 1653, đây thời kỳ buôn bán phát đạt nhất của thương cảng Hội An. Ở thế kỷ XVII, Hội An là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của các thuyền buôn đến từ những quốc gia khác nhau trên thế giới. Có rất nhiều thương nhân người Hoa đến đây buôn bán và chọn Hội An (Hội An là thành phố cũ của tỉnh Quảng Nam cũ, hiện nay tỉnh Quảng Nam thuộc TP Đà Nẵng sau sáp nhập) làm quê hương thứ hai của mình.

 

Vì vậy, họ đã xây dựng các đền thờ, chùa, miếu… phục vụ đời sống tâm linh của mình, chùa Ông chính là một trong số đó. Nơi đây là địa điểm du lịch Hội An mang đậm dấu ấn của người Hoa cổ ở Hội An.

Chùa đã được trùng tu 6 lần vào các năm: 1753, 1783, 1827, 1864, 1904 và 1966. Chùa Ông ở Hội An đã được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa quốc gia vào ngày 29 tháng 11 năm 1991.

Chùa Ông có tên chữ là Trừng Hán Cung, do người Minh Hương định cư tại Hội An và người Việt cùng xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Chùa thờ vị tướng tài ba thời Tam Quốc là Quan Vân Trường (Quan Vũ), ông là hình mẫu và biểu tượng cho triết lý sống cao cả của con người thời bấy giờ là: Nghĩa – Trung – Tín – Dũng. Vì vậy, việc thờ phụng Quan Công nhằm kính ngưỡng, ca tụng lòng nghĩa khí và tiết trung liệt, để người đời noi gương sáng.

Miếu Quan Công Hội An từng được xem là trung tâm tín ngưỡng lớn của Quảng Nam xưa và là nơi các thương nhân thường xuyên lui tới để cam kết trong việc vay nợ, buôn bán và cầu vận may. Ngày nay, ngôi chùa đã trở thành một trong những điểm đến được nhiều người yêu thích khi đi du lịch Hội An.

 

3. Các hoạt động tham quan, chiêm bái chùa Ông Hội An hấp dẫn du khách

Toàn thể chùa Ông gồm 4 tòa nhà, một tiền đình, hai tả, hữu vu và một chính điện rộng. Bốn tòa cất xây theo kiểu chữ khẩu, các nếp mái nhà lợp mái ống có men màu, bờ nóc được gắn hoa chanh đắp hình rồng, nghê bằng các mảnh sứ màu.

Ở chính điện Quan Công miếu đặt pho tượng Quan Vũ tướng quân, mặc thanh bào thêu rồng nổi kim tuyến, nét mặt oai nghiêm tươi sáng, đôi mắt sắc mà lung linh nhìn về phía trước.

Ngoài ra, ở chính điện còn có 2 pho tượng Châu Thương, đây là người nô tì trung thành và dũng cảm của Quan Công và tượng Quan Bình nghĩa tử; 2 con ngựa thờ cao bằng ngựa thật, bên tả là con ngựa trắng, bên hữu ngựa xích thố – con ngựa mà Quan Vân Trường tướng quân rất quý khi được Tào Tháo ban cho.

 

Hiện nay, trong chùa Ông Hội An vẫn còn lưu giữ được một số hiện vật quý như những bia đá, các hiện vật cổ đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Đặc biệt, chùa Ông còn lưu lại bài thơ vịnh, bài ngụ ngôn cổ phong của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm (là cha của Đại thi hào Nguyễn Du), được ông sáng tác vào năm 1775 khi đóng quân ở Hội An. Bên cạnh đó, 2 bài họa của Uông Sĩ Cư và Nguyễn Lệnh Tân cũng được lưu giữ tại đây. Đây là những dấu tích lịch sử xa xưa trong giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh còn lại ở ngôi chùa Hội An từ thế kỷ XVIII.

Chùa Ông Hội An có rất nhiều hoạt động, lễ hội thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước ghé thăm hằng năm:

 

Lễ hội chùa Ông đầu xuân

Vào dịp đầu năm mới mọi người thường đến chùa Ông để cầu bình an, may mắn, đặc biệt trong việc làm ăn. Mọi người có thể xin những tờ Xuân liên cầu an, cầu may. Hay bạn có thể viết những lời cầu bình an cho mình và người thân vào một tờ giấy nhỏ, sau đó treo vào giữa những hương to, tròn ở chùa (khoanh hương sẽ cháy trong vòng 3 ngày).

Đi lễ chùa Ông Hội An đầu năm là dịp để nhiều người bày tỏ lòng thành kính với các bậc tiền hiền, cầu mong năm mới an khang thịnh vượng.

Lễ hội vía Ông được tổ chức vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch hằng năm

Ngày vía Quan Hiển Thành diễn ra vào ngày 24 tháng 6 âm lịch hằng năm

 Đây đều là những lễ hội lớn, mang nhiều ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc của người dân phố cổ Hội An và cũng là hoạt động được nhiều du khách yêu thích tham quan.

10/ Chùa Phật Quan Âm

Bên cạnh những ngôi nhà gỗ với niên đại hàng trăm năm, Khu phố cổ Hội An còn nổi tiếng với nhiều di tích tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị cao về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật. Các di tích này do người Việt, người Nhật, người Hoa, Minh Hương… xây dựng, hình thành liên tục trong suốt chiều dài lịch sử của vùng đất này, thể hiện sự cộng cư, đời sống văn hóa, tinh thần phong phú của các nhóm cư dân.

     Đây là bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa Hội An, vẫn được gìn giữ, bảo tồn gần như nguyên vẹn qua nhiều thế hệ. Chùa Phật Quan Âm làng Minh Hương (Minh Hương Phật tự, chùa Chiên Đàn, chùa Bà, tọa lạc số 13 đường Nguyễn Huệ) là một trong số các di tích tiêu biểu minh chứng cho nhận định này. Chùa nằm nối tiếp phía sau miếu Quan Công (Trừng Hán cung, chùa Ông, tọa lạc tại số 24 đường Trần Phú). Hai công trình này đều đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1991. Dưới đây là một số thông tin về ngôi chùa độc đáo này.

