Phần 1: Bên nội
Nguồn gốc của một thiên tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh húy là Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành sau đổi là
Nguyễn Ái Quốc. Người ra đời tại Hoàng Trù (quê ngoại). Quê nội của Người là
Kim Liên, tức làng Sen, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ
An.
Đến thế kỷ XVIII thì Kim Liên đã là một ngôi làng đông dân, có đời sống văn hóa
phong phú. Và trong cái cảnh trù mật, đông vui ấy của làng Sen, từ thuở bấy giờ
vốn đã có phần đóng góp công sức đáng kể của con cháu dòng họ Nguyễn Bá. Nhận
rõ điều vinh dự đó, các thành viên của tông tộc này cứ mỗi ngày thêm một mến
yêu cái thôn mà tổ tiên mình đã chọn làm nơi sinh sống.
Đến thế hệ thứ tư thì ông tộc trưởng Nguyễn Bá Dân xin đổi chữ lót của họ mình
thành Nguyễn Sinh, Con cháu họ Nguyễn Sinh nối đời ngày một đông đúc và giữ
vững nền nếp chăm chỉ trong lao động, lành mạnh trong sinh hoạt xóm thôn nên
được cả cộng đồng qúy mến.
Về mặt học tập, trong số người theo đòi nghiệp Nho của dòng tộc có Nguyễn Sinh
Vật dự kỳ thi Hương, khoa Tân Mão, triều lê Thần Tông, niên hiệu Khánh Đức thứ
3 (1651) và cũng ở triều vua ấy, Nguyễn Sinh Trí (17 tuổi) dự thi khoa Qúy Sửu,
niên hiệu Dương Đức thứ 2 (1673) Đến thế hệ thứ tám, trong họ có Nguyễn Sinh
Hải (tức Như Hải) là quan võ, lập công to nên được vua Lê Cảnh Hưng đa phong
sắc.
Từ thế hệ thứ chín trở về sau, khi dòng họ Nguyễn Sinh ở đây đã chia ra thành
nhiều nhánh thì có một số gia đình vì cuộc sống khó khăn nên đã chuyển đi làm
ăn xa, gần nhất là chuyển xuống Mậu Tài (tức làng Sài). Còn chi họ của cậu
Nguyễn Sinh Cung thì vẫn ở làng Sen.
Người ông nội của Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Sinh Vượng tức Nguyễn
Sinh Nhậm. Đó là con người to lớn, khỏe mạnh, có học và thành thạo trong việc
cài bừa, sản xuất, tính tình lại vui vẻ, nhân hậu, luôn sẵn sàng giúp đỡ những
người gặp khó khăn. Vì lớn lên trong một gia đình khá giả lại sẵn có những ưu
điểm như vậy nên Nhậm được các bạn gái cùng lứa ở thôn trong, xóm ngoài có cảm
tình, thành thử người thanh niên này cũng lập gia đình sớm. Không lâu, vợ chồng
họ sinh được một người con trai là Nguyễn Sinh Trợ, sau đổi là Nguyễn Sinh
Thuyết. Lúc Trợ đến tuổi thiếu niên thì mẹ mất.
Về phần Nguyễn Sinh Nhậm thì khi đã mãn tang vợ, ông cũng chưa nghĩ ngay đến
việc tục huyền mà vẫn ráng chịu cái cảnh gà trống nuôi con, vì ông rất đỗi xót
thương người bạn đời đã quá cố. Vả, ông cũng muốn chờ con trai của mình khôn
lớn thêm. Cha con cứ làm lụng nuôi nhau. Đến khi Nguyễn Sinh Trợ đã trưởng
thành, ông Nhậm dựng vợ cho con trai, việc làm mà ông coi là để trả nghĩa phần
nào đối với người người đã khuất. Sau đó, ông mới lo đến việc tìm người kế tục
nâng khăn sửa túi cho bản thân mình.
Người mà ông Nhậm mong mỏi được nối duyên sắt cầm là cô Hà Thị Hy ở Mậu Tài,
tức làng Sài.