1.      Lịch sử di tích chùa Phật Quan Âm

    Hiện chưa có tư liệu xác định rõ năm khởi dựng di tích, nhưng cùng với miếu Quan Công, chùa có lẽ được xây dựng từ khá sớm. Ở tấm bia trùng tu năm Quý Dậu 1753 (hiện để trong miếu Quan Công) có câu: “Quan Thánh đế miếu và Quan Âm Phật tự bản xã đã xây dựng 100 năm”, nghĩa là chùa được xây dựng muộn nhất cũng vào năm 1653. Như vậy, tính đến nay, ngôi chùa có tuổi đời khoảng 370 năm. Chùa ban đầu thờ Quan Thế Âm Bồ Tát…Tín ngưỡng Quan Thế Âm rất phổ biến đối với tín đồ Phật giáo Đông Nam Á, nhất là đối với những người hành nghề buôn bán bằng tàu thuyền. Tại di tích hiện có một số hoành phi, câu đối có nhắc đến Chiên Đàn Lâm, Quảng An Phật tự, Chiên Đàn Lâm chính là tên gọi khác của chùa Phật Quan Âm chứ không phải là một ngôi chùa nào khác ở Hội An.

Hòa thượng Thạch Liêm qua tác phẩm Hải ngoại kỷ sự có đoạn nhắc đến chùa: “Sáng bữa sau (tức mồng 2 tháng 7), đình trú ở chùa Di Đà. Nhà chùa chật hẹp, không đủ chỗ chứa đông người, phải phân tán ở Quan Âm đường và các nơi khác”. Đây là sử liệu ghi chép sớm nhất về chùa Di Đà và Quan Âm đường (觀 音 堂). Tác giả Hải ngoại kỷ sự dùng từ “đường 堂” chứ không phải “tự 寺” như sau này.

     Căn cứ hai tấm bia “Chiên Đàn Phật tự” và “Quảng An Phật tự” lập năm Giáp Thìn (1904), Thành Thái 16, làng Minh Hương tu sửa chùa cùng tượng Phật. Năm Bảo Đại thứ 18 (1943), làng Minh Hương đứng ra trùng tu chùa Phật, cung Trừng Hán và Tụy Tiên đường. Đó là hai lần trùng tu chùa giai đoạn gần cuối triều Nguyễn.

     Theo mô tả trong tư liệu Quảng Nam xã chí do Viện Viễn Đông Bác cổ thực hiện năm 1943 – 1944 thì ở chùa có con đường hẻm có thể qua nhà Tiền hiền (Minh Hương Tụy tiên đường). Hai căn nhà (dọc theo hẻm) là hai phương trượng của chùa Phật, cạnh đó có giếng nước uống của chùa. Hiện trạng, con hẻm không còn nữa nhưng giếng nước vẫn còn, hai phương trượng đã được thay thế bằng nhà đông và khối công trình phụ.

     Từ năm 1975 đến năm 1989: ngôi chùa được sử dụng làm trụ sở UBND phường Minh An. Từ cuối năm 1989, Ban Quản lý Di tích (nay là Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản văn hóa Hội An) tiếp quản ngôi chùa, tiến hành tu bổ, phục hồi bàn thờ Phật và sử dụng di tích làm Nhà trưng bày Lịch sử - Văn hóa Hội An phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch. Trong khoảng thời gian đó, việc thờ tự chỉ gói gọn trong phạm vi gian giữa nếp nhà sau của chính điện. Sau lần đại trùng tu năm 2015, Nhà trưng bày được chuyển về Bảo tàng Hội An. Ngôi chùa đã được trả lại chức năng vốn có vào năm 2016, bố trí lại không gian thờ tự như ta thấy hiện nay.

1.      Kiến trúc di tích

Ngôi chùa có mặt tiền quay về hướng nam. Phía tây giáp đường Nguyễn Huệ, phía đông và bắc giáp nhà dân. Tổng thể khuôn viên di tích gồm có tam quan, sân trước, chính điện và nhà đông. Do đặc điểm tọa lạc (nằm phía sau miếu Quan Công), tam quan chùa không nằm trên trục thần đạo như thường thấy mà nằm về phía bên phải chùa (theo hướng quy ước). Tam quan có hình thức đơn giản với 4 trụ biểu vuông, hai trụ giữa cao hơn hai trụ bên để chia thành ba lối đi, đỉnh trụ gắn búp sen trang trí. Phía trên nối liền bốn trụ biểu là xà cách điệu làm trán cổng, bên trên không có mái che. Trán cổng xây cao, hình thức như các bức hoành phi, bên trên đắp họa tiết trang trí. Hai mặt tam quan đắp nổi nhiều Hán tự, câu đối. Cụ thể: 
  
     * Mặt trước (hướng nhìn từ trước vào): chính giữa, phía trên có chữ: 明 鄉 佛 寺 (Minh Hương Phật tự, tạm dịch: Chùa Phật (làng) Minh Hương). Bên phải: 真 空 (Chân Không), bên trái: 妙 有 (Diệu Hữu).

Câu đối trên hai trụ chính giữa:

明 鏡 非 臺 參 到 真 如 憑 妙 諦

鄉 關 是 處 宏 開 般 若 紹 宗 門

Phiên âm:

Minh kính phi đài, tham đáo Chân như bằng diệu đế

Hương quan thị xứ, hoằng khai Bát nhã thiệu tông môn.

Tạm dịch:

Gương sáng chẳng phải đài, tham cứu đến Chân như nhờ Diệu đế;

Quê nhà là chốn ấy, mở mang thông Bát nhã nối Tông môn.

(Thích Quang Định phụng dịch)

Câu đối trên hai trụ hai bên:

廣 安 寺 碑 文 千 秋 功 德

旃 檀 林 勝 蹟 萬 眾 瞻 依

Phiên âm:

Quảng An tự bi văn thiên thu công đức;

Chiên Đàn lâm thắng tích vạn chúng chiêm y.

Tạm dịch:

Văn bia chùa Quảng An nghìn năm công đức;

Thắng tích rừng Chiên Đàn muôn chúng kính ngưỡng.

*Mặt sau: chính giữa, phía trên cổng đắp các chữ Hán:

六 祖 師 偈

菩 提 本 無 樹

明 鏡 亦 非 臺

本 來 無 一 物

何 處 惹 塵 埃

保 大 十 六 年 夏

本 社 恭 錄

Phiên âm:

Lục Tổ sư kệ:

Bồ đề bổn vô thọ,

Minh kính diệc phi đài.

Bổn lai vô nhất vật,

Hà xứ nhạ trần ai.

Bảo Đại thập lục niên hạ, Bổn xã cung lục.

Tạm dịch:

 Bài kệ của đức Lục Tổ:

Bồ đề vốn không cây,

Gương sáng cũng không đài.

Xưa nay không một vật,

Nơi nào vướng trần ai.

Mùa hè năm Bảo Đại thứ 16, Bổn xã kính lục.

Bên trái (hướng nhìn từ sân chùa ra), phía trên cổng đắp chữ: 智 慧 (Trí Tuệ), bên phải: 慈 悲 (Từ Bi). Câu đối trên hai trụ chính giữa:

明 月 净 初 心 境 對 䌓 花 空 门 自 在

郷 風 敦 善 俗 地 留 古 蹟 𣑽 宇 重 光

Phiên âm:

Minh nguyệt tịnh sơ tâm, cảnh đối phồn hoa, Không môn tự tại;

Hương phong đôn thiện tục, địa lưu cổ tích, Phạm vũ trùng quang.

Dịch nghĩa:

Trăng sáng làu sạch tựa mối sơ tâm, tịnh cảnh đối phồn hoa, cửa chùa luôn tự tại;

Nếp quê nhân hậu thấm vào phong tục, đất thiêng gìn tích cũ, nhà Phật sáng hơn xưa.

(Thích Quang Định phụng dịch)

Câu đối trên hai trụ hai bên:

一 塵 不 到 菩 提 地

萬 善 同 歸 般 若 門

Phiên âm:

Nhất trần bất đáo Bồ Đề địa;

Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn.

Tạm dịch:

Bụi trần không đến đất Bồ đề;

Muôn thiện cùng về cửa Bát Nhã.

     Qua tam quan là một khoảng sân nhỏ trước chùa, trang trí đơn giản với hòn non bộ nhỏ tạo tiểu cảnh, vài cây xanh điểm xuyết. Khoảng sân này cũng giúp phân cách ước lệ khu vực chùa và miếu (vì hai công trình này thông nhau). Chính điện có kiểu thức nhà 3 gian, gồm 2 nếp mái (tạm chia thành nếp nhà trước và nếp nhà sau), kết cấu: hệ khung gỗ chịu lực, tường bao xây gạch, mái lợp ngói âm dương. Bờ nóc, bờ chảy trang trí đơn giản, cong nhẹ làm cho hệ mái trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Hệ vì nếp nhà trước có kết cấu kiểu kết hợp “trính chồng trụ đội” và “chồng đấu con sơn”. Các chi tiết chạm trổ giúp làm mềm hóa sự thô cứng của các cấu kiện trính, trụ đội. Do hệ mái nếp nhà trước khá lớn nên phần hiên được làm thêm mái giả giúp phân định không gian chức năng và tăng thêm phần thẩm mỹ. Theo đó, chỉ ½ hệ vì ở hiên tham gia chịu lực, ½ hệ vì còn lại mang chức năng trang trí nhiều hơn là hỗ trợ chịu lực. Bông trính đỡ đòn tay dưới cùng ở mái hiên được tạo hình hoa sen rất kỳ công, đoạn giữa chạm nổi đồ án “sư tử hí tiền”, kết hợp con ke hai bên chạm thủng đồ án dây lá hóa rồng.

     Con sơn đỡ thanh trính hạ cũng được chạm nổi dây lá hóa rồng, đội đài sen. Trụ đội được chia làm ba đoạn, chạm các rãnh theo chiều dọc kiểu trái bí. Các trụ đội liên kết với nhau và với hai đầu cột bằng các thanh gỗ được tạo hình khum cong như vỏ cua. Từ trụ đội có các thanh gỗ vươn ra hai bên như những cánh tay đỡ đòn tay. Hệ vì bên trong nếp nhà trước được làm tương tự hệ vì ở hiên, tạo sự đồng nhất về hình thức kết cấu. 

      Nếp nhà sau có diện tích nhỏ hơn nếp nhà trước, hệ vì kèo suốt, có hình thức rất đơn giản, không chạm trổ. Bức tường ngang chia nếp nhà này thành hai khu vực: phía trước là không gian thờ tự, phía sau dùng làm kho vật dụng. Nhà đông nằm bên trái chính điện, dùng làm nơi trưng bày thư họa, chỗ nghỉ chân cho du khách.

     Có thể nói, tài hoa của những người thợ đục chạm được thể hiện rõ nét nhất, đặc sắc nhất trong công trình này là ở hệ vách gỗ mặt tiền. Chính giữa là bộ cửa đi thượng song hạ bản 6 cánh, bản chính chạm thụ – điểu (cò – cây đào), rồng, long mã, rùa, hổ, tùng – lộc rất chi tiết, tinh xảo. Hai gian bên có bộ cửa đi thượng song hạ bản 4 cánh, bản chính chạm chữ 寿 (Thọ) viết theo kiểu chữ triện. Các bản nhỏ trên cửa chạm các đồ vật trong bát bửu, dây lá hóa rồng, hoa sen và hồi văn. Các ô hộc ở liên ba (vách ván gỗ trên đầu cửa) chạm nổi “thập bát La Hán” kết hợp một số đồ án cát tường khác. Nhận xét một cách chủ quan của người viết, đây là một trong số ít những bộ cửa thượng song hạ bản đẹp nhất hiện còn ở Hội An.

      Về bố trí thờ tự: tường biên hai bên hiên tôn tượng Hộ Pháp Vi Đà và Tiêu Diện Đại Sĩ. Các án thờ ở nếp nhà sau chính điện thờ bộ tượng Di Đà Tam Tôn, gồm: gian chính giữa thờ Đức Phật A Di Đà, gian trái thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, gian phải thờ Đại Thế Chí Bồ Tát. Ngoài ra, tường biên bên phải gian thờ còn có hương án thờ Địa Tạng Vương Bồ tát.