Mậu Tài cũng thuộc tổng Lâm Thịnh. Hy là con gái một vọng tộc của làng này. Tuy
sống cảnh dân dã nhưng con cháu họ Hà, đàn ông thì có khiếu văn chương; đàn bà
thì phần đông là dáng người mảnh mai và có giọng hát hay. Riêng cô gái Hà Thị
Hy thì còn là một vũ nữ được bà con nhiều làng xã mến yêu. Số là nơi đây, thuở
ấy, hàng năm vào những đêm hội xuân, cùng với lời ca, tiếng hát, làng có tổ
chức những màn múa đèn.
Hình ảnh một cô gái với dáng người thon thả, uyển chuyển trong bộ áo quần mớ
bảy, mớ ba, khi trên hai tay, trên đôi vai và cả trên đầu có đặt đủ năm ngọn
đèn mà tất cả đều lung linh, tỏa sáng cùng với những vũ điệu cứ uốn lượn, xoay
vòng theo nhịp trống và lời ca. Thì bấy giờ các khán giả thấy bầu trời của thôn
quê như cao hơn; làng mạc, đồng điền như rộng hơn; gió xuân bay về dịu mát hơn
và con người thêm yêu cộng đồng, yêu thôn ổ của mình nhiều hơn. Cuộc sống tuy
lam lũ, ăn bữa hôm còn phải lo bữa mai nhưng vào dịp đầu xuân ai mà nỡ bỏ qua
các buổi múa đèn. Cô gái Hà Thị Hy đã góp phần tạo cho làng Sài có được những
đêm hội đông vui đến say lòng người như thế.
Hy là con gái của ông Hà Văn Cẩn, một bậc huynh thứ ở trong làng.
Cơ ngơi của ông Cẩn cũng chỉ là nhà tranh, sân đất nhưng trong vườn có nhiều
loại cây cho hoa. Chúng nép mình dưới những gốc cau và đón gió vào các buổi mai
lên rồi được che nắng giữa những ban trưa trời nồng. Mùa xuân cũng là mùa cau
nở bẹ, hương của hoa như cứ nâng nhanh bước chân và mở rộng tấm lòng của mỗi
con người.
Ở ngoài đồng, ông Cẩn chỉ lo công việc cày bừa. Còn phân tro, cấy
trỉa, cỏ dã, gặt hái là chuyện của những người khác. Chỉ góp sức có vậy thì mọi
người trong nhà cũng đã rất vui lòng về ông. Thời gian chủ yếu, ông dành để đọc
sách, chăm cây cảnh trong vườn. Và thường thường, mỗi chiều, khi bóng mái tranh
đã trải kín cả cái vùng sân đất thì với chiếc chõng tre, một khay nước bày mấy
cái chén cổ đựng trà và cây đàn nguyệt, thời gian còn lại của ngày hôm đó đã
chuyển ông từ một lão nông tri điền sang một nghệ sĩ vô danh nơi thôn dã.
Cây đàn của ông, cái cần nó dài ngoẵng với hàng phím cao gồ, khô khát và mặt
cầm thì tròn như ông trăng, được bịt bằng tấm da của con kỳ đà, trên đó căng
lên mấy sợi dây xe từ loại tơ vốn chọn trong những tổ kén dày và óng mượt nhất
nên âm thanh của tiếng đàn vừa ấm vừa vang xa. Dưới những ngón tay uyển chuyển
của ông, các nốt nhạc cứ được cất lên theo từng cung bậc khi bỗng, khi trầm. Sự
thật, những người dân quê ở trong làng chẳng hiểu biết bao nhiêu về chúng,
nhưng sao mà cứ thích nghe và có khi họ đã đứng lặng trước những âm vực sâu lắng
của cung đàn.
Bà Cẩn là một phụ nữ hết lòng chiều chồng thương con. Cũng chẳng phải bà không
hiểu những giá trị tinh thần trong sinh hoạt nghệ thuật của Hy cũng như trong
thú chơi tiêu khiển của ông Cẩn nhưng vì tính vốn bình dị và kín đáo nên bà
không muốn họ thi thố tài năng như thế. Đã chẳng phải một lần bà nghe … nào là
“ xướng ca vô loại, vũ nữ
van trinh”. Nhất là khi Hà Thị Hy – người con gái của bà đã
ngoài hai mươi tuổi vẫn chưa yên bề gia thất. Trong lúc đó thì bạn đồng trang
lứa có người đã con bế, con mang. Vì lo cho con, lắm lúc bà Cẩn nghĩ hay là vì
nhà mình đã có tiếng đàn lại đua đòi múa hát nên con gái nó ế chồng. Nhưng rồi
bà tự giải đáp và thấy là nhà mình không ở cảnh như vậy. Chẳng phải là đã có có
nhiều chàng trai đứng đắn thuợc các gia đình tử tế đến ngỏ lời mà Hy nào có
ưng. Đến một hôm, bà gạn hỏi lý do thì được Hy trả lời:
- Các chàng trai đã đến đây tự ngỏ lời hoặc nhờ kẻ đưa mai mối đều là người tốt
nhưng mẹ thấy đấy, không có ai trong số họ làm cho con ưng ý.
- Vậy thì con muốn gì?
- Xin mẹ cho con được phép chọn lựa
- Ôi, xưa nay chỉ có bướm đi tìm hoa chứ hoa có đi tìm bướm
- Con nghĩ, trai tráng sĩ có quyền đi kén vợ thì gái liễu bồ cũng được phép
chọn bạn trăm năm.
Bà Cẩn không khỏi choáng ngời. Trong một buổi ngồi phàn nàn với chồng, bà nghe
ông nói:”Tôi cũng không hiểu hết cái ý của bé Hy nhưng chưa chắc đó lại không
phải là điều lành. Cha mẹ nuôi con nhưng hồ dễ mấy ai mà hiểu nổi lòng con.
Thôi thì cứ để cho nó tự quyết định lấy số phận của mình”. Lòng bà cứ như tơ vò
nhưng rồi mỗi lúc Nhậm đến nhà, bà thấy anh chàng có dáng người cao lớn, gương
mặt phúc hậu, phong thái đường hoàng và quả cảm thì bà cũng không nỡ làm cái
việc việc rẽ thúy, chia uyên.
Bọn con trai mấy lâu rắp ranh cái chuyện chinh phục Hy nhưng việc không thành
thì đã thề với nhau rằng, quyết không để cho cô nàng lấy chồng là người ngoài
thôn. Nhưng đến bây giờ, họ bỗng đớ người mà buôn lời xỉa xói:” Thì ra chị
chàng đi chọn một gã đàn ông là nong nia cạp lại!”
Bỏ ngoài tai những lời ong tiếng ve, thậm chí cả những sự sỉ nhục bóng gió của
mấy kẻ thiếu thiện chí, Hà Thị Hy bước về nhà chồng khi trước mắt và cả lâu dài
mình phải cáng đáng nhiều gánh nặng cũng như phải vượt qua nhiều điều tiếng thị
phi. Nhưng Hy chấp nhận tất cả vì cô cảm thấy mình đang bước đi trên con đường
định mệnh của cuộc đời.
Rồi mọi cái không phải tự mình gây ra thì đều đã qua đi. Còn lại là niềm sắt
son, vàng đá. Hà Thị Hy sống rất hạnh phúc với Nguyễn Sinh Nhậm. Hai năm sau
ngày hợp hôn, bà sinh con trai. Cậu bé được đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Ông
Nhậm vui mừng khôn xiết. Bà dồn tất cả tình thương cho chồng, cho con. Sắc được
đón nhận từ mẹ mình những sự bú mớm trong lành, ngọt mát nhất và những lời ru
nồng ấm, thẳm sâu nhất. Nhậm cũng được đón từ trái tim người vợ kế một tình yêu
vô cùng tràn đầy, nồng thắm. Từ con riêng của chồng cho đến bà con, xóm xã, ai
cũng mến yêu người phụ nữ thánh thiện Hà Thị Hy. Nhưng hình như số phận của
người đàn bà tài năng, đoan trang, tiết hạnh này chỉ đến có vậy. Khi người con
trai Nguyễn Sinh Sắc tròn 3 tuổi thì bà Hà Thị Hy từ biệt thế gian.
Nhà xuất bản Thuận Hóa