Tại chùa Phật Quan Âm vẫn còn nhiều di vật quý được bảo lưu. Trang trí nội thất tuy đơn giản nhưng trang trọng, tôn nghiêm với một số bức hoành phi:

- Hoành phi trên xuyên gian giữa chính điện: 林 檀 旃 (Chiên Đàn lâm). Thượng khoản chạm thành hai hàng dọc: 慶 德 癸 巳 歲 腊 月 榖 旦 - 信 官 簫 燧 烜 敬 立 (Khánh Đức Quý Tỵ tuế, lạp nguyệt cốc đán - Tín quan Tiêu Toại Huyên kính lập; Tạm dịch: Ngày lành tháng chạp năm Quý Tỵ (1653) niên hiệu Khánh Đức. Tín quan là Tiêu, Toại, Huyên kính lập). Hạ khoản chạm một hàng ngang và một hàng dọc: 成 泰 甲 辰 本 社 重 修 (Thành Thái Giáp Thìn bổn xã trùng tu; Tạm dịch: Năm Giáp Thìn (1904) niên hiệu Thành Thái, bổn xã trùng tu). Bức hoành ghi được thông tin năm lập chùa và năm trùng tu 1904, từ đây chùa lấy tên là Chiên Đàn, theo bức hoành treo gian giữa.

 - Hoành phi trên xuyên gian bên trái chính điện: 慈 恩 永 庇 (Từ ân vĩnh tí; Tạm dịch: Ơn từ mãi che). Thượng khoản chạm: 歲 次 乙 亥 年 季 秋 下 浣 (Tuế thứ Ất Hợi niên quý thu Hạ Hoán; Tạm dịch: Hạ Hoán cuối thu năm Ất Hợi). Hạ khoản chạm: 明 香 社 鄉 長 員 職 仝 造 (Minh Hương xã, hương trưởng, viên chức đồng tạo; Tạm dịch: Hương trưởng, viên chức xã Minh Hương cùng lập). 

 - Hoành phi trên xuyên gian bên phải chính điện: 圓 通 殿 (Viên thông điện; Tạm dịch: Điện Viên Thông, tức điện thờ Bồ Tát Quán Thế Âm). Lạc khoản chạm theo hàng dọc: 己 亥 年 [] 一 天。弟 子 陳 玉 恩 (Kỷ Hợi niên [] nhất thiên. Đệ tử Trần Ngọc Ân; Tạm dịch: Nhất thiên [] năm Kỷ Hợi, đệ tử Trần Ngọc Ân). Hoành phi viết bằng thảo thư cả đại tự lẫn lạc khoản.

     Hai trong số các hương án ở chính điện là di vật cổ của chùa, có kiểu dáng, họa tiết trang trí rất đẹp, được sơn son thếp vàng. Hương án đặt trước bàn thờ gian giữa chính điện có chân đế cao tạo dáng kiểu chân quỳ, phần đầu hai chân đế chạm nổi hình mặt rồng. Mặt trước hương án chia thành các ô hình chữ nhật, chạm nổi các đề tài: cúc - sóc, mai - điểu, sen - hạc, mẫu đơn - hươu, lựu - chim… Hương án đặt trước bàn thờ gian bên phải chính điện có hình thức tương tự hương án ở gian giữa nhưng có kích thước nhỏ hơn, trang trí có phần đơn giản hơn.

     Bên cạnh đó, tại chùa còn lưu giữ một số tượng cổ có giá trị. Tượng Phật A Di Đà màu vàng đồng được đặt trên đài sen bằng gỗ, bên dưới là chân đế trên bàn thờ chính giữa chính điện. Tượng ngồi xếp bằng trong tư thế tọa thiền trên đài sen, tay bắt ấn thiền, khuôn mặt phúc hậu, mắt nhìn xuống, miệng hơi mỉm cười. Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng gỗ, đặt trước tượng Phật A Di Đà trên bàn thờ chính giữa chính điện trong tư thế đứng trên đài hoa sen, tay trái cầm bình tịnh thủy. Tượng Đại Thế Chí Bồ Tát: đặt trên bàn thờ gian bên phải chính điện, tượng bằng kim loại (làm rỗng bên trong, bề mặt sơn màu) trong tư thế tọa thiền. Ngoài ra, còn có bộ tranh thập bát La Hán (gồm 6 bức, còn 5). Các bức đang treo tại chùa hiện nay là bản sao từ bản gốc sau khi đã được phục chế (bản gốc đang được lưu giữ tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản văn hóa Hội An).

  Tạm kết

     “Việc một chùa thờ Phật được thiết lập ngay tại khu phố cư dân đông đúc, gần sông và sau này lại thêm gần chợ là hiện tượng độc đáo. Một mặt, phản ánh giới tu hành gắn bó với đời thường, mặt khác phản ánh làng Minh Hương Hội An có đầy đủ các thiết chế văn hóa sinh hoạt cộng đồng trong cư dân khi được các chúa Nguyễn cho định cư ở Hội An”. Sự hiện tồn của ngôi chùa là minh chứng cho quá trình giao lưu văn hóa, tôn giáo của thương cảng Hội An. Mang trong mình một chiều dài lịch sử với các giá trị văn hóa, kiến trúc nghệ thuật đặc trưng, chùa Phật Quan Âm là một trong những di tích kiến trúc Phật giáo quan trọng, góp phần làm nên giá trị chung của di sản Phật giáo Hội An và của Khu phố cổ Hội An. 

     Hiện nay, di tích là điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của người dân địa phương. Cùng với miếu Quan Công, chùa thường xuyên mở cửa để phục vụ bà con, du khách gần xa lễ bái, tham quan. Ngoài việc dâng hương, hoa quả vào ngày rằm, mồng 1 hàng tháng, tại chùa còn có hai ngày lễ lớn trong năm là ngày vía Quan Thế Âm bồ tát (19 tháng 2 âm lịch) và ngày Tết Nguyên tiêu (16 tháng Giêng). Rất đông người dân địa phương và các khu vực lân cận đến dâng hương, viếng chùa trong hai dịp lễ này.

 11/ Nhà thờ tộc Trương

Ở khu phố Hội An có hai dòng tộc Trương đều có quá trình hình thành lâu đời, có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử phát triển thương cảng Hội An là tộc Trương (Đôn Hậu đường) và tộc Trương (Đôn Mục đường). Dưới đây là những thông tin về nhà thờ tộc Trương (Đôn mục đường).

          Dựa vào phả hệ tộc thì thủy tổ tộc Trương là Tây Huyền Công người Hoa, nguyên quán Tỉnh Phước Kiến, phủ Tuyền Châu, huyện Đồng An, xã Trung Tá, sống vào nửa đầu thế kỷ XVII đã di cư sang Quảng Nam, Việt Nam. Địa bàn sinh sống tập trung của con cháu trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX tại Trà Kiệu, Hội An. Ngay từ khi mới lập nghiệp ở Quảng Nam các vị tiền nhân của tộc Trương đã lập nên phả hệ thi của tộc là: Duy - Minh - Hoằng - Tấn - Tăng - Thừa - Vĩnh - Ngọc - Kim - Dư - Duy theo truyền thống của các tộc lớn và nhằm để hậu thế dễ nhận biết thứ bậc của những người đồng tộc. Hơn 300 năm sinh sống ở Quảng Nam, đến nay tộc này đã trải qua 13 đời và con cháu sống ở nhiều nơi trong nước Việt Nam và cả nước ngoài.

          Trương tộc là tộc được kê trong phổ đồ hương hiền làng Minh Hương(Phổ đồ được biên soạn năm 1820, sao lại vào năm 1880), Trương Hoằng Cơ (đời thứ IV) là một trong Tam gia của làng. Tộc Trương có nhiều đóng góp vào sự phát triển của thương cảng Hội An xưa. Năm 167, Trương Hoằng Cơ lúc đó là một nhân sĩ có vai trò lớn trong làng đã đứng ra quyên góp, trùng tu Chùa Cầu. Đặc biệt, một số người của tộc Trườn đã đóng vai trò quan trọng trong hoạt động hoạt động hành chính và thương mại của chính quyền tiêu biểu là Trương Hoằng Cơ - Hương trưởng làng Minh Hương, Trương Hoằng Đạo là quan Cai phủ, tước Tử, một vị khác làm Tri huyện Đại An(?). Tộc Trương cũng có truyền thống về khoa bảng, nhiều người đã đỗ cử nhân, tú tài như Cử nhân Trương Tăng Diễn, Tú tài Trương Tăng Trị... 

          Dựa vào minh văn bức hoành Trương Từ đường có niên đại 1831 thì chúng tôi đoán định di tích được xây dựng muộn nhất là cách ngày nay 176 năm và đã có ít nhất 3 lần tu bổ vào các năm 1912, 1957, 1990. Đợt trùng tu 1912 là đại trùng tu, kiểu dáng kiến trúc lúc bấy giờ được duy trì đến hiện nay. Năm 1957, gia cố sắt chống đỡ hệ cột, xà, thay cột hiên. Năm 1990, trùng tu nhỏ. 

         Nhà thờ tộc Trương có diện tích là 281,525m2, mặt tiền quay về hướng Tây Nam, nằm sát đường kiệt số 54 đường Phan Chu Trinh. Bước vào di tích là phải đi qua tam quan hình cuốn thư, hai bên thành cổng chính áp sa thạch, hai mắt cửa hình lục giác, đề hai chữ phúc, thọ (nền đỏ chữ vàng) được gắn ở đà trên cổng. Trên hai mắt cửa là bức hoành Trương Từ đường (đắp nổi, nền đỏ chữ vàng). Mái cổng chính lợp ngói âm dương, 9 vồng ngói, bờ nóc trang trí hoa văn chữ vạn, hồ lô bằng thủy tinh xanh được đặt giữa bờ nóc. Đây là một trong những tam quan nhà thờ tộc còn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

        Bên trong tam quan là một khoảng sân rộng diện tích là 7,6 x 11,7 = 89.224m2 được lát sa thạch tím, trắng với nhiều kích cỡ khác nhau. Bậc cấp vào ngay giữa tiền sảnh cũng được lát bằng sa thạch màu trắng, hình dáng giống bàn đá chân quì. Các cột hiên hình vuông xây bằng gạch tô vữa vôi. Bên trong là hệ cửa  tiền đường gồm 4 cánh cửa gỗ kiểu pano. Trước đây, phía dưới hệ cửa có đà cửa hạ bằng gỗ nhưng trong đợt trùng tu năm 1990 chủ di tích thay thế bằng cách xây gạch tô vữa vôi - xi măng. Nội thất nhà thờ 3 gian, ba lòng, gồm tiền đường hậu tẩm. Nền nhà thờ lát gạch hoa, tường xây vữa hợp chất vôi, mật mía, vỏ hến. Khung chịu lực  gồm có hai phần, ở lòng I là vì kèo cột trốn kẻ chuyền, ở lòng II, III là trính chồng trụ đội, đầu và đuôi các kèo được chạm khắc lộng lẫy các đồ án hoa dây. Ngăn cách  tiền đường, hậu tẩm là hệ cửa thượng song hạ bản. Phần hạ bản các cửa có nhiều đồ án trang trí chạm nổi như bát bửu, chữ thọ. Hậu tẩm cũng có mái hiên tường xây bảo vệ. Khuôn viên phía sau hậu tẩm có nhà bếp(góc phía Đông nhà thờ) và nhà vệ sinh(góc phía Bắc nhà thờ). Án ngữ hậu tẩm là bình phong hình cuốn thư, bình phong liên kết với tường rào bảo vệ mặt hậu di tích. Mái trước của công trình lợp ngói âm dương, mái sau lập ngói đất nung 22v/1m2. Bờ nóc, bờ hồi tô đắp uốn lượn theo đồ án thủy ba và có quả cầu thủy tinh xanh được đặt giữa bờ nóc.

         Nhìn chung toàn bộ kết cấu công trình đều là những hạng mục cũ được xây dựng muộn nhất trong đợt trùng tu năm 1912. Tất cả các cấu kiện gỗ đều được làm bằng gỗ kiền kiền. Hệ cửa, con ke, đầu kèo trang thờ được chạm trổ sắc sảo. Đặc biệt trong gian tiền đường hiện còn treo bức hoành chữ Hán “Kính như tại” có niên đại Minh Mạng năm 12 (1831).

        Không gian thờ tự trong di tích được phân bố như sau: Giữa tiền đường là nơi đặt trang thờ lớn làm bằng gỗ được sơn son thiếp vàng, chạm trổ tinh vi nhiều đồ án mang ý nghĩa cát tường như cá chép, bát bửu, hoành phi nhỏ bằng chữ triện, một cặp câu đối. Trong trang thờ có đặt bảng tông đồ tộc Trương và 15 bài vị của các vị thủy, cao, tằng, hiển tổ của tộc. Trang thờ các vị tổ cô ở hậu tẩm, trong án thờ có bảng tông đồ các vị Tổ cô đơn chiếc, góa bụa.

        Hằng năm, tại di tích diễn ra các lễ chính là: Tế xuân, ngày 15/2 âm lịch; tế thu, ngày 15/8 âm lịch; chạp mã tộc ngày 24/11, tế ông Trương Hoằng Cơ, ngày 3/11. Các lễ tế hiện nay diễn ra theo trình tự cúng tế truyền thống của người Việt. Vật phẩm cúng tiêu biểu là heo quay. Theo một người cao tuổi trong tộc cho biết, cách đây 40 - 50 năm, vào dịp tế xuân, thu tại nhà thờ tộc, đại diện làng Minh Hương đến nhà thờ dự lễ và tiến cúng heo quay và nhiều vật phẩm khác.   

       Nhìn chung, Trương tộc là một trong những tộc họ người Hoa định cư vào buổi đầu hưng thịnh của thương cảng Hội An, được cộng đồng cư dân làng Minh Hương tôn vinh là một trong những tộc tiền hiền, đóng góp nhiều trong sự nghiệp xây dựng làng Minh Hương - Hội An. Con cháu tộc Trương trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX đã tham gia vào công tác hành chính, hoạt động quản lý thương mại của cảng thị, tu bổ di tích qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển cảng thị Hội An nói riêng và vùng đất Hội An nói chung.
  
12/ Bảo tàng Hội An

Bảo tàng Lịch Sử-Văn Hoá Hội An nằm tại số 10B Trần Hưng Đạo. Bảo tàng này được thiết lập ngày 10/11/1989, trước đây toạ lạc tại số 7, Nguyễn Huệ. Bảo tàng trưng bày 335 hiện vật bao gồm: 281 hiện vật gốc và 54 hình ảnh, tư liệu liên quan đến các thời kỳ phát triển của Đô thị cổ Hội An từ thời Tiền-Sơ sử cho đến nay.

       Bảo tàng Lịch Sử - Văn Hoá Hội An nằm tại số 10B Trần Hưng Đạo. Trước đây, bảo tàng này tọa lạc tại số 7, Nguyễn Huệ, là ngôi chùa của dân làng Minh Hương được xây dựng vào thế kỷ XVII để thờ Phật bà Quan âm. Hiện bảo tàng trưng bày 335 hiện vật,  hình ảnh, tư liệu liên quan đến các thời kỳ phát triển của Đô thị cổ Hội An từ thời tiền - Sơ sử cho đến nay: Tiền- Sơ sử (Thế kỷ thứ II sau Công nguyên trở về trước), Champa (Thế kỷ thứ II đến thế kỷ XV), Đại Việt ( Thế kỷ thứ XV - Thế kỷ thứ XIX) - Đại Nam - Việt Nam.

Các chủ đề trưng bày tại bảo tàng:

            1. Thời kỳ tiền - sơ sử (là tiền Sa Huỳnh và giai đoạn hậu kỳ văn hoá Sa Huỳnh) cách ngày nay khoảng 2000 năm. Ở chủ đề này, bảo tàng trưng bày 102 hiện vật gốc và hình ảnh về các hố khai quật gồm các loại hình công cụ sinh hoạt, lao đông sản xuất, chiến đấu, trang sức…bằng các chất liệu: gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Những tiền đồng Trung Quốc: Ngũ Thù (Từ thế kỷ thứ II trước Công Nguyên đến Thế kỷ thứ I sau Công Nguyên), Vương Mãng (thế kỷ thứ I sau Công Nguyên) cùng với đồ trang sức mã não, thuỷ tinh có gốc gác từ Nam Ấn Độ hoặc Trung Đông, phần nào chứng tỏ rằng cách đây khoảng 2000 năm, những chủ nhân của mảnh đất này đã sinh sống bằng nghề nông trồng lúa nước, khai thác chế biến sản vật sống - biển, làm các nghề thủ công: rèn, dệt vải, mộc, chế tác đồ trang sức…Đồng thời cũng thể hiện rõ nét mối quan hệ, giao lưu văn hoá trong nước từng có hoạt động trao đổi buôn bán với phía Bắc, phía Nam và cả ở khu vực để lập nên một tiền Cảng – Thị sơ khai, tạo dựng nền móng cho Cảng - Thị các thời kỳ sau tiếp tục phát triển.

          Đặc biệt, một loại hình hiện vật đặc trưng của thời kỳ này là chum gốm (mộ chum) được phát hiện trong khu nghĩa địa Tin Lành, di chỉ Hậu Xá, Cẩm Hà năm 1990. Theo các nhà nghiên cứu, đây là một dạng quan tài của cư dân Sa Huỳnh cách đây hơn 2000 năm và được chôn theo người chết, phần nào thể hiện được tục cải táng người chết của cư dân này. Tuy mới chỉ là những thông tin khoa học gặt hái bước đầu, nhưng phần nào gợi mở cho chúng ta những sự nhận biết về tiến trình, về diện mạo lịch sử - văn hoá của cư dân cổ ở Hội An thời Tiền - Sơ sử.

           2. Thời kỳ  Champa tồn tại từ thế kỷ thứ II – thế kỷ XV với nền văn hoá rực rỡ, khởi đầu thời kỳ vàng son cho một cảng - thị hưng thịnh. Thời kỳ này nổi bật lên những địa danh Chiêm Bát Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại) cùng với những tượng đá, giếng gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong di chỉ khảo cổ học với hiện vật gốm sứ Champa, Islam, Trung Quốc… thuỷ tinh (đồ trang sức, vật dụng) có nguồn gốc từ Trung Cận Đông, Nam Ấn Độ…và nguồn tư liệu thư tịch cổ Trung Hoa, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư… xác định vùng Cửa Đại xưa là Hải cảng chính của nước Champa. Nơi đây, có Lâm Ấp phố ( Phố của người Lâm Ấp  - Champa) với nhiều chiến thuyền và thương thuyền Trung Hoa, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư… thường xuyên ghé đậu lấy nước ngọt từ những giếng Chàm rất ngon, rất trong và đổi trao sản vật, mua từ đây trầm hương, quế, đồ vàng ngọc, đồ thuỷ tinh, tơ lụa, đồi mồi, xà cừ… Trong thời kỳ này, bảo tàng trưng bày 18 hiện vật gốm gồm các loại mảnh gốm, gạch Chăm, hoa văn gốm và kèm 9 hình ảnh minh chứng cho thời kỳ này. Nổi bật là bức tượng vũ công Grandhara và tượng thần tài lộc Kuberra. Hai bức tượng được chạm khắc sắc xảo, tinh tế mang đậm nét văn hoá ChămPa huyền bí. Phần nào thể hiện được một thời kỳ phồn thịnh của kinh đô Champa xưa. Người Champa có tầm nhìn về biển đúng đắng, biết cấu trúc ngành kinh tế tổng hợp đa ngành, tuy còn thô sơ nhưng vấn biết khai thác mọi tiềm năng trên rừng, dưới biển, trong lòng đất để xây dựng hưng thịnh Chiêm cảng, tạo tiền đề phát triển kinh tế - văn hoá cho thời kỳ lịch sử tiếp theo.

 3. Thời kỳ Đại Việt ( Thế kỷ thứ XV - Thế kỷ thứ XIX), tiếp sau thời Champa, muộn nhất là từ cuối thế kỷ thứ XV, mảnh đất Hội An đã định hình những hoạt động của cư dân Đại Việt. Ở vào buổi đầu thời kỳ này, bên cạnh việc khai hoang lập làng canh tác nông nghiệp, người Việt ở Hội An còn linh hoạt sáng tạo mọi số ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên – xã hội từng vùng đất: Làng Thanh Châu với nghề khai thác yến sào. Các làng chài Võng Nhi, Đế Võng với nghề đánh bắt, chế biến hải sản. Làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà với nghề thủ công, xây dựng. Làng Hội An, Cẩm Phô với nghề buôn bán. Từ thế kỷ XVII, cộng đồng dân cư Hội An được bổ sung thêm các kiều dân là thương khách Hoa, Nhật và một số từ các nước khác đến đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề vốn có thêm tích ứng với cư dân thương nghiệp, nông nghiệp và vùng quê sinh sống.

          Ở vị trí địa lý phù hợp lại có thêm nhiều yếu tố nội sinh, ngoại sinh khác nên bên cạnh sự hội tụ dân cư, tụ tập tinh hoa văn hoá, kinh nghiệm nghề nghiệp từ mọi miền đất, Hội An nhanh chóng trở thành nơi phong phú hàng hoá, sản vật, phát triển nội thương tạo đà thúc đẩy ngoại thương đi lên để làm nên sự phồn thịnh ở Đô thị - Thương cảng Hội An  suốt trong nhiều thế kỷ. Trong chủ đề này, bảo tàng trưng bày một số lượng lớn hiện vật gốc và hình ảnh tư liệu phong phú được tìm thấy ở Hội An qua từng giai đoạn, đặc biệt có sự so sánh rõ rệt giữa gốm Việt Nam với gốm của một số nước có mối quan hệ giao lưu buôn bán với Hội An lúc bấy giờ như: Nhật Bản, Trung Quốc. Bên cạnh đó, bảo tàng còn trưng bày một số tư liệu viết về Hội An và một số bản đồ cổ của Hội An với các tên gọi khác nhau như Faifo, Haiso, Faisfo…Một số dụng cụ dùng trong giao thương buôn bán như cán cân, quả cân, ang….Giúp cho khách tham quan phần nào hình dung được một Đô thị thương cảng tấp nập và phồn thịnh của những năm thế kỷ XVI – XVIII.

Đến giữa thế kỷ thứ XIX, nền kinh tế ngoại thương Hội An nhanh chóng suy thoái bởi những nguyên nhân bất lợi: Sự bồi cạn, chuyển dời của dòng sông, cửa biển – Chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến - Sự phát triển kỹ thuật giao thông hàng hải bằng cơ khí hơi nước vượt xa thuyền buồm. Bên cạnh đó Đà Nẵng- Cửa Hàn nổi lên thay thế dần vai trò Hội An-Cửa Đại. Thương cảng thuyền buồm Hội An nhường bước cho cảng thị tàu máy cơ khí Đà Nẵng.

13/ Bảo Tàng Gốm Sứ Mậu Dịch Hội An

Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch ở Hội An tọa lạc tại số 80 Trần Phú được hình thành năm 1995 với sự giúp đỡ của các chuyên gia Nhật Bản. Bảo tàng hiện đang trưng bày 361 hiện vật có niên đại từ thế kỷ IX -X đến thế kỷ XIX được tìm thấy ở các điểm khảo cổ tại Hội An, phản ánh sinh động về con đường gốm sứ mậu dịch trên biển vào các thế kỷ trước, khi Hội An còn là tụ điểm giao lưu thương mại trên biển của các thương thuyền Đông - Tây - Á - Âu.

Gian trước bảo tàng trưng bày bản đồ về Con đường gốm sứ trên biển của Thế giới, trong đó chỉ ra các tuyến đường, các điểm dừng mà thuyền buôn chuyên chở gốm sứ đã đi qua. Trên con đường gốm sứ ngang qua vùng biển Đông có điểm dừng tại Hội An và một số thương cảng khác trong khu vực, đây là nơi trung gian nhận hàng và chuyển hàng giữa hai khu vực Đông - Tây của thế giới. Bên cạnh đó là bản đồ một số lò gốm được phát hiện ở Việt Nam và nội dung khái quát về lịch sử nền gốm sứ mậu dịch Việt Nam. Trong đó khẳng định, bắt đầu từ thế kỉ XIV, gốm Việt gia nhập vào thị trường gốm thương mại và phát triển rực rỡ nhất trong thế kỉ XV-XVI. Gốm sứ thời bấy giờ được sản xuất từ các lò gốm Chu Đậu, Bát Tràng, Hợp Lễ… ở phía Bắc và Gò Sành, Gò Trường Cửu, Gò Hời, Gò Cây Me… ở phía Nam với nhiều sản phẩm gốm có chất lượng cao như gốm men ngọc, gốm men nâu, gốm hoa nâu, gốm men trắng, gốm vẽ lam... Riêng khu vực miền Trung chỉ có gốm sành, không có những lò gốm men, do đó phải nhập đồ sứ từ các nơi khác trong nước. Bước sang thế kỷ XVIII, gốm thương mại Việt Nam đột nhiên vắng bóng trên thị trường thế giới. Trong vòng 4 thế kỷ, gốm thương mại Việt Nam đã góp phần không nhỏ thúc đẩy sự giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các dân tộc.

Phần lớn không gian còn lại của bảo tàng dành cho việc trưng bày các sản phẩm hoặc các mảnh gốm khai quật được từ các di chỉ khảo cổ ở Hội An. Điển hình có các hiện vật thuộc di chỉ Bàu Đà. Đây là một cồn cát được bao bọc bởi các nhánh của sông Cổ Cò, nằm cách Cửa Đại hơn 1km về phía Tây, nay thuộc xã Cẩm Thanh. Kết quả các đợt thám sát và khai quật ở đây đã thu được rất nhiều chủng loại gốm, sứ: Champa, Ả Rập, Đại Việt, Trung Quốc… có niên đại từ trước thế kỷ XV. Với lợi thế về vị trí địa lý và số lượng gốm sứ mậu dịch từ Đàng Ngoài, Trung Đông, Trung Quốc… xuất hiện khá nhiều, Bàu Đà chắc chắn đã từng là một trạm dừng đậu tàu thuyền để mua bán, trao đổi, hàng hóa, sản vật suốt trong nhiều thế kỷ.

Một địa điểm khác là Trảng Sỏi, cách sông Hội An gần 300m về phía Bắc, là điểm tụ cư buôn bán có liên quan đến khu vực Chiêm cảng xưa và sau này là Đô thị Thương cảng Hội An, ở đây tập trung khá nhiều gốm sứ Trung Quốc, Islam, Việt Nam có niên đại từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XIV. Ngoài ra có di chỉ Thanh Chiếm thuộc phường Thanh Hà đã tìm thấy một số lượng lớn gốm sứ mậu dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc (các lò Cảnh Đức Trấn, Phúc Kiến, Quảng Đông..), Nhật Bản (Hizen), cùng với đồ gốm đất nung địa phương (Thanh Hà) có niên đại khoảng thế kỷ XVII (5). Bên trong khu vực phố cổ Hội An, các nhà khoa học cũng tìm thấy nhiều dấu tích của đồ gốm sứ như là di chỉ hội quán Triều Châu phát hiện đồ gốm sứ Đại Việt thời Lê - Nguyễn, gốm sứ Trung Quốc thời Minh - Thanh, gốm sứ Nhật Bản (HIZEN) và số lượng lớn gốm sành chưa xác định được xuất xứ đều có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX. Di chỉ nhà 129 đường Phan Châu Trinh phát hiện nhiều mảnh gốm sứ Nhật (HIZEN), gốm sứ Trung Quốc và gốm sành Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Di chỉ đình ấp Tu Lễ, di chỉ đình Cẩm Phô khai quật được nhiều mảnh gốm sứ Nhật (HIZEN), gốm sứ Trung Quốc, Thái Lan và gốm sành Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.

Đặc biệt hơn cả, Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch trưng bày bộ sưu tập đồ gốm sứ vớt biển được trục vớt từ con tàu đắm cổ vùng biển Cù Lao Chàm. Theo thống kê, có khoảng 240.000 di vật đã được khai quật, trong đó ngoài một số vật dụng, đồ dùng của thủy thủ đoàn với các chất liệu khác nhau, đa phần hiện vật trục vớt được là đồ gốm sứ gia dụng thuộc thế kỷ XV-XVI, có nguồn gốc từ các lò Chu Đậu - Mỹ Xá, tỉnh Hải Dương. Các hiện vật gốm bao gồm nhiều dòng gốm với nhiều loại hình, hoa văn và đề tài trang trí phong phú, hấp dẫn. Con tàu đắm này cùng một số con tàu đắm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI ở vùng biển Philippines, Indonesia, vịnh Thái Lan và rải rác khắp phía Nam biển Đông là bằng chứng của một nền thương mại và sản xuất sôi động trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

Sự ra đời và phát triển của thương cảng Hội An đã thu hút các tàu buôn nước ngoài, tạo cơ hội quảng bá và xuất khẩu các sản phẩm thủ công của Việt Nam, trong đó có nghề gốm sứ. Hội An không chỉ là một phần huyết mạch thông thương buôn bán của những con tàu buôn quốc tế, đây còn là nơi các nền văn hóa, tôn giáo đa dạng được kết nối và hòa quyện. Theo dòng thời gian, theo sự phát triển của kinh tế - xã hội, “con đường gốm sứ” đã thay đổi, chuyển hóa về nhiều mặt. Nhưng những dấu tích, những bằng chứng vẫn còn lưu lại ít nhiều trong sử liệu, trong các bảo tàng và cả trong lòng đất sâu còn chưa khai quật trên khắp Hội An, gợi nhắc một thời quá khứ vàng son của cảng thị cổ này.

Hãy một lần đến với Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch để tìm về các giá trị lịch sử - văn hóa của Hội An, hiểu thêm vai trò quan trọng của Hội An trong mối giao lưu thương mại của khu vực và thế giới vào các thế kỷ trước.